|
| |
NGHĨ VỀ MỘT SỐ TỪ TIẾNG VIỆT
Nguyễn Thùy &
Trần Minh Xuân
trang 3
Từ VỀ thưòng xuất hiện
trong thi ca với các từ "Đi, Đến, Ở', (Ra đi, Đến ở, Trở về), cả ba
vẽ lên hành trình của một kiếp sống, một thân phận; chân dung một cảnh đời
với bao buồn vui, sướng khổ, phiền muộn, âu lo, ước mong, chờ đợi,…; tất cả
cảnh ngộ và tâm trạng con người trong vận hành lịch sử nhân sinh.
-Thì thôi, lòng hãy quên đi vậy
Đi, Ở, VỀ, Đi
cũng số phần… (Song Nhị)
Trong cuộc sống, mỗi người đã
từng một lần ĐI, một lần Ở, một lần VỀ dù Đi,
Ở, Về trong không gian, thời gian, hay trong tình ý hoặc là bước đi của
lịch sử. Cả ba kết thành "ba chặng đường của hành trình nhân thế":
-Ngày ĐI . Ngày ĐẾN.
Ngày VỀ lại
Vẫn hẹn. Vẫn mong. Dẫu trễ
tràng…. (Song Nhị)
-Lịch sử bước đi bằng đôi hia
bảy dặm
Lịch sử sẽ trở về. Như
bào thai đến chu kỳ của nó…
(Song Nhị)
Không ai không qua ba chặng
đường đó dù tự nguyện hay bị bắt buộc.
"Ra đi điều biết
từ trời, Ra đi thiết yếu cho đời nhà ma"
(Parting is all we know of heaven, anh all we need of hell – Emily
Dickinson) .
Đờøi nhà ma tức cuộc sống thế gian biến đổi vô thường. "Đến ở, Trở
về" cũng cần thiết như "Ra đi", nói theo Platon, con người chẳng
từ Thế giới ý niệm ra đi, trầm luân nơi cõi thế , luôn luôn tìm cách hồi
phục cái Thế giới ý niệm buổi ban sơ? Vì thế "Ra đi là để Trở về" sau
thời gian nổi chìm, lưu cư nơi đến ở, dùø chẳng may có phải bỏ mình nơi đất
khách.
-Ta về phố
xá thời ma đạo
tìm thấy hồn ta
trong cổ thi… (Song Nhị)
Một Du Tử Lê :
-Khi tôi chết, hãy đem tôi ra
biển
Cho tôi về gặp lại các
con tôi
Cho tôi về nhìn thấy lệ
chúng rơi
Từ những mắt buồn hơn bóng tối…
Và cô Kiều đau đớn dặn em hãy
đón nàng về từ nơi âm cảnh:
-Trông ra ngọn cỏ lá cây
Thấy hiu hiu gió thì hay chị
VỀ …
c) Từ VỀ kết hợp với
từ ĐI thành 'VỀ ĐI' có nghĩa như một rủ rê, mời gọi hay
một đuổi xua: chúng ta VỀ đi, VỀ đi thôi; …thường được
dùng theo 'điều kiện cách' (mode conditionnel):
-…em đã thẹn! cớ sao
chưa về nhỉ
đừng van xin hay nói một điều
chi
tóc còn xanh môi vẫn nét kiêu
kỳ
về đi
chứ, để loài sâu yên nghỉ! (Đỗ Bình)
d) Từ VỀ có lúc nêu rõ
nơi chốn đã ra đi và sẽ về lại:
-À
ơi!
Nước xuôi về cội
Đầu cội là nguồn
Gặp nhau cách mấy con truông
Bậu Về bên bản, ta buồn
sang châu (Thùy Dương Tử)
nhưng nhiều khi không xác định
nơi sẽ về, sẽ đến, do đó ý nghĩa càng cao xa, mênh mang, ý
nhị:
-Em Về mấy thế kỷ
sau
Nhìn trăng có thấy nguyên màu
ấy không (Bùi Giáng)
Mấy thế kỷ sau, em mới
Về lại nơi đã ra đi hay mấy thế kỷ sau sẽ đưa Em về lại
nơi nào? Hiểu sao về câu thơ? VỀ nơi đây không chỉ nơi chốn, không
chỉ xuất xứ nơi em đã ra đi mà chỉ thời gian, thời điểm. Và EM
là ai nơi đây? Bất cứ ai, bất cứ người nào, gọi bằng EM cho trìu mến,
thân thương. EM bây giờ và EM mấy thế kỷ sau có cùng là một
EM hay là hai EM khác nhau? Cái nhìn của EM bây giờ và cái
nhìn của EM sau bao thế kỷ liệu có đổi thay? EM có nhận ra màu
trăng muôn đời nguyên thể với cái nhìn tinh tuyền buổi đó hay nhìn qua làn
mắt đục bây giờ sau bao thế kỷ trôi nổi trong dòng đời, qua thăng trầm dâu
biển, qua cảnh thế đa đoan do tình người đã cạn, do lòng người trí trá, gian
ngoan? Trăng bao giờ cũng là trăng, xưa hay nay vẫn thế, khác nhau do cái
nhìn, do cách thế sống của con người. VỀ nơi đây vừa chỉ thời gian
vừa chỉ tấm lòng, tấm lòng của EM, của con người, Em về lại với
chính Em. Lời thơ đơn sơ, tràn đầy ân ái mang chở một triết lý,
một lời than, một thương cảm. Thời gian trôi qua, lòng người đổi khác. Danh
lợi, tiền nong, tiếng tăm, lạc thú, chức vị, quyền hành,…,bao 'cám dỗ' phù
vân đã làm thay đổi lòng dạ con người khiến không còn nhìn ra màu trăng
nguyên thể, không còn sống với cái 'tính thể' ban sơ thuần khiết của bản
chất con người.
-EM về giủ áo phù sa
Trút quần phong
nhụy cho tà huy bay
Bùi Giáng
EM
là ai? Và VỀ
là VỀ nơi đâu? Em có thể là người nào đó nhưng không hẳn. EM
là con người, nói chung là loài người, là nhân sinh; nói rộng hơn
nữa, trong ý nghĩa của Đao học, EM là Đạo Thể, là Thượng Đế nếu muốn
dùng từ của các Tôn giáo hữu thần. Gọi Thương Đế là EM , nghe ra phạm
thượng, vô lễ. Nhưng đấy là đặc quyền của Thơ. Đấy là cách 'lãng mạn hóa'
Thượng Đế để thấy Thượng Đế đến với con người không bằng quyền năng mà bằng
yêu thương và con người cũng đến với Thượng Đế bằng yêu thương. Nhà thơ, nhà
thi sĩ, nhân cách hóa tất cả, tự cho mình đem tiếng Thơ trang trải yêu
thương đến tất cả, -"Thơ, Tiếng nói trăm năm vào đời cứu rỗi"
(thơ Song Nhị)
- tự
đóng vai một người anh, người chị chở che, đùm bọc bằng cả tâm tình gắn bó,
yêu thương. Thượng Đế hay Đạo Thể từ Vô hạn đi vào hữu hạn, từ 'Vô sở trụ'
đi vào 'Sở trụ', từ Chân Không đi vào Diệu Hữu để phải điêu linh vì lịch sử
của cõi Sở trụ, vỉ biến đổi vô thường của Diệu Hữu. Thượng Đế tự làm khổ
mình
-Người hay Thượng
Đế điêu linh? (Huy Phong)
Cả người và Thượng
Đế cùng điêu linh. Nhưng nếu Thượng Đế không tự 'đày ải' mình thiø không có
cõi thế gian, không có vòng hiện hữu của muôn vật, muôn loài.:
-EM giả từ
nguyên sơ
Vào nằm dòng Sử
máu
Gieo linh hồn
nghiệp báo
Sầu nhân quả bơ
vơ….
Thượng Đế ban tình
yêu cho loài người để rồi đi tìm lại tình yêu đã bị loài người đánh mất vừa
hồi phục tình yêu nguyên sơ đó lại cho mình đồng thời cho loài người phản
bội hay không biết giữ gìn, trân quí thứ tình yêu thánh thiện Thượng Đế đã
ban. Do Thơ, nhà thơ nhìn ra nỗi đau buồn của Thượng Đế, nỡi cô đơn của
Ngài:
-Thượng Đế hỡi, u
sầu chi quá đổi!
Chẻ chia mình để
giải tỏa cô đơn
Tự chứng quả giữa
dòng đời trôi nổi
Đi tìm yêu trong
đáy thẳm tình buồn!…. (N.T.)
Qua thơ, nhà thơ
xem Thượng Đế như người con gái đẹp đẽ, ngoan hiền, chung thủy nhưng bị
người yêu (con người) phản bội vì chạy theo sở thích trần gian để phải ngã
vào tay quỷ dữ đủ muôn cách, muôn màu quyến rủ, kéo lôi. 'Em về giủ áo
phù sa', em về, em về lại với em, về lại với 'tự thể' nơi tự
thân mình bằng cách giủ sạch những xa hoa phù phiếm (phù sa: thứ đất màu
mỡ, phì nhiêu) và 'trút quần phong nhụy', những phong thái, cách sống
được gọi là mĩ miều, trưởng giả kênh kiệu, kiêu sa, bon chen danh lợi phù
vân, lấy sự 'hơn người' làm lạc thú. Trút bỏ được tất cả những thứ đó, em sẽ
đuổi xô tà huy, ánh trời chiều chập choạng dẫn vào đêm đen, có nghĩa
không còn lo, còn sợ phải sống trong nghiệt ngã, điêu linh, phải bàng hoàng
lo nghĩ đến cái chết đớn đau, tăm tối, lạnh lẽo, đơn côi vì Thượng Đế đã
'sống' lại trong lòng người, trong lòng cuộc sống nhân sinh, trong cảnh ta
bà đương tại và tất cả 'sống lại' trong ngày giờ 'muôn vật đổi mới', trong
một trạng thái sống khác xưa, có nghĩa là "xua tan đi cái hắc dạ của nhân
hoàn". Xin bạn đọc cho phép người viết chép lại nơi đây đôi dọan thơ đã
'lãng mạn hóa', thân tình hóa Thượng Đế, xét ra không có gì gọi là vô lễ,
phạm thượng:
-..Tôi nằm bên
EM đó
Cùng trong khối mộ
nầy
Nghe bờ khô lá cỏ
Thao thức tình lưu
đày
Tôi vụt bừng cơn
say
Nâng hồn xưa EM
dậy
Trong lưới tình
tượng số
Tiếng lời nào bay
bay….
(EM lên
đường buổi đó)
Và, trong đồng cảm
cùng Bùi Giáng, người viết hình dung thời điểm Thượng Đế tái lâm, làm mới
lại muôn vật theo Thánh Kinh Ky-Tô giáo:
Tôi viết bài thơ
lúc vừa tĩnh giấc
Thoảng hương nồng
phảng phất ngát đâu đây
Bút trào dâng hồn
đắm đuối mê say
Tôi âu yếm nhỏ
từng trang giọt ngọc
Đêm đã vào khuya.
Vô vàn tinh tú.
Cõi Thiên đình náo
nức hội Hoa đăng
Địa cầu quay trong
sắc trắng mơ màng
Lòng tôi ngỡ như
đang mùa khuyết sử
Ai đi đó có xuôi
về quá khứ
Cho gởi cùng niềm
thao thức băn khoăn
Buồn xưa xa đang
gọi những vui gần
Vòm thời đại giăng
giăng đường lối cũ
Từng mùa chết,
từng mùa qua gục rũ
Trong điêu tàn tôi
thấy sắc màu mơ
Lời Ai kia
thắp sáng nẻo tôi chờ
Và EM đến
đôi mắt tròn rạng rỡ
EM
lộng lẫy khoác vào
tôi, ôi bỡ ngỡ
Màu nguyên trinh
diễm lệ của thiên đàng
Tôi sực nhớ từ một
thưở vườn hoang
Con bướm nhỏ dại
khờ chia bản ngã
Tay EM đấy
chuốc vàng lên óng ả
Tóc EM đây
lả lướt tỏa hương nồng
Nét môi mềm lên ấm
nụ hôn ngon
Mắt rực sáng màu
hào quang nguyên thủy
EM
chẳng nói nhưng
đất trời kiều mỵ
Cỏ cây giờ đang
đổi mới mùa hoa
Dòng sông xanh vui
chở ánh trăng ngà
Reo náo nức hương
đời lên dị dị
Tôi nghe gọi từ
muôn phương huyền bí
Nhân loại vào mùa
Lễ Hội thăng hoa
Trần gian xanh óng
ả nhạc giao hòa
Con bướm nhỏ hân
hoan vào ngõ ý
Tôi tĩnh giấc nghe
quanh mình kỳ dị
Thắp bình minh
từng đỉnh núi xa xa
Biển cùng sông réo
rắt nhạc đồng ca
Chăn chiếu mục
cũng nồng hương ngát ngát
Tôi viết bài thơ
lúc vừa tĩnh giấc
Ngỡ ngàng sao giờ
được sống bên EM
Ta nhìn nhau vừa
lạ lại vừa quen!
(Bài thơ khi EM
vừadến)
Thơ ca dân gian,
nhiều câu dùng từ VỀ nhưng không xác định rõ nơi sẽ Về, sẽ
đếùn hay nơi đã ra đi mà chỉ nói bâng quơ để người đọc tự tìm hiểu:
-Ta VỀ ta dựng mây lên
Trời xe mây lại một bên Hòn
Lèn.
(Hòn Lèn,
theo lời Cụ Điền Tuấn là tên dảy núi giữa Ninh Bình và Thanh Hóa, ngay cạnh
có ga Đò Lèn, một ga trạm của đường xe lửa xuyên Việt chạy qua)
Câu ca dao chỉ là lời nói chơi,
ngẫu hứng; tả cảnh hay mang chở một ý tình nào cao xa? Có thể là tiếng reo
vui. Một chiều, thấy mây vần vũ đưa dạt về phía núi xa xa, mở ra khung trời
sáng sủa, người bình dân thấy lòng khoan khoái, thốt lên? Cũng có thể là lời
buồn than thở. Người bình dân đang đợi mưa, ruộng đang cần có nước. Mây đã
tụ về,sung sướng bao nhiêu!
Nhưng kìa, trời sao quái
ác ,
đã dồn mây về phía núi
bên kia!
Cơn mưa tưởng đến không
thành, chưa đến đã đi!
Ngao ngán quá!
Nhưng xét kỹ, từ ngữ và
âm điệu lời thơ không cho ta vội vàng kết luận đơn giản theo kiểu buồn vui
nhất thời như thế. TA VỀ, TA là ai? TA là riêng TA hay CHÚNG
TA? Có thể là mọi người mà cũng chính là mỗi người, từng người. TA là
Tôi, riêng Tôi hay chỉ 'con người', nói chung, con người 'tổng thể' chỉ
chung nhân loại, chỉ chung nhân thế trong dòng đời xuôi ngược, truân chuyên?
TA VỀ, về đâu, từ đâu về, tại sao về? Câu ca dao không xác định nơi
đã ra đi nay về lại hay nơi sẽ đến.
Từ VỀ nơi đây
không riêng chỉ không gian mà cả thời gian, thời gian lịch sử và thời gian
tâm lý: Về với quá khứ, Về với ngày nào, Về với ta, với cuộc sống,
cuộc đời hay về trong tương lai. Và Về để làm gì? Vøề
để dựng mây lên ! Sao lạ lùng? Người bình dân xưa sao biết dùng một hình
ảnh lạ kỳ, ngược ngao mà ý nhị, nên thơ? Thường ta chỉ gặp "dựng nhà, dựng
cửa, dựng vợ, dựng chồng, dưng thành quách lâu đài, dựng sơn hà xã tắc, dựng
nước, dựng non, dựng trường học, nhà tù, dựng cơ đồ, sự nghiệp, dựng thiên
đàng, địa ngục (ai dựng thiên đàng nơi sa mạc, tôi xin về với địa
ngục hôm qua – N.T.); dựng yêu thương, nhung nhớ, thành sầu (Em về
chưa? Sao mắt còn để lại !? Dưng thành sầu lai láng lệ lưu dân – Huy
Phong), chứ không ai nói dựng mây. Mây do hơi nước lưng trời kết lại, tụ lại
chứ nào do tự nó dựng lên? Mây nơi đây lại do chính con người dựng nên.
Phi cơ phản lực ngày nay có trải ra từng luồng khói dài trên trời cao, có
thể hình dung như những sợi mây thì cũng chỉ là 'nhã khói' chứ nào đâu có
dựng mây? Dựng mây, đây không còn là hình ảnh vì hình ảnh có thể hình
dung bằng giác quan; đây là 'văn ảnh' chỉ được cảm nhận lung linh qua tâm
hồn, qua tư duy nghệ thuật. 'Dựng mây', chắc không phải là mây rải
rác, lưa thưa, từng làn mong manh, từng sợi dài mỏnh mảnh. Hẳn là phải
nhiều, từng lớp, từng tầng dày, rộng. Và mây gì? Mây xanh, mây hồng, mây
trắng, mây xám hay mây đen? Lời ca dao không nói. Có thể chỉ là mây trắng
hay mây đen. Có thể là một bầu trời mênh mông mây trắng. Mây trắng báo hiệu
gì? Trời sẽ quang đãng, sẽ nắng gắt ngày hôm sau hay sáp có cơn mưa dài theo
câu tục ngữ về thời tiết : 'Mây xanh thì nắng, mây trắng thì mưa'.
Giả thiết là mây đen, mây xám. Từng lớp mây đen, dày trải rộng. Để làm gì?
Có phải vì đang cần có nước cho mùa màng chăng? Dựng mây để làm mưa
theo lối cầu đảo ngày xưa? Mây đã tụ rồi nhưng ông Trời báo hại xô mây về
phía núi. Như thế giữa trời và người đối lập nhau, thiên nhiên đối lập với
con người? Nghe ra hữu lý nhưng từ 'Ta Về' nơi đầu câu không cho ta
hiểu theo nghĩa nầy và âm điệu lời thơ không nói lên một thất vọng, lẫy hờn
nào cả. 'Trời xe mây lại', thêm một văn ảnh. 'Trời xe', theo nghĩa đen là
gió xô mây về phía núi. 'Xe', có khi phát âm là 'Se', hình ảnh sự việc cuốn
quấn lại thành từng sợi cho săn lại hoặc nhỏ hoặc to, không để tản mạn,
buông thùa. Ta hình dung người quay tơ se tơ thành từng sợi, cuốn tơ vào
thành từng lọn, từng ống, từng trục. Như vậy, tơ, nơi đây là mây phải nhiều
và gió phải mạnh, cuốn tròn từng lớp mây như ta cuốn chiếu. Cũng có thể là
từng đám mây dày, gió thổi bung ra thành từng sợi rồi bảng lảng bay về phía
núi. 'Ta về ta dựng mây lên', 'Ta về' nơi đây là ta về với ta,
ta về trong ta, về trong cuộc đời, về trong cuộc sống, trong cái hiện hữu cả
ở bên ngoài cả ở trong ta. Có thể là về với hôm nay, với quá khứ, với ngay
mai, về với lòng ta, về với tình thương, nỗi nhớ, niềm đau hay về trong mơ,
trong mộng, trong một dàn trải mông lung của cõi lòng phiêu lảng đến một xứ
sở và một thời gian nào đó chập chờn, lãng đãng, bâng khuâng yên vui, đầm
ấm. Tóm lại, 'ta về với ta' mà 'về với ta' sau khi đằ
chiếu rọi ra bên ngoài. Nhìn khắp đó đây, nhìn cùng bốn hướng chẳng tìm được
nẻo về, chẳng thấy được gì, chẳng hiểu ra sao thì còn ngã về nào khác ngoài
nẻo về với chính ta thôi. Từ bên ngoài trở về với bên trong. Không gian
không còn đo bằng giác quan hay khí cụ; không gian đo bằng cảm nhận, trực
giao. Và đây cũng là thời gian, thời gian nội tại, thời gian đo bằng cảm ứng
của cái 'tôi tồn sinh' và cái 'tôi tín ngưỡng', cái 'tôi
hiện hữu' và cái 'tôi siêu hình'. Câu ca dao ngầm chứa một ý
nghĩa triết lý rất gần gũi với cuộc đời, cuộc sống. 'Dựng mây', mây
tầng tầng lớp lớp trắng hay đen. Mây trắng từng sợi mỏng manh làm đẹp bầu
trời nhưng từng lớp dày không đem lại thi vị nào mà vẽ ra một vùng sa mạc
hoang liêu. Màu trắng tượng trưng cho tinh anh, thánh khiết nhưng cũng xem
là màu của chiến bại, của đầu hàng, tang tóc. Mây đen tiêu biểu cho tăm tối,
ảm đạm, cuồng vũ, bão dông. Cả hai đều là hình ảnh cuộc đời, hình ảnh cõi
hoạt sinh hoặc hoang liêu băng giá hoặc thảm đạm âm u. Sa mạc và đêm đen
: hình ảnh cuộc sống con người tại thế đắm chìm trong trắc trở thương đau.
Do
đâu có? Do chính con người, do chính tay ta 'dựng' lên cho ta.
Ta tạo sa mạc, hư
vô cho ta; ta tự gây dông bão cho ta, ta tự nhốt mình vào trong đó,ta mải
miết 'đi về' trong đó. Ngày nay càng rõ. Ta tự giam ta vào những điều do ta
sáng tạo. Ta gây dổ vỡ cho đời ta và cho đời chung mọi kẻ. Thiên nhiên, dù
độc ác, chỉ giết hại ta trong từng cơn giận dữ, nhưng con người tự giết mình
và giết hại lẫn nhau nhiều khi không lộ liễu mà âm thầm, lặng lẽ, diên trì.
Một cái chết lăng trì haymột cái chết 'trường kỳ mai phục',một cái 'chết
treo', nói theo một nhà triết hiện sinh (mort en sursis – Jean Paul
Sartre). Nhưng "Ta dựng mây lên" thì "Trời xe mây lại".
Trời, đấng Thượng Đế chí tôn giàu lòng thương xót. Thượng Đế làm tráiý con
người để cứu con người. Thượng Đế chơi lối nghịch hành. Trời 'đối lập' với
con người trong tại thế để dìu con người về với cõi sống thực hữu đấy thôi.
Trời xua u buồn, tăm tối. Trời bế sa mạc đi xa để mây kia lại xanh, trời âm
u lại sáng cho nhịp thở con người trong sạch điều hòa, cho con người được
vui tin đi tìm lẽ sống. Vì thế, lời ca dao không là lời reo vui thích thú,
không là tiếng thở dài ngao ngán. Lời thơ không buồn, không vui, chỉ lâng
lâng, nhè nhẹ, mơn man. Hình ảnh và nhạc điệu lời thơ ru ta vào một tra vấn
mông lung, mộât trầm ngâm mơ màng bảng lảng,xa xôi. Chúng tôi có gán cho
người xưa những gì họ không nghĩ đến không? Có thể là vậy. Nhưng có nên quả
quyết bảo rằng người xưa quả tình ý nghĩ và tình cảm cạn nông , hạn hẹp,
không sâu sắc, tế nhị như chúng ta hiện nay không? Vi trùng uốn ván không
đợi ta đứt cả cánh tay hay một vết thương lủng sâu vào da thịt mới len vào
cơ thể giềt hại con người mà nó dễ dàng xâm nhập vào ta qua một cái sướt nhẹ
ta nào có hay. Tư tưởng cũng vậy. Nó len lén len lỏi vào ta qua những ngỏ
ngách nào ta không biết, ngẫu nhiên, nhẹ nhàng, kín đáo vào từng lúc ta
không ngờ, tiềm tại nội sinh trong ta rồi phát hiện một cách lâng lâng, ẩn
nhiệm, tình cờ qua những lời, những việc, những thái độ rất đơn giản, bâng
quơ. Thơ ca dân gian của ta, một số mang tính chất đó. Trong cõi tại thế xô
bồ, mọi "cái thực" chỉ toàn chân trong "siêu thực". Không để ý điều đó là vô
tình làm giảm giá ca dao và dân ca. (6).
Còn bao nhiêu
"Từ"
khác : "Chàng, Nàng, Ví dầu, Ngồi buồn, Đố ai,…" nhưng xin hẹn lúc
nào khác. Bài khá dài vì người viết chúng tôi tham lam giảng một số thơ cùng
đem thơ người viết vào, cùng đoạn ngỏ lời với Học giả Cao Xuân Hạo, xin bạn
đọc tha lỗi. Xin bạn đọc bổ túc cho những thiếu sót và chỉ giáo cho những
đoạn nào người viết hơi lộng bút xem ra có phần khiêng cưỡng để bị đánh giá
là phát sinh từ những ý kiến chủ quan, từ một định kiến, một tiên kiến riêng
tây có sẵn về thơ ca.
Grenoble, Neward
(CA),15/04/2003
Nguyễn Thùy & Trần Minh Xuân
_________________
Chú thích:
1.
Xin xem "Tinh thần Việt Nam" (hay: "Việt Nam: cơn khổ nạn sinh
thành") của TMX & NT, nxb Mekong Tỵ nạn, San Jose, CA, 1992.
2.
Trong một bài báo nào đó, chúng tôi thấy câu đầu bài ca dao nầy được
viết: "Mình nói dối ta mình chữa có con". Có thể người đầu tiên sáng
tác nói như thế nhưng sau đó được người khác sửa chữa, thấy hai từ 'con'
cùng âm, thanh và vần trong cả "hai câu 6 và 8 chữ không mấy ổn nên đổi
'mình chữa có con" thành
'mình hãy còn son". Chỉ đổi mấy chữ thôi, bài ca dao chuyển sang
một ý nghĩa cao rộng vượt hẳn lên cái ý nghĩa của sự việc hiện thực thông
thường.
3.
Xin xem "Giảng luận Ca Dao – Dân ca : Tâm thức lãng mạn lưu đày và
hoài hương qua thi ca bình dân" của N.T. & T.M.X., nxb Mekong Tỵ nạn,San
José, CA, 1990.
4.
Chúng tôi thường
trích lời M. Heidegger vì, theo chúng tôi, M. Heidegger đã nhận xét thơ ca
theo cái nhìn của nhà tư tưởng nên sâu sắc, nói lên được cái hồn cảm, hồn
thơ nơi tác phẩm và tác giả chứ không như một số người khác thường khuôn
ghép tác giả và tác phẩm vào chủ nghĩa nầy, trường phái nọ, khuynh hướng kia
(tự nhiên, hiện thực, siêu thực, tượng trưng,…)
5, 6) Như chú thích số 3.
ngôn ngữ
31-
Nghĩ về một số từ tiếng Việt.
Trần Minh Xuân &Nguyễn Thùy
32-
Ngôn ngữ, chữ viết và văn học ở Việt Nam.
Nguyễn Tùng
33-
Pháp du hành trình nhật ký (1922).
Phạm Quỳnh
34-
Nói chuyện phiên dịch.
Trịnh Nhật
35-
Giai thoại văn học.
Gặp chó
Hoàng Ngọc Phách
& Kiều
Thu Hoạch
hình bên:
Bìa của môt truyện
trong vài bản truyện Kiều cổ nhất
Việt Điển 7
Trang bìa
|
|