 |
|
 |
 |
Bàn thờ tổ tiên trong
gia đình
Có thể hiểu nôm na tín ngưỡng là niềm tin
thành kính. Người Việt trong quá trình phát
triển, từng cộng đồng có tiếp thu tôn
giáo này hay tôn giáo khác từ bên ngoài truyền vào; nhưng
từ xa xưa, và đồng thời với những
tín điều của tôn giáo đang theo, vẫn có
một tín ngưỡng thờ Tổ tiên.
Cộng đồng lớn cả dân tộc có tổ
chung là các Vua Hùng với nơi thờ là Đền Hùng,
ngày giỗ Tổ mồng Mười tháng Ba mọi người
đều mong được đến thắp hương
tưởng niệm. Với đơn vị tụ cư
là làng, thì dân trong mỗi làng có một tổ chung là
Thành hoàng mà nơi thờ là đình làng. Đình làng
thường được xây dựng ở trước
làng, nhận cái thế đất thuận với dòng
chảy của nước và hướng thổi
của gió (phong thuỷ). ở đó, hàng năm có
những lễ hội để dân làng cộng
cảm mong một sự che chở chung. Cũng thế,
những người cùng nghề lại có chung nhà
thờ Tiên sư và vị tổ nghề. Trong khi đó
cộng đồng cùng huyết thống lại có
một ông tổ họ và nơi tưởng niệm
là nhà thờ họ. Tuy nhiên, đơn vị xã
hội nhỏ nhất là gia đình, ở đó thông
thường có vài thế hệ đang sống chung dưới
một mái nhà, và cùng thờ những bậc tổ tiên
gần của mình là cha mẹ, ông bà và cụ cố.
Như vậy mỗi người đang sống đều
là thành viên của những cộng đồng có quy
mô khác nhau, mỗi loại cộng đồng có
những vị Tổ riêng, nhưng tất cả
mọi người đều có một niềm tin
chung là tín ngưỡng Tổ tiên và do vậy cần
phải có nơi thờ Tổ tiên. Nơi thờ
ấy là đền, đình, nhà thờ họ, nhà
thờ tổ nghề và nhà ở của gia đình,
nghĩa là những công trình kiến trúc trang trọng
nhất của mỗi cộng đồng và mỗi cá
nhân. Tại những công trình ấy, bàn thờ
tổ tiên luôn ở trong nhà, nghĩa là thuộc
nội thất.
Từ thờ quốc tổ đến thờ cha
mẹ đó là một truyền thống đạo lý
rất đẹp, một nét khái quát, song gắn bó
với mỗi gia đình là bàn thờ gia tiên mà nhà nào
cũng có.
Với người Việt, trong mỗi khuôn viên bao
giờ cũng có một ngôi nhà chính dùng vào những
việc quan trọng như thờ phụng, tiếp khách,
sinh hoạt, ngủ và cất chứa tài sản quý.
Ngôi nhà ấy thường có số gian lẻ, hay
trừ phần làm buồng thì số gian nhà ngoài là
số lẻ, và như thế bao giờ cũng có
một gian giữa. Chính phía trong của gian giữa
bao giờ cũng được dành làm nơi thờ,
còn phía ngoài là nơi tiếp khách quý. Đấy là
trung tâm của nội thất, chỗ trang trọng
nhất, các sinh hoạt khác có diễn ra ở gian bên
cũng đều hướng về đấy. Gian
giữa lại luôn có cửa lớn ra vào, mở
cửa là nhìn thấy trời đất lưu thông,
âm dương hoà đồng để rồi cảm
hoá lẽ đời.
Bàn thờ tổ tiên của người Việt cũng
phần lớn hướng nam, hàm ý con cháu tôn vinh
tổ tiên là những bậc hiền tài theo tinh
thần "Thánh nhân nam diện nhi thính thiên hạ"
(Thánh nhân ngồi ngoảnh mặt hướng nam mà
nghe thiên hạ tâu bày).
Tuỳ quy mô ngôi nhà, và cũng tuỳ mức sống
chủ nhà mà bàn thờ có kích thước và hình
thức khác nhau. Những gia đình bần bách, nhà
tranh vách đất với những đồ đạc
trong nhà cũng đơn sơ, thì bàn thờ thường
chỉ là vạt phên tre giữa hai cột trong của
gian giữa, bên trong có bát hương nhỏ, đến
ngày Tết có thể được dán tờ tranh
chủ ở giữa vẽ những thứ như
ở một bàn thờ nhà khá giả, hai bên dán câu
đối đỏ, cũng tạo ra một cảnh
sắc sang trọng và sáng sủa để khỏi
tủi vong linh ông bà. ở những gia đình
thuộc loại "thường thường bậc
trung" trở lên, thì nơi ở là nhà ngói tường
gạch. Ăn nhập với khung nhà bằng gỗ
xoan sáng vàng hay gỗ lim đanh chắc, là những
đồ gỗ, giường phản có thể có
sập gụ tủ chè sang trọng, thì bàn thờ
được đóng đàng hoàng. Phần trong cùng
là gác lửng đóng nối giữa hai cột trong,
ngoài kê thêm sập thờ, nhang án, phía trên có treo hoành
phi và hai bên treo câu đối sơn then thếp vàng.
Trên bàn thờ có thể có khám, ngai hay ít ra cũng
đặt bài vị được chạm khá
cầu kỳ và sơn thếp cẩn thận. Trước
bài vị được đặt bình hương
sứ to để khi thắp những nén hương
vừa gợi ra bầu trời sao, vừa dâng
truyền ý nguyện con cháu lên những đấng
anh linh ở thinh không, phía ngoài còn bát nước
trắng và đĩa trầu cau. Có thể có thêm
đỉnh trầm bằng đồng, bên cạnh có
một hoặc hai chiếc độc bình vừa
biểu hiện tâm không lòng thành vừa để
cắm hoa trong ngày Tết và giỗ chạp. Hoa
cắm thờ thường là hoa huệ biểu
hiện trí tuệ với sự thanh cao cả ở hương
và sắc, ngày Tết hay cắm cành đào rực hoa,
vừa biểu hiện sắc xuân với bầu
trời rạng rỡ, vừa theo quan niệm xưa là
để trừ ma quỷ. Lại còn cây đèn
bằng đồng (hoặc gỗ sơn) để
khi thắp đèn nến thì gợi ra cả vũ
trụ với mặt trời. Nhang án gia đình khá
giả được làm khá công phu với những
ô hộc chạm tứ linh, dù đơn giản cũng
phải được sơn thiếp, có khi được
tính kích cỡ rất cẩn thận. Bàn thờ
ấy luôn gợi lên một chiều sâu tâm linh "cây
có gốc, nước có nguồn" vừa nhân
bản vừa vun đắp truyền thống, đồng
thời là niềm tự hào của gia chủ về
tổ tiên và về cách dạy con cháu.
Chúng ta trong một thời gian dài có lúc có nơi
nhận thức hời hợt về tín ngưỡng
và tôn giáo, coi nhẹ đình, đền, chùa, làm
đơn điệu hoá môi trường văn hoá làng,
không ít cán bộ hiểu thô thiển cả về khái
niệm duy tâm và duy vật, để tỏ ra "dứt
khoát" với quá khứ và "đoạn
tuyệt" với thần linh, ở nhà đã thu
nhỏ bàn thờ, thậm chí bỏ đi hoặc
đưa vào những chỗ phụ, khuất tối
để không gây sự chú ý!
Thế rồi những năm gần đây, trong trào
lưu đổi mới, nhiều người dù chưa
rõ ranh giới giữa tín ngưỡng với mê tín,
nhưng thâm tâm thấy việc thờ tổ tiên là
cần và đúng đạo lý. Và khi thấy
nhiều đình, đền, chùa được xác
nhận là di tích văn hoá - lịch sử, thì
vững tin rằng nơi thờ tổ tiên chí ít là
điểm hội tụ truyền thống tốt
của gia đình, và từ đó sẽ toả sáng
giá trị văn hoá soi cho con cháu bước vào tương
lai. Nhận thức đúng, nhưng việc làm có nơi
chiếu lệ, có nơi lại thái quá, trong nhà,
rồi ngoài sân và trên sân gác - nơi nào cũng
lập bàn thờ. Và trên bàn thờ gia tiên, ngoài bát
hương và mấy thứ đồ thờ khác, có
khi còn để không ít đồ nhựa, đồ
điện, và ngay cạnh đấy là những
tờ lịch. Tưởng làm thế là đẹp,
nhưng khi trên ti-vi và tờ lịch là những
cảnh "tươi mát" hay ít ra là những
cảnh "văn hoá bãi biển" thì môi trường
nội thất ấy thật là phản văn hoá!
Bàn thờ tổ tiên là biểu hiện nếp
sống văn hoá, biết vun trồng gốc để
cây đơm hoa đẹp, rồi kết trái
ngọt, do đó nó cần thiết đối với
mọi người mọi nhà. Song ngôi nhà bây giờ
đã khác trước, bàn thờ là một thành
tố của nội thất cũng phải thích
hợp với toàn cảnh. Ở nông thôn, ngôi nhà ít
biến đổi, kiểu bàn thờ cổ truyền
vẫn phát huy tác dụng; song với những ngôi nhà
mái bằng thường có nhiều đồ gỗ
kiểu mới và đồ điện hiện đại,
thì chiếc hương án cầu kỳ lại không
ăn nhập. Cũng thế, ở những khu tập
thể, bên cạnh dãy nhà cấp 4 lụp xụp
lại có những ngôi nhà hộp cao tầng, mỗi
gia đình một căn hộ với hướng nhà
và hướng cửa khá tùy tiện. Ở đấy,
vấn đề bức bách là không gian, có thể dùng
mặt tủ làm bàn thờ hoặc đóng cái giá gác
lên tường, cần đặt ở vị trí
trang trọng và có độ cao thích hợp để
khi thờ cúng thì mọi người tỏ được
sự ngưỡng vọng thành kính. Mặt tủ
đã thành bàn thờ thì chỉ nên để đồ
tế khí. Đã là bàn thờ phải có bát hương,
có điều kiện thì thêm bình hoa, cây đèn,
ống hương, hoa, đèn, nước, trái cây,
đĩa xôi hoặc phẩm oản, và theo phong
tục dân tộc thêm đĩa trầu cau.
Trong các gia đình, trừ trưởng tộc và trưởng
chi vừa thờ tổ họ và tổ ngành vừa
thờ gia tiên mình, các nhà con truởng thì thờ
mấy thế hệ gần nhất, còn từ đời
thứ 5 thì nhập chung vào lễ tế tổ,
phần lớn các gia đình là con thứ, thì đồng
thời theo thờ bố mẹ ở nhà con trưởng,
còn thờ thêm ở nhà mình. Do đó nếu có chân
dung tổ tiên xa thì để ở nhà thờ họ,
gần thì để ở nhà con trưởng, nhà con
thứ chỉ cần thờ chân dung bố mẹ. Tuy
nhiên, bàn thờ gia tiên là thờ chung, không cần
thiết phải có chân dung, thường có bài vị
tượng trưng vẽ cây thông già. Chân dung
chỉ cần thiết ở bàn thờ tang.
Bàn thờ tổ tiên là một bộ phận trong không
gian gia đình, nó tham gia vào nội thất với tính
chất trang nghiêm, lịch sự và thẩm mỹ.
Mỗi gia đình tuỳ không gian cho phép, tuỳ tương
quan với tiện nghi sinh hoạt khác, có thể làm
những bàn thờ thích hợp và đồ tế khí
phù hợp, làm sao cái đẹp ở đây phải
đảm bảo văn hoá ở cả chiều sâu tâm
linh và mặt bằng hình sắc. |
|
 |
|
 |
|
|
>>>Free Online Virus Scan
>>>World Time
|