|
1. Lịch
sử h́nh thành của thành phố
Vào khoảng đầu thế kỷ 17, cả vùng
đất Nam Bộ ở trong t́nh trạng hầu
hết đất đai đều hoang vu, rừng
hoang bạt ngàn, dân cư thưa thớt. Ở vị
trí thành phố Hồ Chí Minh hiện nay đă h́nh thành
một thị trấn nhỏ, h́nh thức cư trú
tập trung ban đầu. Trong số dân cư ở
đây, người Khmer chiếm đa số. Cạnh
đó c̣n có những người Việt đầu
tiên từ các tỉnh miền Trung vào đây sinh
sống. Đây là nơi buôn bán trao đổi
của nhân dân trong vùng. Chính v́ thế, năm 1623, Chúa
Nguyễn được sự đồng ư của
vua Chân Lạp đă lập ở đây một
trạm thu thuế buôn bán.
Dân
thị trấn này đông thêm với sự dân cư
của người Việt vào Nam. Năm 1679, Sài G̣n
đă là nơi cư trú đóng của quan Tổng
tham mưu lực lượng của Chúa Nguyễn
ở miền Nam. Cũng trong năm này có khoảng
3.000 quân sĩ Trung Quốc và gia đ́nh trung thành
với triều đại nhà Minh không chịu
sống ở Trung Quốc do nhà Thanh cai trị, đă
xin là dân Việt và đươc chúa Nguyễn
đưa vào Nam Bộ sinh sống. Một bộ
phận người Hoa đă đến sinh sống
ở vùng Sài G̣n. Năm 1896 là một mốc thời
gian đáng ghi nhớ trong lịch sử thành phố.
Năm này chúa Nguyễn chia đặt các đơn
vị hành chính, thành lập chính quyền ở Nam
Bộ. Sài G̣n lúc bấy giờ là một thị
trấn có một vạn dân và có hoạt động
thương măi phát đạt đă trở thành
thủ phủ của dinh Phiên Trấn, một trong hai
dinh ở Nam Bộ lúc ấy (dinh Trấn Biên đặt
lỵ sở ở Biên Ḥa). Năm 1698 được
xem là thời điểm thành lập của thành
phố Hồ Chí Minh. Đến nay thành phố
được hơn 300 tuổi. Trong hơn ba trăm
năm đó, thành phố đă trải qua nhiều
biến cố quan trọng và đă vươn ḿnh
từ một thị trấn độ 1 vạn dân
trở thành phố với dân số hơn 4 triệu
ngày nay.
Nhờ có vị trí
thuận lợi nên vai tṛ kinh tế và chính trị
của Sài G̣n ngày càng phát triển. Năm 1772.
Nguyễn Cữu Đàm cho đắp các lũy đất
(gọi là Cô Lũy hay c̣n gọi là Bán Bích cô lũy)
từ chùa Cây Mai ṿng qua Tân Định đến
cầu Cao Miên (Cầu Bông ngày nay) bọc quanh khu
chợ búa, dân cư, khu quân sự, hành chánh. Sài G̣n
trở thành "thành phố" với đầy
đủ ư nghĩa của từ này (thành để
bảo vệ, phố chợ buôn bán). Từ cuối
thập niên 1770 cho đến hết thập niên 1780,
t́nh h́nh ở Sài G̣n có nhiều biến động
cho cuộc tranh chấp giữa Chúa Nguyễn-Tây Nguyên
và Tây Sơn-Nguyễn Ánh. Bốn lần quân Tây Sơn
vào đánh đuổi lực lượng Chúa
Nguyễn và làm chủ Sài G̣n.
Một sự kiện
quan trọng ảnh hưởng đến sự phát
triển thương mại của Sài G̣n là năm
1778, nhóm người Hoa trước kia cư trú và buôn
bán ở Cù Lao Phố và Mỹ Tho, do ảnh hưởng
của chiến tranh, đă kéo về cư trú ở Sài
G̣n. Họ lập nên phố chợ buôn bán tấp
nập tức Chợ Lớn ngày nay.
Từ năm 1879.
Nguyễn Ánh (sau này lên ngôi lấy hiệu là Gia Long)
làm chủ Sài G̣n và Nam Bộ. Sài G̣n trở thành
trung tâm hành chánh của khu vực Nguyễn Ánh
kiểm soát và được gọi là "Gia Định
kinh". Năm 1790. Nguyễn Ánh cho xây thành kiểu
Vauban của Tây phương theo họa đồ
của Le Brun, Victor Olivier (những người Tây phương
giúp Nguyễn Ánh lúc ấy). Thành có chu vi khoảng
3.800 mét, nằm ở khu vực giữa các đường
Đinh Tiên Hoàng, Lê Thánh Tôn, Nam Kỳ Khởi Nghĩa,
Nguyễn Đ́nh Chiểu ngày nay. Thành có 3 lớp:
Lớp trong cùng là
một trường thành xây bằng đá ong Biên Ḥa
cao hơn 6m. Bên ngoài là hồ nước, rộng
khoảng 75,5m. Ngoài cùng là lũy đất. Thành có 8
cửa ra vào đặt tên theo các thể bát quái: Càn,
Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài. Do
đó thành này c̣n gọi là "Thành Bát Quái". Trông
vào bản đồ nó giống một con qui nên c̣n có
tên là "Thành Qui".
Trong Thành là Hoàng cung và
các cơ quan trọng yếu. Ngoài thành có xưỡng
Chu Sư ở bờ sông Tân B́nh (Sông Sài G̣n) nơi
đóng, sửa chữa và tập trung thuyền
chiến, học đường và kho lương
thực, trại voi chiến, trường đúc
tiền... Ngoài mặt thành là phố xá chợ búa.
Chợ Bến Nghé, chợ Sài G̣n. (Chợ Lớn bây
giờ) là những khu chợ quan trọng, những thương
cảng tiếp nhận tàu thuyền các nước
đến buôn bán. Ngoài ra c̣n có những khu chợ khác
như chợ Thị Nghè, chợ Cây Đa C̣m, chợ
Bến Soi, chợ Điều Khiên...
Sau đó Nguyễn Ánh
thắng được Tây Sơn, lập nên nhà
Nguyễn và đóng đô ở Huế. Dù không c̣n là
kinh đô, Sài G̣n vẫn là thủ phủ của vùng
đất phía Nam. Đầu thời Nguyễn, vùng
đất Nam Bộ được lập thành
một đơn vị hành chánh: Gia Định thành.
Lê Văn Duyệt giữ chức Tổng trào thành Gia
Định trong khoảng 16 năm. Trong dân gian và sách
vở vẫn c̣n giữ lại nhiều giai thoại
về vị quan nói tiếng này. Mộ và đền
thờ của ông ở Bà Chiểu (Lăng Ông).
Sài G̣n là một trung tâm
giao dịch quan trọng của cả nước, là
một trung tâm văn hóa của Nam Bộ. Mỗi ba năm,
thi Hương được tổ chức ở trường
thi Gia Định (đặt ở Sài G̣n) để
lấy các cử nhân. Dân số Sài G̣n vào năm 1819
đă vào khoảng 60.000 người.
Trong thời gian này,
một số thương gia, sứ giả Tây phương
đă ghé Sài G̣n như John White (sĩ quan Hoa Kỳ
đến Sài G̣n năm 1819), Crawfurd, Finlayson (phái
bộ của nước Anh đến Việt Nam năm
1882)... Họ đă để lại những hồi kư
mô tả sinh hoạt của Sài G̣n vào lúc đó. (J.
White viết quyển "A voyage to Cochinchina",
xuất bản năm 1824, Crawfurd viết quyển
"Journal of a Embassy from the Governor general of Indian to the
Courts of Siam and Cochinchina", xuất bản ở Luân
Đôn vài năm sau chuyến đi).
Năm
1833, Lê Văn Khôi, con nuôi của Lê Văn Duyệt
nổi lên chống triều đ́nh Huế, sau khi
bị quân triều đ́nh đánh bại nhiều
trận Lê Văn Khôi cố thủ trong thành Qui. Ba năm
sau quân triều đ́nh mới hạ được
thành. Vua Minh Mạng cho phá thành Qui và cho xây lại thành
mới nhỏ hơn, nằm ở một góc cũ. Thành
mới thường được gọi là "Thành
Phụng". Thành này chu vi chỉ có 1.960m, mỗi
cạnh dài 490 mét, tường cao 4,7m và hào bao quanh
rộng 52 mét. Thành cũng được xây cất
theo kiểu Vauban. Vị trị Thành Phụng nằm
trong khu vực các đường Nguyễn Du,
Nguyễn Đ́nh Chiểu, Nguyễn Bỉnh Khiêm, và
Mạc Đỉnh Chi ngày nay.
Năm 1832, Gia Định
thành bị băi bỏ, toàn bộ Nam Bộ được
chia làm 6 tỉnh trực thuộc triều Đ́nh
Huế. Sài G̣n là thủ đô của tỉnh Gia
Định. Tuy nhiên đây là trung tâm quân sự và
nhất là trung tâm kinh tế của Nam Bộ.
Giữa thế kỷ 19
thực dân Pháp đem quân đến chiếm Việt
Nam. Tháng 5-1859 đô đốc Pháp Rigault de Genouilly
đem 2.000 quân Pháp và Tây Ban Nha cùng 8 chiến tàu
đánh Sài G̣n. Sau khi hạ được thành,
thực dân Pháp đă dùng 32 khối ḿn để phá
tung nhiêu đoạn thành, chúng đă đốt phá
dinh thự kho tàng bên trong thành và phố xá thương
măi, nhà cửa dân cư bên ngoài.
"Bến Nghé
của tiền tan bọt nước
Đồng Nai tranh ngói nhuộm màu mây"
Năm 1860 quân triều
đ́nh do Nguyễn Tri Phương thống lănh vào
đánh quân Pháp, đă dặp một thành rất
lớn, dài khoảng 3.000 mét, rộng 1.000 mét ở khu
vực làng Chí Ḥa, gọi là Đại Đồn hay
đồn Kỳ Ḥa. Tuy nhiên Đại Đồn cũng
bị thất thủ và sau đó bị phá hủy.
Sau khi phá vỡ Đại
Đồn, quân Pháp chiếm đóng ba tỉnh
miền Đông (Biên Ḥa, Gia Định, Định Tường)
và sau đó chiếm nốt ba tỉnh miền Tây (Vĩnh
Long, An Giang, Hà Tiên). Sài G̣n trở thành trung tâm cai
trị và kinh tế của thực dân ở Nam Kỳ.
Thành Phố sài G̣n mang nét Tây phương-thuộc
địa được bắt đầu xây
dựng.
Ngay khi vừa chiếm
được Sài G̣n, đô đốc Charnar đă kư
nghị định (ngày 11-4-1861) thành lập "thành
phố Sài G̣n". Ranh giới của thành phố bao
gồm cả khu vực Chợ Lớn. Thực dân Pháp
đă phác họa một bản đồ qui hoạch
thành phố, dự trù cho 500.000 dân. Bao quanh thành
phố thực dân Pháp cho đào một kinh rộng 10
mét (kinh bao Ngạn) từ g̣ Cây mai qua Phú Thọ đến
rạch Thị Nghè (vị trí cầu Công Lư ngày nay),
bản đồ qui hoạch này sau đó bị
bỏ, con kinh đào cũng chưa hoàn tất.
Năm 1865, chính quyền
thực dân quyết định thành lập hai thành
phố riêng biệt: Thành phố Sài G̣n với
diện tích khoảng 3km² (địa bàn quận I ngày
nay), thành phố Chợ Lớn rộng độ 2km²
(nằm trong quận V ngày nay). Họa đồ qui
hoạch thành phố căn cứ trên những con
đường đă có. Giữa hai thành phố Sài G̣n-Chợ
Lớn vẫn c̣n là vùng quê. Dân số thành phố (Sài
G̣n-Chợ Lớn) tăng dần:
1863: 20.000 dân
1890: 100.000 dân
1921: 300.000 dân
1945: 450.000 dân
Cùng với gia tăng dân
số, địa bàn thành phố phát triển
rộng hơn. Hai khu vực thị tứ riêng
biệt Sài G̣n và Chợ Lớn dần mở rộng.
Đến khoảng 1910, thành phố Sài G̣n bắt
đầu giáp ranh với thành phố Chợ Lớn.
Năm 1931, hai thành phố Sài G̣n-Chợ Lớn
được sát nhập làm một và được
chia ra thành 5 quận. Trong cuốc chiến tranh
chống thực dân Pháp (1945-1954) và đế quốc
Mỹ (1960-1975) dân số thành phố gia tăng nhanh chóng.
Năm 1945 thành
phố có: 450.000 dân
1960 thành phố có:
2.000.000 dân
1973 thành phố có:
3.300.000 dân
1975 thành phố có:
3.900.000 dân
Năm 1955 thành phố Sài
G̣n-Chợ Lớn được gọi là "đô
thành Sài G̣n", diện tích là 51km² và chia làm 7
quận. Năm 1970 phần đất Thủ Thiêm
được sát nhập vào Sài G̣n. Lúc này thành
phố được chia làm 11 quận.
Năm 1976. Quốc
Hội khóa 6 đă chính thức đặt tên cho thành
phố là "thành phố Hồ Chí Minh" bao
gồm cả Sài G̣n, tỉnh Gia Định cũ và
một số vùng lân cận. Hiện nay thành phố
Hồ Chí Minh có diện tích 2.020 km², dân số hơn
4,5 triệu người. Thành phố có 12 quận
nội thành (Quận 1,2,3,4,5,6,7,8,9,10,11,12, B́nh Thạnh,
G̣ Vấp, Tân B́nh, Phú Nhuận) với diện tích
140km² và sáu huyện ngoại thành là Củ Chi, Hóc Môn,
Thủ Đức, B́nh Chánh, Nhà Bè, Duyên Hải
với diện tích là 1.889km².
|