HOME LỜI CHÚA ĐỨC TIN LINH ĐẠO THẦN HỌC ĐỜI SỐNG IN ENGLISH VỀ TÁC GIẢ
Dẫn Nhập Thần Học Mặc Khải Sẽ Sống Nếu Bạn Tin Thiên Chúa Ba Ngôi Tôn Giáo Ngoài Kitô Ân Sủng Và Biểu Tượng
TÔN GIÁO NGOÀI KITÔ
Giuse Phạm Thanh Liêm, SJ
MỤC LỤC:
II. TÔN GIÁO NGOÀI-KITÔ THEO NHÃN QUAN MẶC
KHẢI
A.
CÁC TÔN-GIÁO-NGOÀI-KITÔ CÓ MẶC KHẢI
B.
TÔN GIÁO NGOÀI-KITÔ LÀ PHƯƠNG TIỆN CỨU ĐỘ
2.
Tôn giáo- phương tiện cứu độ thứ yếu
3.
Vị thế ưu việt của đức Yêsu Kitô
Không
có mặc khải thì không có cứu độ. Một các tổng quát, thần học chấp nhận cùng với
thánh Thomas: ngoài Kitô giáo ơn cứu độ được biết nhờ mặc khải đặc biệt[1].
Như vậy để biết các tôn-giáo-ngoài-kitô có giá trị cứu độ hay không, hãy xem
các tôn-giáo-ngoài-kitô có mặc khải hay không. Nếu không có mặc khải nơi các
tôn-giáo-ngoài-kitô, các tôn-giáo-ngoài-kitô không có sự can thiệp của Thiên
Chúa, nghĩa là, tôn-giáo-ngoài-kitô chỉ là công trình của con người, và như vậy
nó không có giá trị cứu độ. Còn nếu các tôn-giáo-ngoài-kitô có mặc khải, thì đó
là công trình của Thiên Chúa và các tôn-giáo-ngoài-kitô có giá trị cứu độ.
Thiên
Chúa mặc khải cho con người chứ không cho một cơ cấu; nên khi đặt câu hỏi “các
tôn-giáo-ngoài-kitô có mặc khải không”, hàm chứa, “những người sáng lập các tôn
giáo đó có được mặc khải không? những người trong các tôn giáo đó có nhận lãnh
mặc khải không? cơ cấu tôn-giáo-ngoài-kitô có khả năng bảo tồn và lưu chuyển
mặc khải không?”.
Để
biết Thiên Chúa có mặc khải trong các tôn-giáo-ngoài-kitô không, sẽ xét về mặt
lý thuyết có gì ngăn trở Thiên Chúa mặc khải nơi các tôn giáo ngoài-kitô không,
nếu không có mâu thuẫn nội tại thì sẽ xem thực tế Thiên Chúa có mặc khải nơi
các tôn giáo ngoài-kitô không!
Trong
mục này, trước tiên tìm hiểu về khái niệm mặc khải, kế tiếp xem những người
sống trong các tôn-giáo-ngoài-kitô nghĩ gì về vấn đề mặc khải nơi các tôn giáo
của họ, và sau cùng xét Thiên Chúa trên nguyên tắc có thể mặc khải nơi
các tôn-giáo-ngoài-kitô không.
a. Khái niệm về
mặc khải
Theo
N. Jung, mặc khải là Lời của Thiên Chúa dạy dỗ và chứng thực[2].
Theo K. Barth, mặc khải là hành vi tối thượng của ân sủng Thiên Chúa, ở đó Ngài
ban chính Ngài cho người ta biết; đức tin là nhận biết và chấp nhận sự kiện này[3].
Theo L. S. Thornton, mặc khải là một hoạt động thần linh, qua đó Đấng Tạo Hóa
thông ban chính mình cho con người và khi làm như vậy, Ngài gợi cho con người
đáp trả và cùng hành động [4].
Theo Geoffrey Parrinder, khuynh hướng thời đại này cho rằng mặc khải là hành vi
hay sự tự tỏ lộ chính mình của Thiên Chúa[5];
hiểu như vậy mặc khải không chỉ là một kho chân lý được chứa trong Kinh Thánh,
mà còn là hành vi sống động và liên tục của Thiên Chúa.
Theo
đức Giáo hoàng Phaolô VI, mặc khải là cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và con
người: “Mặc khải, là mặc khải siêu nhiên mà chính Thiên Chúa đã có sáng kiến
thiết lập với nhân loại, có thể được trình bày như cuộc đối thoại trong đó, Lời
Thiên Chúa tự diễn tả mình bằng việc nhập thể và sau đó bằng Tin Mừng”[6].
Theo
hiến chế Mặc Khải của công đồng chung Vatican II, “trong mặc khải, Thiên Chúa
vô hình, vì lòng thương yêu vô bờ bến của Ngài, đã ngỏ lời với con người như
thể với bạn hữu và trò chuyện với họ nhằm đưa họ vào trong thông giao với Người
và để nhận họ vào trong sự thông giao đó” (DV.2). Những hàng đơn sơ này của
công đồng, cho thấy mục đích của mặc khải là giúp đưa con người vào sống trong
sự thông giao, hiệp thông với Thiên Chúa. Một lần nữa lại thấy ở đâu có mặc
khải thì ở đó có ơn cứu độ nếu người ta đáp trả!
Như
vậy mặc khải là việc Thiên Chúa tỏ lộ chính mình Ngài cho con người, để con
người được sống trong hiệp thông với Ngài. Có thể nói mặc khải là bước khởi đầu
của ơn cứu độ. Khi Thiên Chúa mặc khải chính Ngài, thì con người biết lòng nhân
từ vô biên của Ngài, biết về ý định cứu độ con người của Ngài, và cũng nhờ mặc
khải mà con người biết chính mình hơn. Mặc khải là việc Thiên Chúa tỏ lộ chính
Thiên Chúa và con người cùng ý định của Ngài cho con ngườí!
Các
nhà thần học còn chia ra làm nhiều loại mặc khải, chẳng hạn như mặc khải tiên
khởi, mặc khải thiên nhiên, mặc khải lương tâm, mặc khải triết lý, mặc khải
siêu nhiên, mặc khải tiên tri, mặc khải lịch sử, mặc khải phổ quát, mặc khải
riêng tư.
· Mặc khải tiên khởi[7]
là mặc khải Thiên Chúa tỏ lộ cho những con người đầu tiên, nói một cách cụ thể
là cho ông bà nguyên tổ. Mới thoạt nói, thấy khái niệm này đơn giản nhưng thực
tế rất phức tạp vì mỗi tác giả giải thích mỗi khác, mỗi người xác định cho nó
những đặc điểm về nguồn gốc, người được hưởng, sự cần thiết và sự lưu truyền
của mặc khải này theo quan điểm của họ[8].
· Mặc khải tự nhiên là mặc khải được ghi
trong trật tự thiên nhiên, nó hiện hữu ngay trong việc tạo dựng. Mặc khải thiên
nhiên biểu lộ Thiên Chúa như chủ của thế giới, trong tương quan nhân quả. Mặc
khải thiên nhiên khám phá một Thiên Chúa hiện diện và Thiên Chúa ngôi vị, nhưng
mầu nhiệm ngôi vị này vượt khỏi nó. Mặc khải thiên nhiên đạt tới ngưỡng cửa mầu
nhiệm nhưng không thể vào được... vì tội của con người, vì sự kiêu ngạo, vì sự
yếu đuối của con tim, người ta luôn có khuynh hướng lầm lẫn chủ tể thiên nhiên
với thiên nhiên[9].
· Mặc khải siêu nhiên tiến gần Thiên Chúa
duy nhất và ba ngôi, tác giả của trật tự siêu nhiên. Mặc khải siêu nhiên có lời
đáp trả trực tiếp là đức tin; đức tin giúp con người gặp gỡ, hướng về thị kiến
Thiên Chúa hằng sống. Mặc khải siêu nhiên coi mầu nhiệm đời sống thâm sâu của
Thiên Chúa là đối tượng. Nó khai mào một cuộc đối thoại, tình bạn, sự hiệp thông,
sự chia sẻ những điều thiện hảo giữa Thiên Chúa và tạo vật.
· Mặc khải phổ quát và mặc khải đặc biệt.
Mặc khải phổ quát là mặc khải mà mọi người có thể nhận thấy, mặc khải cho mọi
người. Mặc khải này bao gồm mặc khải tự nhiên và mặc khải lương tâm. Mặc khải
đặc biệt gồm cả mặc khải huyền nhiệm, mặc khải triết lý, mặc khải lịch sử, mặc
khải riêng tư, mặc khải công khai.
· Mặc khải triết lý, mặc khải khôn ngoan
là điều Thiên Chúa muốn tỏ lộ cho con người qua khả năng lý trí được ban cho
con người với nỗ lực suy tư của họ.
· Mặc khải huyền nhiệm (mặc khải thần bí)
là những gì Thiên Chúa ban cho ai đó để dẫn họ tới đời sống kết hợp đặc biệt
với Thiên Chúa. Những nhà thần bí thường có lời giải thích những biến cố lịch
sử. Mặc khải lịch sử được thể hiện rõ ràng nơi lịch sử dân Do Thái, và các tiên
tri là những người giải thích lịch sử trên vị thế của Thiên Chúa[10].
· Mặc khải tiên tri là mặc khải cho một
cá nhân nhưng nhằm cho cả cộng đoàn. Với mặc khải này, cá nhân được mặc khải
“bắt buộc” phải trở thành chứng nhân, loan báo mặc khải này cho dân[11].
· Mặc khải riêng tư là mặc khải cho một
cá nhân để họ được cứu độ khi họ sống ngoài Kitô giáo[12];
mặc khải riêng tư còn được dùng để gọi mặc khải xảy ra sau khi các tông đồ chết
(mặc khải cộng đồng) và không nằm trong kho tàng đức tin (depositum fidei); mặc
khải cộng đồng được trao cho Giáo Hội bảo quản và truyền bá, còn mặc khải riêng
tư thì không chính thức được trao cho Giáo Hội, nhưng dù vậy nó vẫn nhắm tới
mọi người[13].
Quan niệm
mặc khải riêng tư là mặc khải vẫn là cho tất cả nhưng không được ký thác cho
Giáo Hội, nghĩa là, không nằm trong depositum fidei, có sau khi các tông đồ
chết, là của K. Rahner. Để biện minh cho từ ngữ ngài dùng, ngài đã phân biệt
mặc khải trước và sau đức Kitô xuất hiện. Trước khi đức Kitô xuất hiện người ta
phải sẵn sàng đón nhận một mặc khải mới từ Thiên Chúa, Đấng có thể thiết lập
một giao ước mới để cứu độ con người[14].
Còn sau và từ khi đức Kitô xuất hiện, thời đại mới và cuối cùng đã xuất hiện;
hành vi và chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa đối với con người đã đạt đến
kỳ điểm cuối cùng và chung cuộc. Chính vì thế với thời đại Kitô, người ta không
còn phải chờ mong bất cứ cái gì có thể thay đổi điều kiện cứu độ con người nữa.
Trước đức Kitô xuất hiện người ta không chỉ có thể chờ nhưng phải chờ mong sự
thay đổi; còn hôm nay Kitô hữu chỉ phải chờ sự tỏ hiện của cuộc đối thoại giữa
Thiên Chúa và con người vào ngày phán xét cuối cùng. Thần học hiện sinh về khả
thể mặc khải và mặc khải tương lai của Thiên Chúa đối với con người trước đức
Kitô đã được thay thế bằng nền thần học cánh chung đối với Kitô hữu. Như vậy
không có nghĩa, thời này không còn mặc khải nào nữa. Ngay trong thời đại cuối
cùng này vẫn có thể có mặc khải cho cá nhân và mặc khải đó cũng có thể ảnh
hưởng đến thân thể Giáo Hội, nhưng mặc khải này không thay đổi điều kiện cứu độ
vì điều kiện này đã được đức Yêsu làm nên trọn[15].
Theo K. Rahner, Thánh Linh có thể tác động trên Giáo Hội qua một phần tử nào đó
trong Giáo Hội để loan báo cho Giáo Hội biết điều Thánh Linh đòi hỏi lúc này.
Theo K. Rahner, điểm chính yếu của mặc khải riêng tư[16]
sau thời tông đồ là: Thiên Chúa gïợi cho một phần tử trong Giáo Hội để truyền
mệnh lệnh của Ngài cho Giáo Hội trong một hoàn cảnh lịch sử cụ thể[17].
Theo
K. Rahner, khả thể của mặc khải riêng tư bằng thị kiến hoặc bằng kinh nghiệm
thính giác, là hiển nhiên trên nguyên tắc với một kitô-hữu. Vì Thiên Chúa là
thực thể hữu vị tự do, Ngài có thể tỏ ban chính Ngài cho một tinh thần thọ tạo,
không chỉ qua công trình của Ngài nhưng cũng còn bằng Lời tự do và hữu vị của
Ngài nữa[18]. Mặc khải riêng tư tiên
tri không chỉ liên hệ với cá nhân người được thị kiến nhưng còn được gởi tới
Giáo Hội hay một phần lớn Giáo Hội để cổ võ một sự sùng kính đặc biệt nào đó,
hoặc để khuyến khích ăn năn, giáo huấn về điều gì đó, cảnh cáo chống lại một
vài học thuyết, khuyến khích một giáo thuyết hay một cách sống, v.v... Trong
dòng lịch sử Giáo Hội, người ta thấy có những mặc khải riêng tư thuộc loại này,
và chúng đã ảnh hưởng rất nhiều trên Giáo Hội[19].
Nếu một khi Thiên Chúa đã nói và sự kiện đã được thiết lập qua kiểm chứng, thì
mọi người phải lắng nghe, vâng phục và tin tưởng theo mức độ sứ điệp liên quan
đến[20].
Gút
lại, có thể chia mặc khải ra làm ba cấp độ: mặc khải phổ quát, mặc khải đặc biệt
cấp một và mặc khải đặc biệt cấp hai. Mặc khải phổ quát gồm mặc khải qua thiên
nhiên và qua lương tâm, mặc khải đặc biệt cấp một gồm mặc khải triết lý và mặc
khải huyền nhiệm, và mặc khải đặc biệt cấp hai là mặc khải qua lịch sử và đức
Kitô. Các phân chia này cũng tương đối và có tiêu chuẩn là phương tiện mặc khải[21].
Mặc khải lịch sử ở đây được hiểu là những biến cố trong lịch sử dân
Nhìn
dưới nhãn quan Kitô giáo, ba cấp độ mặc khải này đều hàm chứa trong Kinh Thánh:
· mặc khải qua thiên nhiên (St.1), qua
lương tâm (Rm.1,1 8tt),
· mặc khải khôn ngoan (trong văn chương
khôn ngoan của Kinh Thánh, thường thuộc thời sau lưu đày, năm 539 TCN[22]),
mặc khải huyền nhiệm (với các thị kiến, đặc biệt nơi các tiên tri),
· mặc khải lịch sử, qua các biến cố và
đặc biệt nơi đức Yêsu Kitô; đức Yêsu là mặc khải tối hậu.
Nơi Do
Thái giáo và Kitô giáo, công trình tạo dựng, Luật, Khôn Ngoan, những can thiệp
của Thiên Chúa trong dòng lịch sử dân
Bây
giờ trở lại vấn đề, cụ thể xem các tín hữu nơi các tôn-giáo-ngoài-kitô nghĩ gì
về mặc khải?
b. Niềm tin của
các tín hữu ngoài-kitô
Sự
kiện không thể chối cãi là những tôn giáo lớn như Phật giáo, Ấn giáo, Hồi giáo,
đều có Kinh Thánh; chẳng hạn như Ấn Độ giáo có kinh Veda, Hồi giáo có kinh
Koran, Do Thái giáo có Cựu Ước. Người đạo Bàlamôn coi Rig-veda là Cruti, nghĩa
là Lời mặc khải[23]; người Hồi giáo coi kinh
Koran là Lời Thiên Chúa “Koran là Lời Thiên Chúa, được viết trong sách, được
gìn giữ trong trí nhớ, được lập lại bằng lưỡi, được mặc khải cho vị tiên tri.
Những lời loan báo, việc sao chép, việc đọc kinh Koran của chúng ta là được tạo
thành, trong khi đó Koran thì không được tạo thành”[24].
Hồi
xưa khi các học giả kitô giáo được hỏi: kinh Koran có được mặc khải không?
Thường có câu trả lời là không! Ngày nay với khoa tôn giáo
đối chiếu, một số học giả Kitô giáo muốn đặt lại vấn đề và nghi ngờ câu trả lời
không
của những người trước! Đứng trên khía cạnh thuần túy khoa học để khảo sát,
nghĩa là không thuộc phe phái hay quan điểm tôn giáo nào, người ta ghi nhận
rằng:
· với người Hồi giáo thì Koran là sách
mặc khải, còn Veda và Tân Ước thì không được mặc khải;
· còn đối với người Do thái giáo thì Cựu
Ước được mặc khải còn Tân Ước, Veda, Koran không được mặc khải!
Mỗi người có một lập trường dựa trên tôn giáo họ
theo, coi điều mình tin là đúng, được mặc khải, còn điều người khác tin là
không được mặc khải! Khoa học về các tôn giáo, cũng còn gọi là khoa học tôn
giáo đối chiếu, nghiên cứu về nguồn gốc, sự hình thành và phát triển của các
tôn giáo, những điểm dị đồng giữa các tôn giáo giúp có những dữ kiện để người
ta dễ dàng suy tư hơn về vấn đề này. Những người làm công việc đối chiếu giữa
các tôn giáo không phải là những người chủ trương tất cả các tôn giáo đều như
nhau; nhưng khi làm công việc này, họ không đứng trên một quan niệm tôn giáo
nào, họ coi tất cả các tôn giáo đều như nhau, nghĩa là có những điểm đúng và
những điểm sai (xét trên những mặt thuần túy lịch sử hoặc nhân loại).
Với
phương pháp hiện tượng luận, Th. P. Van Baaren cho rằng các tôn-giáo-ngoài-kitô
được mặc khải[25]. Như vậy vấn đề hiện tại
còn lại, trên quan điểm Kitô giáo, có thể bảo vệ ý kiến cho rằng Thiên
Chúa cũng mặc khải cho nhân loại ở ngoài truyền thống Do Thái không? Người theo
tôn-giáo-ngoài-kitô cho rằng tôn giáo họ theo được mặc khải, nghĩa là, Thiên
Chúa đã nói với họ và họ cũng có Kinh Thánh, vậy điều họ cho là được mặc khải
có thật là được Thiên Chúa mặc khải không?
c. Thiên Chúa
tự do mặc khải
Thiên
Chúa có thể mặc khải cho các người sống trong các tôn-giáo-ngoài-kitô không?
Nói cách khác, với những điều kitô-hữu biết về Thiên Chúa và những điều Thiên
Chúa mặc khải, kitô-hữu có tìm thấy điều nào cho thấy Thiên Chúa không mặc khải
nơi tôn giáo ngoài kitô không?
Thiên
Chúa là nhất thể tam vị, Ngài tự do trong mọi sáng kiến và hoạt động của Ngài,
Ngài muốn mặc khải cho ai, ở đâu là tùy ý Ngài, không gì cấm cản được Ngài.
i. Kitô giáo
vẫn ưu việt
Giả
như Thiên Chúa mặc khải nơi tôn-giáo-ngoài-kitô, thì Kitô giáo có còn tính ưu
việt nữa không, hay Kitô giáo cũng ngang hàng với các tôn giáo khác và đức Kitô
cũng ngang hàng với đức Phật, đức Mahomet, Zarathoustra?
Nếu
các tôn-giáo-ngoài-kitô cũng được mặc khải, Kitô giáo vẫn giữ được tính ưu
việt, nghĩa là, vẫn là phương tiện cần thiết để được cứu độ (LG.14), vì đức
Kitô vẫn là Lời mặc khải trong các tôn-giáo-ngoài-kitô, và hơn nữa Ngài cũng là
mặc khải trọn vẹn của Thiên Chúa. Đức Kitô vẫn là chóp đỉnh mặc khải mà các tôn
khác phải vươn tới.
ii. Sai lầm
không đến từ Thiên Chúa
Nếu
Thiên Chúa mặc khải cho tôn-giáo-ngoài-kitô thì tại sao có những sai lầm trong
các tôn giáo đó? Tại sao các tôn giáo đó không có chân lý như Kitô giáo? Nếu
cùng một Thiên Chúa mặc khải thì tại sao những chân lý đó không hòa hợp được
với nhau?
Những
gì sai lầm trong các tôn-giáo-ngoài-kitô không đến từ Thiên Chúa, nghĩa là
những điều đó không là những điều được mặc khải! Những điều không thể dung hợp,
hoặc đối kháng với chân lý được mặc khải trong Kitô giáo, cũng được coi như không
đến từ Thiên Chúa; Chỉ những gì hay hoặc tốt nơi các
tôn-giáo-ngoài-kitô mới được coi là những điều Thiên Chúa mặc khải mà thôi.
Chính những sai lầm hoặc những chân lý chưa
trọn vẹn nơi các tôn-giáo-ngoài-kitô, giúp người ta nhận ra tính ưu việt
của Kitô giáo.
Nếu
chấp nhận có mặc khải nơi các tôn-giáo-ngoài-kitô, người ta thấy những chân lý
và sự kiện có các nhà thần bí được giải thích dễ dàng hơn: “tất cả những gì tốt
đẹp đều đến từ Thiên Chúa”.
Tóm
lại, người ta đã không tìm được lý do để kết luận “trên nguyên tắc” Thiên Chúa
không thể mặc khải nơi tôn-giáo-ngoài-kitô.
Trên
nguyên tắc không gì ngăn cản Thiên Chúa mặc khải cho các tôn-giáo-ngoài-kitô
nhưng cụ thể thì sao? Thiên Chúa có mặc khải nơi tôn-giáo-ngoài-kitô không?
Thực tế Thiên Chúa đã mặc khải ngoài Kitô giáo; hơn nữa, trong các
tôn-giáo-ngoài-kitô có giá trị mặc khải; và có thể kết luận “Thiên Chúa đã mặc
khải trong các tôn giáo ngoài-kitô”.
a. Mặc khải
ngoài Kitô giáo
Cùng
đích của con người, là sống thiết thân với Chúa. Sau khi mối tương quan thân
mật với Ngài bị chính con người phá hủy, tự sức con người không thể nối lại mối
tương quan ấy, nghĩa là, con người không thể tự mình cứu độ mình được! Trong
lịch sử cứu độ, Thiên Chúa luôn luôn là người có sáng kiến nối lại tương giao
với con người. Lịch sử cứu độ đặc biệt bắt đầu với ơn gọi Abraham, nhưng trước
khi Abraham xuất hiện, Thiên Chúa đã can thiệp trong dòng lịch sử của con
người.
i. Trước Abraham
Ngay
sau khi con người đầu tiên phản bội, Thiên Chúa đã đi tìm con người và ngỏ lời
với con người đầu tiên, dù con người lẩn tránh Thiên Chúa (St.3, 9-10). Trong
lần gặp gỡ này, ơn cứu độ đã được hứa ban cho con người (
Hênok
được Kinh Thánh ca ngợi, cho rằng ông đã đi với Thiên Chúa (St.5, 22-24). Như
vậy chúng ta thấy Thiên Chúa không ngừng hiện diện với con người. Trong giao
ước Thiên Chúa ký kết với Noê và gia đình ông, giao ước này không chỉ gồm Noê
và gia đình, nhưng bao gồm tất cả chúng sinh ở với họ: “Này là dấu ta đặt giữa
ta và các ngươi, cùng tất cả chúng sinh ở với các người, đời đời mãi mãi”
(St.9, 12.15-17). Tương quan giữa con người và Thiên Chúa đã được chính Thiên
Chúa cương quyết nối lại: Ngài không ngừng ngỏ lời, đối thoại và tỏ hiện với
con ngườí! Ngài làm tất cả để cứu con người.
ii. Balaam tiên
tri dân ngoại
Sau
biến cố Thiên Chúa kêu gọi Abraham, Ngài vẫn tỏ mình cho dân ngoại như trong
trình thuật Balaam. Balaam là tiên tri của dân ngoại bên bờ sông Phơrat, ông đã
có tương quan khá mật thiết với Thiên Chúa dù ông không phải người
iii. Đấng Kitô
là người ngoại
Với
Kyrô vua xứ Batư, tiên tri Ysaya nói là Thiên Chúa đã xức dầu phong vương để
ông giải phóng dân
Như
vậy, Thiên Chúa không chỉ mặc khải cho dân ngoại qua việc tạo dựng, qua lương
tâm, qua sự khôn ngoan do lý trí tìm kiếm, nhưng còn bằng những lời hoặc bằng
chính con người Thiên Chúa chọn và ngỏ ý, tỏ bày ý định của Ngài cách đặc biệt.
Có thể nói Thiên Chúa mặc khải cho Noê và gia đình ông, và qua đó cho tất cả
mọi người và mọi sinh vật trên đất, là mặc khải tiên tri.
Những
lý chứng trên cho thấy Thiên Chúa đã mặc khải cho dân ngoại theo cách thức và
lề lối của họ, để cứu độ tất cả nhân loại, vì Thiên Chúa là Thiên Chúa của cả
dân Do thái lẫn dân ngoại, Đấng “muốn cho mọi người được cứu rỗi và nhận biết
sự thật” (1Tm. 2, 4). Cũng trong bầu khí này, Lời Kinh Thánh trong thư gởi Do
Thái “Ngày xưa nhiều lần nhiều cách Thiên Chúa đã nói với chúng ta qua các tiên
tri; vào thời sau hết, tức là trong những ngày này, Người đã nói với chúng ta
nơi một người Con” (Hb.1, 1), không chỉ đúng với dân Do Thái nhưng còn đúng với
cả dân ngoại nữa. Dầu vậy người ta cũng phải thêm rằng, cả khi chấp nhận Thiên
Chúa nói với dân ngoại theo “kiểu của Thiên Chúa và cũng là kiểu của họ”, người
ta vẫn thấy rằng qua biến cố Thiên Chúa mặc khải cho dân riêng Ngài, Ngài cũng
mặc khải cho cả dân ngoại nữa. Điều này người ta thấy rõ khi:
· Yavê Thiên Chúa giải phóng dân riêng ra
khỏi AiCập, và qua biến cố này, “dân AiCập sẽ biết rằng Ta là Yavê” (Xh.14,18);
· Quân Philitinh chiếm được hòm bia Thiên
Chúa, nhưng Thiên Chúa đã đánh phạt những nơi nào có sự hiện diện của hòm bia.
Dân chúng đã sợ hãi và đem trả hòm bia lại cho con dân Israel sau khi đã tỏ
lòng tôn kính hòm bia và Thiên Chúa dân Israel thờ qua việc cúng tế (kiểu của
những dân này) (1Sam.5-6)
b. Mặc khải nơi
các tôn-giáo-ngoài-kitô
Các
tôn giáo ngoài-kitô có mặc khải không? Người ta có thể xét
mặc khải phổ quát qua thiên nhiên và lương tâm;
mặc khải triết lý;
mặc khải huyền nhiệm;
mặc khải qua lịch sử và lời giải thích;
mặc khải nơi Đức Yêsu Kitô.
Mặc
khải phổ quát qua thiên nhiên và lương tâm, dành cho tất cả mọi người, nên
không thành vấn đề. Mặc khải nơi Đức Yêsu là độc nhất, nên cũng khỏi phải bàn.
Như vậy chỉ cần lưu ý mặc khải đặc biệt cấp một[26]
và một phần mặc khải đặc biệt cấp hai[27],
nghĩa là, mặc khải huyền nhiệm tiên tri và mặc khải lịch sử có lời giải thích
biến cố[28].
Theo
R. Latourelle[29], mặc khải Kitô giáo phải
là tiêu chuẩn để biết các tôn giáo ngoài-kitô có mặc khải không. Nói như vậy
không phải là đánh giá thấp các tôn-giáo-ngoài-kitô, nhưng đó là cách duy nhất
để xác định và lượng giá mặc khải nơi các tôn-giáo-ngoài-kitô; bởi vì đức Kitô
là chóp đỉnh của mọi mặc khải, nên nhờ Ngài mà người ta có thể xác định và phân
biệt những hình thức mặc khải khác nhau[30].
Sẽ so
sánh giáo lý hoặc niềm tin của những tôn giáo khác với đức tin Kitô giáo để
biết xem tôn-giáo-ngoài-kitô đó có mặc khải không.
i. Dấu chỉ và
thực tại
Trong
thời xa xưa và ngày nay cũng vẫn còn có những người cúng tế “thần cây đa”,
“thần đá”, v.v... Tín ngưỡng này không hiếm trong niềm tin bình dân của những
người Việt
Theo
M. Éliade, những cây và những đá được thờ không phải chúng được
thờ vì chúng là cây là đá, nhưng chúng được thờ bởi vì chúng biểu lộ cái gì
không còn là cây là đá mà là cái gì thánh, một cách hoàn toàn khác (ganz
andere)[31].
Niềm tin bình dân này tuy được diễn tả cách tập thể tại một số nơi nhưng nó
không là tôn giáo đúng nghĩa, vì không có một nền giáo lý diễn đạt niềm tin của
họ, dầu vậy nó cũng cho người ta thấy có niềm tin vào một cái gì siêu
việt, và một cách nào đó có thể nói, niềm tin này cũng có giá trị cứu
độ.
Có thể
đồng ý với triết gia Kierkegaard: “Lời nguyện có thể là không chân thực khi cầu
nguyện với Thiên Chúa chân thực, nhưng người ta cũng có
thể cầu nguyện trong chân lý mặc dù người ta dâng lời cầu nguyện trước một ngẫu
tượng”[32].
Đây là
“sự thần hiển” của những thế lực chống Thiên Chúa hay là “sự thần hiển” của
chính Thiên Chúa? Theo thiển kiến, nếu không chứng minh được đó là sự thần hiển
của ma qủy, thì cứ giả sử chúng tự Thiên Chúa mà đến.
ii. Chân lý và
sự thật
Ở
phương đông các hình thức và hệ thống tôn giáo chỉ có giá trị “lại gần” chân
lý. Chẳng hạn ở Trung Hoa, ba tôn giáo (Khổng-Phật-Lão) tuy là ba trong hệ
thống nhưng chỉ là một trong cách sống, cách cư xử. Ở Ấn Độ cũng vậy,
Ramakrishna nói: “Hữu thể là đơn nhất nhưng có nhiều tên gọi... Bạn hãy gọi như
bạn muốn và cầu nguyện với Ngài theo hình thức thích hợp với bạn hơn”[33].
Quan niệm tương đối này được thấy gần như hầu hết nơi các tác giả lớn:
· ngón tay chỉ mặt trăng, đừng nhìn ngón
tay mà nhìn điều được chỉ (Phật);
· nơm để đơm cá, đặng cá hãy quên nơm; dò
là vì thỏ, đặng thỏ hãy quên dò; bè để qua sông, qua sông hãy bỏ bè; lời là vì
ý, đặng ý hãy quên lời (Trang Tử);
Với người đông phương, chân lý là cái gì không nắm
bắt như nắm bắt một đồ vật. Lời diễn tả chỉ nói lên phần nào thực tại sâu thẳm
chứ không gói trọn, bó chặt, giam cầm được thực tại. Nếu có thái độ độc đoán
tưởng rằng mình nắm chân lý trong tay thì chẳng khác những người mù xem voi: ai
cũng cho mình đúng và chỉ có mình đúng thôi, còn người khác là sai lầm!
Với
quan niệm tương đối này về vấn đề tôn giáo[34],
có người cho rằng mọi tôn giáo đều tốt tuy dù bàn tay có ngón dài ngón ngắn.
iii. Kinh
nghiệm Tuyệt Đối nơi các tôn giáo ngoài-kitô
Những
người theo đạo Khổng không tôn thờ đức Khổng nhưng coi Khổng Tử như người dẫn
đường, như vị thầy. Quan niệm này không chỉ của những người theo đạo Khổng
nhưng là của chung những người Trung Hoa, họ coi đức Khổng là “vạn thế sư
biểu”. Người theo đạo Khổng cho là theo đạo của những bậc tiên vương: thờ Trời
và tế Trời. Niềm tin vào Thượng Đế được diễn tả trong những sách cổ nhất của
Trung Hoa: “(Vua Thuấn) làm lễ phần sài tế Thượng Đế”[35].
Sách Trung Dung cũng nói: “lễ Giao, lễ Xã là lễ để tế Thượng Đế vậy[36]”.
Những lời trên trong sách Trung Dung cho thấy: ngay cả lễ tế đất (lễ Xã) cũng
là lễ tế Thượng Đế như lễ Giao vậy. Những người đi theo đường lối của Khổng Tử
(đạo Khổng) tin vào Thượng Đế nhưng họ chú trọng đến những gì cụ thể; họ đưa
vào thái độ sống, cách sống của con người để biết người nào đó có sống đạo
không! Người Trung Hoa quan niệm như vậy cũng không khác tư tưởng của thánh
Yoan: “Nếu ai nói mình yêu Thiên Chúa mà ghét anh em mình thì đó là kẻ nói dối”
(1Yn.4, 20).
Người
theo đạo Khổng, “đạo thờ Trời”, phải làm theo ý Trời. Những bậc tiên vương
thánh vương của dân Trung Hoa cũng luôn làm theo ý Trời. Các vị khi đem binh đi
chinh phạt nước nào thì cũng xác tín đó là mệnh Trời, ý Trời muốn mình làm như
vậy[37].
Người càng làm lớn, càng phải sống đạo, và đạo phải biểu lộ nơi mình; Điều này
được thấy nơi những vị vua Trung Hoa, họ coi mình như người thay Trời hành đạo;
kế đến là những người quân tử, họ cũng có nhiệm vụ lớn đối với dân nước: “Đại
học chi đạo, tại minh minh đức, tại tân dân, tại chỉ ư chí thiện”[38].
Và muốn đạt được điều ấy thì phải bắt đầu từ chính mình: “cổ chi dục minh minh
đức ư thiên hạ giả, tiên trì kỳ quốc; dục trì kỳ quốc giả, tiên tề kỳ gia; dục
tề kỳ gia thiên hạ giả, tiên tu kỳ thân; dục tu kỳ thân giả, tiên chính kỳ tâm;
dục chính kỳ tâm giả, tiên thành kỳ ý; dụ thành kỳ ý giả,tiền trí kỳ tri; trí
tri tại cách vật”.
Hồi
còn thời quân chủ, vua tôi Việt
Đạo
Lão do Lão Tử vạch ra. Người theo đạo Lão cũng không tôn thờ Lão Tử nhưng coi
Lão Tử như người đi trước dẫn đường (đạo)! Ý tưởng then chốt trong đạo này là
Đạo, và Đạo này không thể diễn tả nỗi:
“Đạo khả đạo phi thường Đạo,
Danh khả danh phi thường Danh” (Đạo Đức Kinh, 1).
Đạo là nguồn gốc của vạn sự vạn vật “vô danh vạn vật
chi thỉ, hữu danh vạn vật chi mẫu (ĐĐK.1)”. Người tin vào Đạo, sẽ sống theo
Đạo. Thái độ sống của những người theo Đạo (đạo Lão) thường là vô vi, nhưng vô
vi không phải là không làm gì cả “Đạo thường vô vi, nhi vô bất vi” (ĐĐK.37, 1).
Đặt
vào trong bầu khí thời đạo Khổng và đạo Lão phát sinh, người ta thấy hai “đạo”
này biểu lộ hai cách cư xử khác nhau, cứ bình thường người ta coi một lối cư xử
là tích cực và lối kia là tiêu cực; Mới thoạt nhìn người ta tưởng chừng chúng
không thể dung hợp được với nhau, nhưng thực chúng không hoàn toàn mâu thuẫn
nhau:
“xưa nay xuất xử thường hai lối,
mãi thế rồi ta sẽ tính đây” (Nguyễn Công Trứ).
Niềm tin của những người theo đạo Khổng và Lão tuy
khác nhau nhưng giống nhau; một tin vào Trời môït tin vào Đạo; Trời và Đạo tuy
được gọi là hai nhưng cũng là một! Cách sống, cách cư xử của hai đạo cũng không
khai trừ nhau và có thể dung hợp nơi một người.
Khi
nghiên cứu đạo Khổng và Lão, người ta thấy khái niệm về mặc khải rất đơn sơ[39]
nếu không muốn nói là không có; thế nhưng những điều các đạo dạy người ta thấy
rất uyên thâm và rất gần với Kitô giáo.
Các
tôn giáo huyền nhiệm ở Ấn Độ trổi vượt ở nét phản tỉnh. Mặc khải được hiểu như
một soi sáng nội tâm nhằm giải phóng con người khỏi u mê lầm lạc[40].
Nếu so sánh các tôn giáo “tiên tri” với các tôn giáo “khôn ngoan”, người ta
thấy ý niệm mặc khải rất rõ nơi các tôn giáo tiên tri, còn trong tôn giáo khôn
ngoan thì không rõ. Mặc khải được hiểu như một khải ngộ (soi sáng nội tâm)
không chỉ là cái biết bằng trí não nhưng còn hàm chứa một sự cảm nghiệm sâu xa,
nó phần nào cho thấy thực tại con người cảm nghiệm.
Tuyệt
Đối trong Ấn Độ giáo là một thực tại người ta không thể tri giác hoàn toàn,
vượt trên khả năng lãnh hội của con người. Tuyệt Đối này “mắt không thể đạt
tới, cả lời và lý trí cũng vậy.... Cái ấy không phải là cái ta biết, cũng không
phải là cái ta không biết”[41].
“Chẳng có gì cao hơn và thấp hơn Ngài. Chẳng có gì nhỏ hơn và cũng chẳng có gì
lớn hơn.... Ngài biết tất cả, còn Ngài thì chẳng ai biết được”[42].
Nhờ quan niệm về Tuyệt Đối như vậy, nên “các hiện hữu đáng quý đối với chúng ta
không phải vì tình yêu của các hiện hữu đó, nhưng bởi vì tình yêu của sinh vật
Tối Cao mà các hiện hữu đáng quý”[43].
Cũng chính trong Upanisad này người ta đọc thấy lời cầu nguyện: “xin dẫn con từ
nơi tối tăm tới ánh sáng, từ sự chết đến sự sống, từ cái không thực đến cái
thực”[44].
Với những lời trong các Upanisad này, người ta có cảm tưởng Tuyệt Đối được diễn
tả là môït Thực Tại Tuyệt Đối Hữu Vị; và như vậy, đâu có xa với Thiên Chúa Kitô
giáo?
Những
người theo đạo Phật coi chư Phật như những bậc thầy chứ không tôn thờ chư Phật[45],
chính vì vậy Phật tử “không cầu xin một ân huệ vật chất hay tinh thần nào khi
đảnh lễ tượng Phật mà chỉ bày tỏ lòng tôn kính ngưỡng mộ của mình đến lý tưởng
siêu việt mà bức tưọng tiêu biểu... Phật tử cũng đảnh lễ cây bồ đề, không phải
để lòng tôn sùng thờ tự cái cây, mà xem đó là tượng trưng của sự giác ngộ. Dầu
có nhiều nghi thức lễ bái trong các buổi lễ, người tín đồ phật giáo không tôn
sùng đức Phật như một thần linh[46].
Theo quan niệm của Phật giáo “đức Phật không khi nào và không thể nào ban bố
những ân huệ cho người cầu nguyện. Để được cứu rỗi người phật tử không nên cầu
nguyện mà phải lãnh trách nhiệm, cố gắng trau dồi đức hạnh, kiên trì tu tập, để
đạt tự do và trong sạch”[47].
Nếu
người theo đạo Phật cho rằng đức Phật chỉ là người dẫn đường, là bậc thầy chứ
không như đức Yêsu vừa là đường, là sự thật và là sự sống (Yn.14, 6), thì họ
tin vào ai? Phải chăng đạo Phật chủ trương vô thần? Đạo Phật phát sinh là do
hoàng tử Gautama, một người khi nhận biết cái khổ mà chúng sinh phải chịu, đã tìm đường giúp con người thoát khỏi
cảnh khổ cực này. Như vậy mục đích của Phật giáo là diệt khổ, mục đích của phật
tử là được giải thoát khỏi khổ cực, và để đạt được như vậy họ phải được giác
ngộ, nhận biết chân lý, tránh được vô minh; chân lý mà người ta nhận ra đó là:
mọi khổ cực con người có là do dục mà
ra cả, thế nên để thoát khổ, con người phải diệt dục! Đạo Phật chú trọng về khía cạnh thực tế, làm sao để con
người thoát khổ, hơn là tìm nguyên nhân siêu hình; đạo Phật tìm những biện pháp
giúp con người hết khổ, chứ không bận tâm tìm hiểu xem ai là Đấng đã tạo ra vũ
trụ này[48].
Người phật tử không tìm thấy bất cứ một lý do nào để chống đối việc thờ nhiều
thần thánh bởi vì ý niệm về một Thượng Đế hay ghen tuông hoàn toàn xa lạ với
họ. Như vậy thật là một sai lầm vô cùng lớn lao khi mô tả Phật giáo như một tôn
giáo vô thần- nếu hiểu vô thần như phủ nhận sự hiện hữu của Thượng Đế[49].
Đạo
Phật tuy không để ý đến vấn đề Đấng Tạo Hóa nhưng qua những giáo lý để giúp con
người sống tốt, bớt khổ và được giải thoát... rất sâu xa; chẳng hạn như “bát
chính đạo”. Đặc biệt là phái Phật giáo sùng tín chủ trương rằng Bakti thay thế-
hoặc ít là bổ túc- con đường trí tuệ[50].
Ở
Việt Nam đầu thế kỷ XX xuất hiện đạo Cao Đài, những người trong tôn giáo này
cho rằng tôn giáo của họ được Thánh Thần mặc khải; Đấng Tối Cao họ thờ cũng
chính là Yahweh của dân Israel, là Cha của đức Yêsu Kitô[51].
Những người theo tôn giáo này cho rằng đạo Cao Đài là dự định của Đấng Tối Cao
nhằm thâu tóm tất cả các tôn giáo lớn trên hoàn vũ; họ coi đức Yêsu, đức Phật,
đức Khổng Tử, Môsê là những người được Đấng Tối Cao sai tới, nhưng điểm tới của
tất cả những tôn giáo ở Đông Tây trong quá khứ là đạo Cao Đài!
Hồi
giáo, một tôn giáo xuất hiện ở phương đông vào thế kỷ thứ VII sau đức Yêsu, tôn
thờ Thiên Chúa của dân Do Thái. Những người theo đạo Hồi cho rằng đức Yêsu cũng
là một vị tiên tri, nhưng vị tiên tri lớn nhất là Mahomet, người được Thiên
Chúa mặc khải Lời và những lời này được chép laị trong kinh Koran. Với nhãn
quan Kitô giáo, dù đạo Hồi có những sai lầm nhưng cũng có những điểm tích cực
như tôn thờ Thiên Chúa độc nhất, giáo lý dạy làm lành lánh dữ và có nhiều nét
tương đồng với Kitô giáo! Khoa tôn giáo đối chiếu cho cái nhìn khách quan về
những điểm này.
Những
hàng viết về giá trị Kitô giáo của các tôn-giáo-ngoài-kitô trên đây rất thô sơ
mộc mạc, và nó chỉ có tính gợi ý để dẫn tới một lập trường. Công việc nghiên
cứu về vấn đề này rất bao la và phức tạp, cần có sự đóng góp của nhiều người.
Để gút lại vấn đề giá trị của các tôn-giáo-ngoài-kitô, xin mượn lời của đức
Hồng Y Daniélou: “truyền thống công giáo dứt khoát kết án những sai lầm hư nát
nơi các tôn-giáo-ngoài-kitô như thờ ngẫu tượng, phiếm thần, nhị nguyên. Truyền
thống công giáo coi tất cả những điều đó như là lỗi thời khi đức Kitô, chân lý cao
hơn đã đuợc bày tỏ. Nhưng truyền thống công giáo không phủ những giá trị tôn
giáo đích thực nơi các tôn-giáo-ngoài-kitô. Những giá trị tôn giáo này diễn tả
sự hiện diện của Thiên Chúa- Đấng không ngừng cứu giúp con người. Những giá trị
tôn giáo này cũng có thể được coi như “viên đá chờ đợi” đối với Do Thái giáo và
Kitô giáo. Thánh Phaolô nói trong Công Vụ các sứ đồ: Thiên Chúa đã để các dân
đi theo đường lối của họ, nhưng Ngài đã không ngừng gởi những chứng từ đến với
họ, bằng cách ban cho họ mưa từ trời xuống cùng mùa màng hoa trái”[52].
Tới
đây người ta có thể khẳng định: Thiên Chúa đã mặc khải cho các
tôn-giáo-ngoài-kitô. Nhưng nếu các tôn-giáo-ngoài-kitô được mặc khải, vậy tại
sao có những sai lầm nơi các tôn-giáo-ngoài-kitô? Vấn đề này sẽ được giải quyết
trong phần tôn giáo ngoài-kitô là phương tiện cứu độ.
Các
tôn-giáo-ngoài-kitô có là phương tiện Thiên Chúa dùng để cứu độ con người
không?
Chúa
Yêsu dạy: “Không phải những kẻ nói Lạy Chúa, lạy Chúa, là được vào Nước Trời,
nhưng là kẻ làm theo ý Thiên Chúa” (Mt.7, 21). “Có nhiều kẻ từ đông tây tới dự
tiệc Nước Trời, còn con cháu trong nhà thì bị quẳng ra ngoài” (Mt.8, 11-12).
Không phải cứ là kitô-hữu, cứ theo Kitô giáo, cứ là Công Giáo, là được cứu độ,
nhưng những người được cứu độ là những người thực hiện ý định của Thiên Chúa!
Vì thế, các tôn giáo ngoài-kitô, nếu là phương tiện cứu độ, thì cũng là phương
tiện thứ yếu.
Có hai
yếu tố làm các nhà thần học khuynh hướng tiêu cực cho rằng các tôn-giáo-ngoài-kitô
không là phương tiện Thiên Chúa dùng để cứu độ:
· những sai lầm trong các
tôn-giáo-ngoài-kitô;
· các tôn-giáo-ngoài-kitô thường là hệ
thống đóng kín với Tin Mừng đức Yêsu Kitô.
a. Sai lầm
Người
ta có thể liệt kê vài sai lầm trong giáo lý nơi các tôn-giáo-ngoài-kitô, chẳng
hạn:
· Đạo Phật chủ trương luân hồi, nghĩa là,
con người chết có thể đầu thai làm người hay làm con vật nếu họ không được giải
thoát lên cõi niết bàn!
· Hồi giáo coi đức Yêsu chỉ là một tiên
tri lớn, chứ không phải là Thiên Chúa; đạo Công Giáo cũng như bao đạo khác, đều
có điểm tới là Hồi Giáo. Mahomet là tiên tri lớn hơn đức Yêsu, vượt trên đức
Yêsu!
· Đạo Cao Đài cũng cho rằng đạo Công Giáo
cũng là một trong các đạo khác, đức Yêsu cũng chỉ là một tiên tri lớn như bao
các tiên tri lớn khác mà thôi!
Khi
bàn về mặc khải trong đạo Hồi, W. M. Watt cho rằng kinh Koran của Hồi giáo, xét
về một khía cạnh nào đó và theo một ý nghĩa nào đó, là sản phẩm của sáng kiến
thần linh và được mặc khải. Khi Watt dùng chữ “theo một ý nghĩa nào đó” nghĩa
là ông chấp nhận có sai lầm trong kinh Koran[53].
Còn theo R. Latourelle, các tôn giáo lớn cứu độ như Ấn giáo, Phật giáo, là hoa
trái của ân sủng cứu độ và là những kiểu mẫu giải thích ân sủng này, nhưng bởi
vì thiếu tiêu chuẩn nhận định nên những lời giải thích mà các tôn giáo đó đề ra
gồm cả những yếu tố nhân loại, những hàm hồ, những trệch đường, những sai lầm
cùng với những yếu tố có giá trị thực[54].
Theo R. Latourelle, các tôn giáo là hoa trái của ân sủng cứu độ, bởi vì con
người là con người lịch sử nên ân sủng cứu độ này được biểu lộ ra trong các
nghi lễ, trong việc thực hành, trong ngôn ngữ; chính dưới tác động ân sủng này
mà con người tìm hiểu trong lần mò, linh cảm thấy cách mơ hồ mầu nhiệm cứu độ.
Hiểu như vậy các tôn giáo cứu độ duy trì một quan hệ tích cực đối với mặc khải
thần linh, nhưng nội dung của nó phải được xác định và giải thích. Và chính mặc
khải Kitô giáo là tiêu chuẩn nhận định đâu là công trình của ân sủng, và nguyên
tắc giải thích là chính Thiên Chúa nơi đức Yêsu Kitô[55].
Những
chân lý và những giá trị tôn giáo đích thực nơi các tôn-giáo-ngoài-kitô đều đến
từ Thiên Chúa- nguyên nhân mọi sự tốt lành, còn những sai lầm và “thái độ đóng
kín đối với Kitô giáo” là do con người!
b. Đóng kín với
Kitô giáo
Một
điều rất khó giải quyết với những người nghiêng về lập trường tích cực, là sự
kiện các tôn giáo ngoài-kitô ngăn cản các tín hữu trong các tôn giáo đó tin vào
Đức Yêsu.
Do
Thái giáo sẽ giúp có câu trả lời.
i. Dothái giáo
Cựu
Ước của Dothái giáo, là lời Thiên Chúa mặc khải cho con người, và như vậy không
thể sai lầm. Những điều này là đối tượng câu nói của đức Yêsu “trước khi trời
đất qua đi, thì một chấm một phết cũng không qua khỏi lề luật, trước khi mọi sự
thực đã xảy ra” (Mt.5, 18). Nhưng nơi Do Thái giáo, không chỉ có Kinh Thánh, mà
còn nhiều điều nữa như tập tục của tiền nhân, và đôi khi người ta coi tập tục
tiền nhân trên cả linh truyền của Thiên Chúa (Mt.15, 1-20)! Người theo Do Thái
giáo quá nô lệ vào luật nên không hiểu đúng lệnh truyền của Thiên Chúa (Mt.12,
1-14). Khi họ giải thích Lời Chúa như vậy, nghĩa là họ đem ý của con người, ý
của họ làm ý của Thiên Chúa! Qua ánh sáng của đoạn Lời Chúa trên, người ta có
thể kết luận: những gì sai lầm và thái độ đóng kín trước Tin Mừng của đức Yêsu
Kitô đều đến từ con người, và con người là nguyên nhân của những sự đó. Con
người ở đây hiểu là con người bị ảnh hưởng của tội!
Do
Thái giáo có Kinh Thánh Cựu Ước là mặc khải của Thiên Chúa, nhưng chỉ với Cựu
Ước, Do Thái giáo chưa lãnh nhận trọn vẹn mặc khải. Đáng lẽ mặc khải Cựu Ước
phải giúp họ tiếp nhận đức Yêsu nhưng họ đã từ chối Ngài vì thành kiến và tập
tục tiền nhân (Yn.5, 46-47; 1, 11 Mt.15, ltt).
Dothái
giáo không tiếp đón Đức Yêsu, là thực trạng làm thánh Phaolô suy nghĩ và buồn
phiền nhiều (Rm. 9-11). Tuy vậy theo thánh nhân, họ vẫn là dân rất được yêu quý
bởi đã được tuyển chọn; Thiên Chúa đã không ân hận gì vì đã ban ơn và kêu gọi
họ (Rm.11, 28-29).
Họ
cũng đã đáp trả mặc khải của Thiên Chúa bằng việc tin vào lời hứa của Thiên
Chúa ban cho cha ông họ[56].
Nếu việc từ chối tin vào đức Yêsu không là do lỗi họ, họ vẫn được Thiên Chúa
cứu độ!
ii. Các tôn
giáo ngoài-kitô
Các
tôn-giáo-ngoài-kitô có những sai lầm nhưng cũng có những chân lý, có những yếu
tố mặc khải. Những yêú tố mặc khải, chân lý đến từ Thiên Chúa nhưng những sai
lầm đến từ con người, là công trình của con người. Sở dĩ vậy là vì con người đã
đi quá những điều Thiên Chúa mặc khải, con người muốn có một hệ thống hợp lý
chắc chắn. Họ chưa hoàn toàn bình tâm lắng nghe Thánh Thần, họ chưa chấp nhận
những điều Thiên Chúa mặc khải như nó là. Đây là khuynh hướng chung của con
người đã phạm tội hoặc như thái độ của Adam và Eva muốn được như Thiên Chúa mà
độc lập với Thiên Chúa!
Cái
khó khăn cho những người làm công tác thần học về tôn-giáo-ngoài-kitô là phải
nhận định xem đâu là mặc khải của Thiên Chúa và đâu là yếu tố nhân loại; câu
trả lời trên chỉ là một soi sáng giúp biết hướng nghiên cứu và cũng cho thấy
giá trị không thể thay thế của mặc khải Kitô giáo!
Câu
hỏi “các tôn-giáo-ngoài-kitô có là phương tiện Thiên Chúa dùng để cứu độ con
người không?” trở thành “các tôn-giáo-ngoài-kitô có là dụng cụ Thiên Chúa dùng
cứu độ con người không?”, và “Thiên Chúa có mặc khải cho những người trong các
tôn-giáo-ngoài-kitô không?”. Nếu Thiên Chúa đã mặc khải trong các
tôn-giáo-ngoài-kitô, thì những người trong các tôn-giáo-ngoài-kitô có thể đáp
trả tùy tự do của họ, và do đó họ có thể được cứu rỗi, và như vậy các
tôn-giáo-ngoài-kitô cũng là phương thế Thiên Chúa dùng để cứu độ con người sống
trong tôn giáo đó.
Vì
Thiên Chúa mặc khải Ngài trong mỗi tôn giáo theo mức độ khác nhau, nên giá trị
cứu độ của mỗi tôn giáo cũng khác nhau. Nơi Kitô giáo, mặc khải đã đạt đến đỉnh
cao nơi đức Yêsu Kitô, nên Kitô giáo là phương tiện cứu rỗi cần thiết (cf.
L.G.14); còn các tôn giáo khác, có thể nói, là phương tiện cứu rỗi cần thiết theo mức độ.
Trong
phần trình bày về lập trường thần học các tôn-giáo-ngoài-kitô người ta đã thấy
các tôn-giáo-ngoài-kitô có những yếu tố mặc khải và cũng có những yếu tố thuần
túy nhân loại, có những chân lý nhưng cũng có sai lầm. Chính nhờ những yếu tố
mặc khải mà các tôn-giáo-ngoài-kitô có giá trị cứu độ! Những yếu tố nhân loại
và sai lầm nơi các tôn-giáo-ngoài-kitô có thể trở thành cơ cấu ngăn cản con
người tiếp nhận Tin Mừng đức Yêsu Kitô- Đấng không chỉ hoàn tất lề luật và các
tiên tri của Israel nhưng còn của các tôn giáo và dân tộc khác nữa[57].
Nơi
Kitô giáo, tuyệt đỉnh mặc khải là đức Yêsu Kitô; con người được cứu độ khi đáp
trả mặc khải này bằng tin vào đức Yêsu.
Nơi các tôn giáo khác người ta được cứu rỗi nhờ tin vào Tuyệt Đối qua mặc khải trong các tôn giáo họ theo. Sau đây
sẽ tìm hiểu giá trị cứu độ của các tôn-giáo-ngoài-kitô và ngay cả của những
người không sống trong một tôn giáo nào.
a. Được cứu độ
nhờ tin
“Phương
tiện cứu độ” ở đây được hiểu như phương tiện thứ yếu, vì tất cả mọi người, dù
người đó là ai chăng nữa, nếu được cứu độ là được cứu độ nhờ đức Yêsu Kitô. Hơn
nữa một người được cứu hay không, là do chính thái độ của người đó với Thiên
Chúa, với đức Yêsu Kitô, với mặc khải của Ngài. Như vậy, “được cứu độ” là một
biến cố có tính cá nhân giữa Thiên Chúa và chính đương sự chứ không do một cơ
cấu tôn giáo. Con người có được cứu độ hay không, là tùy người đó có đáp trả
lời mời gọi của Thiên Chúa mặc khải qua lương tâm, qua vũ trụ thiên nhiên, qua
sự khôn ngoan và chân lý Thiên Chúa đã ban cho lý trí nhận ra, qua mặc khải
Ngài ban cho một số người để từ người đó đến với nhiều người, qua mặc khải đặc
biệt Ngài tỏ lộ nơi một dân tộc.
Con người
đáp trả mặc khải này bằng đức tin, vì “không có đức tin thì vô phương làm đẹp
lòng Thiên Chúa” (Hb.11, 6).
b. Giá trị cứu
độ của các tôn giáo
Đức
tin là lời đáp trả của con người đối với Thiên Chúa mặc khải, bằng việc ưng
thuận và dấn thân trọn vẹn. Việc đáp trả này nói theo ngôn từ của thánh Phaolô
là “sự vâng phục của đức tin”[58].
Thiên Chúa mặc khải cho con người theo mức độ tùy ý Ngài, và con người cũng đáp
trả theo mặc khải Thiên Chúa ban.
i. Người sống
theo lương tâm
Những
người sống theo lương tâm ở đây, muốn chỉ đặc biệt những người không nhận biết
Thiên Chúa. Họ còn được gọi là người vô thần. Với những người này, Giáo Hội
công giáo dạy rằng “tất cả những kẻ chưa nhận biết Thiên Chúa rõ ràng nhưng nhờ
ơn Chúa, cố gắng sống đời chính trực, thì Chúa Quan Phòng không từ chối ban ơn
trợ lực cần thiết để họ được cứu rỗi” (LG.16).
Những
người này cũng đã lãnh nhận mặc khải phổ quát qua thiên nhiên và lương tâm. Tuy
không nhận biết Thiên Chúa nhưng họ đã đáp trả lại lời mời gọi của Thiên Chúa-
dù họ không biết- bằng cách vâng nghe tiếng lương tâm. Công Đồng cũng dạy: “nhờ
lương tâm, con người nhận thức và hiểu biết những mệnh lệnh của lề luật Chúa...
Vì vậy không ai bị cưỡng bách hành động trái với lương tâm, cũng như không ai
bị ngăn cấm hành động theo tiếng lương tâm nhất là trong lãnh vực tôn giáo”
(D.H.3). Kitô hữu có luật tình yêu, người Do Thái giáo có thập giới, còn người
theo lương tâm sống theo luật được ghi khắc trong lòng (cf. Rm.2, 15).
Nơi
những người “sống theo lương tâm” này, còn phải kể những người không sống trong
một tôn giáo nào, nhưng họ tin nhận có một Thiên Chúa, Đấng Tối Cao, Đấng Tuyệt
Đối. Những người này đã nhận ra Thiên Chúa và tin tưởng nơi Ngài. Đây là những
người mà Công Đồng đã đề cập đến: “Con người nhờ ánh sáng tự nhiên của lý trí,
có thể từ các tạo vật nhận biết cách chắc chắn có Thiên Chúa như nguyên lý và
cứu cánh mọi sự” (Rm.1, 20; cf. D.V.6).
Như
vậy những người sống theo tiếng lương tâm vẫn được Thiên Chúa ban ơn cứu độ dù
họ không có ở trong cơ cấu tôn giáo nào! Có thể nói mà không sợ sai lầm: họ
được cứu độ nhờ đức Yêsu Kitô và qua lương tâm của họ.
ii. Các tôn
giáo ngoài-kitô
Tín
hữu đạo Cao Đài, ï tin vào Thượng Đế. Với họ, Đấng ngự nơi Cao Đài chính là
Yavê của Israel và là Cha của đức Yêsu. Tuy họ có nhiều sai lầm nhưng cũng vẫn
được những cơ cấu tôn giáo giúp đỡ để sống niềm tin vào Đấng Tuyệt Đối[59].
Với
các tôn giáo đông phương như Ấn độ giáo, Phật giáo, Lão giáo, Khổng giáo, tôn
giáo phản ảnh cách suy nghĩ và diễn tả văn hóa của mỗi dân tộc. Điều này muốn
nói, ngay khi người ta diễn tả cùng một thực tại, mỗi dân tộc có những cách
diễn tả khác nhau!
Với
người đông phương, hư vô là nền tảng của mọi hiện hữu, là “nơi” cuối cùng của
tất cả, thậm chí của cả vô hữu; như vậy Hư Vô có đặc tính siêu hình mà triết lý
kitô gán cho Thiên Chúa. Đối với người tây phương, Hư Vô tuyệt đối là một khái
niệm khó hiểu; còn đối với người đông phương Hư Vô là nền tảng, con đường của
tư duy[60].
Lão giáo và Khổng giáo nhấn mạnh đến khía cạnh sống của con người, cũng như
Phật giáo, có những lời dạy bảo và những con đường tập luyện sống tốt, thành
nhân và hữu dụng với đời! Nếu đem so sánh những lời của Khổng, Lão và đức Phật
với văn chương khôn ngoan Cựu Ước, theo khía cạnh nhân loại mà nói, người ta
thấy chúng không kém uyên thâm và ý vị! Theo thiển kiến, nơi những tôn giáo này
người ta có thể tìm thấy nhiều điểm tương đồng với giáo lý Kitô giáo! Ấn Độ
giáo đặt nặng niềm tin vào Tuyệt Đối và khía cạnh nghi lễ, và điều này không
hoàn toàn xa lạ với Kitô giáo[61].
Ơn cứu
độ cho những người sống trong các tôn-giáo-ngoài-kitô đã được Công Đồng đề cập
đến: “những kẻ đang tìm đến Thiên Chúa trong bóng tối và qua ngẫu tượng, Thiên
Chúa mà họ không biết, cả những kẻ ấy, Ngài cũng không xa họ, bởi vì chính Ngài
ban cho mọi người sự sống, hơi thở và tất cả mọi sự, và vì là Đấng Cứu Thế,
Ngài muốn mọi người được cứu rỗi. Thực thế, những kẻ vô tình không nhận biết Phúc
Âm của Chúa Kitô và Giáo Hội Người, nhưng nếu thành tâm tìm kiếm Thiên Chúa, và
dưới tác động của ơn thánh, họ cố gắng chu toàn thánh ý Thiên Chúa trong công
việc mình theo sự hướng dẫn của lương tâm, thì họ có thể được cứu rỗi” (LG.16).
Công Đồng khẳng định những người sống trong các tôn-giáo-ngoài-kitô được cứu độ
qua lương tâm, nhưng không đề cập đến khía cạnh cứu độ qua tôn-giáo-ngoài-kitô,
họ vẫn thuộc về dân Thiên Chúa. Sở dĩ vậy vì công đồng chưa thấy vấn đề này
được giải quyết rõ ràng, nên để ngỏ vấn đề này cho các nhà thần học!
Trong
các tôn-giáo-ngoài-kitô phải kể đến Hồi giáo[62],
Công Đồng cho rằng “họ giữ đức tin của Abraham; cùng với chúng ta, họ thờ
phượng Thiên Chúa duy nhất, nhân từ, Đấng phán xét loài người trong ngày sau
hết” (LG.16).
iii. Một minh
họa
Sau
khi đã xét vấn đề mặc khải nơi các tôn-giáo-ngoài-kitô, chúng ta có thể kết
luận: các tôn-giáo-ngoài-kitô có giá trị cứu độ tùy theo mức độ chúng mở ra với
tin mừng đức Yêsu Kitô. Một tôn giáo càng là một hệ thống chặt chẽ theo kiểu con
người, càng khó đón nhận tin mừng đức Yêsu Kitô, càng có ít giá trị cứu độ, bởi
vì ở đó yếu tố con người đã ngăn cản con người đón nhận mặc khải! Trên nguyên
tắc một tôn giáo càng có nhiều mặc khải, càng dễ đón nhận đức Yêsu như điểm tới
của mặc khải.
Nếu
được dùng đường biểu diễn để diễn tả giá trị cứu độ nơi các tôn-giáo-ngoài-kitô
chúng ta sẽ trình bày như ở hình bên cạnh:
trục tung chỉ giá trị cứu độ;
trục hoành để ghi giá trị mặc khải nơi
các tôn giáo theo thứ tự:
· người sống theo lương tâm không nhận
biết Thiên Chúa,
· người sống theo lương tâm và nhận biết
Thiên Chúa,
· các tôn-giáo-ngoài-kitô như Cao Đài,
Phật giáo, Ấn Độ giáo, Khổng và Lão giáo, Hồi giáo, Do Thái giáo,
· Kitô giáo và đặc biệt Công Giáo. Công
giáo có giá trị mặc khải nhất (các tôn giáo được xếp trước sau chỉ có tính cách
gợi ý và thí dụ).
Đường biểu diễn chỉ giá trị cứu độ của các tôn giáo
là một nhánh hyperbol nhận giá trị cứu độ của Kitô giáo công giáo làm đường
tiệm cận. Đây chỉ là các diễn tả biểu trưng.
Với
câu trả lời trên về các tôn-giáo-ngoài-kitô, một cái nhìn mới xuất hiện trong
tương quan với các tôn giáo ngoài-kitô. Một số vấn đề như tự do tôn giáo, đối
thoại tôn giáo, truyền giáo, đức Yêsu Kitô và tương quan giữa Giáo hội công
giáo với các tôn-giáo-ngoài-kitô sẽ được đề cập, nhưng trước hết nói sơ qua về
những khó khăn đã gặp phải trong lập trường tích và tiêu cực về
tôn-giáo-ngoài-kitô.
Với
các thần học gia chủ trương các tôn giáo ngoài-kitô đầy dẫy những sai lầm nên
không thể là công trình của Thiên Chúa cũng như không thể nằm trong chương
trình của Thiên Chúa được, xin trả lời tóm tắt:
· những sai lầm và khuyết điểm trong các
tôn giáo ngoài-kitô không đến từ Thiên Chúa, nhưng đến từ con người và là công
trình của con người;
· các tôn giáo ngoài-kitô vẫn là phương
tiện cứu độ “thông thường”, “cần thiết theo mức độ” cho những người sống trong
tôn giáo đó, khi họ theo tôn giáo đó với ý hướng ngay lành.
Câu trả lời này, cũng có thể được dùng để trả lời
những người cho rằng các tôn giáo ngoài-kitô là dụng cụ Thiên Chúa dùng để cứu
độ con người, nhưng đã không trả lời được vấn nạn về những sai lầm trong các
tôn giáo ngoài-kitô!
Sự
kiện có các nhà thần bí cũng như có những điểm giáo lý tương đồng giữa các
tôn-giáo-ngoài-kitô và Kitô giáo cũng có thể giải thích ổn thỏa với câu trả lời
này, vì những điều tốt lành đó đều đến từ Thiên Chúa- nguồn mọi sự tốt lành.
Một số
nhà truyền giáo quan niệm rằng tất cả những người không được rửa tội đều không
được cứu độ, nên vì bác ái Kitô giáo, họ cố gắng rửa tội cho nhiều người hết
sức có thể, ngay cả khi đương sự không đồng ý! Ngày nay với quan niệm về ơn cứu
độ các dân ngoại của Công Đồng Vatican II, người ta tôn trọng tự do con người
hơn, đặc biệt về khía cạnh tự do tôn giáo.
Theo
Công Đồng, con người có quyền tự do tôn giáo; nghĩa là, con người không bị lệ
thuộc vào áp lực cá nhân, đoàn thể xã hội hay của bất cứ quyền bính trần gian
nào khác. Không ai bị ép buộc hành động trái với lương tâm, cũng không ai bị
ngăn cấm hành động theo lương tâm, dù đó là hành động riêng tư hay công khai,
một mình hay cùng với người khác trong những giới hạn chính đáng (DH.2)[63].
Dù con
người có quyền tự do tôn giáo[64]
và cho dù các tôn-giáo-ngoài-kitô cũng là phương tiện cứu rỗi “theo mức độ”,
thì không phải vì đó mà Kitô hữu được lơ là, chểnh mảng việc rao giảng tin mừng
đức Yêsu Kitô cho những người chưa nhận biết Ngài! Mệnh lệnh rao giảng Tin Mừng
là mệnh lệnh của đức Yêsu, và như vậy không ai có quyền từ chối hoặc trốn
tránh.
Thực
sự, tiếng những người rao giảng tin mừng đức Yêsu Kitô đã vang đến cùng trái
đất, nhưng vẫn còn nhiều người chưa tin nhận đức Yêsu! Để tin vào đức Yêsu
Kitô, ngoài việc được nghe rao giảng, còn cần ơn của Thánh Thần Thiên Chúa.
Giả sử
ơn Thánh Thần luôn đủ, thì sự kiện nhiều người không chấp nhận tin mừng đức
Yêsu buộc người ta phải suy xét:
gương mặt đức Yêsu có được trình bày trung thực khả
dĩ có thể chấp nhận không?
hay gương mặt Ngài đã được tô vẽ theo kiểu riêng
khiến không thể chấp nhận được?
Trong phần tìm hiểu về các tôn-giáo-ngoài-kitô, cùng
một Thực Tại Tuyệt Đối được diễn tả theo những cách khác nhau của mỗi dân tộc,
mỗi nền văn hóa. Vậy để tin mừng đức Yêsu Kitô được những người trong những nền
văn hóa khác nhau dễ chấp nhận, phải trình bày tin mừng đức Yêsu Kitô theo não
trạng và cách suy nghĩ khả dĩ người ta có thể chấp nhận được!
Hơn
nữa, nếu các tôn-giáo-ngoài-kitô có những yếu tố được mặc khải, thì những người
truyền giáo phải khai thác những điều đó và cho thấy Tin Mừng đức Yêsu không
hủy bỏ nhưng làm tôn giáo họ đang theo nên trọn hảo! Chính vì vậy phải tích cực
tìm hiểu, nghiên cứu các tôn-giáo-ngoài-kitô, xem đâu là yếu tố được mặc khải,
đâu là yếu tố con người nơi các tôn giáo đó. Nếu hiểu được não trạng của từng
dân tộc và những điều chân thật nơi tôn giáo họ đang theo, người ta sẽ trình
bày Tin Mừng đức Yêsu sáng sủa và dễ được chấp nhận hơn!
Như
vậy, công tác truyền giáo trong hoàn cảnh hôm nay bao gồm cả công tác “hội nhập
văn hóa”! Nhận ra những nét đẹp kitô giáo nơi các nền văn hoá và
tôn-giáo-ngoài-kitô là công việc của các thần học gia của thế kỷ hiện tại, đây
là công việc khó khăn và rộng lớn, đòi sự cộng tác của nhiều người và không thể
hoàn thành một sớm một chiều!
Dù
những người sống trong tôn-giáo-ngoài-kitô không tin đức Yêsu là Đấng mang lại
ơn cứu độ cho họ, nhưng thật sự, ai được cứu rỗi cũng được cứu nhờ đức Yêsu
Kitô! Dù người ta biết hay không biết, đức Yêsu vẫn là điểm tới của những yếu
tố tốt lành nơi các tôn-giáo-ngoài-kitô. Đức Yêsu là đỉnh cao và là Đấng hoàn
tất mọi mặc khải, kể cả những mặc khải xảy ra sau biến cố Yêsu Kitô!
Các
tôn-giáo-ngoài-kitô là “phương tiện cứu độ”, mặc dù chỉ là phương tiện cần
thiết theo mức độ, vậy Kitô giáo có còn là tôn giáo trỗi vượt trên các
tôn-giáo-ngoài-kitô không? Và nếu trỗi vượt thì trổi vượt về phương diện nào?
Đứng
trên phương diện nhân loại, nếu so sánh giữa hai nếp sống của hai người bình
thường, một công giáo, và một ngoại đạo, người ta thấy khó có thể nói ai sống
tốt hơn ai! Chính vì nếp sống của người Kitô hữu không làm cho người ngoại nhận
thấy ưu việt tính của Giáo Hội công giáo nên khi rao giảng Tin Mừng, khi mời gọi
họ tin vào đức Yêsu Kitô, người ta thường gặp câu trả lời: “vào đạo để làm gì?
những người công giáo đâu có sống tốt hơn chúng tôi?”!
Nói
trên nguyên tắc, người công giáo phải sống tốt hơn người ngoại, vì họ lãnh nhận
mặc khải trọn vẹn hơn! Kitô hữu phải sống khác một người ngoại đạo vì họ thấy ý
nghĩa cuộc đời, thấy cùng đích đời họ rõ hơn. Cứ lý mà nói, người công giáo dễ
được cứu độ hơn người ngoại, vì họ theo con đường đúng nhất; nhưng thực tế, mỗi
người được cứu độ hay không là do thái độ sống, cách mỗi người đáp trả lại lời
mời gọi của Thiên Chúa trong cuộc sống hàng ngày! Chắc chắn Giáo Hội công giáo
trổi vượt trên các tôn giáo khác, và điều này thể hiện đặc biệt trong nội dung
mặc khải. Kitô giáo có những nét mặc khải đặc thù mà các tôn giáo khác không
có!
Những điều
không là mặc khải Kitô giáo
Mặc
khải Kitô giáo không là một ngộ thuyết, một tri thức huyền bí chỉ dành cho một
thiểu số người và không liên quan gì đến lịch sử nhân loại. Mặc khải Kitô giáo
cũng không là một sự khải ngộ đơn thuần của Thần Khí, thông ban trực tiếp những
bí mật thần linh trên trời. Mặc khải Kitô giáo cũng không là một kinh nghiệm
không rõ ràng về thần linh: một sự gặp gỡ khôn tả mà người ta không biết nó làm
sao và cũng không biết diễn tả thế nào! Mặc khải Kitô giáo cũng không là một
học thuyết về con người nhằm bàn về ý nghĩa con người, cuộc hiện hữu và tiến bộ
của con người117.
Nét đặc biệt
của mặc khải Kitô giáo
Mặc
khải Kitô giáo là mặc khải mang tính lịch sử, xảy ra trong lịch sử và với những
biến cố có lời giải thích. Cuộc Xuất Hành khỏi Aicập được dân Thiên Chúa xác
tín rằng chính Thiên Chúa là người chủ động trong cuộc ra đi này. Các tiên tri
cũng như bao người (nơi các truyền thống Yaviste, Eloiste, Đệ Nhị Luật, tư tế,
ký sự) đã suy tư trên những biến cố này cũng như bao biến cố trong lịch sử dân
Mặc
khải của Do Thái giáo chưa hoàn toàn là mặc khải của Kitô giáo. Mặc khải Kitô giáo
trổi vượt nhờ biến cố Yêsu Kitô. Nơi Đức Yêsu Kitô, Thiên Chúa mặc khải trọn
vẹn cho con người. Đức Yêsu vừa là mầu nhiệm mặc khải, vừa là mầu nhiệm được
mặc khải. Ngài vừa là người mặc khải, vừa là đối tượng mặc khải. Không có một
tôn giáo nào mà người sáng lập coi mình là đối tượng đức tin như Kitô giáo. Nơi
Kitô giáo, gặp gỡ Đức Yêsu là gặp gỡ chính Thiên Chúa:
“ai thấy Thầy là thấy Cha” (Ga. 14, 9)
“Thầy là đường, là sự thật và là sự sống” (Ga. 14,
6).
Đức Yêsu không chỉ là người sáng lập tôn giáo, nhưng
Ngài là chính lịch sử và tuyệt đối trong lịch sử[66].
Mặc
khải Kitô giáo với Đức Yêsu Nazarét là điểm độc đáo trổi vượt trên tất cả các
mặc khải khác, dù đó là mặc khải gì đi nữa và trong bất cứ tôn giáo nào. Mặc
khải là việc Thiên Chúa đi vào dòng lịch sử con người; nhưng với biến cố Đức
Yêsu Kitô, Thiên Chúa đã đi vào lịch sử con người, bằng cách mang lấy thân xác
con người: Thiên Chúa là người, và người này là Thiên Chúa. Đức Kitô là sự hiển
lộ tột đỉnh của Thiên Chúa[67].
Mặc
khải Kitô giáo là nhiệm cục cứu độ con người, được chính Thiên Chúa Ba Ngôi
thực hiện. Ngôi Cha khai sáng, ngôi Con thực hiện, và Thánh Thần nội tâm hoá,
hiện thực hoá và bảo đảm cho mặc khải này được giải thích cách trung thành.
Nhiệm cục này được chuẩn bị bằng lời hứa, giao ước, lề luật, đền thờ cũng như
bằng biến cố xuất hành, vào đất hứa, v.v.; nhưng đặc biệt với các sấm ngôn của
tiên tri, Thiên Chúa đã chuẩn bị cho biến cố đức Yêsu Kitô là chóp đỉnh mặc
khải. Tất cả mặc khải trong Cựu Ước của Do Thái đã được biến cố Yêsu Kitô vượt
qua, làm nên trọn121.
Việc
bảo toàn mặc khải qua những đặc ân linh ứng, lưu truyền mặc khải, giải thích
mạc khải. Đây là công trình của Thánh Thần Thiên Chúa chứ tự sức con người
không làm nổi!
Nhờ
đặc ân linh ứng, lời con người trở thành Lời Thiên Chúa; và nhờ đặc ân không
thể sai lầm được ban cho huấn quyền trong Giáo Hội, lời Thiên Chúa được giải
thích trung thành!122. Với
đặc điểm này của mặc khải Kitô giáo, có thể nói, sở dĩ tôn-giáo-ngoài-kitô có
những sai lầm là vì nó không được ban những đặc ân này.
Các
tôn-giáo-ngoài-kitô cũng chứa đựng những yếu tố mặc khải. Câu khẳng định này
không đưa đến một thái độ lừng khừng, coi tôn giáo nào cũng tốt như nhau; trái
lại niềm xác tín tính ưu việt của mặc khải Kitô giáo và Giáo Hội công giáo,
giúp kitô-hữu can đảm và mạnh dạn đối thoại với các tôn-giáo-ngoài-kitô, nhằm
tìm ra đâu là chân lý và giúp mọi người nhận ra Thiên Chúa trong sự viên mãn
của Ngài. Khi xác tín mặc khải Kitô giáo đã được thể hiện nơi đức Yêsu Kitô,
kitô-hữu không được tự mãn cho rằng mình đã khám phá trọn vẹn những gì Thiên
Chúa bày tỏ nơi Con Một Ngài, nhưng phải khiêm nhượng ý thức, Thần Khí Thiên
Chúa có thể hoạt động nơi các tôn-giáo-ngoài-kitô và cách nhìn của những dân
tộc này có thể giúp khám phá những phong phú của mặc khải đức Yêsu hơn. Khi
nhận ra các tôn-giáo-ngoài-kitô sở hữu những yếu tố mặc khải, kitô-hữu tìm thấy
ý nghĩa của việc đối thoại với các anh em sống trong tôn-giáo-ngoài-kitô hơn,
và giúp đối thoại trong niềm hy vọng và tin tưởng lẫn nhau hơn!
Chúng
ta đã tìm hiểu giá trị cứu độ nơi các tôn-giáo-ngoài-kitô bằng cách duyệt qua
những lập trường khác nhau trong dòng lịch sử, sau đó tìm hiểu vấn đề mặc khải
nơi các tôn-giáo-ngoài-kitô; chính yếu tố mặc khải nơi các tôn-giáo-ngoài-kitô
đã giúp nhận ra giá trị cứu độ của các tôn-giáo-ngoài-kitô; nhưng không phải
tất cả các tôn giáo đều chứa đựng những yếu tố mặc khải như nhau, vì nơi
tôn-giáo-ngoài-kitô người ta cũng nhận ra những yếu tố nhân loại! Chính những
yếu tố con người này đã ngăn cản người ta đón nhận Tin Mừng đức Yêsu Kitô, và
nó là nguồn gốc những sai lầm!
Các
tôn-giáo-ngoài-kitô có những yếu tố mặc khải không đồng nhau, nên giá trị cứu
độ của mỗi tôn giáo cũng khác nhau. Nhiệm vụ của chúng ta trong tương lai là
làm sáng “mặc khải trọn vẹn nơi đức Yêsu” bằng cách tìm ra những giá trị mặc
khải nơi các tôn-giáo-ngoài-kitô, và khi làm được như vậy, sẽ giúp có nhiều
người trong các tôn-giáo-ngoài-kitô tin nhận đức Yêsu hơn!
AD MAIOREM DEI GLORIAM
Y. CONGAR, Vaste monde ma paroisse, TÉMOIGNAGE
CHRÉTIEN 1968, FV. 27
F. CAYRÉ, Précis de Patrologie, t. I, PARIS 1927
E. CONZE, Buddhism its essence and development,
OXFORT 1951
bản dịch của NGUYỄN HỮU HIỆU, Tinh Hoa và sự phát
triển của Đạo Phật, VẠN HẠNH 1969
E. CORNÉLIS, Valeurs chrétiennes des religions non
chrétiennes, CERF 1965
J-A. CUTTAT, Expérience chrétienne et spiritualité
orientale, DDB 1967- FV. 56
J. DANIÉLOU, Dieu et nous,
J. DANIÉLOU, Holy pagans of the Old Testament, 1957
H. DE LUBAC, Dieu se dit dans l’histoire, CERF 1974
P. DE SURGY, Les grandes étapes du mystère du salut,
OUVRIÈRE 1969
J. DOURNES, trong UNAM SANCTAM 61, pp. 84ss
A. DREXEL, Ngôi Lời Nhập Thể, GHHV- không ngày (cours
ronéotypé)
ĐẠI HỌC, bản dịch của PHẠM NGỌC KHUÊ, xb. BGD.1967
M. ÉLIADE, Le sacré et le profane, NRF-GALLIMARD 1965
M. HEINRICHS, Théologie catholique et pensée
asiatique, CASTERMAN 1965
KINH PHÁP CÚ, bản dịch của THÍCH TRÍ ĐỨC, xb. PHẬT
HỌC VIỆN TRUNG THẦN- CHỢ LỚN 1959
KINH THƯ, bản dịch của THẨM QUỲNH, BGD xuất bản
H. KRAEMER, Religion and Christian Faith, LONDERS
1956
R. LATOURELLE, Théologie de la Révélation, DDB. 1966
R. LATOURELLE, La spécificité de la révélation
chrétiennes,
trong STUDIA MISSIONALIA, vol. 20 (1971)-GREGORIANA-ROMA 1971
J. MASSON, Valeurs religieuses de l’Hindouisme,
trong UNAM SANCTAM 61, pp.161ss
M.T. NÀRADA, Buddha and his teachings,
bản dịch của PHẠM KIM KHÁNH, Đức Phật và Phật Pháp,
R. PANIKKAR, Le mystère du culte dans l’Hindouisme et
le Christianisme, CERF 1970
G. PARRINDER, Revelation in others Scriptures,
trong STUDIA MISSIONALIA, vol.20 GREGORIANA-ROMA 1971
HOÀNG SỸ QÚY, Triết sử Ấn Độ, tập I, HGVD-SAIGON
không ngày
K. RAHNER, Visions and Prophecies, HERDER-FREIBURG
1963, Coll. QUESTIONES DISPUTATAE 10
H. R. SCHLETTE, Towards a Theology of Religions,
TRƯƠNG VĨNH THÀNH, Pháp Chính Truyền,
La constitution religieuse du Caodaisme, DERVY 1953
G. THILS, Propos et Problèmes de la théologie des
religions non chrétiennes, CASTERMAN 1966
TRUNG DUNG, bản dịch của TẠ THANH BẠCH, xb. KHAI TRÍ
1960
J-H. WALGRAVE, Un salut aux dimensions du monde, CERF
1970
HOME LỜI CHÚA ĐỨC TIN LINH ĐẠO THẦN HỌC ĐỜI SỐNG IN ENGLISH VỀ TÁC GIẢ
Dẫn Nhập Thần Học Mặc Khải Sẽ Sống Nếu Bạn Tin Thiên Chúa Ba Ngôi Tôn Giáo Ngoài Kitô Ân Sủng Và Biểu Tượng
Chúc bạn
an vui hạnh phúc.
phamthanhliem
[1]J. H. WALGRAVE, Un salut aux dimensions du monde, CERF 1970, p. 171
[2]N. JUNG, art. “Révélation”, DICT. THÉOL. CATH., t. 13, c. 2586 trích bởi G. THILS, op. cit., p. 84
[3]K. BARTH, Dogmatique, vol. II, t. 2 Gottes Offenbarung als Aufhebung der Religion trích bởi G. THILS, op. cit., p. 46
[4]L. S. THORNTON, Revelation in the modern world, OXFORD UNIV. PRESS 1950, pp. 60. 194 trích bởi G. PARRINDER, Revelation in other Scriptures, trong STUDIA MISSIONALIA, vol. 20, GREGORIANA-ROMA 1971
[5]G. PARRINDER, ibidem, p. 103
[6]PAUL VI, Ecclesiam suam, n. 72 trích bởi H. DE LUBAC, Dieu se dit dans l’histoire, CERF 1974, p. 29
[7] Révélation primitive
[8]G. THILS, op. cit., p. 100
[9]R. LATOURELLE, Théologie de la Révélation, pp. 362-363 cité par G. THILS, op. cit., p. 13
[10]R. LATOURELLE, art. cit., trong STUDIA MISSIONALLA, vol. 20, p. 47
[11]J-H. WALGRAVE, op. cit., p. 171
[12]Ibidem
[13]K. RAHNER, Visions and Prophecies, HERDER-FREIBURG 1963, col. QUESTIONES DISPUTATAE 10, pp. 19-20. 23
[14]Ibidem, p. 24
[15]Ibidem, p. 24-25
[16] Mặc khải riêng tư có tính tiên tri.
[17]Ibidem, p. 27
[18]Ibidem, p. 13
[19]Ibidem, p. 19
[20]Ibidem, p. 23
[21] Khi có tiêu chuẩn khác thì người ta có cách phân chia và có tên gọi khác, chẳng hạn như theo thời gian thì có mặc khải tiên khởi, mặc khải thời Cựu Ước, mặc khải Tân Ước...
[22] TCN: Trước Công Nguyên
[23]E. CORNÉLIS, Valeurs chrétiennes des religions non-chrétiennes, PARIS-CERF 1965, p. 31 trích bởi G. THILS, op. cit, p. 109
[24]A. M. WENSINCK, The muslim Creed, 2nd. édition, CASS-LONDON 1965, p. 189 trích bởi G. PARRINDER, art. cit., STUDIA MISSIONALIA, vol. 20, pp. 101-102
[25]Th. P.
VAN BAAREN, Voorstellingen van openbaring, phaenomenologisch beschouwd,
[26] mặc khải triết lý và mặc khải huyền nhiệm tiên tri
[27] mặc khải lịch sử với lời giải thích, và mặc khải nơi Yêsu Kitô.
[28] Mặc khải triết lý, được các giáo phụ cho là công trình của Logos spermatikos.
St. JUSTIN, Apol. I, 46; II, 10. 13 trích bởi G. THILS, op. cit., pp. 96ss
Cf. R. HOLTE, Logos spermatikos, STUDIA THEOLOGICA 12 (1958), pp. 109-168.
[29] giáo sư tại đại học giáo hoàng Grégoriana ở Roma.
[30] R. LATOURELLE, La spécificité de la révélation chrétienne, trong STUDIA MISSIONALIA, vol. 20, GREGORIANA 1971, p. 69
[31] M. ÉLIADE, Le sacré et le profane, nrf-GALLIMARD 1965, p. 15
[32]É. CORNÉLIS, Valeurs chrétiennes des religions non-chrétiennes, CERF 1965, p. 58
[33]A.
HOLPIAU, Pourquoi tant de religions,
cf. M. HEINRICHS, op. cit., pp. 72-73
[34] Người không ưa cho đây là lập trường ba phải, người chấp nhận lại cho đây là lập trường bao dung.
[35] Hữu năng điển trẫm tam lễ. Tam lễ ở đây là tế trời, tế đất, tế bách thần.
KINH THƯ, Thuấn Điển, 23; bản dịch của THẨM QUỲNH, BGD xb, p. 53
[36] Giao Xã chi lễ, sở dĩ sự Thượng Đế giã.
TRUNG DUNG, 19; bản dịch của TẠ THANH BẠCH, KHAI TRÍ SG 1960, p. 43
[37] KINH THƯ; bản dịch của Thẩm Quỳnh, pp. 214-218
Tôi là tiểu tử đã dùng được người có lòng nhân, dám xin kính thưa ý Đấng Thượng Đế để dẹp thời loạn (Vũ Thành 2); Kính theo mệnh trời, nên ta đến phương đông dẹp loạn, để dàn ông, đàn bà, dân gian được vui (Vũ Thành 8).
[38] ĐẠI HỌC; Bản dịch của PHẠM NGỌC KHUÊ, BGD. 1967, pp. 14-16
[39] Làm sao để biết mệnh Trời, ý Trời?
Vua Thành Vương tìm ý Trời bằng cách coi bói rùa: “Ninh Vương di ngã đại quy bảo, thiệu thiên minh tức mệnh viết. . . ” (Vua Ninh Vương- tức Vũ vương- để lại cho ta con rùa to rất quý, dùng để xem mệnh trời, định các việc xấu tốt)
cf. KINH THƯ, Đại các 3, bản dịch của Thẩm Quỳnh, BGD xb, p. 253
[40]cf. J-H. WALGRAVE, op. cit, p. 44
[41]Kena-Upanisad, I, 3 trích bởi HOÀNG SỸ QUÝ, Triết sử Ấn Độ, tập I, HGVD-SG, p. 33
[42]Svetâsvatara-Upanisad III, 9, 19
[43]Brhad Ar. Up., IV, 5, 3-6 trích bởi J. MASSON, Valeurs religieusesse l’Hindouisme, UNAM SANCTAM 61, pp. 16ss
[44]Ibidem,
Brhad Ar. Up.,
[45]Kinh pháp cú, c. 276
dịch giả THÍCH TRÍ ĐỨC, Phật Học Viện Trung Phần, CHỢ LỚN 1959
cf. NARADA M. T., Buddha and His teachings, bản dịch của PHẠM KIM KHÁNH, đức Phật và Phật pháp, SG. 1971, p. 291
[46]NARADA M. T., op. cit, pp. 289-290
[47]Ibidem, p. 291
[48]E.
CONZE, Buddhism its essence and development,
bản dịch của NGUYỄN HỮU HIỆU, Tinh Hoa và sự phát triển của đạo Phật, VẠN HẠNH -SG. 1969, p. 71
[49]Ibidem, p. 77
[50] Trước người ta cho rằng đó là con đường duy nhất để được cứu độ.
Để thấy rõ hơn giá trị tôn giáo của Phật giáo, có thể đọc lại các sách của E. Cornélis và J. Masson, J. Cuttat trong những sách đã trích dẫn trong bài này.
[51]Phối Sư TRƯƠNG VĨNH THÀNH, Pháp Chính Truyền, la constitution religieuse du Caodaisme, DERVY 1953, p. 14
[52]J. DANIÉLOU, Dieu et nous, GRASSET-PARIS 1956, p. 16
[53]cf. G. PARRINDER, Revelation in other Scriptures, trong STUDIA MISSIONALIA vol. 20 (1971), GREGORIANA-ROMA 1971, p. 104
[54] R. LATOURELLE, La spécificité de la Révélation chrétienne, Studia Missionalia, pp. 72-73
[55] Ibidem, p. 73
[56] H. DE LUBAC, Dieu se dit dans l”histoire, CERF 1974, pp. 88-89
[57] Cf. R. C ZAEHNER, At sundry times, LONDORES 1958, p. 184
trích bởi J-H WALGRAVE, op. cit., p. 173
Xem thêm ý kiến của một số thần học gia công giáo họp
tại Bambay được J. NEUNER xuất bản với tựa đề Christian Revelation and World
Religions, tại
[58] H. DE LUBAC, Dieu se dit dans l’histoire, CERF 1974, p. 85
[59] Xem thêm ýkiến về các tôn-giáo-ngoài-kitô của P. DE SURGY, Les grandes étapes du mystère du salut, OUVRIÈRES 1969, pp. 201-202
[60] KIRATO
NISHIDA, A Study of Good,
KIRATO NISHIDA, Intelligibility and the philosophy of nothingness, được dịch và giới thiệu bởi Schinzinger. Trích bởi M. HEINRICHS, op. cit., pp. 27-28
[61] Cf. R. PANIKKAR, Le mystère du culte dans l’Hindouisme et le Christianisme, CERF 1970- COGITATIO FIDEI 53
[62] Cha A. Drexel, giáo sư tại Giáo Hoàng Học Viện Piô X Đàlạt, cho rằng: “Hồi giáo công nhận một mặc khải nào đó, và cũng chứa đựng những yếu tố mặc khải, nhưng xét toàn thể, nó không phải là một tôn giáo mặc khải, và phần lớn do con người tạo ra”[62]. Như đã nói, các tôn-giáo-ngoài-kitô có những yếu tố nhân loại và những yếu tố mặc khải, có tôn giáo có nhiều có tôn giáo có ít. Tôn giáo nào có nhiều yếu tố mặc khải thì có nhiều giá trị cứu độ hơn.
[63] Với ánh sáng của nền thần học các tôn-giáo-ngoài-kitô, các nhà truyền giáo có thể an tâm không sợ những người theo tôn-giáo-ngoài-kitô sa hỏa ngục, bởi vì các tôn-giáo-ngoài-kitô cũng là phương tiện cứu độ cho những người sống trong tôn giáo đó!
[64] Nghĩa là được phép và có bổn phận phải tìm kiếm Thiên Chúa và theo tôn giáo nào mình thấy đúng nhất.
117 R. LATOURELLE, La spécificité de la Révélation Chrétienne, STUDIA MISSIONALIA, GREGORIANA- ROMA 1971, p. 42
[65] Ibidem, pp. 48-49
[66] Ibidem, p. 53
[67] Ibidem, pp. 50-51
121 Ibidem, pp. 58. 54
122 Ibidem, p. 55