|
| |
NGHĨ VỀ MỘT SỐ TỪ TIẾNG VIỆT
Nguyễn Thùy &
Trần Minh Xuân
trang 1
Lời nói đầu:
Trên báo điện tử "Việt Điển" (
) số 6 tháng 3 và 4/2003, nhân đọc bài "Hán Việt và Thuần Việt" của
Giáo sư Học giả Cao Xuân Hạo cùng bài "Dùng chữ Quốc ngữ là tai họa ư?"
của Nguyễn Hoàng Sơn, người viết chúng tôi bỗng cảm thấy bài viết dười đây
phần nào gián tiếp trả lời cho những lời 'lếu láo' của nhà Học giả ngữ học
Cao Xuân Hạo. Trong quyển "Tiếng Việt, Văn Việt, Người Việt"
(nxb Trẻ, 2001), không rõ sao vị học giả uyên bác về Ngữ học nầy lại lẫm cẫm
viết những điều vô cùng ngược ngạo. Theo Nguyễn Hoàng Sơn thì "giáo sư đã
bày tỏ sự tiếc nuối vì dân ta đã bỏ mất thứ Quốc túy, Quốc hồn là chữ Hán để
dùng chữ Quốc ngữ là thứ chũ 'khó lòng thích hợp với tiếng Việt và cách tri
giác của người Việt đối với tiếng mẹ đẻ của họ'. Nhiệt liệt nhất là mấy
câu nầy: "Ngày nay nhiều người, trong đó có cả những nhà ngữ học phương
Tây, đã thấy rõ ưu điểm lớn lao của chữ Hán. Có người còn tiên đoán rằng chỉ
vài ba mươi năm nữa, cả thế giới sẽ nhất looạt dùng chữ Hán để viết tiếng mẹ
đẻ của từng dân tộc….Từ Thuần Việt dễ hiểu thật nhưng chính là nhược điểm
lớn lao của nó". Người viết chúng tôi rất lạ lùng về những điều viết
trên của Cao Xuân Hạo và xin mạn phép nhà học giả nầy mà nghĩ rằng "ông
Cao Xuân Hạo đã viết như trên trong tác phẩm của ông, không hẳn do ý ông mà
có thể do yêu cầu cùng chỉ thị của Đảng và Nhà nước Cộng sản Việt Nam hầu
chúng có 'lý' (?) để biện minh cho chủ trương 'bán nưóc' và phục vụ mộng đồ
bành trướng của Cọng sản Tàu đang dùng chúng làm tay sai, công cụ, tôi tớ
sửa soạn mọi điều kiện để rước bọn Tàu cọng vào thống trị dân ta không chỉ
chiếm đất, chiếm biển mà còn đồng hóa dân ta bằng cách xóa đi ngôn ngữ, văn
tự, xóa đi văn hóa của ta để ta phải học chữ tàu, nói theo giọng tàu, sống
theo lối tàu như cha ông chúng ta đã bị các triều đại Đường, Hán thống trị
ngày trước. Chúng ta hãy cảnh giác trước thủ đoạn bán nước của Cộng sản Việt
Nam cùng âm mưu thôn tính và đồng hóa dân ta của bọn Tàu cọng bắt đầu qua
những tên trí thức nham nhở như Cao Xuân Hạo. May thay đã có một Nguyễn
Hoàng Sơn lên tiếng vạch rõ những sai trái của họ Cao và tạp chí Văn Nghệ
Quân đội đã tặng thưởng bài viết của Nguyễn Hoàng Sơn năm 2002. Chúng ta hãy
tiếp tay với những người như Nguyễn Hoàng Sơn để bài trừ những luận điệu trí
thức như Cao Xuân Hạo cùng ngăn chặn, loại trừ chủ trương và hành động bán
nước, phản dân của tập đoàn Cọng sản Việt Nam. Bài dưới đây của người viết
chúng tôi, được viết trước khi đọc bài của Cao Xuân Hạo, không bàn gì về vấn
đề ngữ học nhưng bỗng nhiên lại thấy phần nào gián tiếp trả lời cho Giáo sư
Học giả Ngữ học họ Cao về câu ông viết "Từ thuần Việt dễ hiểu thật nhưng
chính là nhược điểm của nó". "Từ 'thuần Việt' dễ hiểu", dĩ nhiên, vì là
'tiếng mẹ đẻ' của người Việt –từ 'thuần Hán, thuần Anh, thuần Pháp,…' cũng
thế thôi vì là tiếng mẹ đẻ của các dân tộc đó- nhưng không phải hễ 'thuần
Việt' là nhược điểm. Những điều được viết dưới đây chứng minh điều đó. Người
viết không là nhà ngữ học nên không bàn đếân các vấn đề ngữ pháp (văn phạm),
cú pháp, âm thanh học, ngữ vựng học,…mà chỉ để ý đến nội dung súc tích của
từ Tiếng Việt thôi. Người viết cũng nghĩ rằng "người phương Tây vì tính
chuộng logic và thói quen ưa phân biệt nên thường nêu ra những công thức,
những nguyên tắc, những 'định chế' về từng thứ, từng tính chất để tạo nên
những trường phái, những chủ nghĩa nầy nọ rồi cứ khuôn mình vào đó mà lý
luận, phê phán" . Theo thiển ý người viết, điều quan trọng của ngữ học, qua
các khám phá về cấu trúc, ngữ pháp, âm thanh, từ vựng,…là tìm ra những sắc
thái độc đáo, riêng biệt nói lên cái 'hồn' của từng dân tộc trong ý nghĩa,
nội dung của ngôn ngữ dân tộc đó. Chữ Quốc ngữ của ta, mặc dù không do dân
ta đặt ra nhưng mặc nhiên đã trở thành văn tự chính của dân tộc vừa dễ viết,
dễ học vừa phù hợp với các dân tộc dùng mẫu tự La-Hy, vừa phù hợp với văn tự
tiếng Anh, tiếng Pháp trong mọi giao dịch, truyền thông quốc tế. Chữ Quốc
ngữ có thể viết theo lối Thảo, lối Triện như chữ Hán, nếu muốn; thêm nữa
hiện có lối "thư họa" cũng vô cùng bay bướm mà Họa sĩ Vũ Hối là người khởi
xướng. Nghiên cứu 'cái của người' để ứng dụng cho mình, bổ khuyết những yếu
kém của mình chứ không phải với đầu óc bảo thủ hay vọng ngoại nếu không muốn
bảo là do phục vụ cường quyền trong manh tâm đen tối muốn bảo vệ địa vị và
quyền lợi mà rước 'cái ngoại bang' vào đồng hóa, chà đạp văn hóa của ta.
(Đoạn
viết nầy có khiến bài viết thêm dài, xin đôc giả thông cảm).
******
Dân tộc Việt Nam từ khởi thủy
đã có một Tiếng Nói tức một Ngôn Ngữ Nói mạch lạc, phổ cập
khắp mọi miền đất nước và qua lịch sử càng lúc càng thêm giàu đẹp. Điều nầy
chắc không mấy ai không đồng ý cũng như không có gì để bàn thêm. Có bàn
chăng là tìm ra những đặc tính của Tiếng Việt vì ảnh hưởng đến việc cấu tạo
bản chất dân tộc ta, cấu tạo nên tinh thần Việt Nam (1).
Nhưng Chữ Viết tức
Ngôn Ngữ Viết hay Văn Tự thì đến nay, chưa ai quả quyết rằng dân
tộc ta đã có một chữ viết của mình và do mình
(chữ Nôm có
từ đời
nhà Trần
nhưng cũng dựa theo chữ Hán),
cho mãi đến lúc tiếp xúc với phương Tây
(từ thế kỷ
17) mới hình thành chữ
Quốc Ngữ nhưng không do dân tộc ta mà do công trình của người ngoại quốc
.
Tại sao? Và điều đó có nghĩa gì không? (1).
Bài nầy được viết không nhằm
trả lời thắc mắc trên mà chỉ nhằm cùng bạn đọc suy nghĩ thêùm về ngôn ngữ
Việt Nam qua một số từ thường dùng .
Trong ngôn ngữ Việt Nam, ngoài
vô số từ thuần Việt (ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cái, anh em, bạn
bè, quê nhà, chim chóc, cỏ cây, hoa trái, đất mẹ, quê cha, trời đất, phất
phơ, bảng lảng, lập lòe, chắc chắn, xa gần, tốt đẹp,….) và vô số tư ø
thuần Hán-Việt ( từ Hán đọc theo giọng Việt như : đạo đức, tổ tiên, tiền
nhân, gia tộc, quốc gia, sơn hà, diễm phúc, …), còn rất nhiều từ do
ghép một từ thuần Việt với một từ Hán như : đất tổ, quê hương, bạn hữu,
nhà sư, nhà văn, nhà giáo, gối mộng, tư riêng, thiện lành, bình lặng,
đình đám, hội hè,…Điều nầy cho thấy phần nào tinh thần dung hóa của dân
tộc ta về mặt ngôn ngữ , từ đó dung hóa về các mặt khác: tôn giáo, triết
học, nghệ thuật, chính trị, văn hóa.
Nơi đây, chỉ xin nêu ra một số
từ thuần Việt tiêu biểu tính chất thân thiết, thơ mộng , thể hiện nếp sống
tốt đẹp của dân tộc trong lối nói hằng ngày cũng như trong thơ văn, nghệ
thuật. Xin độc giả xem đây là bài "phiếm luận", không mang tính cách biên
khảo:
1) Từ "EM"
Không rõ từ "EM" xuất hiện từ thời nào trong ngôn ngữ Việt Nam, có
thể từ lâu lắm trong dân gian nhưng chỉ để nói lên quan hệ thân thuộc cùng
cha cùng mẹ trong gia đình giữa người sinh ra sau đối với người sinh ra
trước. Do đó, từ "EM" thường đi chung với các từ "ANH, CHỊ". Các từ "EM,
ANH, CHỊ" lại ra khỏi phạm vi gia đình để đi vào tương giao xã hội được
dùng trong ngôn ngữ xưng hô của người nhỏ tuổi hay lớn tuổi hơn với đối
tượng tiếp xúc. Rồi từ "EM" đi vào thơ văn, không rõ vào lúc nào.
Trong các truyện cổ (Trầu Cau, Thiếu phụ Nam Xương, Trương Chi Mị Nương,…)
và một số áng văn Nôm (Nhị Độ Mai, Bích Câu Kỳ Ngộ, Phạm Công Cúc Hoa,…),
không rõ từ "EM" có được dùng không, người viếât chúng tôi không còn nhớ.
Trong số thơ Nôm theo Hàn luật, từ "EM" cũng không được dùng (thơ của Lê
Thánh Tôn, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Tự Đức, Nguyễn Khuyến,….) Trong 'Cung oán ngâm
khúc, Chinh phụ ngâm khúc (bản dịch), Lục Vân Tiên, ta cũng không thấy từ
"EM". Trong thơ Bà Huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương, ta cũng không thấy từ
EM. Riêng Nguyễn Trãi, theo truyền thuyết, trong lần gặp Thị Lộ đã hỏi và
Thị Lộ họa đáp lại, không rõ hai người dùng từ "EM"hay từ "Ả",
từ "Nàng", từ "Thiếp" hoặc từ "Tôi". Xin
chép lại đây, mong bạn đọc có thể xác định:
-Ả (em, nàng) ở đâu mà
bán chiếu gon…
-Thiếp (em, tôi) ở Tây
Hồ bán chiếu gon….
Riêng Tú Xương, trong bài "Mất
ô" đã dùng từ "Em" để nói về người gái ả đào, nhưng có thể
vào thời Tú Xương, chữ Quốc ngữ đã được dùng, nếu chưa nơi trường ốc thì
cũng trong một số người bắt đầu tiếp xúc với lối chữ mới nầy: -
Đêm qua anh đến chơi đây
Giày 'giôn' anh diện, ô tây anh
cầm
Sáng ngày sang trống canh năm
Anh dậy, em vẫn còn nằm
trơ trơ
Hỏi ô, ô mất bao giờ
Hỏi em, em những ậm ờ
không thưa….
Sợâ khi rày sớm mai trưa
Lấy chi đi sớm về trưa với
tình.
Trong "Đoạn trường tân thanh",
Nguyễn Du dùng từ "EM" nhưng chỉ để nói lên quan hệ gia đình giữa
Thúy Kiều và Thúy Vân chứ không với Kim Trọng, Thúc Sinh hay Từ Hải (với
những người nầy, Kiều không xưng Em mà là Thiếp) :
-Cậy em, em có
chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ
thưa…
-Thì đem duyên chị kết vào
duyên em…
-Thì còn em dó lọ cầu
chị đây….
Trong Văn chương bình dân, từ
EM được dùng nhưng thường chỉ để nói mối liên hệ trong gia đình hoặc
giữa trai gái với nhau hay chỉ để nói riêng về thân phận nữ nhi:
-Từ ngày em về làm dâu
Thì anh dặn bảo trước sau một
lời
Mẹ già dữ lắm, em ơi….
-Ngày ngày em đứng em
trông
Trông non non ngắt,
trông sông sông dài…
- Em như
con hạc đầu đình
Muốn bay không
nhấc nổi mình mà bay!
Từ sau ngày chữ
Quốc ngữ được phổ cập và có lẽ do ảnh hưởng của thơ văn lãng mạn, tù "EM"
được sử dụng nhiều trong thi ca không chỉ để nói lên thứ bậc trong gia đình
hay tuổi tác trong tiếp xúc ngoài xã hội mà trở thành những gởi trao tâm
tình thắm thiết, những tình tự ái ân cùng những gắn bó hầu như ruột rà, máu
mủ.
Nhìn chung, xét về
mặt ý nghĩa, từ "EM" 'cống hiến' nhiều phương diện đẹp trong cuộc sống:
a/- Trước tiên, về
mặt gia đình và xã hội, từ EM vừa chỉ sự thống thuộc thân tình về
huyết thống, về trật tự tuổi tác vừa diễn tả sự tôn trọng, kính nể, nhường
nhịn giữa các lớp tuổi đưa đến sự tương nhượng, lễ độ, lịch sự trong đối đãi
giữa nhau. Khi còn xưng hô "anh, em, chị em" với nhau thì mối liên hệ
còn trong vòng nể nang tình nghĩa chứ chưa gây cấn, hỗn hào, vô lễ. Lúc về
già, hai người còn xưng hô nhau "anh em, chị em" thì sợi
dây tình cảm gia đình và xã hội vẫn còn bền vững, ngọt ngào như thưở nào.
b/-Từ EM
trong quan hệ vợ chồng và yêu đương Nam Nữ
(người vợ hay người yêu nữ luôn xưng hô là Em vói chồng hay với người yêu
trai dù có lớn tuổi hơn)
diễn tả mọi yêu thương trong ràng buộc tự nguyện, trong ân tình trao gởi nối
kết hai người trong cùng một cuộc sống chung, hòa dàồng, dâng hiến cho nhau.
Cặp vợ chồng mỗi khi bất hòa vì vấn đề gì hay lúc đã cao niên mà còn gọi
nhau là "anh, em" thì mối bất hòa kia sớm qua đi và tình
cảm lúc về già vẫn tươi mát như thời son trẻ.
Trong yêu đương,
trong đối xử ân tình, từ EM dùng chỉ người em nhỏ, người tình, người
con gái mà ta lưu luyến, trao gởi tâm tình, cảm mến, thương yêu:
-Mai chị về em
gởi gì không?
Mai chị về nhớ má
em hồng….
( Quang Dũng – Gởi
chị)
-Chớ đạp hồn em,
trăng từ viễn xứ
Đi khoan thai lên
ngự đỉnh trời tròn…
(Xuân Diệu – Lời
kỹ nữ)
-Lạnh lùng mưa gió
tha hương
Em
về phương ấy ai thương em cùng
(Đinh Hùng – Bài
hát mùa thu)
-Trời sẽ xanh hơn
khi có em
Bàn tay nhung ấy
rót tơ êm
……..
Hồn say đêm ngọc
nhòa hư giác
Đường hoa xin kết
tuổi thơ em.
Thụy Khanh (Mừng
người vu quy)
-…Thôi em ạ
Thôi đừng bịn rịn
Rồi ra cũng lại
chia tay
Cám ơn đuôi mắt
tối nay
Theo về cuối ngõ
chân mây chiều tà
Nụ hôn rạch nát
khoảng da
Mai về xứ bạn nhú
ra thơ tình
Nhà em ở
cách hành tinh
Biết làm sao gởi
thơ mình cho em
Trăng đâu mà trải
bên thềm?…..
Phương Ha (Carolina)ø
- …Bỗng đâu em
chết
Huy hoàng như
chiếc sao băng….
Thuận Xuyên (Huyền
Liên)
-Em về anh
mượn khăn tay
Gói câu tình nghĩa
lâu ngày sợ quên
(ca dao)
-Em về để
áo lại đây
Để khuya anh đắp
gió tây lạnh lùng.
(ca dao)
[Nhân
đây cũng xin nhắc đếnmột câu ca dao không mắy tế nhị:
-Em như cục
cứt trôi sông
Anh như con chó
đứng trông trên cầu
(ca dao)
Câu ca dao chế diễu một gã si tình tuyệt vọng hay nói lên nỗi bực tức đeo
đuổi một tình yêu không được đáp ứng nên ví von phần nào cho bỏ tức? Chỉ có
Thơ và Người Thơ mới có đặc quyền nói vậy. Tôn giáo, Triết học, Khoa học,
Chính trị, Kinh tế, cả nhạc, họa, kịch nghệ và cả Thượng Đế cũng không có
quyền đó. Nhưng nhà thơ –đúng là nhà thơ, tức thi sĩ- không bao giờ lạm dụng
đặc quyền nầy vì hạ 'Chân,Thiện, Mỹ' xuống tầm mức quá ư thực tiễn phàm tục
là làm mất 'tính thơ', làm mất cái 'đẹp' của thơ, dù có 'đẹp' về lời bóng
bẫy cũng chưa thể đủ gọi là thơ như một số thơ dâm tục, thác loạn]
c/- Trong Văn
chương, nhất là trong Thơ, từ EM ngoài việc xưng hô trong tình
yêu Nam Nữ, còn được dùng để "nhân cách hóa" mọi thứ, diễn
đạt nỗi niềm trìu mến gắn bó hoặc buồn đau, trách móc, lẫy hờn nhưng bao giờ
cũng chan chứa tình tự ngọt ngào, yêu đương, thương xót, quyến luyến, xót xa
hay tủi buồn, trách móc. Tất cả đều được gọi bằng EM, trở thành EM
một cách thơ mộng, thân thương. Trăng, mây, sương, gió, núi sông, cây cỏ,
hoa lá; cả địa cầu, trời đất, tinh tú, quê hương, ngôi nhà, thôn xóm; cả gia
đình, dân tộc, quốc gia, lịch sử, ngôi chùa, đình làng, quyển sách, chiếc
bàn; nói chung cả vạn vật, cả sự kiện, không gian, thời gian; kể cả Đạo đức,
Triết học, Nghệ thuật,…đều có thể được 'nhân cách hóa' qua từ EM
hiền hòa, trìu mến, thân thương dù có lắm bi thiết, não nề. Đối với nhà thơ,
tất cả đều trở thành những "người yêu, người tình" để được gọi bằng
EM vô cùng thi vị, ngọt ngào ân ái cho dù dàấy là những gì đã gây cho
mình lắm nhức nhối, buồn đau.
Xuân Diệu đã gọi
Thơ là Em :
-Thơ ta hơ hớ chưa
chồng
Tôi yêu muốn cưới
mà không thì giờ
Mùa thi sắp tới,
em Thơ
Cái hôn âu yếmxin
chờ năm sau!
Đỗ Bình đã gọi cây
súng M.16 là Em:
-Em bay
vào lẩn trong tinh
đẩu
hay rủ hồn đau
dưới huyệt sâu?
Phương Hà đã gọi
bức tường Bá Linh sụp đổ bằng Em:
-Em gục
xuống là điều phải lẽ…
-Dưới chân em
đã bao người ngã gục
Sau lưng em
một vùng đất kinh hoàng…
Hình tượng siêu
hình, ẩn nhiệm đã đưa nhà thơ long đong trên đường luân lạc giữa cõi thế phù
trầm, trở về lại với chính mình, sống với nguồn cội ban sơ nơi mình và nơi
tất cả, đã được Nguyên Sa mượn qua từ EM để diễn tả:
-Có phải Em
về đêm nay
Trên đường chạy
dài hoa cỏ
Cho lòng anh trở
lại với lòng anh….
Người viết cũng đã
gọi Việt Nam, Lịch sử và Lẽ Đạo bằng từ Em :
-Việt Nam ơi Việt
Nam ơi!
Tiếng Em
tôi gọi ru lời nước non
Mai đây nước lại
về nguồn
Đầu non Em
tắm sạch buồn thế gian.
-Em đẹp bắt
đời phải khổ đau
Tôi yêu nên cảnh
thế gian sầu
Đất trời, vũ trụ
cong cùng phẵng
Tôi cánh thuyền
đêm, Em hải âu….
-Em giả từ
nguyên sơ
Vào nằm dòng sử
máu….
-…Để dựng lại giữa
cảnh đời tan tác
Bản thanh âm vang
động tiếng EM cười…
d/- Trong thơ ca,
từ EM còn được dùng theo tính cách 'phiếm chỉ đại danh tự'' thay cho
từ 'Ai' hay từ 'Người' hầu thêm âu yếm thân thương , ngọt ngào trong mọi
nhắc nhở, nhắn nhủ, gởi trao. Từ EM do đó nhiều khi không chỉ một đối
tượng rõ mặt hay mượn qua hình ảnh đối tượng đó để ám chỉ một hình ảnh, một
sự việc nào xa xôi, ẩn nhiệm.
-Em về mấy
thế kỷ sau
Nhìn trăng có thấy
nguyên màu ấy không! (Bùi Giáng)
EM
nơi đây là ai? Là cô em gái, là người tình? Không phải. EM nơi đây là
bất kể người nào, người của thế gian, người đang trong cuộc đời đa đoan,
nhiễu loạn.
(xem dưới nơi phần nói về từ 'Về')
-Em về giủ
áo phù sa
Trút quần phong
nhụy cho tà huy bay
Bùi Giáng
EM
trong câu thơ nầy không là người tình, không là người em gái, cũng không là
bất cứ người nào mà là Đạo Thể, là Thượng Đế, là Tổ Quốc, Quê Hương
(xem phía dưới).
-Mười năm không
ánh trăng
Đêm nay EM
về đó….
Phương Hà
EM
trong bài thơ là
nữ ca sĩ Thanh Tuyền giúp vui buổi Văn Nghệ của Cộng đồng người Việt tỵ nạn
tại Bruxelles, thủ đô Bĩ Quốc năm 1985. Hiện thực là thế nhưng âm hưởng lời
thơ đưa dẫn ta đến những gì xa xôi, trầm mặc, ra ngoài tầm hiện thực. Mười
năm rồi không trăng, vầng trăng kiều mỵ, diễm huyền, kẻ 'bằng gia' của tình
ái, của con người, của non nước về đêm. Mười năm rồi, Quê Hương chết lịm nơi
Quê nhà thân ái; mười năm rồi Quê Hương như là chiếc 'bóng' nơi lòng người
lữ thứ, lưu dân. Đêm nay, Trăng về lại với bóng dáng EM, với tiếng hát của
EM, nhạc vàng muôn thưở ái ân, thơ mộng thắp sáng non nước điêu tàn và làm
sống lại hình ảnh nước non nơi lòng người hiu hắt. EM VỀ ĐÓ, đó là
đâu? Từ 'đó' có gì khó hiểu đâu nhưng qua câu thơ như dìu ta vào nỗi nhớ,
niềm mong cùng hiển hiện ra trong tâm trí hình ảnh Quê Hương đang
nghìn trùng xa cách. Quê Hương về lại đó, sáng tươi, kiều diễm sau
mười năm tăm tối, âm u vì EM, EM đã về! Lời thơ giản dị, quá
giản dị nhưng sao phảng phất những nét màu lung linh, huyền nhiệm vưà như
sáng rỡ, huy hoàng vừa như mộng mị, liêu trai:"Đêm nay EM về đó ";
"Có phải EM về đêm nay…" (Nguyên Sa) hay:
-Có phải nghìn thu
bờ mộng cũ
Nẻo về trăng trắng
gái liêu trai
Trần gian tình
lạnh lòng thi tử
EM
đến bên hồn, anh ngỡ ai!
(không nhớ tên tác giả)
Có lẽ, chỉ riêng
ngôn ngữ Việât Nam ta mới có từ EM độc đáo đó vừa nhẹ nhàng, hiền dịu
vừa nồng ấm tình tự đậm đà gắn bó thiết tha, nhất là được dùng để 'nhân
cách hóa' tất cả mọi thứ dù trang trọng thiêng liêng hay đơn sơ,
bình dị. Ngoại trừ đối với những đối tượng mà cấp bực tuổi tác chênh lệch
nhau quá nhiều hoặc vì thứ bậc trong gia đình , không được dùng từ EM
để tránh vô lễ, phạm thượng, còn thì tất cả đều thường được gọi bằng EM,
nhất là trong thi ca dù đối tượng là người hay vật hay một sự kiện nào khác.
Hầu như, người Việt Nam, nhất là nhà thơ, luôn xem mọi thứ đều là những
người EM thân thương, duyên dáng, dễ thương để mình được đóng vai
người Anh, người Chị sẵn sàng yêu thương, mến chuộng, sẵn sàng đùm bọc, chở
che, san sẻ nỗi lòng, sẵn sàng chịu đựng bao buồn đau, khổ lụy, niềm vui,
nỗi nhớ, tiếng khóc, giọng hờn dù trong hân hoan, phấn khởi hay trắc trở,
buồn đau, ngay cả trong lúc bông đùa, diễu cợt hầu cùng dẫn về thông cảm,
thông giao, gắn bó, xóa đi những oán hờn, buồn tủi, những chia lìa, ngăn
cách giữa người với người, giữa người với thiên nhiên, vạn vật. Từ EM
do đó mang tính cách Văn hóa rộng lớn không chỉ biểu hiện lòng yêu thương mà
còn nói lên tính cách hòa đồng, hảo hợp giữa con người với môi trường sinh
hoạt, giữa con người với lịch sử, giữa Tiểu ngã và Đại ngã trong dòng sinh
hóa chung nơi cõi hiện hữu để cuộc sống, cuộc đời thêm đẹp, thêm xinh, thêm
hòa ái, mặn nồng tình nghĩa. Tiếng Hán, tiếng Pháp, tiếng Anh hay một thứ
tiếng nào khác chắc khó có từ nào "đẹp" như từ EM nơi ngôn ngữ Việt
Nam chúng ta. Bỏ từ EM đi, có thể thơ ca Việt Nam sẽ mất di một phần
khá lớn số lượng.
2/- Từ
"MÌNH": Những ngày còn ở bậc Tiểu học chương
trình Pháp, chúng ta thường học: "Thân thể người ta gồm ba phần : đầu, mình và
chân tay"
(Le
corps humain se compose de trois parties: la tête, le tronc et les membres).
"Mình"
(le tronc)
là thành phần lớn nhất của cơ thể từ cổ cho đến mông bao gồm hai phần 'ngực
và bụng' chứa đựng cả phổi, tim, dạ dày, lòng ruột, thận, gan, lá lách, hậu
môn cùng cơ quan sinh dục. "Mình" giữ bốn phần vụ hệ trọng : hô hấp,
tuần hoàn, bài tiết và sinh sản. 'Mình' cũng là nơi lưu giữ và phát
tiết các hiện tượng tâm lý và sinh lý. Do tính cách quan trọng nầy mà người
Việt Nam và Trung Hoa xem phần 'Mình' thường gọi là 'bụng dạ',
'lòng ruột' giữ phần căn bản của cuộc sống con người. Rồi 'Bụng
dạ, lòng ruột', chuyển thành 'cái Tâm', 'tấm lòng' trong văn
chương. Từ xưa, đã có những câu : 'Hung trung hữu họa"
(trong bụng có
họa) "Binh
giáp tàng hung trung"
(Nguyễn Công Trứ - binh giáp nằm trong bụng).
"Trong khi nền văn hóa Tây phương xem căn bản của con người là Lý Trí
và đặt Lý trí ngự trị trong óc não ở trên đỉnh đầu, đang khi nền văn hóa Aán
Độ xem căn bản của con người la Ý Thức và để Ý thức chiếu rạng trên
vầng trán gọi là 'con mắt thứ ba' thì nền văn hóa Hoa-Việt lại xem căn bản
của con người là Lòng Ruột nằm ở tận đáy bụng dạ của con người. Lòng
ruột, bụng dạ không những chỉ là cơ quan dinh dưỡng, cũng không phải chỉ là
điểm hội tụ sinh khí và năng lượng vũ trụ vào vùng 'đan điền' phía dưới bụng
(cách ba lóng tay dưới rốn bụng), nhưng còn là cơ quan của cảùm xúc, suy
nghĩ, yêu thương và hành động, nghĩa là cho tất cả cuộc sống tình cảm, tinh
thần và tâm linh của con người"
(Mục sư Tiến sĩ Lưu Hồng Khanh : "Những mối duyên kỳ ngộ giữa Đông và Tây,
giữa Cơ Đốc giáo và các Tôn giáo Á Châu" – Hội Thánh Tin Lành Việt Nam, Khóa
Huấn luyện thần học mùa Xuân 96, Melun 16-19/05/1996; Ban Tu thư Thần học
Viện Tin Lành Việt Nam, Frankfurtt 1996- Trong tác phẩm 'Tao et Santé,
encyclopédie des arts de santé taoistes' của Gérard Edde, édts Chariot d'Or,
ISBN:2-911805-03-4, 1998, nêu ra những bộ phận quan trọng của sự sống gồm :
tim, gan, lá lách, phổi và thận. Người viết không đem vào đây vì từ tiếng
Hán được phiên âm sang tiếng Pháp, người viết không rõ tiếng Việt gọi như
thế nào).
Nguyễn Công Trứ
trong bài Hát nói "Chí làm trai"đã bảo:
- Nhân sinh tự cổ
thùy vô tử
Lưu thử đan tâm
chiếu hãn thanh
(Người ta sinh ra xưa nay ai không chết
Miễn lưu được tấm lòng son cùng sử sách)
Cô Kiều, trong
'Đoạn trường tân thanh', đã thút thít cùng mẹ giữa lúc bên ngoài yến tiệc để
đưa Kiều lên xe về với họ Mã:
-Lỡ làng nước đục
bụi trong
Trăm năm để một
tấm lòng từ nay.
(câu 879-880)
Có thể nào, do
quan niệm trên mà người Việt chúng ta đã dùng từ "MÌNH" thay cho
'lòng ruột, bụng dạ' để gọi vợ hay chồng và để xưng hô với bạn bè thân
thiết?
xem tiếp
trang 2
ngôn ngữ
31-
Nghĩ về một số từ tiếng Việt.
Trần Minh Xuân &Nguyễn Thùy
32-
Ngôn ngữ, chữ viết và văn học ở Việt Nam.
Nguyễn Tùng
33-
Pháp du hành trình nhật ký (1922).
Phạm Quỳnh
34-
Nói chuyện phiên dịch.
Trịnh Nhật
35-
Giai thoại văn học.
Gặp chó
Hoàng Ngọc Phách
& Kiều
Thu Hoạch
hình bên:
Bìa của môt truyện
trong vài bản truyện Kiều cổ nhất
Việt Điển 7
Trang bìa
|
|