|
vhvt |
tự do tư tưởng và sáng tạo |
văn hoá |
|
|
Thư ngỏ gửi ông tổng biên tập tạp chí Thế giới mới. Nhà văn Hoàng Tiến. Trên tạp chí Thế giới mới số 531 (ngày 14-4-03) và số 533 (ngày 28-4-03) có đăng liền hai bài viết phê phán cuốn sách "Chữ quốc ngữ và cuộc cách mạng chữ viết đầu thế kỷ 20” của tôi, vừa được nhà xuất bản Thanh Niên tái bản năm 2003. Người viết ký tên là Phúc Đường. Trước hết tôi xin hoan nghênh tạp chí đã cho đào xới về vấn đề này. Một vấn đề đụng chạm đến hai nhân vật mà lâu nay chúng ta ít muốn đề cập đến. Cha cố Alexandre de Rhodes, một tên gián điệp giả vờ truyền giáo vào dò thám nước ta; và ông Nguyễn Văn Vĩnh, một tên Việt gian bán nước làm tay sai cho thực dân Pháp. Thú thật, khi bắt tay vào làm công việc khảo cứu này, là người mày mò đầu tiên, tài liệu thiếu thốn, kiến thức hạn hẹp, tôi rất e ngại. Vì vậy trong lời nói đầu sách, tôi đã tự bạch với độc giả:
Cho nên những bài viết góp ý, phê bình, bàn bạc có tính học thuật, tôi đều hết sức hoan nghênh. Có tranh cãi, cọ xát, thì học thuật mới phát triển được. Muốn học thuật phát triển thì phải trung thực. Trích dẫn những câu của người ta để phê phán thì phải trích đúng nguyên văn. Điều này bạn Phúc Đường, người viết bài phê phán cuốn sách "Chữ quốc ngữ ...", đã không làm được. Xin dẫn chứng: 1). Nguyên văn sách in:
Bài viết phê phán của bạn Phúc Đường đã bỏ đi câu: “Tất nhiên việc này có công sức đóng góp của nhiều người, nhưng ông là đại diện và giữ công đầu." Và bạn Phúc Đường đã cố ý bỏ đi tất cả những chú thích trong ngoặc đơn của đoạn văn trên ghi rõ tài liệu, bằng cớ này lấy ở đâu. Ví dụ tài liệu của ông Nguyễn Kim Thản, nhà ngôn ngữ, giảng dạy ở Đại học Tổng hợp; của ông Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại; của ông Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược. Việc cố tình bỏ đi như thế nhằm mục đích gì ? Chúng ta là những kẻ sinh sau, bàn về công việc của người xưa, thì những trích dẫn, bằng cứ phải nói rõ là lấy ở đâu, lấy của ai. Đấy là cái đức của người nghiên cứu, khảo cứu. Làm sao ta lại dám viết: "Alexandre de Rhodes ngoại giao khéo léo, biếu chúa Trịnh một cái đồng hồ quả lắc, và được giảng đạo tại kinh đô.”. Hồi ấy ta đã sinh ra đâu, ta có nhìn thấy đâu. Nhưng ta dám viết như thế vì lấy trong Việt Nam sử lược của cụ Trần Trọng Kim. Người ta gọi là nói có sách mách có chứng. Như thế mới gây được sự tin cậy cho người đọc. Việc làm của bạn Phúc Đường chứng tỏ một cái tâm thiếu trong sáng trong bàn cãi học thuật. 2). Một ví dụ rõ hơn: Sau khi đã kể công và đi đến kết luận A. de Rhodes xứng đáng là cha đẻ của chữ quốc ngữ, tôi có đề xuất việc dựng tượng kỷ niệm A. de Rhodes tại Hà Nội. Bạn Phúc Đường có trích dẫn việc đề xuất dựng tượng, nhưng cả một đoạn biện luận trong nguyên văn bị bạn Phúc Đường cắt bỏ. Biện luận là phần quan trọng của đề xuất thì bị cắt bỏ. Học thuật mà bàn cãi kiểu này thật là manh tâm, có thể gọi rõ tên là thủ đoạn lưu manh trong tranh cãi học thuật. Đoạn biện luận bị cắt bỏ là: "Vì, chúng ta là một nước văn hiến, chúng ta biết on tất cả những ai đã đóng góp cho nền văn minh dân tộc. Ngay cả xưa kia, trong thời kỳ Bắc thuộc, nhân dân ta vẫn ghi công cho những viên quan cai trị người phưong Bắc như các ông Tích Quang, Nhâm Diên, những người đã giúp cho sự phát triển của xứ sở, và đã không ngần ngại gọi Sĩ Nhiếp là Nam Giao học tổ vì đã có công mở mang việc học hành ở đất nước này. (Hiện nay còn đền thờ và lăng mộ. Người viết ghi thêm) Huống hồ Alexandre de Rhodes ......" Nếu không có đoạn biện luận này thì việc đề xuất dựng tượng thành ngớ ngẩn, bốc đồng, gây trò cười cho thiên hạ. 3). Những người đi sau thường thừa hưởng thành quả của người đi trước. Gần chục năm nay vấn đề chữ quốc ngữ cùng những người có công như cha cố A. de Rhodes và ông Nguyễn Văn Vĩnh đã được nhiều người đề cập đến. Nhiều tài liệu mới được công bố. Bây giờ người ta có thể dễ dàng kể tên hàng loạt những cha cố có công trong việc hình thành chữ quốc ngữ đầu tiên: Francisco de Pina, Gaspar d’Amaral, António Barbosa, Alexandre de Rhodes, Francisco Buzomi, Antonio Dias, Manoel Fernandez, Antonio Fernandez, Christofora Borri ... và người Việt Nam thì như Sách sổ sang chép các việc của thày dòng Philípphê Bỉnh ..vv... Thời chúng tôi mày mò thì đâu có nhiều tài liệu như thế. Bác Chiêu Dương ở tận khu Mai Động thôn M táo nhắn đến cho tài liệu về chữ quốc ngữ. Thế là lóc cóc chiếc xe đạp tàng từ đầu thành phố đến cuối thành phố. Nhiều tài liệu đem về để đấy chứ không dùng được. Đâu có được điện thoại, xe máy vù vù như bây giờ; máy ghi âm, băng ghi hình rất tiện lợi cho việc lấy tư liệu. Bây giờ một học sinh phổ thông trung học, nếu ham thích có thể tìm đọc và trích dẫn hàng loạt những mẩu chuyện phong phú về chữ quốc ngữ có ở rất nhiều các loại sách báo, kể cả sách Almanach. Những chuyện lặt vặt như bà hoàng Minh Đức xin ân giảm, chuyện các chúa Trịnh, chúa Nguyễn hành tội các nhà truyền giáo có đầy đầy. Nhưng cái quan trọng là biết xử dụng tài liệu và biện luận. Trong tranh biện học thuật cách hay nhất là dùng tư liệu để thuyết phục. Mọi nhà nghiên cứu đều có tư liệu, nhưng tư liệu của anh lấy ở đâu, dựa vào những nhà danh tiếng nào, có nguồn gốc đáng tin cậy hon, lại biết trình bày thuyết phục hơn, thì bạn đọc chấp nhận. Nên tránh lối nói rao giảng kiểu tuyên huấn chung chung, như bạn Phúc Đường đã viết: "Nếu chịu khó tham khảo nguồn tài liệu dồi dào, kết hợp vận dụng tư duy logic chặt chẽ, chắc hẳn Hoàng Tiến đã không dễ dãi hạ bút viết những dòng phi biện chứng và bất chấp sự thật lịch sử." Thế nào là vận dụng tư duy logic chặt chẽ ? Thế nào là phi biện chứng ? Thế nào là bất chấp sự thật lịch sử ? Nhưng kiểu nói xưng xưng như thế này, hỏi rằng có lợi ích gì cho công việc học thuật. Bạn Phúc Đường lại còn cay cú viết: "Chẳng rõ bằng cách nào mà công trình Chữ quốc ngữ và cuộc cách mạng chữ viết đầu thế kỷ 20 do Hoàng Tiến thực hiện lại được đăng ký đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước với mã số KX 06—17 ? Công trình thiếu nghiêm túc ấy đã được rót bao nhiêu kinh phí và đã được hội đồng nghiệm thu chưa mà xuất bản thành sách ?" Rõ ra là một giọng ghen tị tức tối cá nhân. Thật không đóng góp gì cho việc phát triển học thuật. 4). Cuốn sách “Chữ quốc ngữ ... .” có thể đặt ra nhiều điều bàn cãi tốt, thú vị nữa. Riêng phần cha cố Alexandre de Rhodes, có thể tranh cãi về những điều sau: -Cố A. de Rhodes có xứng đáng là cha đẻ của chữ quốc ngữ không ? Hay là cố Francisco de Pina ? Hay là cố Gaspar d’Amaral (tiếng Bồ Gaspar do Amaral) ? Hay là cố Antoine Barbore (tiếng Bồ là António Barbosa) ? Hay là ai khác ... ? -Việc đề xuất dựng tượng Alexandre de Rhodes có bốc đồng không ? Một tên gián điệp cố đạo vào dò thám tình hình, rồi kéo theo là đội quân xâm lược khiến chúng ta mất nước như nhiều người thường kết tội lâu nay. Vậy A.de Rhodes thật là có tội hay có công ? -Cũng có thể tranh cãi về một nhận xét sau: "Thế là Vatican đã cử các nhà truyền giáo sang Việt Nam để khai sinh ra chữ quốc ngữ, và Vatican lại là nơi in ấn chữ quốc ngữ đầu tiên. Đứng về nhận thức tâm linh, có thể nói, thượng đế đã ban cho Việt Nam một món quà vô giá, thông qua Vatican và các nhà truyền giáo của toà thánh." -Có đề cao Vatican quá chăng ? Có mê tín dị đoan chăng ? Thượng Đế, Đức Chúa hay Ông Trời có chi phối cuộc sống của chúng ta chăng ? Bước vào thế kỷ thứ 21 này (nhiều người gọi là thế kỷ của tâm linh) là một vấn đề đáng suy ngẫm và bàn cãi nữa lại càng hay. Về phần ông Nguyễn Văn Vĩnh, cũng có nhiều điều đáng bàn lắm: -Ông Nguyễn Văn Vĩnh có là Việt gian cho Tây hay không ? -Ông Nguyễn Văn Vĩnh là người chiếm công đầu trong việc phổ biến cổ võ chữ quốc ngữ. Hay là ông Trương Vĩnh Ký ? Hay là ông Paulus Huỳnh Tịnh Của ? Hay là thầy dòng Philípphê Bỉnh ? Hay là một ai khác ... ? -Ông Nguyễn Văn Vĩnh nên xứng đáng đặt tên phố ở Hà Nội không ? Nghe nói ở Sài Gòn đã có tên phố rồi. Cần nhiều công trình nghiên cứu về ông Vĩnh để sáng danh là một nhà văn hoá lớn của thế kỷ thứ 20. Riêng tôi cũng đang chuẩn bị cho việc làm này. 5). Trở lại phần cha cố Alexandre de Rhodes. Mặc dù sau này tôi có đọc được tài liệu nói về Francisco de Pina. Cuốn sách mang tiêu đề "Công việc của một số người Bồ Đào Nha tiên phong trong lãnh vực ngôn ngữ Việt Nam cho đến năm 1650” (L’oeuvre de quelques pionniers Portugais dans le domaine de la languistique Vietnamienne jusqu’en 1650) của Roland Jacque in năm 1995 ở Paris, do Viện quốc gia ngôn ngữ và văn minh phương Đông ấn hành (Institut national des langues et civilisations orientales. Paris 1995). Thú thật là trước đó tôi chưa hề biết đến Francisco de Pina. Ông đến Đàng Trong sớm nhất là năm 1617 chậm nhất là năm 1618, học tiếng Việt để giảng đạo đầu tiên, lại dạy các giáo sĩ cùng học tiếng Việt (trong đó có cha A. de Rhodes), và ông đã hy sinh trong khi cứu hộ những người dân đắm thuyền ở biển Đà Nẵng vào ngày 15-12-1625. Thật rất đáng kính trọng. Tuy nhiên, công đầu về việc hình thành chữ quốc ngữ vẫn thuộc cha cố Alexandre de Rhodes. Căn cứ vào hai sự việc: -Cuốn “Từ điển Annam-Bồđàonha-Latinh” của Alexandre de Rhodes in ở Rôma năm 1651 (Dictionarium Annamaticum Lusitanum et Latinum). Cuốn từ điển đã định vị và giới thiệu hình thức của chữ quốc ngữ với các chữ viết khác trên thế giới. -"Bản liệt kê tóm tắt về tiếng Annam hay Đông Kinh" (Brève description de la langue annamite ou tonkinoise — Linguae Annamaticae seu Tunchinensis brevis Declaratio). Đông Kinh tức Tonkin, vùng Bắc bộ và Bắc Trung bộ ngày nay. Bản liệt kê tóm tắt được in thành phần phụ trong cuốn từ điển trên. Trong bản tóm tắt khiêm tốn của mình Alexandre de Rhodes đã đạt được tính khoa học, tính khúc chiết và tính giản dị mà các nhà ngôn ngữ học tiếng Việt ngày nay còn có thể học hỏi được khá nhiều.
Bản liệt kê tóm tắt trên thực tế đã đặt nền móng cho ngữ pháp học tiếng Việt. Rõ ràng Alexandre de Rhodes xứng đáng là cha đẻ của chữ quốc ngữ bây giờ. Công lao này giữa các cha cố, cũng giống trường hợp giữa người Việt Nam. Ông Trương Vĩnh Ký, ông Huỳnh Tịnh Của hay thầy Philípphê Bỉnh ... là những người dùng chữ quốc ngữ đầu tiên, nhưng công đầu về chữ quốc ngữ ở Việt Nam lại thuộc về ông Nguyễn Văn Vĩnh. (Điều này bàn sau, không thuộc phạm vi bài viết này). 6). Việc kết tội cha cố Alexandre de Rhodes là gián điệp là điều lâu nay nhiều người đã làm. Bạn Phúc Đường trong bài viết của mình cũng là theo hướng kết tội gián điệp như nhiều người trước đây. Nhưng bạn Phúc Đường cũng chỉ đưa ra được mấy chứng cứ:
Tóm lại chỉ có 04 (bốn) chứng cứ vừa nêu trên. Tôi xin được làm luật sư biện hộ cho cha cố Alexandre de Rhodes. Theo luật pháp hiện hành ở trong nước cũng như trên thế giới, ý định chưa phải là tội phạm. Việc phạm tội lại diễn ra sau một thời gian quá dài (gần 200 năm), mà kẻ có ý định phạm tội không tham dự (vì chết lâu rồi) thì càng không thể kết tội họ được. Bây giờ bàn cụ thể vào từng chứng cứ của bạn Phúc Đường nêu ra: Về chứng cứ thứ nhất.- Theo tôi, Alexandre de Rhodes là một nhà truyền giáo. Các nhà truyền giáo đi các nơi có ghi lại những phong tục, tập quán, đời sống kinh tế, chính trị, xã hội, thương mại của những vùng đất họ truyền giáo, là công việc của họ và quyền của họ. Luật pháp quốc tế không cấm đoán những việc làm này. Nhờ thế mà các nhà viết sử, nhà nghiên cứu xã hội học, dân tộc học, nhà làm nghệ thuật, nhà kinh tế, nhà quân sự, dựa vào những tư liệu của họ mà làm nên những công trình của mình. Vậy tội hay không tội là ở người sử dụng. Việc Pháp đánh chiếm Việt Nam cách gần hai thế kỷ sau khi cha cố A. de Rhodes mất, không nên đổ tội cho A. de Rhodes vì ông đã xúi giục: "Đấy là chỗ nên chiếm lấy, nếu muốn lập cơ sở buôn bán, các lái buôn Âu châu sẽ tìm thấy nguồn lợi nhuận và của cải dồi dào." (Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài. 1651) Nếu kết tội như thế, thì việc Mỹ đưa quân đánh Việt Nam nửa sau thế kỷ 20 cũng là do A. de Rhodes xúi giục; và Mỹ đánh Iraq vừa rồi cũng là lỗi của A. de Rhodes vì đấy là miền của cải dồi dào mà Rhodes đã muốn Pháp cấp cho binh sĩ để ông chinh phục toàn thể phương Đông (theo tài liệu đẫ dẫn của bạn Phúc Đường). Bạn Phúc Đường phán quyết: “Mối liên hệ khắng khít giữa A. de Rhodes và tổ chức MEP dẫn tới cuộc nổ súng xâm lược của liên quân Pháp-Tây Ban Nha vào bán đo Sơn Trà (Đà Nẵng) ngày 1-9-1858 (nhằm ngày 24-7 Mậu Ngọ, chứ không phải ngày 15-8-1858 như Hoàng Tiến nhớ nhầm) là một thực tế lịch sử. Đó là cả quá trình dài lâu tuân theo "công thức" bành trướng thực dân: ngoại giao—truyền giáo—xâm lược bằng vũ trang." Tôi nhớ ngày 15-8-1858 là dựa theo Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim. Còn bạn cho là 1-9-1858 là theo tài liệu nào ? của ai ? Cũng như tôi viết A. de Rhodes là người Pháp gốc Do Thái sinh ở tỉnh Avignon là theo ông Nguyễn Kim Thản nhà ngôn ngữ học giảng dạy ở Đại học Tổng hợp. Bạn cho là người Pháp gốc Tây Ban Nha là theo tài liệu nào, xin cứ trình bày ra cho mọi người biết. Nhưng đây là những tiểu tiết, không quan trọng lắm, cái quan trọng là Pháp có bắn vào Đà Nẵng năm 1858, tức là gần 200 năm, đúng ra là 198 năm, sau khi Alexandre de Rhodes mất (1660). Mối liên hệ khắng khít giữa A. de Rhodes và tổ chức MEP dẫn tới cuộc nổ súng xâm lược của liên quân Pháp—Tây Ban nha vào bán đảo Son Trà (Đà Nẵng) ... Câu văn viết như thế này là trách nhiệm chính trong cuộc xâm lược thuộc về các nhà truyền giáo. (Bạn Phúc Đường dùng từ khắng khít, từ điển Tiếng Việt không có, người ta chỉ nói khăng khít nghĩa là gắn bó, ràng buộc chặt chẽ, chứ không ai nói khắng khít bao giờ. Tuy nhiên, đây là lỗi nhỏ). Đặt câu như trên là kết tội nặng nề các nhà truyền giáo. Các nhà truyền giáo thành chủ thể chủ động của sự việc xâm lược. Và thế lại không đúng với sự thật lịch sử. Sự bành trướng của thế lực tư bản phưong Tây, trở thành thực dân đi xâm chiếm tìm thị trường, nguyên liệu, nhân công trên thế giới ở các thế kỷ 17, 18, 19 là nguyên nhân chính của các cuộc nổ súng xâm lược. Kể cả Pháp xâm lược Việt Nam. Đâu phải là mối liên hệ khắng khít giữa A. de Rhodes và tổ chức MEP dẫn tới cuộc nổ súng xâm lược. Bạn Phúc Đường dựa theo “công thức” bành trướng thực dân: ngoại thương—truyền giáo—xâm lược vũ trang. Đây là một kiểu tư duy sơ cứng và cũ kỹ. Bành trướng thực dân biến hoá có hàng chục cách khác nhau. Vì tư duy sơ cứng máy móc nên cứ cố ghép truyền giáo là một khâu trong mắt xích xâm lược, rồi khép cho họ đủ các thứ tội. Chỉ có các tên gián điệp đội lốt tôn giáo, còn các nhà truyền giáo chân chính không bao giờ làm gián điệp. Bởi đức tin của họ ở Chúa, chứ không ở mấy đồng xèng các thế lực xâm lược trả công cho họ. Có thế mới lý giải được những trường hợp các nhà truyền giáo tự nguyện đi đến các vùng xa xôi hẻo lánh, đói khổ, bệnh tật, nguy hiểm, trên khắp thế giới mà họ không nề hà, thậm chí cái chết cũng không ngăn cản được họ. Nếu có thể kết tội một cha cố đã cộng tác với Pháp dẫn đến sự xâm chiếm Việt Nam sau này, chỉ có thể là ông Pigneau de Béhaine (tên Việt là Bá Đa Lộc), người đã dẫn hoàng tử Cảnh làm bo tín sang Pháp xin viện trợ, thay mặt chúa Nguyễn Phúc Ánh (tức vua Gia Long sau này) ký tờ giao ước với vua Pháp. Rồi chính Bá Đa Lộc đã đi mộ người, mua tàu và súng ống khí giới, cùng các ông Chaigneau (tên Việt là Nguyễn Văn Thắng) tức là chúa tàu Long, ông Vannier (tên Việt là Nguyễn Văn Chấn) chúa tàu Phụng, ông De Forcant (tên Việt là Lê Văn Long), ông Victor Ollivier (tên Việt là ông Tín) .... cả thảy được gần 20 người để giúp Gia Long (Việt Nam sử lược. Trần Trọng Kim). Tờ giao ước có những khoản như sau:
Tờ giao ước không được thực hiện, vì trắc trở lại ở phía Pháp, (thật là may cho dân tộc ta !). Khi thành công lên ngôi, Gia Long vẫn phải ưu ái ông Bá Đa Lộc và những người Pháp đến giúp, dẫn tới việc mất nước sau này. Gia Long thì mang tội cõng rắn cắn gà nhà. Còn những chứng cứ II, III, IV của bạn Phúc Đường nêu ra, thì dễ bác bỏ thôi. Chứng cứ II, trích lời của Bonifacy ở đây, chỉ là một khẳng định công lao của A. de Rhodes đối với giáo hội Thừa sai Paris. Mở rộng thế lực giáo hội của mình, át đi thế lực giáo hội của Bồ Đào Nha. Đó là chuyện của nội bộ tôn giáo. Dựa vào chứng cứ này để kết tội A. de Rhodes làm gián điệp, người ta gọi là đầu Ngô mình Sở. Chứng cứ III, lấy một câu nói của Rhodes trích trong bản luận án tiến sĩ của Cao Huy Thuần: “Tôi tin rằng Pháp sẽ cung cấp cho tôi nhiều binh sĩ để chinh phục toàn thể phưong Đông ... Tôi rời La Mã ngày 11-9-1652 với ý định đó.” Rồi sau đó A. de Rhodes đến Ba Tư và mất ở đó. Việc này chẳng liên can gì đến việc đánh chiếm nước ta. Sau đó A. de Rhodes có chinh phục được phương Đông bằng binh sĩ Pháp không ? Không thấy sử sách nào ghi. Nếu có xảy ra sự việc ấy, và cần kết tội, thì người Ba Tư sẽ kết tội đầu tiên, chứ sao lại là bạn Phúc Đường ? Chứng cứ này đưa vào đây thành vô nghĩa. Chứng cứ IV. Bạn Phúc Đường dựa vào ý kiến một nhà sử học người Mỹ viết tập sách "Việt Nam: cớ sao chúng ta đến đấy ?” (Vietnam: why did we go ?), trong đó có câu: “Cả toà thánh La Mã và nước Pháp đều coi những việc làm này là những liên hệ khắng khít với việc đánh chiếm các quốc gia Đông Dương." Chúng tôi chưa đọc tập sách này, nhưng theo đầu đề cùng đoạn trích dẫn bạn Phúc Đường nêu, tôi hiểu rằng họ viết là để thanh minh cho họ, vì vùng đất này hấp dẫn lắm, giàu tiềm năng kinh tế, thương mại, nhiều nước phưong Tây thèm khát muốn xâm chiếm và đã xâm chiếm. Đâu phải chỉ có người Mỹ chúng tôi xâm chiếm. Buồn cười là đoạn văn trích: “ông ta gửi về La Mã và nước Pháp bản báo cáo rất chính xác về tiềm năng kinh tế, về tình hình chính trị và thưong mại của vùng này. Các giáo sĩ thừa sai dòng Tên được chiêu tập ngay và phái sang đấy giúp A. de Rhodes ... Cả toà thánh La Mã và nước Pháp đều coi những việc làm này là những liên hệ khắng khít với việc đánh chiếm các quốc gia Đông Dương." Không biết câu văn nguyên bản của nhà sử học Mỹ viết thế nào ? Liên hệ khắng khít gì mà đến 200 năm sau Pháp mới nổ súng xâm chiếm. Nghĩa là có năm sáu đời người đã qua đi. Mình là người bị Pháp xâm chiếm, là người sống trong chăn, nguyên nhân bị xâm chiếm ra sao, tất phải biết rõ hơn người ngoài. Mượn lời nói của người ngoài để làm sai lệch nguyên nhân xâm lược (đổ lỗi cho tôn giáo) là điều phi lịch sử. Tạm kết luận: Ông Đặng Tiểu Bình, nhà lãnh đạo cộng sản Trung Hoa, trong di chúc, có viết đại ý, một đời người cống hiến phục vụ đều có ưu điểm, khuyết điểm. Chung cục xét ra được nửa công nửa tội là may mắn rồi. Nếu công nhiều hơn tội thật tối hảo (quá tốt). Xét về cha cố Alexandre de Rhodes, cái công lập ra chữ quốc ngữ là quá vinh quang. Ông lại là người công giáo, thờ Chúa. Những người hẹp bụng thường không ưng. Nên cũng muốn gán cho ông một tội gì thật nặng (tội gián điệp) để làm lu mờ ông đi. Nhiều người không suy xét kỹ cũng ngộ nhận theo. Khi tôi bắt tay vào viết tập "Chữ quốc ngữ ...." , nhiều bạn cũng gàn, cho rằng không nên đề cập đến tên cố đạo gián điệp ấy, cứ lờ đi, cho chìm trong im lặng. Nhưng tôi trình bày những đóng góp của A. de Rhodes và nhất là việc ông chết rồi, gần hai thế kỷ sau Pháp mới nổ súng xâm chiếm Việt Nam, thì nhiều người ngớ ra, có người cứ tưởng ông là người mang hoàng tử Cảnh sang Pháp ký giao ước với vua Pháp. Alexandre de Rhodes là nhà truyền giáo. ông cũng là một con người, nên không thể tránh khỏi những lỗi lầm trong công việc truyền đạo, bênh vực tôn giáo mình, chê bai tôn giáo khác. Ông chỉ sống ở Việt Nam khoảng 7-8 năm không liên tục, mà cống hiến được một thứ chữ viết cho người Việt Nam, phải nói là quá giá trị, thần kỳ nữa (về mặt tâm linh phải kêu là ơn Chúa), khiến Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở châu Á latinh hoá (romanisation) được chữ viết của mình, thuận lợi cho việc hoà nhập toàn cầu ngày nay biết bao nhiêu. Thật là vạn hạnh cho dân tộc ! Người Việt Nam phải biết ơn cha cố Alexandre de Rhodes, người đại diện cho nhiều cha cố như đã kể tên ở trên, trong việc tạo thành chữ quốc ngữ Tuy nhiên việc phổ biến thứ chữ đó và hoàn thiện nó để trở thành chữ viết của toàn dân như ngày nay thì lại là công của người Việt Nam. Cả một lớp trí thức tây học đầu thế kỷ· 20 có công trong việc này, và người chiếm công đầu là ông Nguyễn Văn Vĩnh. Đã đến lúc, điều kiện bây giờ đã đủ độ chín, để chúng ta có thể định giá về công và tội thật rõ ràng cho nhân vật được gọi là cha đẻ của chữ quốc ngữ: cố Alexandre de Rhodes, tránh những ngộ nhận lâu nay đã trở thành định kiến của nhiều người. Một cuộc hội thảo là chưa đủ (đã tổ chức tại Hà Nội ngày 22-12-1995 nhân kỷ niệm 335 ngày mất của Alexandre de Rhodes). Mong những ai quan tâm đến chữ quốc ngữ hãy tham gia thảo luận, để tiến tới, khi có điều kiện về kinh tế, dựng tuợng Alexandre de Rhodes tại Hà Nội, ghi công trạng cho ông. Ngày 15 tháng 5 năm 2003 Hoàng Tiến, nhà văn.
Văn Hoá |