|
LỐI
XƯA XE NGỰA
Về đây mưa đẫm dấu chân
Lối xưa rày cũng đã gần phôi pha
Thực tình thì tôi muốn đi tìm lại chút dấu
xưa của tuổi thơ khi sống ở Hànội. Mang
tiếng là cưu học sinh Chu văn An, nhưng thực
ra tôi không được biết trường CVA hay
trường Bưởi nằm ở đâu trong cái thành
phố vốn xưa đã được gọi là “ngàn
năm văn vật đất Thăng Long”.
Có
một điều gì khó giải thích bằng khoa học
là sao cứ thương nhớ nơi chôn nhau cắt rốn,
nơi trời cho làm người ở tuổi ấu
thơ. Chân bước đi trên những con đường
thật lạ mà lòng vẫn muốn tưởng lại
cũng con đường này ngày xưa sao êm đềm,
đẹp đẽ dù rằng chẳng được tối
tân như ngày nay .

Khuê văn Các (Ảnh : Lê văn Ngọc)
Xưa có người từ thuở mang gươm
đi dựng nước
Nghìn năm thương nhớ đất Thăng
Long
Tấm lòng cố cựu nghìn năm ấy trong lòng
một người vài chục tuổi đời từ xa
về tìm lại dấu xưa
sao mà nặng nề đến thế. Cây cối chẳng
còn cây nào cổ thụ, có lẽ cuộc chiến tranh quá
dài, thêm vào đó là những phát triển đô thị vô
tổ chức đã làm thay đổi cả. Nhưng mà,
đúng như là Nguyễn Du đã nói lên được
lòng cố cựu của mình : “Tần Lĩnh Lô giang
tuế tuế đồng”. Tôi vẫn còn thấy
được Hồ Gươm dù cảnh trí xung quanh
đã đổi thay. Bờ Hồ ngày xưa cỏ
mọc, có những buổi sáng ướt mưa đêm,
những chùm hoa me nặng trĩu nước la đà, làm
ướt má cậu bé đi trên bờ hồ phía
đường Trường Thi ra phố Trường
Tiền để đi đến nhà thương đau
mắt gần Chợ Mơ.
Trời
rét ngọt với mưa dầm ướt át, đường
phố Hàng Bông lấm láp ngày xưa có đường tàu
điện đi Bờ Hồ, ngược ra là qua gò
Đống Đa vào Hà Đông. Tàu điện sơn màu
xanh màu vàng, chuông leng keng, mỗi lần quanh góc phố
lại rít lên, cần điện chạm dây bật tia
lửa điện sáng xanh.
Tôi
chợt thấy buồn cười tuổi thơ của mình
ngày xưa khi nói đến Khâm Thiên. Nổi sợ hãi
được tạo nên là hình như ở đấy có
những ma quái, điển hình là “cô đầu” moi
ruột móc gan ngườI ta làm cho tan cửa nát nhà. Bây
giờ biết rằng không phải thế , nhưng tôi
nghĩ sao lạI không cứ thế để cho sự thơ
mộng được lâu dài ?
Dăm
cây hòe vào đầu tháng Chạp chưa có hoa. Ngày xưa
những ngườIiđi học cứ mỗI lần hoa
hòe nở lại thấy lòng nôn nao “hòe hoa hòang, cử
tử mang”. Tuổi trẻ Hànội thì mùa hoa phượng
đỏ lòng cũng nôn nao vì thi cử. Cái rét của tháng
Chạp vẫn là cái rét xưa, chẳng phảI vì mình có
áo lạnh tốt mà không cảm thấy cái lạnh ngày xưa;
cái lạnh như kết tinh vào nhũng hạt sương
đọng trên chiếc khăn mỏ qụa, trên
những vành môi ăn giầu cắn chỉ của mẹ,
của cô ,rảo bước trên hè phố lấm láp. Ngày
xưa có lần cũng tháng Chạp đi qua Văn
Miếu, đến ngay cái miếu con, có chữ “hạ mã”,
mẹ tôi bảo qua đây phải xuống ngựa, không
có thì ngài sẽ bẻ cổ chết tươi. Mình có
cỡi ngựa đâu mà phải xuống. Thực ra thì Hànội
thờI ấy hiếm ngựa, mãi sau này Nhật sang , nhìn
họ cưỡi những con ngựa cao lớn đến
ghê người, thế mà khi đi qua miếu cũng
chẳng thấy ai xuống ngựa. Có lẽ vì họ
đeo gươm dài qúa, đi bộ sợ vướng chân
chăng ?
Vào Văn Miếu thấy có dấu vết trùng tu,
vụng về và cẩu thả như miếng giẻ rách
vá lên tấm áo đã bạc màu. Nhưng thà rằng như
thế còn hơn là để hoang tàn đổ nát như
Kinh Đô Huế. Lẩn thẩn nghĩ rằng có chăng một nhân
qủa báo ứng mênh mang. Ngày xưa khi “Người”thống
nhất đất nước, có cả thiên hạ trong
tay vênh vang ngược đãi và hủy diệt qúa
khứ. Đất Thăng Long ngàn năm văn vật
bị phá đi để thay vào đó một ngôi thành
vừa tầm vóc một phiên trấn tùy thuộc vào Kinh
Đô Huế. “Nhất phiến tân thành một cố
cung”. Bây giờ thì Kinh Đô Huế cũng đổ
nát cả với một Ngọ Môn còn sót lại trong khi núi
Ngự sông Hương vẫn còn đó cũng như núi
Tản sông Hồng.
|
|
|
Sông Lô núi Tản còn đây
Bạc đầu lại thấy chốn này Thăng Long
Lầu cao giờ cũng là không
Tân thành một giải lấp cung xưa rồi
NGỌC VÂN dịch
|
Có thể nói được chăng Văn Minh Văn
Miếu chính là trái tim của nền văn minh Đại
Việt. Hình bóng lặng lẽ của Khuê văn Các
tuy nhỏ nhưng tôi vẫn thấy có gì sang cả cao
quí hơn Phú văn Lâu đứng trơ trọi nơi
bờ sông nhìn giòng thời gian trôi chảy. Xưa kia văn
miếu dào tạo ra thành phần để lãnh đạo
và tổ chức xã hội. Ngồi nhìn tòa giải vũ
cùng mấy tấm bia trên lưng rùa, trong trí tưởng
tượng của tôi chợt hiện lên hình ảnh
của những nho sĩ lúc ngồi học, khi đi
dạo quanh sân Khuê văn Các, ngắm những bia đá
mà nhớ tới các bậc tiền bối đã đi
qua, chắc các nho sĩ cũng có lúc nói rằng
chỗ ta ngồi đây người xưa cung đã
từng ngồi. Tôi ngồi ở thềm Khuê văn Các,
chỗ mà ngày xưa đã có rất nhiều người
ngồi, trong cơn gió lạnh cuối đông để
nghe màu đỏ nồng nàn quen thuộc như màu
của nhũng bông gạo đỏ rưmg rưng làm
ấm lòng người sĩ tử. Dường như
nếu tôi không lầm thì đã từ lâu, có thể
từ thời Tây học thịnh, người ta ít
đến Văn Miếu. Những buổi tế tự
nếu có thì cũng chỉ được coi như
một gia đồng . Văn Miếu đã thành Cổ
Lương, nó chẳng có gì là linh thiêng, đường
bệ như chùa Trấn Quốc hay đền Quan Thánh.
Bây giờ thực trạng nó chỉ là một điểm
du lịch để thu hút khách nước ngoài.
Nơi một góc nhà bia, tôi ngồi nhìn mấy người
khách ngọai quốc đang nghe người hướng
dẫn giới thiệu bia ghi tên những ông tiến sĩ,
và có lẽ trong trí họ cũng hình dung học vị
tiến sĩ của những ngườI được
ghi danh là một điều khác vớI bên Mỹ, hay
Pháp. Phải chăng ngườI Việt ít học,
nếu như ở Mỹ hay Pháp mà khắc bia đá
cho tiến sĩ thì lấy đá đâu cho đủ.
Có biết đâu rằng hai nền giáo dục khác nhau
để đào tạo ra hai mẫu ngườI khác
nhau cho nền văn hóa khác nhau.
Con đường dưới bóng cây râm mát
dẫn ra ngoài cổng miếu. Ngòai kia là ồn ào
hỗn tạp, nhem nhếch. Nhưng dù sao thì cũng
phải qua tất cả nhũng náo động mới
vào được chốn êm ả, thanh cao này. Sự
êm ả của quá khứ dùng làm chỗ dựa,
chỗ hồi chiếu khi mọi náo nức, ồn ào
đã trở nên qúa độ. Với tấm lòng thương
vợ nồng nàn tôi về nắng quái chiều hôm,
cố tìm lấy bản sắc văn hóa sinh động
trong ý nghĩ xây dựng Văn Miếu hơn là
những tòa giải vũ vô tri sẽ xụp dổ theo
năm tháng.

[ Trích
“Lối xưa xe ngựa”]
Ngọc
Vân.
|