culture
democracy

Việt Điển
tạp chí tư tưởng và văn hoá

    văn hoá
     trao đổi



 

        

                                          VĂN  HÓA  và VĂN  MINH

               Cái 'Biết Sống chung' và cái 'Biết Làm'
          (Đôi góp ý với Luật sư Lâm Lễ Trinh)
( LTS: Bài của tác giả Lâm Lễ Trinh  đăng lại cùng mục  Tự do ngôn luận của Việt điển số 5 )

                                                                                         Nguyễn Thùy

trang 1         

Trong bài "Văn học Nghệ thuật trong công cuộc Dân chủ hóa Việt Nam" trên báo điện tử 'Văn Hiến Việt tộc'  () số 2 tháng 12/2002, Luật sư Lâm Lễ Trinh trong khi giới thiệu  tác phẩm "TUYẾT XƯA" của Giáo sư Trần Ngọc Ninh, tiếp theo lời giới thiệu của Giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch (cựu Khoa trưởng Đại học Văn khoa Saigon), có đề cập đến vấn đề 'Văn minh và Văn hóa'. Tôi chưa được đọc tác phẩm "Tuyết Xưa" và bài viết của Luật sư cũng không đề cập đến nội dung theo đúng nhan đề đã được chọn (có thể tờ báo chỉ trích một đoạn ngắn chứ không đăng toàn bộ bài viết của Luật sư) nên nơi đây chỉ xin góp đôi ý nhỏ về hai từ 'Văn Hóa và Văn minh'.

          Đã nhiều định nghĩa về hai từ nầy nhưng xem ra chưa một định nghĩa nào thực sự đầy đủ; càng định nghĩa càng thấy mối quan hệ rắc rối giữa Văn minh và Văn hóa để có thể nghĩ rằng hai từ nầy hầu như đồng nghĩa hoặc không thể tách rời nhau. Xin nêu lại đây hai định nghĩa có thể xem là 'đầy đủ' nhất đã được Luật sư nhắc lại trong bài viết trên. Định nghĩa thứ nhất của Tyler: 'theo Tyler thì văn hóa là những năng khiếu và tập quán thụ đắc bỡi con người với tư cách một thành viên của xã hội' ; còn Lowie thì ông cho rằng 'văn hóa là tất cả những gì cá nhân thu thập được từ cộng đồng xã hội như một di sản của quá khứ chứ không do các cố  gắng của bản thân'. Xin chưa bàn đến hai định nghĩa nầy.

          Từ cuối thế kỷ XX, trước những phát triển cùng phát minh thần tốc, tối tân của Khoa Học Kỹ Thuật về mọi phương diện (không gian, vi tử, y học, sinh học, điện toán, tin học, truyền thông,…), người ta nói đến thời đại của trí thông minh, của hiều biết, nói chung là "thời đại của cái Biết" (ère du Savoir). Từ đó, người ta đề cập đến 'giai cấp  trí thức'   (classe savante), nền 'Kinh tế trí thức' (économie de l'intelligence) và 'cuộc cách mạng của trí thức, của óc thông minh', cùng 'xã hội trí thức', 'xã hội của trí thông minh' như Thierry Gaudin đã viết : "Cuộc Cách mạng của trí thông minh đang tiến bước' ; 'Xã hội của trí thông minh khởi sự vào lúc đó (năm 2060)ï, xã hội mà trí thông minh không bị chiếm thu bỡi một số người mà được phân phối khắp mọi giai tầng xã hội" (1) Cũng thế, nhà khoa học Michio Kaku  trong tác phẩm Visions, nói đến Nền Văn minh Hành tinh (civilisation planétaire) với ba cuộc Cách mạng 'Cách mạng Tin học, Cách mạng Sinh học phân tử, Cách mạng lượng tử' (Révolution informatique, révolution biomoléculaire, révolution quantique), cho rằng 'Thời đại của khám phá đã chấm dứt, bây giờ là thời đại của sự làm chủ cuộc sống'  và con người 'đạt được khả năng khả dĩ thần thánh để .vận dụng cuộc sống hầu như  tùy thích' (2) .Cũng xin chưa bàn đến những vấn đề nầy để trở lại với chủ đề.                                                   

          Cái 'Biết' cần thiết cho cuộc sống, cho Văn hóa, Văn  minh  như  thế nào, thiết nghĩ không cần nêu ra đây vì ai cũng biết. Từ xa xưa đến nay, con  người luôn luôn đi tìm cái 'Biết', săn đuổi cái 'Biết', tích lũy cái 'Biết' để cải thiện và phong phú cuộc sống. Ca  dao Việt Nam có câu :

                                  Ví dầu cầu ván đóng đinh 

                                  Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó

                                  Khó đi mẹ dẫn con đi

                                  Con đi trường học, mẹ đi trường đời                  

          'Con đi trường học' để học cái 'Biết' vì trường học là nơi đào tạo cái Biết, nơi 'làm cho Biết' (faire savoir). 'Mẹ đi trường đời' vì Mẹ đã 'Biết' để thể hiện cái 'Biết' . Cái 'Biết ở trường đời', theo tôi, gồm hai loại: loại 'Biết làm' (le Savoir faire) và loại 'Biết xử thế' (le   Savoir  se conduire). 'Biết xử thế' có nghĩa 'Biết cư xử', 'Biết đối đãi với nhau', cái 'Biết sống chung cho nhau'  (le Savoir  vivre   ensemble).  Theo  tôi, cái 'Biết làm' tạo nên Tiến bộ, Văn minh; cái 'Biết xử  thế' tạo nên Văn hóa. Cái 'Biết làm' do khả năng từng người (từng cá nhân) và kết quả được  ứng dụng vào xã hội để tạo nên văn minh chung cho xã hội. Cái 'Biết cư xử' không do từng cá nhân tạo nên mà là sản phẩm của xã hội, do cuộc sống quần cư thành xã hội đem lại. Không sống thành xã hội thì không có văn hóa. Một Rô-bin-sơn trong rừng sâu có thể là một con  người văn minh  (vì biết tự mình tạo tác mọi điều kiện để cuộc sống được dễ dàng như biết làm nhà để ở, biết chế cung  tên để chống thú dữ,…) nhưng ông ta không có văn hóa vì ông ta sống đơn độc, không chung đụng với đồng loại. Cũng thế, trong xã hội, ta có thể nói kẻ nầy người nọ là một 'con người văn minh' (un homme civilisé) nhưng không thể bảo là 'con người văn hóa' (un homme culturel)  mà nên gọi là 'con người có văn hóa' (homme doué de culture)  vì cái 'Biết xử thế' không do từng người tạo nên cho mình mà do thụ đắc từ cuộc sống xã hội theo như hai định nghĩa của Tyler và Lowie nêu trên. Cái 'Biết' nói chung, phát xuất từ Trí Tuệ. Trí tuệ là quan năng của con người giúp con người quan sát, nhận thức, phán đoán, lý luận, suy tư để hình thành những cơ sở tư duy kết thành hệ thống hay không, nhằm giải thích mọi hiện tượng bên ngoài (thiên nhiên, xã hội) cũng như bên trong con người (sinh lý, tâm lý), từ đó đưa đến hai loại biết nói trên. Người có trình độ kiến thức cao, hiểu biết rộng hoặc tổng quát hoặc chuyên biệt về từng lãnh vực (thường do tốt nghiệp từ các trường Đại học) thường được gọi là 'trí thức' (homme cultivé, élite, intellect) nhưng chưa hẳn đã là người có Văn hóa cao vì có thể người đó 'biết làm giỏi, làm hay, làm đúng' trong phạm vi chuyên biệt của mình nhưng cái 'Biết cư xử' lại không mấy tốt vì cái 'Biết làm' của người đó chỉ góp phần tạo  nên một 'hình thái văn minh' nào đó giúp cải thiện cuộc sống  trong lúc riêng ông không giúp tạo được sự  'sống chung hòa điệu' giữa người với người.

          Cái 'Biết làm' đưa đến những sự kiện, sự việc do từng cá nhân hay một nhóm cá nhân trong lúc cái 'Biết cư xử' là sự kết hợp những sự kiện, sự việc trên trong một dạng thức chung , phản ảnh cái sinh hoạt chung của cộng đồng thể hiện qua mối tương giao, tiếp xúc, trao đổi giữa mọi cá thể trong cộng đồng khiến cuộc sống của cộng đồng mang một sắc thái chung nào đó mà mỗi cá thể mặc nhiên thụ hưởng và đã đóng góp bằng cái 'Biết làm' của mình có tác dụng khiến cái sắc thái chung kia biến đổi sang những dạng thức khác , có thể tốt hơn, cao hơn hoặc xấu hơn, thấp hơn so với trước. Cái sắc thái chung của cuộc sống cộng đồng chính là trạng thái Văn hóa của cộng đồng  trong một giai đoạn lịch sử nào đó.  Xã hội được định nghĩa trước tiên là 'kẻ khác' (có một người thứ hai luôn sống bên cạnh mình thì là mặc nhiên đã hình thành xã hội), tiếp theo là tập họp của số đông người có những tương đồng về ngôn ngữ, màu da, tín ngưỡng  cùng quần cư  trên một địa bàn  nhất định nào đó, liên hệ với nhau  để cùng mưu cầu cuộc sống chung cho nhau trong đó cuộc sống từng  cá thể được an toàn, sung mãn. Nhà Di truyền học người Pháp Albert Jacquart đã viết: ' Xã hội được hình thành bỡi nhiều người nhưng mỗi người trở thành chính mình nhờ vào sự dâÙn nhập mình vào trong xã hội đó. Một 'nút vòng hồi phản' từ đó xuất hiện: nhiều cá nhân đã tạo nên xã hội, xã hội biến đổi những cá nhân đó thành nhữn g nhân vị'  (3) . Chính do sống thành xã hội mà con người phát huy được cả ba cái 'Tôi' cùng lúc nơi mỗi người : Cái 'Tôi Chủ thể' (hay cái Tôi Tự do, cái 'Tôi chính mình', le Moi sujet, le Soi-même), cái 'Tôi Khách thể' (hay cái Tôi của cuộc đời,  cái Tôi Xã hội, le Moi objet, le Moi social) và cái 'Tôi Thăng hoa' (le Moi transcendental) qua cái 'Tôi Cá nhân' (le Moi individuel) của mình. Cái 'Tôi Cá nhân' là phần 'hiện tượng' của ba cái Tôi trước và là động lực cho cái 'Biết làm', thường xung đột và khai thác cái 'Tôi Khách thể', phản ảnh không trung thực cái 'Tôi Chủ thể' và cản ngăn cái 'Tôi Thăng hoa'. Nếu cái 'Tôi Cá nhân'  thể hiện trung thực ba cái Tôi trước thì cái 'Biết làm' phục vụ hữu hiệu cho cái 'Tôi xử thế', có nghĩa Văn minh, Tiến bộ phục vụ và nâng cao trình độ Văn hóa, thúc đẩy tiến trình Tiến hóa; ngược lại là làm băng hoại Văn hóa và trì hoãn Tiến hóa hoặc tức thì hoặc về lâu về dài . Mối quan hệ giữa Văn minh và Văn hóa do từ đó. Cuộc sống mỗi người cũng như cuộc sống xã hội được hài hòa, êm đẹp và tiến bộ, có văn hóa do mối tổng hòa các cái 'Tôi' đó. Mỗi người chúng ta hàm chứa ba nguồn năng lượng: Thể năng (năng lượng cơ bắp do cấu trúc xác thân), Trí năng (năng lượng của khối óc, của trí thông minh) và Tâm năng (năng lượng tâm lý, tâm linh) .Chuyên về một mặt năng lượng riêng rẻ nào thì thì thường chỉ tiến bộ riêng về mặt đó nhưng có thể tạo nên những chênh lệch, những cạnh tranh đưa đến xáo trộn về mặt văn hóa tức cái 'Biết sống chung cho nhau'.        

          Cái 'Biết làm' tạo nên Tiến bộ, Văn minh. Do cái 'Biết làm' mà 'Thiên nhiên tự nhiên' (nature naturelle) dược biến đổi thành 'Thiên nhiên kỹ thuật' (Nature technicisée, Techno-nature). Do cái 'Biết làm', con người chế ngự được mọi trở ngại thiên nhiên, chinh phục và cải tạo thiên nhiên, tạo ra những tiện nghi, những của cải, hàng hóa, những nguồn năng lượng mới giúp cuộc sống càng lúc càng thêm dễ dàng, thuận lợi, đầy đủ và phong phú. Nền Kỹ nghệ và Kinh tế tiến từ hái nhặt, săn bắn sang canh tác, chăn nuôi, chài lưới, thủ công rồi tự động hóa, rô-bô hóa là kết quả của cái 'Biết làm'. Thành quả của cái 'Biết làm' ảnh hưởng khá nhiều đến cái 'Biết xử thế' nghĩa là Văn minh ảnh hưởng khá lớn đến Văn hóa, đưa Văn hóa tiến lên từng mức độ cao hơn. Một đôi thí dụ đơn giản: cái 'Biết làm' cầu tiểu, cầu tiêu cá nhân và công cọng đã tạo nên nề nếp sống vệ sinh cho từng người và xã hội; cái 'Biết làm' trong buôn bán, thương mãi đã khiến con người nói năng, giao thiệp một cách tế nhị, lịch sự, …..Tuy nhiên, vì cái 'Biết làm' thường do từng cá nhân hay từng nhóm cá nhân, do đun đẩy của cái 'Tôi cá nhân' nên thường mang tính chất 'ái kỷ, ái hữu' (theo Phật giáo), cạnh tranh, chiếm đoạt, vụ vào tư hữu và chiếm hữu, khai thác cái 'Tôi Khách thể' phục vụ cho cái 'Tôi Cá nhân' khiến cái 'Biết cư xử', cái 'Biết sống chung' bị vi phạm trầm trọng. Những qui luật 'cạnh tranh sinh tồn', 'tuyển trạch tự nhiên' của lý thuyết Charles Darwin, qui luật 'Chứùc năng tạo nên bộ phận' (la fonction crée l'organe)  của J.B. Lamarck khi áp dụng vào xã hội loài người; các chế độ độc tài, bóc lột, áp bức, các chủ trương 'tất cả mọi phương tiện đều tốt' (tous les moyens sont bons), 'cứu cánh biện hộ cho phương tiện' (la fin justifie les moyens) (4)  phát sinh từ óc tư hữu chiếm hữu cao độ do cái 'Biết làm' được đun đẩy bỡi cái 'Tôi Cá nhân' khiến cuộc sống xã hội luôn luôn xáo trộn, bấn loạn, bất an, khủng hoảng, từ đó cái 'Biết sống chung' không còn được tôn trọng. Ngược lại, nếu không có cái 'Biết làm' thì cái 'Biết cư xử', cái 'Biết sống chung' sẽ bị ngưng đọng, trì trệ, tù hãm, tĩnh vị, luôn luôn bị khốn quẩn vì bao trở lực và tai nạn thiên nhiên khiến cuộc sống con người (mỗi người và xã hội nhân loại) tù đọng trong trạng thái nghèo nàn, lạc hậu và cuộc sống nếu có bình an thì lại thiếu hết mọi vui, đẹp, phong phú, diễm kiều.

          Một điểm cũng cần chú ý nói lên sự khác nhau giữa Văn minh và Văn hóa : Cái 'Biết làm' (Văn minh) chỉ có lịch sử mà không có tính cách truyền thống trong lúc cái 'Biết cư xử', cái 'Biết sống chung' (Văn hóa) bao gồm cả tính cách Lịch sử và Truyền thống. Cách thức 'canh tác cơ giới' ngày nay không chịu ảnh hưởng gì cũng như không bắt nguồn từ chế độ canh tác thủ công ngày xưa tuy cũng cùng mục đích là sản xuất ra thực phẩm. Cách thức mua bán qua Internet ngày nay không do từ lối buôn bán trực tiếp giữa người bán và người mua như ngày trước. Cả hai lối sản xuất và thương mãi trên do cái 'Biết làm' chỉ có tính cách nói lên tiến trình phát triển Kinh tế  (sản xuất, phân phối,ø tiêu thụ)ï qua diễn trình lịch sử chứ không có tính cách truyền thống. Cũng thế, quan niệm 'trái đất tròn, quay quanh nó và quanh mặt trời' không bắt nguồn và cũng không còn liên hệ gì với quan điểm trước kia cho rằng 'trái đất vuông , đứng im, mặt trời quay quanh trái đất và trái đất là trung tâm vũ trụ'; cả hai chỉ nói lên lịch sử diễn tiến của tri thức con người chứ không hệ tại nhau, chi phối nhau. Trong lúc đó, cái 'Biết sống chung' (Văn hóa) thì vừa có tính cách lịch sử lẫn tính cách truyền thống vì được thể hiện qua tiến trình lịch sử vừa chịu ảnh hưởng và thừa kế từ quá khứ, trở thành phong tục, tập quán, nề nếp  chung cho cả cộng đồng xã hội. Việc tang ma, chôn cất ông bà, cha mẹ lúc qua đời, chẳng hạn (cái 'Biết xử thế' đối với người chết) vừa mang tính truyền thống vì được kế thừa từ quá khứ, vừa mang tính lịch sử vì được thực hiện khác nhau qua từng giai đoạn lịch sử và theo từng dân tộc (chôn cất hay thiêu xác, làm lễ tại nhà thờ, nhà chùa, để tang lâu hay mau, chôn riêng hay cùng chôn ở nghĩa trang, làm kỵ giỗ hay chỉ viếng thăm nghĩa trang để tưởng niệm,…). Chính tính cách 'truyền thống' của cái 'Biết cư cử', cái 'Biết sống chung' nầy tạo nên cái 'căn tính, cái lý lịch' của từng dân tộc mà mỗi cá thể của cộng đồng dân tộc mang nặng nơi mình. Người ta nói đến cái 'hoài nghi lý lịch' , cái 'khủng hoảng lý lịch' (le doute identitaire, la crise identitaire) là do sự đánh mất truyền thống về nguồn cội văn hóa.  Sở dĩ cái 'Biết làm' hay nói chung cái 'Biết về mặt Khoa học Kỹ thuật, cái Biết thuần lý' chỉ có tính cách Lịch sử mà không có tính cách truyền thống vì đấy là cái Biết của trí thông minh, cái Biết do Trí năng  nhiều khi tiệm tiến nhưng nhiều khi 'nhảy vọt' xóa hẳn cái Biết cũ, đoạn tuyệt hẳn với quá khứ . Ngày nay, tại các xứ văn minh, không còn cách giã gạo bằng cối chày mà dùng máy xay lúa. Cách giả gạo bằng cối chày và cách xay lúa bằng máy không liện hệ với nhau về mặt truyền thống mà chỉ liên hệ về mặt lịch sử phát triển trong lao động thôi. Những khám phá, phát minh trong hậu bán thế kỷ XX đã phủ nhận, loại trừ một số quan điểm khoa học các thế kỷ trước, mở ra một trạng thái văn minh  khác trước, chứng minh thêm cho nhận định trên. Cái 'Biết cư xử' tức về mặt Văn hóa, ngoài tính cách lịch sử, còn có tính cách truyền thống vì đấy là cái Biết của Tâm năng, của Tấm lòng. Cái Tâm hay Tấm lòng luôn luôn là thế, là vậy, như nhiên, đồng nhiên, có thể cách thức thể hiện có khác nhau tùy theo hoàn cảnh, tùy theo từøng giai đoạn lịch sử (do tác động của cái 'Biết làm') nhưng bản chất không thay đổi. Cái Tâm hay Tấm lòng không phải im lìm, bất động nhưng cũng không biến đổi mà chỉ chuyển dịch hay có thể nói luôn luôn trong hành trình 'ổn dịch' (ổn định động và dịch chuyển tịnh) từ khởi nguyên đến chung cục của dòng Tiến hóa. (Xin không dông dài về điều nầy vì phải đề cập đến Đạo học, không thể diễn giảng trong phạm vi một bài báo) (5).                     

           Đi xa hơn chút nữa, cái 'Biết Làm' (Văn minh) và cái 'Biết xử thế' (Văn hóa) có căn rể từ hai quan điểm nhận thức về Tự nhiên, về Vũ trụ. Trước tiên, quan điểm 'Vật Linh' (animisme) cho rằng mọi sự, mọi vật, nói chung là vạn hữu, là thiên nhiên bao gồm tất cả mọi 'hiện thể vật' và 'hiện thể người' đều mang sẵn nơi mình một 'nguyên lý nội tại' (principe interne) thường được gọi là 'linh hồn'  làm nguyên nhân cho tất cả mọi hiện tượng, mọi sinh hoạt tâm lý, sinh lý để vừa tác động chính mình vừa tác động đến bên ngoài từ đó vừa tạo tác, duy trì cuộc  sống riêng mình vừa tạo điều kiện bảo tồn cuôc sống của mọi thứ khác, để tất cả cùng được 'sống chung cho nhau'.  Điều nầy, ta tìm thấy nơi nhiều triết thuyết xưa nay cho rằng thiên nhiên là một 'sinh thể', một 'vật sống' (corps vivant) không chỉ mang 'sự sống' nơi mình mà còn mang chứa một 'trí thông minh', một cái 'Biết làm' để tác động với bên ngoài vừa nuôi dưỡng, vừa duy trì vừa phát triển cuộc sống mình vừa, qua đo,ù giúp mọi thứ khác cùng 'sống chung' với mình. [Chúng ta biết rằng rừng rú rất ảnh hưởng đến thời tiết; dưỡng khí nơi khí quyển, cần thiết cho sự sống của sinh vật  phần nào  do  cây cồi tạo nên - trên mặt Tiến hóa, ta có thể xem giới 'thực vật' (règne végétal) là giới trung gian giữa giới 'khioáng vật' (règne minéral) và 'giới động vật' (règne animal) ].'Mỗi chiếc cây, mỗi con vật đã tham dự với tâm năng mình vào tiến trình sống của linh hồn vũ trụ, với trí thông minh  (trí năng) vào sinh hoạt tinh thần của mình  và với tính cách cơ năng nơi mình vào tổ chức thể chất mình'  (6). Thoạt tiên, cơ sở vào một số thần thoại và một đôi triết thuyết, Thiên nhiên được xem là 'Người Mẹ' –'Mẹ Thiên nhiên' (Mère Nature)-  đã sinh thành, nuôi dưỡng, bảo bọc, chở che và làm phát triển mọi đứa con của mình (tức vạn hữu) . Do đó mà mọi từ ngữ dùng chỉ về Thiên nhiên đều thuộc giống cái từ 'phusis' tiếng Hy Lạp, 'natura' tiếng La tinh, đến 'die Natur' tiếng Đức, 'Nature' tiếng Pháp (7).. Bên Đông phương, Lão Tử cũng bảo 'Có tên là Mẹ vạn vật'  (Hữu danh vạn vật chi mẫu – Đạo Đức kinh). Có lẽ chế độ mẫu hệ bắt nguồn từ khái niệm nầy. Dần dần , căn cứ vào sự  sinh đẻ của mọi sinh vật nơi cõi hiện tượng, người ta cho rằng chỉ riêng yếu tố nữ không đủ nên phải có yếu tố nam (chế độ theo đó chuyển từ mẫu hệ sang phụ hệ; canh tác lúc đầu do người nữ trong lúc săn bắn chăn nuôi do người nam, dần dần do nhu cầu sản xuất, sức lực người nữû nhường bước cho sức mạnh người nam);  từ đó người ta hình dung (bằng ý niệm) một đấng Hóa Công, một vị Thượng Đế (giống đực)  hay là một vị Thượng Đế 'vô tính' hay 'trung tính' (neutre) đã tạo nên cả hai yếu tố Nam và Nữ. Ngày nay, nhiều nhà Khoa học, không bác bỏ dù không hoàn toàn chấp nhận vị Thượng Đế sáng tạo, cho rằng Thượng Đế, nếu có, thì đấy là mội vị Thượng Đế 'toán học' (Dieu mathématique), vị Thượng Đế 'tiến hóa' (Dieu évolutionniste).  Bên Đông Phương, từ ngàn xưa cho rằng 'Vạn vật đồng Nhất Thể' và 'chúng sinh vốn đồng đẵng' (theo Phật giáo) , cái Thể dó hàm chứa nơi mình cả hai yếu tố 'Đực, Cái' tức 'Dương và Âm' (Dương cõng Âm, Âm bồng Dương, nói theo Đạo Đức Kinh của Lão Tử) . Người Việt Nam thường bảo 'Cha Trời, Mẹ Đất' và 'Đạo Ông Bà' bao gồm cả hai yếu tố 'Nam Nữ, Đực Cái, Âm Dương' . Và cũng chỉ riêng người Việt Nam mới gọi Quốc Gia, Tổ Quốc, Quê Hương là 'Đất Nước, Núi Sông, Non Nước, Non Sông' vừa nói lên hai yếu tố Âm Dương (động tĩnh, luân trụ : núi, sông, đất nước) theo Đạo học vừa nêu bật hai chất liệu cần thiết trước tiên cho cuộc sống con người và sinh vật (Đất, Nước – Khí trời ta thở cũng là thứ sản sinh bỡi thiên nhiên vì chính cây cối đã tạo ra dưỡng khí) vừa nói lên tính cách gắn bó thân thiết, mối tình đậm đà giữa con người với xứ sở.  Xin không dông dài thêm vì quá nhiều điều phải nói. Quan điểm Vật Linh nầy, theo người viết đã giúp tạo nên Văn Hóa dù có đưa dẫn đến nhiều mê tín, dị đoan, sự thờ cúng bái vật, đến đạo phù thủy (chamanisme). Thuyết nầy có thể xem là cơ sở tạo nên Tôn giáo cùng là suối nguồn của tính lãng mạn nơi con người và khuynh hướng lãng mạn, trữ tình trong Nghệ thuật. Theo quan điểm 'Vật  linh' nầy, thiên nhiên hay vũ trụ hiện tượng phát sinh từ một Nguồn gốc và hướng đến một Cứu cánh nào đó; vì thế, sự sống, cuộc sống của mỗi hiện thể vật và người mang chứa một ý nghĩa và hướng đến một cứu cánh giống như mỗi hoạt động của ta nhằm đến một mục đích. Dân tộc Việt Nam chúng ta từ thời lập quốc đến nay hầu như  theo khuynh hướng nầy.

          xem tiếp trang 2



 
Hosted by www.Geocities.ws

1