|
| |
NGHĨ VỀ MỘT SỐ TỪ TIẾNG VIỆT
Nguyễn Thùy &
Trần Minh Xuân
trang 2
Xét về ư nghĩa, từ
"M̀NH" thường được hiểu như sau :
a/- Từ M̀NH
chỉ 'tấm thân', chỉ 'con người thân xác' , chỉ 'thân mạng' hay 'sinh mạng',
chỉ 'cái tôi riêng', chỉ 'cuộc sống riêng' của một người: Một M̀NH
lủi thủi, một M̀NH bơ vơ:
-Một M̀NH
đứng giữa quăng trơ vơ
Biết có ai chăng
để đợi chờ?
Tú Xương (Nhớ bạn)
Xin lấy thí dụ nơi
"Đoạn trường tân thanh" của Nguyễn Du:
* Để có tiền chuộc
Vương Oâng ra khỏi tội tù, Kiều quyết định:
-Dẽ cho để thiếp
bán M̀NH chuộc cha (câu 605)
* Khẩn khoản cha
măi không được, Thúc Sinh ngơ ư 'tự vẩn' chứ nhất quyết không trả Kiều về
lại lầu xanh:
-Bạc đen thôi có
tiếc M̀NH làm chi! (câu 1402)
* Vương Oâng, lúc
được chuộc khỏi tù, về nhà, thấy cảnh t́nh của Kiều, đau ḷng toan tự tử:
-Liều M̀NH
ông đă gieo đầu tường vôi (câu 666)
và Kiều vộâi vàng
khuyên giải:
-Tan nhà là một,
thiệt M̀NH là hai (câu 682)
*Lúc Mă Giám Sinh
phá hoại đời con gái của ḿnh, Kiều tĩnh thức, buồn đau:
-Phần căm nỗi
khách, phần dơ nỗi M̀NH (câu 852)
*Tú Bà khuyên Kiều
đừng dại dột hủy ḿnh:
-Thiệt M̀NH
mà hại đến ta, hay ǵ? (câu 1014)
b/- Từ M̀NH
chỉ tính cách đơn độc, lẻ loi, cô quạnh, không có ai bên cạnh để cảm thông,
san sẻ, tương tri. Từ M̀NH nơi đây ám chỉ cảnh ngộ, thân phận, tâm
trạng cô đơn, xót xa, buồn đau, hờn tủi trong bao ưu tư, thắc mắc, dằn vật,
năo phiền. Cũng xin mượn thí dụ nơi "Đoạn trường tân thanh":
*Tĩnh giấc chiêm
bao họa thơ cho Đạm Tiên, nghe Đạm Tiên bảo "Ví đem vào sổ đoạn
trường, th́ treo giải nhất chi nhường cho ai", Kiều bàng hoàng ngơ ngẩn:
-Một Ḿnh
lưỡng lự canh chầy
Đường xa nghĩ nỗi
sau nầy mà kinh
Hoa trôi, bèo giạt
đă đành
Biết duyên M̀NH,
biết phận M̀NH, thế thôi! (câu 217-220)
*Trả lời Kim Trọng
khen tài thơ của ḿnh và cho rằng được gặp Kiều là một phúc lớn do 'kiếp
tu xưa ví chưa dày', Kiều đă phân vân về số kiếp và thân phận ḿnh:
-Nghĩ M̀NH
phận mỏng cánh chuồn… (câu 411)
*Kim Trọng lúc
được thư cha gọi về Liêu Dương hộ tang người chú, vội vă qua nhà Kiều báo
tin và lo lắng cho cuộc t́nh vừa nhen nhúm giữa hai người:
-Nỗi nhà tang tóc,
nỗi M̀NH xa xôi… (câu 538)
*Tại lầu xanh Tú
Bà, ngày ngày 'sớm đưa Tống Ngọc, tối t́m Tràng Khanh', Kiều thở than
thân phận:
-Giật M̀NH,
M̀NH lại thương M̀NH xót xa… (câu 1234)
*Gặp lại gia đ́nh
và Kim Trọng, trước lời năn nỉ của chàng Kim chắp nối lại t́nh xưa, Kiều
nghĩ đến tấm thân ô uế và cuộc đời xấu xa của ḿnh, không xứng đáng vời
người t́nh, đă đau đớn bảo:
-Nghĩ M̀NH
chẳng hổ M̀NH sao? (câu 3103)
và: -Trông hoa đèn
chẳng thẹn M̀NH lắm ru! (câu 3106)
*Trong cuộc sống
b́nh thường và trong thơ ca hiện nay, chúng ta cũng đă sử dụng từ M̀NH
hoặc chỉ để tự sự, tự t́nh, tự diễn tả một tâm trạng buồn đau , một nguồn
vui phấn khởi khó thể nói với ai hoặc không có ai bên cạnh để trao gởi như:
'nói một M̀NH, cười một M̀NH, tự trách M̀NH, 'riêng
M̀NH, Ḿnh biết, riêng M̀NH, M̀NH hay', …..
–Nghĩ M̀NH
lại gớm cho M̀NH nhỉ
Thế cũng bia xanh,
cũng bảng vàng!
Nguyễn Khuyến (Tự
thán)
c/- Từ M̀NH
được dùng dưới h́nh thức Đại danh từ trong xưng hô giữa vợ chồng, giữa hai
người yêu hay giữa bạn bè hoặc giữa một số người đang hàn huyên hay đang
cùng một công việc nào đó. Trong những trường hợp nầy, từ M̀NH thường
chỉ riêng đối tượng trong lúc xưng hô: M̀NH đừng nghĩ thế,
M̀NH nói thế mà nghe được sao?, Ḿnh chỉ biết có M̀NH, không
nghĩ đến tôi sao?, M̀NH làm thế, kẻ khác zẽ nghĩ sao về
ḿnh? Nếu chỉ chung cả chủ thể và đối tượng th́ thường có những
từ 'Chúng, bọn, lũ, ta' đi kèm theo : chúng M̀NH cùng đi, Bọn
M̀NH cùng làm, Lũ M̀NH chẳng được tích sự ǵ ráo, Ta M̀NH
chẳng nợ, chẳng duyên,…
Trong thơ ca dân
gian, người b́nh dân đă sử dụng từ M̀NH khá nhiều.
- M̀NH về,
M̀NH nhớ ta chăng
Ta về, ta nhớ hàm răng M̀NH
cười…
- M̀NH về, ta chẳng cho
về
Ta nắm lấy áo, ta đề câu thơ…..
d) Từ M̀NH đi đôi với từ
TA nhiều khi không chỉ hai chủ thể riêng biệt mà nêu ra một ḥa nhập
cả hai vào trong nhau, biểu hiện một liên kết tự nguyện giữa hai tự thể:
-Dân mừng nào nghĩ gần xa
Ngỡ rằng giờ đă trong ta có
M̀NH
Huy Phong
-Một đi là một dăng tŕnh
Một đi để thấy lại M̀NH
trong nhau
N.T.
Không ai không nhớ câu ca dao
dưới đây hàm ngụ một ư nghĩa cao xa ra ngoài ái t́nh nam nữ, M̀NH và mọi
người ḥa nhập vào nhau:
- M̀NH với ta tuy hai mà
một
Ta với M̀NH tuy một mà
hai.
Hai câu ca dao nói lên tính
cách keo sơn, gắn bó giữa hai người yêu nhau hay giữa đôi vợ chồng dẫu nhiều
khác biệt nhưng thủy chung bền chặt v́ nghĩa v́ t́nh, ăn đời ở kiếp bên
nhau, không một lư do nào có thể chia cách được. Nói rộng ra, hai câu ca dao
khiến ta liên tưởng đến hai yếu tố Âm Dương trong Đạo Học; đấy là cặp
"Lưỡng nhất mà bất Nhị' v́ 'trong Âm có Dương, trong Dương có
Âm', hai cái 'Nhất' nhưng là 'Hai trong Một' luôn luôn 'bồng
bế' nhau, luôn luôn 'cơng' nhau
(dựa theo
lời Lăo Tử trong Đạo Đức Kinh, theo học giả Nguyễn Duy Cần)
để sinh sinh hóa hóa tạo nên muôn vật trong cơi hiện hữu. Dựa vào ư kiến
nầy, nơi tác phẩm "Ngụ ngôn – Trùng ngôn", người viết (N.T.) đă giả tưởng
lới Phật giải thích từ 'Viên Giác' trong Kinh Phật : "Cái 'Viên
giác' chỉ là cái biết nh́n, cái thái độ nh́n, nh́n mọi sự vật đều có góc
tṛn hay đều tṛn góc
['viên', từ
Hán, có nghĩa là 'tṛn; 'giác', từ Hán có nghĩa là 'thức giác, tri giác'
cũng có nghĩa là 'góc, cạnh'
:
h́nh tam giác, tứ giác…]
.Vật nào cũng có cạnh, có góc;
v́ có cạnh có góc nên sinh ra cọ xát, làm sây sướt nhau, từ đó sinh ra hỗn
loạn. T́m được cái "tṛn" trong những góc cạnh đó, đưa góc cạnh của sự vật
đến chỗ tṛn trịa, biết mài nhẵn những cạnh góc th́ là ḥa hợp, hài ḥa. Ḥa
hợp hài ḥa giữa nhau th́ cả chủng loại sẽ cùng hoàn hảo, tṛn trịa cái chu
kỳ biến dịch của ḿnh tương ứng với từng chu kỳ biến dịch của Lẽø Đạo
hằng cửu…. ". Viên
giác tức làm cho mọi pháp không c̣n huyễn nữa chứ không phải là vứt bỏ các
pháp đi. MuôÙn thế, phải làm sao cho các góc cạnh của pháp trở nên tṛn. Từ
cạnh góc đến không cạnh góc, -từ huyễn làm thành thật, mà sự vật nào rồi
cũng tiến triển như thế – để rồi đừng trụ vào cái thật đó v́ nó sẽ có những
cạnh góc mới và con lại tiếp tục làm tṛn những cạnh góc mới đó. Đấy là ư
nghĩa của "lưỡng nhất mà bất nhị", có thế mới có cái gọi là "tiến bộ" chứ.
Bên Việt Nam con có một câu rất ngộ nghĩnh "Ḿnh với ta tuy
hai mà một, ta với ḿnh tuy một mà hai", câu nói về ái t́nh đôi lứa
nhưng thật ra là cái nh́n không cạnh góc giữûa nhau. Tục đế và Chân đế ơ û
trong nhau. Đừng bao giờ trụ chết cứng ở một điểm nào: "bất trụ vô vi,
bất tận hữu vi"
(kinh Duy Ma) là
vậy…Không một ai viên giác cả v́ người nào cũng có pháp thân, cũng có góc
cạnh. Chính người nầy làm cho kẻ nọ thành viên giác và cứ thế tất cả cùng
viên giác. Giữa các quốc gia, dân tộc với nhau cũng thế. Người đời mải miết
lao tâm khổ trí đi t́m cái biết tṛn đầy mà quên đi cái thái độ làm cho tṛn
đầy". Làm thế
nào dể M̀NH và TA luôn luôn được 'tuy hai mà một, tuy một
mà hai' như câu ca dao đă bảo trong dàạo vợ chồng và trong đối đăi nhau
hằng ngày trong xă hội, cái khó nầy nằm nơi Tấm Ḷng ăn
ở của mỗi người.
Một đoạn ca dao khác như sau:
-M̀NH nói dối ta M̀NH
hăy c̣n son
Ta đi qua ngơ thấy con M̀NH
ḅ
Con M̀NH những trấu cùng
tro
Ta đi xách nước rửa cho con
M̀NH (2)
Bài ca dao dung dị, hồn nhiên,
mộc mạc, thoạt nghe không có ǵ khó hiểu. Chúng ta t́m thấy cái đức tính độ
lượng, bao dung của người b́nh dân, nơi đây là người chồng đối với vợ. Không
trách người cũng chẳng trách ḿnh, chỉ cam chịu và làm một sự việc tốt đẹp
hơn
(xách nước rửa cho con ḿnh sạch sẽ, hết mọi thứ tro trấu bẩn dơ),
vượt lên trên mọi thở than,
trách móc, hờn đau . Người đàn bà hẳn sẽ tự thẹn và cảm tạ tấm ḷng yêu
thương cao quí của đấng trượng phu. Chàng đă vượt lên trên cái lẽ thường
t́nh để thăng hoa t́nh cảm, đưa đến hành động thiện hảo, thiện lương. Ta có
cảm tưởng chữ 'Nhẫn' của nhà Phật, cái đạo 'quân tử' của nhà Nho và cái ư
nghĩa 'tha thứ' cùng 'quan tâm' cho nhau trong t́nh yêu Ky-Tô-giáo bàng bạc
qua bài ca dao đơn giản, thoạt nghe như lời t́nh tự thương cảm phận ḿnh
(ngày
c̣n ở Việt Nam, người viết có đọc đôi học giả Cọng sản trích và nhận xét
đoạn ca dao nầy nhưng rất đơn sơ, chẳng có ǵ sâu sắc).
Nhưng bài ca dao không dừng ở đấy. Những câu ca dao, những bài dân ca tương
tự như bài nầy, mặc dù xuất phát từ một sự việc b́nh thường hay một t́nh tự
gái trai vẫn hướng đến một nội dung sâu kín, xa xôi nào đó mà chính tác giả
lúc diễn đạt cũng không ngờ. V́ không phài chính tác giả nói ra mà chính là
cái tâm thức của cả một dân tộc âm ỉ nơi ḷng tác giả đă lên lời, nhất là
một dân tộc giàu t́nh cảm như dân tộc Việt Nam mà t́nh tự sâu kín luôn ẩn
tàng nơi vô thức. Tính cách biểu tượng và viễn mộng ẩn chứa nơi những lời
đơn giản trên là do từ kết tinh của cả tâm thức dân tộc qua ḍng lịch sử
sinh hóa của giống ṇi đăơ tiềm tàng sống động nơi ḷng người b́nh dân, xuất
hiện đột ngột qua một lần ngẫu hứng. Xét trên cách cấu từ
(ḿnh, nói
dối, c̣n son, qua ngơ, con ḿnh, trấu tro, xách
nước
rửa
cho con
ḿnh), chúng ta sẽ thấy
bài ca dao không chỉ nói lên tấm ḷng độ lượng, bao dung của người chồng đối
với người vợ đă dốt gạt ḿnh mà c̣n đề cập đến một vấn đề nào khác, một vấn
đề ra ngoài ư nghĩ của tác giả lúc đó, ra ngoài cả ư nghĩ mọi người, ư nghĩ
chúng ta nếu chúng ta không sống với cái thân phận dân tộc suốt quá tŕnh
lịch sử thương đau, không sống với ḍng sử mệnh dân tộc đưa đẩy dân tộc ta
phải triền miên trong tâm thức lăng mạn lưu đày ngay trên quê hương đất
nước. Dân tộc ta đă phải gặp bao nhiêu M̀NH ăn đời ỏ kiếp với ta (Ḿnh
đă cùng ta 1000 năm chung chạ, gần một thế kỷ ái ân, vài ba năm chung
gối, trên nửa thế kỷ yêu thương mà ngậm ngùi t́nh hận và gần một phần năm
thế kỷ gối chăn để rồi gần ba mươi năm trường hận, non một thế kỷ điêu linh,
lưu đày, để rồi…sao nữa !?). Các M̀NH quả giàu ḷng hào hiệp (c̣n
son), quảng đại, nhân từ, đến với ta, luôn bảo "khai phóng cho ta, dạy ta
chữ viết, học đọc theo giọng của Ḿnh, chỉ ta cách sống, phát triển
ta ngày thêm giàu đẹp phú cường, văn minh, tiến bộ, giải phóng ta thoát ṿng
kềm kẹp của đế quốc, thực dân,…". Ta đă có lúc tôn ḿnh là 'cứu tinh,
ân nhân' (Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp,..), Ḿnh dựng tượng Paul Bert tại Hà
Nội tay dắt đứa trẻ Việt Nam chỉ đường đi tới, Ḿnh dựng Cây Tự Do
nời ṭa Đại sứ của ḿnh; Ḿnh xây tượng Lê Nin, bảo dân ta treo ảnh
Mác, Lê, , Mao, Hồ, thờ phụng như là 'cứu tinh nhân loại'. Quả các Ḿnh
tâm địa rất "son", hào hiệp, quảng đại vô cùng! Nhưng, các Ḿnh
ơi, qua ngơ nhà ḿnh, (qua từng chặng đường lịch sử, từng giai
đoạn tiếp xúc giao lưu, qua từng thời gian chung đụng ân t́nh, qua từng thời
điểm biến thiên của ḍng sinh hóa, qua từng ngơ ngách đó), ta bỗng nhận diện
ra 'con ḿnh' và thấy rơ các Ḿnh đă dối gạt ta. 'Con ḿnh',
những sản phẩm, những kiến trúc tinh thần, văn minh, văn hóa của ḿnh (kinh
sách, tôn giáo, lư thuyết, chủ nghĩa, ư thức hệ, trào lưu) thực ra chỉ là
những 'trấu tro' chứ không phải những tinh anh, tinh túy; Ḿnh
đă dùng những thứ trấu tro đó để lừa bịp ta, thực chất chỉ đàn áp,
bóc lột, khống chế, thống trị, đồng hóa ta theo ḿnh, sao cho 'ta
không c̣n là ta' nữa. Biết Ḿnh dối trá, lừa phĩnh, nhưng ta phải
làm sao đây, phải xử trí thế nào? Ta là người nghệ sĩ; người nghệ sĩ,
ḿnh biết không, vốn là kẻ nh́n rơ mọi buồn đau bất trắc của cuộc
đời, của phận ḿnh nên chẳng hề trách cứ mà chỉ lên lời mời gọi một 'trở
về' với Quê Hưông, một 'lên đường' tái tạo suối nguồn tính thể
nguyên sơ. Cái tính nghệ sĩ đó vốn do từ tự buổi sơ sinh, mỗi ngày thêm đậm,
thêm giàu do từ bao ba đào, đổ nát như bao nhiêu gian dối của các ḿnh
đă trút đổ vào ta ngay từ buổi đầu chung chạ. Do cái tính nghệ sĩ đó, ta xin
làm thêm một công việc nặng nhọc 'xách nước rửa cho con ḿnh' hết
những trấu tro , để chúng sáng lại nét tinh anh để cả hai ta, để cả chúng ta
và con cái cùng chung môt nghĩa tương tri đậm đà ân ái, hạnh phúc tṛn đầy
trong những ngày tới, bây giờ và về sau. 'Con ḿnh 'dó, những 'đứa
con ḿnh' vốn thánh khiết, tinh anh, vốn cao quí, tinh tuyền, vốn lương
hảo tuyệt vời, nhưng ḿnh ơi, ḿnh không biết nuôi dưỡng bảo
tồn, săn sóc cho bao tinh túy mở phơi mà ngược lại ḿnh đă để chúng
trấu tro bao phủ, đă biến chúng thành những 'giá trị lợi dụng', biến chúng
thành nhem nhuốc, mất hết cái thuần khiết tinh anh của bản chất chúng do từ
manh tâm gian dối của ḿnh. Ta xin làm công việc rửa cho 'con
ḿnh' không phải để sửa chữa một lỗi lầm, ngu dại mà chỉ để 'trả lại
cho César những ǵ của César và trả lại cho Đức Chúa Trời những ǵ của
Đức Chúa Trời' đấy thôi. Ta chẳng là hảo hán, anh hùng, chẳng là hiền
triết, thánh nhân mà chỉ là con người nghệ sĩ; người nghệ sĩ, qua bao đọa
đày luôn t́m cách thăng hoa t́nh ḿnh, thế thôi! Bài ca dao mượn một
cảnh đời hiện thực (người chồng bị vợ dối gạt), nâng lên thành ẩn dụ, đề cập
cả quá tŕnh lịch sử của giống ṇi, biểu hiện nếp sống t́nh nghĩa cao đẹp
cùng hành động thiện hảo, thiên luơng hướng đến tương lai tốt đẹp của con
người, của lẽ sống. (3).
3/- Từ "NHÀ" :
Từ NHÀ chỉ nơi che mưa,
tránh nắng. Loài người từ thưở hồng hoang sơ cổ đến nay đă qua biết bao
nhiêu loại NHÀ: "từ mượn những loại "NHÀ
thiên nhiên"
(hang, động) đến dựng
nên những lều, những trại, những nhà lá, nhà tranh đến nhà
gạch ngói rồi biệt thự, nhà lầu, cao ốc; ngay cả những lúc đi cắm
trại, nghỉ mát nơi núi, nơi biển hoặc lỡ độ đường, phải dựng những 'lều'
(tente) để trú ngụ qua
ngày, qua đêm; đến nay người ta nghĩ đến xây dựng sẵn những 'nhà lưu
động'
(home
mobile), những 'nhà
tiền chế' cùng nhà nơi vùng băng tuyết ở hai cực Nam, Bắc, cả những
nhà nơi vùng biển cả, biết đâu nay mai cả nơi các cầu thể khác; cái
'vô thường' chính nơi h́nh thức, nơi cái 'tướng' tức dạng hiện hữu của ngôi
nhà ở từng thời điểm lịch sử của Tiến hóa nhân sinh chứ cái nhà
vẫn là cái nhà dù dười dạng hiện hữu nào, một khi con người c̣n
đó như hiện nay, c̣n phải tránh mưa, tránh gió, tránh nắng, c̣n phải cần đến
ngôi nhà làm nơi cư trú"
(xem "Hành
tŕnh vào Nhất Thể" của NT & TMX, nxb Mekong Tỵ nạn,
Newark,
CA, 2003,
tập 11, trang 69).
Trên mặt ư nghĩa, từ NHÀ
nơi ngôn ngữ Việt Nam chứa đựng khá nhiều ư vị, nên thơ:
a/- Trước tiên, từ NHÀ
được dùng không chỉ riêng nơi cư trú mà có nghĩa là 'mái ấm', là gia đỉnh,
nơi ta cư ngụ ấm êm trong tính thương yêu đùm bọc của bao người thân thương.
Nơi tiếng Pháp, từ NHÀ theo nghĩa nầy được gọi là Foyer. Hai từ
'NHỚ NHÀ' của ta vừa diển tả tâm trạng băn khoăn vọng tưởng, man mác
buồn thương vừa mang chở âm hưởng tha thiết cưu mang một thứ ǵ giờ đây xa
xôi cách trở. Không rơ tiếng Hán, tiếng Pháp, tiếng Anh có từ nào tương
đương. Chúng ta nhớ hai câu thơ của Bà Huyện:
-Nhớ nước đau ḷng con quốc
quốc
Thương NHÀmỏi miệng cái
gia gia.
Từ 'NHÀ' nơi đây không
chỉ mái nhà cha mẹ nơi quê Bà Huyện mà là 'mái ấm gia đ́nh' của người dân,
cảnh sống nghèo nàn, khổ sở của người dân lúc bấy giờ đă khiến Bà Huyện đau
ḷng hoặc Bà Huyện đă linh cảm vận NƯỚC, cảnh NHÀ nay mai của
dân tộc sẽ vô cùng tăm tối v́ giặc Pháp đang đánh phá, thực hiện mộng đồ
thống trị dân ta.
Cô Kiều đă than thở tự trách
ḿnh đă làm đau ḷng Kim Trọng :
-Trời Liêu non nước bao xa
Nghĩ đâu rẽ cửa chia NHÀ
tự tôi (câu 703, 704)
Từ NHÀ trong câu nầy
không chỉ gia đ́nh Kiều phải cảnh phân ly (Kiều phải ra đi với họ Mă) mà chỉ
cuộc t́nh giữa Kiều và Kim Trọng, 'mái ấm gia đ́nh' giữa hai người từ lúc
"tiên thề cùng thảo một chương".
Những nghịch tử, nghịch tặc
thường bị mắng là 'hại nhà, hại nước',…
Ngôn ngữ Việt Nam đă dịch từ
thuần Hán Việt "Huyên đường" ra thành một từ thuần Việt kèm theo một từ Hán
là 'NHÀ Huyên" để ám chỉ Cha Mẹ. Trong hôn phối, người ta gọi NHÀ
GÁI, NHÀ TRAI để chỉ hai bên sui gia.
b/- Từ NHÀ được dùng để
nói về người vợ hay người chồng trong lúc nói chuyện với kẻ khác : NHÀ
TÔI. Hai tiếng 'NHÀ TÔI' nghe ra thân thương, tŕu mến, diễn tả
mối liên thuộc tự nguyện, nối kết với nhau bằng t́nh, bằng nghĩa khăn khít,
đậm đà. Mỗi bên (vợ hay chồng) đă trở thành mái nhà cho bên kia trú
ngụ, trở thành kẻ đùm bọc, chở che cho nhau trong suốt cuộc đời. Vợ và
Chồng, cả hai trở thành MỘT NHÀ hay MỘT THỊT theo lời Jésus. Người viết
nghĩ, ngôn ngữ các dân tộc khác khó có một từ vừa đẹp vừa súc tích như thế.
c/-Đối với những người, những
nghề nghiệp có tác dụng giúp ích cho đời, cho người, hoặc có tính cách
thiêng liêng, cao trọng được kính nể, tôn thờ, những nơi ta thường lui tới
v́ nghề nghiệp, ngôn ngữ Việt Nam cũng gọi là 'NHÀ'ø : nhà nông, nhà
thợ, nhà chài, nhà buôn, nhà sư, nhà giáo, nhà thơ, nhà họa, nhà thuốc, nhà
khoa học kỹ thuật, nhà triết, nhà văn, nhà vơ, nhà binh, nhà vua,…Từ NHÀ
c̣n dùng chỉ cả một triều đại cai quản đất nước: NHÀ Lư, NHÀ Trần,
NHÀ Lê, NHÀ Nguyễn,…
d/- Đối với chỗ cư trú, nơi nào
ta ở lâu , nơi cần thiết cho ta , gắn bó với ta trong sinh hoạt hay trong
t́nh nghĩa , ta cũng gọi là NHÀ: nhà chùa, nhà thờ, nhà trường, nhà
thương, nhà ḍng, nhà chung, nhà hộ sinh, nhà dưỡng lăo, nhà trẻ, nhà hàng,
nhà bếp, nhà trọ, nhà khách, nhà hát, nhà tù, nhà chợ, nhà làng, nhà mồ, nhà
quàng, nhà xác, nhà xí, nhà cầu, nhà tiểu, nhà thổ, nhà đĩ, nhà ṣng, nhà
chứa,…
e/- Từ NHÀ thường đi đôi
với từ NƯỚC . 'NƯỚC NHÀ' chỉ giang sơn, tổ quốc, đất tổ quê cha hay
đất nước, đồng nghĩa với từ 'Quốc gia' tiếng Hán, từ 'Nation' hoặc 'Eùtat'
hoặc 'Pays, Patrie' tiếng Pháp. 'NHÀ NƯỚC' chỉ guồng máy công quyền
quản lư quốc gia, đồng nghĩa với từ 'Chính Phủ' tiếng Hán hay từ 'Eùtat', từ
'Gouvernement' tiếng Pháp. Nhưng các từ trên của tiếng Hán và tiếng Pháp
không thơ mộng, không nói lên mối liên hệ hữu cơ thắm thiết giũa gia đ́nh và
đất nước, nói lên mối ràng buộc t́nh nghĩa cùng bổn phận, trách nhiệm người
công dân đối với cả NHÀ và NƯỚC.
g/- Ngôn ngữ Việt Nam lại
thường dùng lối điệp ngữ vừa khiến lời nói hay lời văn gọn nhẹ vừa nói lên
cái tổng quát, tổng thể : NHÀ NHÀ, người người, ai ai,…: "Nhà Nhà
no ấm, người người hân hoan,…
Trong văn chương, từ NHÀ
được dùng nhiều nhưng không lắm thi vị, thơ mộng như những từ "Em, Ḿnh":
-Cùng nhau giao bái một nhà
Lễ đà đủ lễ, đôi đà đủ đôi..
(Kiều, câu 3133, 3134)
-Một nhà phúc lộc gồm
hai
Ngàn năm dằng dặc, quan giai
lần làn… (Kiều, câu 3235, 3236)
-Chị đi, em ở lại nhà
Vườn dâu em hái, mẹ già em
trông…(Nguyễn Bính)
-Ḷng quê dờn dợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ
nhà..(Huy Cận: Trường giang)
Riêng từ NHA Ønơi hai
câu thơ của Nguyễn Du cũng trong Truyện Kiều :
-Kể từ lạc bước bước ra
Tấm thân liệu những từ NHÀ
liệu đi.
Từ NHÀ nơi đây không
giản dị là ngôi nha øcủa cha mẹ Kiều mà là "ngôi nhà Hằng
Thể"
(la maison de l'Eâtre) tức cái "Đạo Thể", cái "Cội Nguồn". Từ lúc phải
rời ngôi nhà Hằng Thể, rời bỏ Cội Nguồn để dắm ch́m vào ḍng hiện hữu hỗn
mang, biến đổi vô thường, dẫy đầy bất trắc thương đau th́ con người
(mỗi người
và nhân loại, nói chung)
không lúc nào không liệu định, tính toan trăm bề vạn mối, luôn luôn chao đảo
giữa "đùng đùng gió giục mây vần, một xe trong cơi hồng trần như bay'
(Kiều). Cô Kiều đă thế,
mỗi chúng ta bây giờ và mai nầy, trong cuộc sống hằng ngày giữa cuộc đời
phong trần nầy cũng thế.
4/- Từ "QUÊ":
Từ QUÊ cũng lắm ư nghĩa
thân thương và thơ mộng:
a) Từ QUÊ trước tiên chỉ
'Quê quán' tức nơi ta sinh ra, sống trọn cuộc đời hay suốt thời ấu
thơ hoặc gốc gác sinh sống của cha mẹ ông bà. Nơi đây có thể là thôn xóm,
làng mạc, có thể là nơi thị thành hay cả đất nước của một sắc dân. Từ
'QUÊ ' theo nghĩa 'Quê quán' được dùng trong giấy tờ hộ tịch
(khai sinh,
khai tử, hôn thú) trong
đơn từ hoặc trong giấy tờ khai báo với nước ngoài
(tiếng Pháp
gọi là Nationalité):
Quê tôi miền Trung, Chị ấy Quê Vĩnh Long, Quê quán tôi là
Việt Nam (nationalité Vietnamienne). Từ QUÊ trong trường hợp nầy dùng
chỉ nơi chốn, không mang chở ư vị nào nên thơ.
b) Từ QUÊ đứng riêng một
ḿnh hay ghép với một số từ khác, trở thành : QUÊ hương, QUÊ nhà, QUÊ
cha, Quê mẹ, QUÊ nội, QUÊ ngoại, QUÊ anh, QUÊ Chị, QUÊ em, QUÊ tôi,
QUÊ ḿnh, QUÊ ta, QUÊ người, không riêng chỉ cái địa bàn thổ nhưỡng tức
quê quán chúng ta mà nói lên mối dây ràng buộc thân thương giữa ta và nơi ta
sinh sống nặng phần t́nh cảm chủ quan :
-Có nghĩa ǵ đâu thua với được
Quê hương
c̣n đó nỗi đau nầy.
Hoa Văn
-Đường đi – một bước – dặm dài
Quê hương
– nh́n lại – xa ngoài chân mây
Huệ Thu
-T́nh quê Ngoại ngọt
ngào như múi mít
Vườn ruộng ơi, ân nghĩa nặng
vai quằn…
Dư thi- Diễm Buồn
-Lối xưa biết có mặn mà?
Đón khách lạ, trên quê nhà
chông chênh
Ngân Phi Thư
c) QUÊ và QUÊ HƯƠNG
đă trở thành 'h́nh tượng nghệ thuật' của muôn đời thi sĩ. Đấy là h́nh ảnh
của Tổ Quốc, của đất nước, núi sông, của Gốc nguồn dân tộc, đất tổ, Quê cha
và trên hết đấy là Cội Nguồn của con người, của nhân loại nói chung. Cái Cội
Nguồn đó là 'Ngôi nhà Hằng Thể' (maison de l'Eâtre), cơi cư lưu viên măn
thưỏ nào chưa hề phân biệt, chia ly, chưa hề bị đọa đày bỡi ma nghiệt trần
gian khốn khổ, cơi sống của con người chưa phải đắm ch́m vào sai biệt, thị
phi, không c̣n cái nghĩa tương tri đậm đà từ thưở chưa đầu thai vào cơi thế.
Đấy là cơi Vô sở trụ, cơi Vườn địa đàng , cơi mà 'trái tri thức' chưa tách
rời 'Cây Sự Sống' . Thi sĩ chính là người mời gọi ta về với cơi sống nguyên
sơ đó. V́ hơn ai hết, thi sĩ mới là người cảm nhận được tất cả tan vỡ đọa
đày của cái thế giới sai biệt nầy mà con đường giải thoát chỉ c̣n là "trở
về lại với Quê Hương", cái Quê hương t́nh mộng, cái
Quê hương yêu dấu buổi ban đầu. Dù có nói về T́nh yêu, cái chết hay cái
sống, dù có khóc v́ một tan vỡ đau thương, có ca ngợi một thành công cách
mạng hay khoa học,…; người thi sĩ, đúng là thi sĩ, vẫn muốn nhiếp dẫn mọi
người vào ư niệm một thời điểm phục sinh, phục hồi "quê hương cũ",
một "quy hồi cố quận" (retour au sol natal), cái cố quận không chỉ là mặt
bằng vật lư mà vừa là "hồn nguyên thể", cái "bản lai diện mục" của con người
trong cái "bản lai đồng" của vũ trụ, càn khôn. Đấy là điều đă được nhà tư
tưởng Đức Quốc M. Heidegger nói đến qua ẩn dụ "Tổ Quốc (Quê hương), Kiều
địa (Quê người), Cố Quận (Cố hương) (4). Cơi nước non xưa cũ đó là buổi
b́nh minh thơ mộng của con người, là thiên đàng, là niết bàn, là cơi 'non
nước chúng hương' mà họ gọi là QUÊ HƯƠNG. Tiếng thơ của thi sĩ là lời
cảnh tĩnh, một mời gọi làm lại cuộc đời, cuộc sống bằng cách phục hồi cái
Quê Hương ban đầu, cái "Ngôi nhà Hằng Thể" đó. QUÊ hay QUÊ
HƯƠNG không riêng chỉ cái mặt bằng vật lư mà trở thành một "hồn mộng
lênh đênh", một "đ̣ t́nh" ḥ hẹn chuyên chở ta về xứ mộng ban sơ, về ngôi
nhà mà xưa kia ta từng sống thưở đất trời chưa hờn dỗi phân ly để ta phải
bắt buộc ra đi rồi khắc khoải một ngày về. Trên mặt Tâm lư và Chính trị,
QUÊ hay QUÊ HƯƠNG không riêng chỉ nơi 'chôn nhau cắt rốn' mà c̣n
là cái truyền thống quí báu lâu đời đă lưu truyền từ bao thế hệ tổ tiên. Nó
(từ quê) không chỉ diễn đạt t́nh tự mà c̣n biểu hiện một tài sản, một
vốn liếng, một thứ của cải hương hỏa vô cùng trân quí, dấu yêu; đấy là cái
truyền thống văn hóa, cái hồn dân tộc đă gắn bó con người với nhau, gắn bó
con người với đất nước non sông, gắn bó con người với lịch sử đọa đày, tỏa
chiết hay huy hoàng rạng rỡ. Nó (từ Quê) trong ư nghĩa đó trở thành
cái "căn tính, cái lư lịch" của dân tộc nơi mỗi con người.
-Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu
Thôi Hiệu
(Quê hương khuất bóng
hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn
ḷng ai – Tản Đà dịch)
Cái Quê Hương Thôi Hiệu nói nơi
đây chính là 'hạc vàng' tức linh hồn, cái tính thể óng mượt xưa kia. Lầu
Hoàng Hạc c̣n trơ ra đấy nhưng Hạc Vàng đă chắp cánh bay xa để bây giờ chỉ
c̣n 'ngàn năm mây trắng'. Và Lư Bạch :
-Cử đầu vọng minh nguyệt
Đê đầu tư cố hương
(Ngẩng đầu trông trăng sáng
Cúi đầu nhớ cố hương)
'Cố hương'
không phải vùng quê quán của nhà thơ mà chính là cái "Quê hương t́nh mộng
ban đầu" nơi ḷng vị 'trích tiên' nầy.
Và thi ca người Việt:
-Hồn QUÊ theo ngọn mây
Tần xa xa (Nguyễn Du)
'Hồn QUÊ', vâng, cái 'hồn QUÊ'
lăng đăng trong tâm tư không riêng là mái nhà cha mẹ cùng cuộc t́nh Kiều-Kim
mà chính là cái 'Bóng QUÊ'
(mượn nhan
đề thi tập 'Bóng Quê' của Đỗ B́nh)
hạnh phúc tṛn đầy trong tâm
thức con người bị vùi dập trong ḍng hiện sinh nhầy nhụa khổ đau. Cái
'bóng QUÊ' đó đă trở thành hiện thực với Kiều trong cảnh sống 'Có trong
Không' trong ngày hội ngộ, đoàn viên.
-Hồn QUÊ luống những mơ
màng
Bèo mây hợp bền, chim ngàn về
hôm (Nguyễn Bá Trác)
Cái 'Hồn QUÊ' bảng lảng nơi tâm
t́nh tác giả cho nhà thơ h́nh dung ra bến bờ đoàn tụ yên vui, mái ấm b́nh an
của chim ngàn sau từng ngày lận đận mưu sinh, của bèo mây bồnh bềnh, phiêu
bạt không định hướng trở về cư ngụ ấm êm như chính tác giả mơ về một cảnh
sống an lành nơi QUÊ HƯƠNG yêu dấu mà giờ đây nh́n 'bèo mây hợp bến' và
'chim ngàn về hôm với tổ ấm', tác giả khắc khoải, bồn chồn.
-QUÊ HƯƠNG măi ở ḷng ta
đó
Vàng đá là đây nhắn nhủ lời (Lê
Ngọc Chấn)
và:
-Ôi QUÊ HƯƠNG, QUÊ HƯƠNG,
chiêm bao! (Vân Nương)
Nhắn người bạn được đoàn tụ gia
đ́nh nhưng đừng v́ vui gia đ́nh mà quên QUÊ HƯƠNG, nơi đây là Quê Hương Việt
Nam nhưng rộng hơn là cảnh sống b́nh an, tươi đẹp của con người đang bị đọa
đày v́ bao thảm cảnh. 'QUÊ HƯƠNG' trong chiêm bao' hay 'chiêm bao thấy QUÊ
HƯƠNG' hay 'QUÊ HƯƠNG chỉ là chiêm bao', đấy là nỗi ḷng người xa xứ vọng về
QUÊ HƯƠNG xinh đẹp thưở nào v́ QUÊ HƯƠNG bây giờ như chiếc bóng, lẩn quẩn
trong tâm tư như h́nh ảnh trong chiêm bao. Nhưng dù trở về với QUÊ HƯƠNG đẹp
tươi thưở trước th́ Vân Nương vẫn hướng vọng đến, vẫn 'chiêm bao' về một QUÊ
HƯƠNG nào khác, một QUÊ HƯƠNG t́nh mộng cao hơn, đẹp hơn cái Quê Hương hiện
thực lúc bấy giờ. Cái QUÊ HƯƠNG t́nh mộng đó xa mà gần, một thứ 'viễn ly cận
lập' (la proximité du lointain – M. Heidegger) nơi nhà thơ luôn vọng tưởng
một cảnh đời thoát vượt mọi cảnh thế phù trầm. Nhà thơ luôn luôn 'chiêm bao'
cái QUÊ HƯƠNG đó. Đỗ B́nh nói rơ trong lời than:
-… Vẫn tưởng QUÊ HƯƠNG
là con sông
nắm đất, bờ ao, núi thẳm
có đâu ngờ
nguồn gốc cũng xa xăm!
(Bóng Quê – Mộng và thực)
Nguyễn Bính đang trên đất nước
ḿnh mà lại đau buồn, khắc khoải v́ cái QUÊ HƯƠNG hiện thực lúc bấy giờ
không đúng là cái QUÊ HƯƠNG mà ḷng nhà thơ vọng tưởng. Cái QUÊ HƯƠNG đích
thực giờ nầy như c̣n măi ở đâu đâu:
- QUÊ NHÀ
xa lắc xa lơ đó
(không nhớ
trong bài thơ nào)
Và Song Nhị đến nơi xứ người,
phải xa mẹ, xa quê hương nhưng mang theo không riêng nghĩa mẹ, t́nh quê mà
cả cội nguồn lịch sử đủ đầy nỗi nhớ, niềm vui, t́nh buồn quấn quưt đêm ngày
tâm khảm:
-Thưa mẹ, đă năm năm rồi
Con xa mẹ, xa đất trời quê
hương
Con mang t́nh sử cội nguồn
Từ ngh́n xưa đủ vui buồn đến
đây…
(về lối đi xưa: năm năm rồi,
thưa mẹ)
Và thi ca dân gian:
-Đêm qua dàốt đỉnh
hương trầm
Khói lên nghi ngút
âm thầm nhớ QUÊ
-Chiều chiều ra
đứng ngỏ sau
Ngó về QUÊ MẸ
ruột đau chín chiều
'Nhớ QUÊ', QUÊ
nào đây? Có phải khu vườn xưa xanh um bóng lá? Có phải mảnh ruộng đồng
lúa mạ đơm bông? Có phải mái nhà tranh hay nóc ngói đơn sơ mà nay ta cách
biệt? Nếu chỉ thế th́ đâu phải đợi vào đêm, trong phút giờ quạnh quẽ, ta mới
chạnh ḷng vương vấn tâm tư? Có phải là ông bà tổ tiên đă mất? Có phải là
cha mẹ, anh em hiện nay không c̣n hoặc đang phải phân ly? Có thể là như thế
nhưng nếu chỉ là thế thôi th́ cũng chẳng phải đợi vào đêm, phải đốt hương
trầm lên mới nhớ. V́ niềm vọng tưởng ông bà, cha mẹ, anh em hẳn sẽ rộn ràng
từng lúc, quặn thắt từng cơn, đâu có trở thành một u hoài lăng đăng mênh
mang như nhạc điệu lời thơ mơn man trải dài theo yêu vận b́nh, tiết tấu trầm
b́nh thanh như vang vang ngân đọng trong ta, đưa dẫn ta vào một êm dịu lâng
lâng mơ hồ, xa vắng theo một trầm tư mênh mang, cô tịch, ẩn một u buồn nhè
nhẹ, xa xa…Có thể đây là trường hợp một kẻ cô thân lạc loài nơi xứ lạ, ngày
giỗ một ḿnh bơ vơ nơi đất khách nên niềm thương cảm mới mông lung, âm thầm,
quạnh quẽ. Giải thích như thế có thể d́u ta vào phiền muộn của thân phận cô
đơn nhưng làm tan biến hết cái thắm thiết của vần lục bát và làm cạn tắt ư
nghĩa cao xa của lời ca dao đơn giản. "Đêm qua", mới "đêm qua" đây
thôi nhưng không giản dị là thế. "Đêm qua" c̣n có nghĩa là rất lâu,
đă rất lâu rồi, bao nhiêu lần đă qua và có thể chính là hôm nay, sự việc măi
miết đi về sống động trong tâm tư. "Nhớ QUÊ" đâu chỉ một lần, đâu chỉ
mới 'đêm qua' mà đă từng đêm, từng đêm, cứ mỗi lần vào khuya, cứ mỗi lần
thao thức. Nhịp điệu đi về của nỗi nhớ, niềm thương như một mơ sầu lẻo đẻo
khiến thời gian như rút ngắn, cô đọng lại một lần v́ bao nhiêu lần cũng thế.
Thời gian không c̣n là thời gian mà biến thể thành tiếng kêu, một tiếng gọi
vô ngôn, một hứa hẹn không lời với quá khứ xa xưa để cảm thức trong hiện tại
chính là nỗi u hoài trầm mặc, lắng đọng, thể hiện một ước mơ, không phải 'mơ
đùến' mà 'mơ về' trong tâm tưởng. Nhạc điệu và t́nh ư lời thơ khiến từ "đêm
qua" ở đầu câu không c̣n để chỉ thời gian đúng là thời gian hiện hữu mà
là thứ thời gian nội tại của tâm tư, một thời gian đă hóa thành ngôn ngữ tức
tấm ḷng thổn thức nhớ QUÊ HƯƠNG…"Aâm thầm nhớ QUÊ", niềm nhung nhớ
không hiện bày trong thực tại v́ giữa cơi đời tại thế trầm luân, bao buộc
ràng giăng mắc cưỡng bức con người phải đoạn tuyệt với suối nguồn tính thể
uyên nguyên. Một thoát ly bằng hành động rơ ràng hay một tỏ bày khước từ lộ
liễu, một nổi loạn chống đối thực tại đang diễn ra sẽ phải bị phũ phàng dập
tắt bỡi loạn cuồng của lịch sử đa đoan. Trạng thái nổi loạn chống lại thời
gian hiện hữu, thời gian lịch sử đang bủa giăng trước mắt biến thành một cảm
thức hoài hương âm ỉ trong ḷng nhưng chỉ hiện bày thực sự vào nhũng giờ
thanh vắng nhất và mượn qua h́nh thức của tín ngưỡng thông thường : khói
hương trầm nghi ngút. Trang diễm sử đầu tiên đă trở thành hoài vọng, trở
thành ước mơ trở về tiềm tại, nội sinh nơi con người đang chạm trán với bao
trở lực bên ngoài ra sức d́m chết sức sống của giống ṇi dân tộc, đang phải
sống kiếp du mục lang thang giữa ḍng trầm luân lịch sử ngay trên QUÊ HƯƠNG
mà QUÊ HƯƠNG ḿnh lại đang trong cảnh lưu đày. Phải đợi vào đêm, phải mượn
qua mùi nhang và hương trầm, trong giờ phút tịch liêu đó, nỗi ḷng mới hồi
phục sắc màu diễm tuyệt của QUÊ HƯƠNG. Nhưng 'nhớ về' chính là để 'hướng
đến' v́ làm sao trở về với cuối trời dĩ văng nên 'nhớ về' chính là động lực
cho ư hướng và hành động tái tạo ở cuối trời mơ –mơ về hay mơ đến cũng chỉ
là một- Chân trời quá khứ cũng là chân trời viễn mộng trong tâm thức con
người b́nh dân thao thức bắt gặp lại ḿnh trong 'hữu thể căn nguyên', bắt
gặp lại được cái tinh thần dân tộc tinh ṛng giờ nầy đang trong cơn đọa đày
để được sống trong cái QUÊ HƯƠNG tṛn đầy ân ái….
"Chiều chiều",
chiều nào cũng thế, ngh́n vạn chiều như một, ngh́n vạn chiều, sự việc đó vẫn
xảy ra. Câu ca dao không hẳn nói lên niềm đau, nỗi khổ của người con gái
chẳng may phải làm dâu nơi một nhà chồng khe khắt trong thời phong kiến
trước đây. Lời thơ đi xa hơn, mượn một h́nh ảnh hiện thực để nói lên một thứ
ǵ ra ngoài tầm hiện thực. "Ra đứng ngơ sau". Tại sao lại 'đứng'?
Nàng –cứ cho là người con gái- 'đứng' chứ không ngồi. Tư thế "đứng"
nói lên nỗi thấp thỏm, lo âu sợ người khác bắt gặp. "Đứng" để có thể
vội vàng kịp chạy vào tŕnh diện lúc có 'lệnh truyền', lệnh gọi bên trong.
Chỉ riêng từ 'đứng' không thôi đủ tả cái tâm trạng luôn luôn phải dè
dặt, giữ ǵn, quan pḥng cẩn mật để kẻ 'bề trên' hay do một kẻ nào ŕnh rập,
chỉ điểm mà phải gánh lấy vào ḿnh bao cay nghiệt. Trong gọng kềm của áp bức
bỡi ngoại bang hay bỡi bạo quyền bản xứ, con người c̣n chút tự do nào đâu
ngoài việc âm thầm nuôi dưỡng nơi ḿnh 'chút riêng chọn đá thử vàng'
như trường hợp cô Kiều. 'Đứng ngơ sau', tại sao là 'ngơ sau'
mà không là ngỏ trước? 'Đứng ngỏ sau' để tránh mọi ḍm ngó, để được
tự ḿnh 'sống' với ḿnh t́nh tự của Quê Hương. QUÊ MẸ cũng
không ở phía trước v́ ngỏ trước giờ nầy đang dẫy đầy ngổn ngang, trắc trở,
v́ 'ngỏ trước' là cảnh đời náo động của 'người ta', không phải của đồng bào
dân tộc, không phải là cảnh đời tươi đẹp mà tấm thân tàn tạ, khổ đau hiện
nay hướng về. "Từng chiều ra đứng ngỏ sau ngó về QUÊ MẸ", lời thơ đơn
sơ nhưng như một vọng âm ru ta vào hồi tưởng, vào sống lại cái thời vàng son
đậm đà t́nh nghĩa nơi QUÊ MẸ ngày nào. 'Ngó về' nơi đây là 'tơ
tưởng', là 'nghĩ lại' để từ đó 'ước mơ, t́m về, nghĩ đến' xây dựng QUÊ MẸ
ngày mai tràn đầy an lạc, hạnh phúc, phồn vinh , người người nghĩa t́nh khắn
khít, thân thương. Cả hai bài ca dao trên nói lên một triết lư, một luận
lư của tâm t́nh: "Quá khứ đi vào tương lai qua ngỏ hiện tại".
Không đợi triết lư ngày nay nói đến "con người bán-hữu-thể" (homme
demi-être), không đợi những nhà tư tưởng nói đến 'hữu thể của viễn ly"
(être du lointain) hay "hữu thể tại thế" (dasein, être dans le monde),
người b́nh dân ta xưa, nói chung con người Việt Nam đă "Sống" rồi, sống
không bằng luận lư mà bằng tâm t́nh, sống chưa bằng hành động mà bằng cảm
nhận mơ màng trong tâm khảm giữa ḷng thực tại thương đau qua từng quá tŕnh
lịch sử. (5).
c) Từ QUÊ
đứng riêng ḿnh nó chỉ tính cách "thuần nhiên, chơn chất, mộc mạc, hiền ḥa,
đôn hậu, trong trắng, nên thơ" chưa hề biết ma mị, giả h́nh, phấn son diêm
dúa, chưa hề vướng mắc những thứ 'tiến bộ, văn minh' của phố thị, phồn hoa,
của kênh kiệu trưởng giả, chạy theo ham muốn sở thích trong cạnh tranh hưởng
thụ bấn loạn hơn thua, quên đi cái 'Tâm' thánh thiện nơi ḿnh. Ta thường
nghe nói bỡn cợt "anh QUÊ' quá", "anh chọc 'QUÊ' tôi
sao?", "nó vừa ở 'QUÊ' lên mà!" hoặc đôi khi mai mỉa "bọn NHÀ QUÊ"
khi thấy người nào thái độ, cử chỉ không phù hợp với nếp sống thị thành, nơi
thể hiện văn minh, tiến bộ nhưng cũng dễ đưa người vào suy đồi, sa đọa.
-Trâu ta ăn cỏ đồng ta
Tuy là cỏ cụt nhưng là cỏ
QUÊ
Ca dao
Cỏ QUÊ tuy cụt v́ đất
đai nghèo nàn nhưng tinh khiết v́ do toàn chất liệu thiên nhiên. Câu ca dao
c̣n nói lên mối t́nh đậm đà, trinh trắng, gắn bó với QUÊ HƯƠNG dù có
phải sống nghèo, sống khổ.
Có lẽ do tính chất thuần khiết,
tinh anh, hồn nhiên, trung hậu của từ QUÊ mà M. Heidegger đă gọi
"Con đường Tư tưởng" (le chemin de la pensée) là "con đường QUÊ,
con đường ruộng đồng, con đương điền dă" (le chemin de campagne) khi
viết thiên cảo luận ngắn "Le Chemin de Campagne" để nói lên hành tŕnh của
Tư tưởng trong cơi hoạt sinh v́ theo ông, cái Tư Tưởng từ ban sơ của loài
người chưa biết ǵ về những thứ gọi là Ư Niệm, Quan Niệm, Ư Thức, chưa rời
khỏi Xứ Mộng
(dùng từ
Patrie theo ư M.
Heidegger),
chưa phải đi vào vùng Kiều Địa trong những ngày ánh sáng chói chang của trời
Hè thiêu đốt mà c̣n an nhiên, an b́nh trong thứ ánh sáng của B́nh Minh
nguyên thủy, cái B́nh Minh tắm nhuần trong một thứ 'clarté nuiteuse'
(ngựi viết
không biết phải dịch sang Việt
ngữ
thế
nào cho hay,
đúng - xin không dông dài v́ quá khó hiểu).
Chúng ta không chịu để ư đến cái Tư Tưởng ban sơ đó mà hiểu Tư Tưởng qua
những luận lư, những hệ thống ư thức, những trường phái, những chủ nghĩa kẻ
nọ người kia. Cảm nhận nội dung của từ QUÊ rồi thêm ảnh hưỏng
tư tưởng M. Heidegger, mọi trước tác của người viết
(thơ,
truyên, biên
khảo, tiểu
thuyết, cả phê b́nh, nhận xét tác phẩm, tác giả)
tập trung làm sáng hiện từ QUÊ của ngôn ngữ Việt Nam, có nghĩa là
"vẫn ước mơ những xa lộ thênh thang dập d́u xe cộ nhưng luôn luôn mang chở
cái Hồn QUÊ thanh khiết tinh anh, vẫn luôn luôn là 'con đường điền
dă' thân thương", nói rơ hơn "cái ước mơ sao cho cái 'Biết Làm'
(le
Savoir Faire, ám chỉ Văn minh, Tiến bộ)
và cái ' Biết cư xử, cái Biết sống chung"
(le Savoir Se Conduire, le Savoir Vivre ensemble, ám chỉ Văn hóa)
luôn luôn ḥa điệu,
luôn luôn đồng hành chứ không gây ngang trái, trắc trở, điêu linh cho nhau".
Được như thế là hiểu ra cái "Biết Viên Giác" trong Kinh Phật, cái
"Biết của Cây Sự Sống" theo Thánh Kinh Ki-Tô giáo.
d) Nơi một số nhà thơ, từ
QUÊ không riêng giới hạn nơi làng xă, xóm thôn hay đất nước mà mở rộng
đến cả bầu trời, đến cả không gian rộng lớn mà mỗi người và nhân loại cùng
cư ngụ ấm êm như nơi nhà ḿnh. T́nh cảm nhà thơ đă vượt qua phần chủ quan
của ḿnh do ranh giới của quốc gia, do màu sắc của dân tộc, do sắc thái
chính trị và văn hóa để nh́n tất cả trong một cộng đồng nhân bản, đâu cũng
là Quê Hương khi tất cả cùng đối xử nhau trong yêu thương, trong t́nh nghĩa
như mọi người cùng chung trong một mái nhà ấm cúng, trong t́nh nghĩa của gia
đ́nh:
-Em hỏi ḿnh
QUÊ ở đâu
Ḿnh QUÊ
ở dưới bầu trời bao la
Thùy Dương Tử
-Hỏi rằng anh ở QUÊ đâu
Thưa rằng tôi ở rất lâu QUÊ
nhà.
Bùi Giáng
Những nhà thơ Việt Nam hải
ngoại và cả những nhà thơ trong nước hiện nay –những nhà thơ đúng là nhà
thơ- luôn sống với từ QUÊ đó để phải 'bước đi từng sợi nhớ, sầu
đong từng nhịp thơ' không chỉ vọng hoài QUÊ HƯƠNG cũ mà c̣n vọng
đến một QUE Â HƯƠNG mai nầy thanh b́nh, an lạc, hạnh phúc tṛn đầy,
cái QUÊ HƯƠNG T̀NH MỘNG BAN ĐẦU của thưở mới đầu thai vào cơi thế,
con người, tất cả mọi người cùng trong cái lẽ tương tri, cùng là 'một thịt'
với nhau thôi.
5/- Từ "VỀ"
: Từ VỀ trong ngôn ngữ Việt Nam là một trạng từ hay động từ.
1) Từ "VỀ" trạng từ
không có ư nghĩa nào cao xa, không mang ư t́nh nào thơ mộng. Nó chỉ mối liên
hệ giữa điều được nói với đối tượng ta đang tṛ chuyện, đối thoại, bàn luận
: VỀ cuộc t́nh củahai đứa; VỀ thủ tục cưới xin; các anh đang
thảo luận về cuộc chiến Irak; tôi không có ư kiến ǵ VỀ vấn đề
đó; anh nghĩ sao về sự vụ nầy;….
2) Từ "VỀ" động tự lại
khá nhiều ư nghĩa bóng gió, nên thơ.
a) VỀ là trở Về,
Về lại, trở lại nơi đă ra đi: VỀ nhà, VỀ Quê, VỀ làng, VỀ
Nguồn. VỀ c̣n có nghĩa là 'đến, hướng đến, vọng đếùn, t́m
đến, muốn đến hay ước ao chờ đợi, ḥ hẹn một gặp gỡ, trùng phùng, một sum
họp, doàn tụ yên vui':
-Nước đi ra bể lại mưa VỀ
Nguồn (Tản Đà)
-Thôi th́ thôi nhé!Ta xuôi mái
chèo
Xuôi VỀ bến hẹn thuyền
neo
Ngh́n năm sắc lá xanh theo bốn
mùa. (Vân Nương)
-Em VỀ bên ấy xa xôi
Mở to hai mắt dón trời vào
em….(N.T.)
-Người ta VỀ kịp vui
đoàn tụ
Sao chỉ riêng tôi lỡ chuyến tàu
! (Lê Mỹ Như Ư)
-Ta VỀ thay đổi nắng mưa
Dựng nên nhật nguyệt cho vừa
kiền khôn
ThùyDương Tử
trở lại trang 1 |
|
xem tiếp trang cuối
ngôn ngữ
31-
Nghĩ về một số từ tiếng Việt.
Trần Minh Xuân &Nguyễn Thùy
32-
Ngôn ngữ, chữ viết và văn học ở Việt Nam.
Nguyễn Tùng
33-
Pháp du hành tŕnh
nhật kư (1922). Phạm Quỳnh
34-
Nói chuyện phiên dịch.
Trịnh Nhật
35-
Giai thoại văn học.
Gặp chó
Hoàng Ngọc Phách
& Kiều Thu
Hoạch
h́nh bên:
B́a của môt truyện
trong vài bản truyện Kiều cổ nhất
|
|