|
spirit |
Việt Điển |
tôn giáo |
|
|
Trần Minh Xuân & Nguyễn Thùy trang 1 Gần đây, đúng hơn là trong năm vừa qua, báo chí của nhiều Cộng đồng người Việt hải ngoại, nhất là tại Hoa Kỳ, đã viết về đôi việc làm của ‘Thiền sư Nhất Hạnh,’ tại Mỹ, liên hệ đến cuộc chiến Việt Nam trước đây, và vụ khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001 tại Nữu Ước và Ngũ Giác Đài Mỹ của nhóm Osama Bin Laden, gây kinh hoàng không chỉ riêng cho Hoa Kỳ, mà còn rúng động cả thế giới. Thiền sư đã nói chuyện trước số đông người. Thiền sư đã họp báo và tuyên bố với báo chí nhiều chuyện. Điều cũng khiến dư luận chú ý nhiều là nhóm tổ chức cho Thiền sư đến Hoa Kỳ nói chuyện đã bỏ ra số tiền khá lớn, lên đến bốn mươi lăm ngàn ($45,000.00US) đô la Mỹ, để thuê nguyên một trang báo đăng hình và bài của ông trên tờ báo thuộc hạng có số in nhiều nhứt, và cũng thuộc hạng có nhiều độc giả nhứt, ở Hoa Kỳ, là tờ New York Times, phát hành khắp thế giới, nhưng xuất phát ngay nơi xảy ra cuộc khủng bố nhắm thẳng vào dân Mỹ và nước Mỹ, như một thứ bài cậy đăng có trả tiền, làm dậy lên nhiều phản ứng ồn ào, nhứt là trong các giới kiều dân Việt lưu cư hải ngoại, với hai phe chống và binh có lúc như không muốn khoan nhượng nhau. Việc làm có tính toán của Thiền sư lắm lúc khiến nhiều người phẫn nộ. Nó cũng khiến nhiều hội đoàn, đoàn thể tổ chức nhiều cuộc hội họp, hội thảo vạch trần những sai lầm, trái khoáy xuất phát từ Thiền sư; những việc làm đã góp phần không nhỏ trong việc ủng hộ bọn khủng bố. Nơi đây, chúng tôi không đề cập đến những chống đối của người Việt hải ngoại đối với ông, cũng không nói đến ‘cái đúng, cái sai’ qua những việc làm của ông, vì những chuyện ấy đã có nhiều người làm rồi và dư luận cũng đã thấy phần nào ‘chân tướng’ của những vấn đề xảy ra từ ông rồi. Chúng tôi chỉ xin bày tỏ đôi ý nghĩ về ông trên các bình diện hình như chưa mấy ai đề cập đến, qua hai mặt có liên quan đến niềm tin tôn giáo được ông rao giảng và hành động có liên quan đến chánh trị, mà qua các việc làm của ông hầu như ai cũng nhận thấy, đó là: Đạo pháp tức Giáo lý nhà Phật nơi ông và cái nhìn của ông về mặt Chính trị. I. Về Mặt Đạo Pháp. Nói về Đạo pháp với một Thiền sư trí thức đã đọc hầu hết Kinh, Luật, Luận của Phật giáo, đã viết hàng trăm sách về Phật giáo, cả tiếng Việt, tiếng Pháp, tiếng Anh; đã lập nên một ‘hệ phái’ Phật giáo[1]; đã có hàng ngàn đệ tử tại nhiều nước, với nhịp độ phát triển không ngừng, thì quả là ‘mạo hiểm’ nếu không muốn nói là ‘cuồng ngông, dại dột’. Tuy nhiên, nếu đúng theo lời Phật: ‘Ứng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm’ thì bất kỳ ai, nếu ‘ứng được vô sở trụ’ cũng có thể hiểu được cái Tâm Phật nơi mình và nơi mọi kẻ, nơi chúng sinh. Người viết chúng tôi mạn phép được đề cập về Thiền sư Nhất Hạnh qua cái lẽ ‘Ứng vô sở trụ’ đó mà chúng tôi đôi khi may mắn được tiếp nhận. Mênh mông trời đất mịt mờ Ứng vô sở trụ tâm sơ ngộ kỳ Hạc bay theo bóng Từ bi Hồi đầu thị ngạn đồng qui thù đồ Người viết chúng tôi có đọc một số Kinh điển Phật giáo, cùng đôi sách của Thiền sư Nhất Hạnh, cũng như đôi trước tác của các tu sĩ và trí thức Phật giáo. Mọi diễn giảng, luận bàn trong các trước tác đó về giáo lý của Phật vô cùng uyên bác, bao quát, thâm sâu, có giá trị về mặt tri thức, hầu như giải thích rốt ráo được cái LÝ, nhưng, theo thiển ý chúng tôi, tất cả hầu như chưa giải thích được diễn biến của cái SỰ. Tất cả đều quan niệm rằng mọi sự, mọi vật biến đổi ‘vô thường’ vì tính cách ‘vô ngã’ của chúng, có nghĩa không có cái gì được gọi là ‘bản chất, thực thể’ nơi chúng, vì tất cả đều không do ‘tự chúng có’ mà là kết quả của sự đồng hợp của nhiều thành phần, nhiều yếu tố; một khi sự đồng hợp đó không còn thì chúng cũng tan rã. Do đó, không một sự vật, sự kiện nào ‘tự hữu do chính nó’ mà do ‘cái nầy sinh ra, sinh ra cái kia’. Lâu nay, khi nói đến diễn biến của cái SỰ, người ta thường đề cập đến lẽ ‘Nhân Duyên sanh’ và ‘Trùng trùng Duyên khởi,’ nhưng do đâu có Lẽ đó? Do đâu có trường tương tác giữa Vạn pháp, có sự ‘tương thuộc, tương liên, tương thành’ của sự sự vật vật? Cái nguyên nhân làm phát sinh ‘Nhân Duyên sanh’ không được nói đến. Hầu như sự việc đó được nhìn nhận là ‘như nhiên, đương nhiên, là thế, là vậy’, không có gì để thắc mắc. Ngưồi viết chúng tôi nghĩ, trong vòng Hiện hữu, tức trong cõi Sắc giới, không có bất cứ gì lại không có ‘Nhân, Duyên, Quả.’ Vì không để ý đến dòng diễn biến của SỰ nên hầu như chưa mấy ai để ý đến cái lẽ Tiến hóa của Vũ trụ và Nhân sinh nơi lời Phật. Thêm nữa, cách lập ngôn của Đức Phật vô cùng ẩn mật, cao diệu, một thứ ‘Biện chứng Bát nhã[2]’ nên khó lòng hiểu cặn kẽ được lời Ngài. Do cái ‘Ứng vô sở trụ’ từ đâu bất ngờ đến với người viết, đã giúp cho chúng tôi ‘cảm nhận’ được ít nhiều lời Phật về Lẽ Tiến hóa đó, và xin được trình bày đôi điểm có liên quan ít nhiều đến Đạo pháp, đến Giáo lý nhà Phật với công cuộc truyền đạo và hành thiền của Thiền sư Nhất Hạnh sau đây: 1. Lý Do Đã Khiến Thái Tử Tất Đạt Đa Ra Đi Tìm Đạo. Cũng là người đến nhân gian Dấu chân Phật sáng cả hoàng cung êm Bước đi trên cánh sen mềm Bảy, ba, ba, bảy bậc thềm Từ Bi[3] Lý do đã khiến Thái tử Tất Đạt Đa đi tìm Đạo theo cách hiểu trước nay là do đức ‘Đại Từ, Đại Bi’ của Ngài. Ngài ra bốn cửa thành đều thấy người đau khổ. Ngài nhận thấy chúng sinh đau khổ và đi tìm cách thế giải thoát chúng sinh thoát khổ. Đúng vậy, nhưng không chỉ giản dị có thế. Nếu chỉ vì ‘Đại Từ, Đại Bi’ không thôi, có lẽ Thái tử sẽ ở lại triều chính để nay mai kế nghiệp Phụ hoàng, để từ đó, trong vị thế của một minh vương trị vì toàn dân cả nước, Ngài sẽ có kế sách tạo cho ‘dân giàu, nước thịnh, người vui’. Cái ‘Đại Từ, Đại Bi’ là động cơ khiến vị Thái tử chúng ta nghĩ đến những gì cao xa hơn. Ngài nhận ra rằng: Cái ‘người ta sinh’, cái ‘người ta bịnh’, cái ‘người ta già’, cái ‘người ta khổ’, cái ‘người ta chết’ là những qui luật muôn đời của tại thế, không thừa trừ một chúng sinh nào. Nhưng cái ‘tôi sinh’, cái ‘tôi bịnh’, cái ‘tôi già’, cái ‘tôi khổ’, cái ‘tôi chết’ lại là cái của riêng tôi, chỉ riêng cho tôi, cái mà các qui luật muôn đời trên ứng vào cho riêng tôi, chỉ mình tôi gánh chịu, không một ai khác dù vì thương yêu mà chia xẻ, cảm thông. Cái người đâu phải cái tôi Của người đâu phải của tôi ở đời Tử–Sinh–Bịnh–Lão do Trời Duyên sanh tròng tréo vào người do đâu? Từ chữ ‘đâu’ tròng tréo được đặt thành nghi vấn đó những người con Phật và những người lắng nghe lời Phật không thể không phân vân thắc mắc: Làm sao để chúng sinh[4] vừa bắt buộc phải tuân thủ những qui luật muôn đời đó mà vẫn tạo lập được cuộc sống an vui, thoát vòng chi phối của khổ? Câu hỏi chưa có lời giải vì đấy là nguồn cơn bứt rứt không nguôi nơi Thái tử, không một ai tư lự, xẻ chia; mà chính Thái tử cũng chưa giải bày rốt ráo; đã khiến Thái tử ra đi tìm Đạo, chứ không riêng vì cái ‘Đại Từ, Đại Bi’ nơi Ngài. Mối quan hệ tròng tréo giữa ‘Cộng nghiệp’ và ‘Biệt nghiệp’ đã phát sinh ngay từ nguồn cơn bứt rứt không nguôi đó. Và, cũng do sự ‘tròng tréo’ giữa Cộng nghiệp và Biệt nghiệp mà ta hiểu ra cái Lẽ Tiến hóa của Vũ trụ và Nhân sinh qua lời Phật. Nhưng qua các sách của Thầy Nhất Hạnh, một cao tăng trong hàng giáo phẩm của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất trước đây, nay là một Thiền sư uyên bác được sự kính nể của nhiều người trong nhiều giới, ở nhiều quốc gia, chúng tôi không thấy Thầy đề cập đến vấn đề này. Trong ‘Vấn đề Nhận thức trong Duy Thức Học’[5] Thiền sư có đề cập đến ‘Tự biến – Cộng biến; Biệt nghiệp – Cộng nghiệp’ nhưng nhằm nói về ‘Tái sinh – Luân hồi’ chứ không nghĩ đến qui luật Tiến hóa qua cách lập ngôn ẩn mật của Phật. Do đó, việc rao giảng Từ Bi và kêu gọi Hòa Bình của Thiền sư, bất kỳ người bình thường nào cũng làm được, không đợi đến một tu sĩ cấp cao như Thiền sư. Vả lại, đức Từ Bi phải đi đôi với Tâm Bình Đẳng. Đức Phật ra các cửa thành không đau, không khổ riêng cho người già, người bịnh, người chết, mà đau và khổ chung cho mọi cảnh đời. Vì thế, Đạo giải thoát của Ngài là để giải thoát chung cho toàn thể mọi loại chúng sinh, tức là diệt trừ cái căn cơ chính yếu đã gây ra khổ mà bất kỳ ai cũng đều gánh chịu. Đức Từ Bi trong giáo lý của Ngài là ở chỗ đó; thương xót, cứu giúp ai là trong cái tâm nguyện ‘Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ, phiền não vô tận thệ nguyện đoạn’ chứ không phải do cảm tình riêng rẽ đối với một ai. Chúa Jésus cũng cùng ý hướng đó, vì theo Ngài, Bác ái và Công bình luôn luôn đi đôi với nhau. Do còn cái ‘Tâm phân biệt’ nên Thiền sư Nhất Hạnh không thể hiện đúng được Đức Từ Bi của Phật 2. ‘Sắc–Không’ và ‘Chân Không–Diệu Hữu’ Lời Phật trong Kinh Bát Nhã thường được nhắc lại ‘Sắc bất dị không, không bất dị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc,’ được Thích Thanh Từ dịch là: ‘Sắc chẳng khác với không, không chẳng khác với sắc; sắc tức là không, không tức là sắc’[6]. Phụng Sơn, trong tác phẩm ‘Đạo Phật qua nhận thức khoa học’[7] dịch câu ‘Sắc tức thị không, không tức thị sắc’ là ‘Cái có là cái không, cái không là cái có’. Dịch như thế có thể đúng theo nghĩa từng từ trong câu chữ Hán[8]. Nhưng, do được ‘Ứng vô sở trụ’, cơ sở trên nghĩa của toàn câu, và bao quát lời Phật, chúng tôi hiểu cả hai câu chữ Hán trên là: ‘Sắc do Không’ và ‘Không trong Sắc’. Cảm nhận như thế, chúng tôi thấy phù hợp với quan điểm ‘Chân như Duyên khởi’ và ‘Pháp giới Duyên khởi’. ‘Chân như Duyên khởi’ nói nguyên nhân sinh thành vạn hữu; ‘Pháp giới Duyên khởi’ nói về diễn biến sinh hóa của vạn hữu theo lẽ Nhân Duyên sanh. Cả hai điều nầy nằm trong bốn từ thường đi chung nhau: ‘Chân Không – Diệu Hữu’. Chân như Duyên khởi sinh thành Pháp theo Duyên khởi hóa sanh chập chùng Hoa Đàm nở đóa đầu Xuân Bước đi bảy bước sáng từng Căn duyên ‘Chân Không–Diệu Hữu’ triền miên Cỏ tươi dấu Phật khải huyền lời ru ‘Chân không’ là cái ‘Không’ nguyên thủy, cái ‘Không trong Không’, ‘Diệu hữu’ là cõi sắc giới bao gồm vạn hữu với thiên hình vạn trạng thể thái, cách thức khác nhau, tương tác nhau, biến đổi liên tục. Có ‘Chân không’ nên mới có ‘Diệu hữu’; ‘Chân không tự biểu thị mình ra Diệu hữu’. Chân không tự tác động mình để từ vô hạn đi vào hữu hạn, có nghĩa ‘Chân không’ tự ‘sắc tướng hóa’[9] mình để tạo nên vạn hữu. Sự ‘tự sắc tướng hóa’ nầy là điều ‘bất khả tư nghị’ mà chúng ta hình dung bằng khái niệm hoặc ‘giả định’ để dùng làm căn bản giải thích sự ‘có mặt’ của cõi hiện hữu. Theo Đạo học Đông Phương quan niệm ‘Vạn vật đồng nhất thể’, thì, nơi Phật giáo, ‘Chân không’ là cái Thể [Đạo thể] vốn ‘Vô sở trụ’, được hiểu là ‘Thể tính Chân như’, cái ‘Tính không’, cái ‘Phật tính, Phật tâm’ (bouddhéité) nhưng khi đã ‘tự biểu thị mình thành Diệu hữu’ thì ‘cư lưu’ nơi mỗi hiện thể vật và người. Phần cư lưu nầy thường được gọi là cái ‘Tâm’ nơi mỗi hiện thể. Kinh Hoa Nghiêm bảo: ‘Như Lai không sở trụ mà trụ tất cả cõi’[10]. Vì thế ‘Phật tại Tâm’ và ‘Kiến tánh thành Phật’. ‘Kiến tánh’ có nghĩa là ‘nhìn ra, nghĩ về, hành động theo’, tóm lại là ‘sống với’ cái Tự thể, Tự tánh, cái Tâm nơi mình là thành Phật, có nghĩa là tạo lập được cái ‘Tính không’, cái ‘Thể tính Chân như’, cái ‘Phật tính, Phật tâm’ nơi mình, như thế là tạo được Niết Bàn cho mình. Nói theo Lục Tổ Huệ Năng[11]: ‘Phật là do tự tánh mà ra, chớ nên hướng ra ngoài thân mà cầu. Mê mờ tự tánh thì Phật là chúng sanh, giác ngộ tự tánh thì chúng sanh là Phật’[12]. Mê mờ tự tánh chúng sanh Niệm cầu trí huệ ngộ thành Phật Tâm Tính không Kiến tánh thì thầm Phật vi tiếu nở nụ tầm xuân tươi Do đâu chúng ta ‘mê mờ tự tánh’? Do từ ‘chấp trược’: chấp ngã, chấp tướng, chấp pháp. Thực sự, do ‘chấp ngã’ mà sinh ra mọi ‘chấp’ khác. ‘Chấp ngã’ là chỉ để ý ‘cái Tôi’ (le Moi) của mình, chỉ lo cho ‘cái Tôi’ đó về đủ mọi phương diện, nghĩa là bị chi phối bởi cái Tướng và cái Dụng nơi ta. ‘Tướng’ tức cấu trúc xác thân[13] cùng những hiện tượng phát sinh từ nó. ‘Dụng’ là những tác động của ‘Tướng’ ra bên ngoài và đón nhận mọi tác động của bên ngoài để lo cho cuộc sống của mình. Thứ gì phù hợp với cái Tướng và Dụng của ta, nghĩa là phù hợp với ‘cái Tôi’ thì ta cho là cần, là tốt, là ích lợi và ta luôn mong mỏi hoặc đi tìm. Ngược lại là có hại, là xúc phạm, vi phạm đến ‘cái Tôi’ và ta tìm cách xua đuổi, chống báng, bài trừ. Sự ‘chấp ngã’ tức chấp vào ‘cái Tôi’, theo Duy Thức học, là do cái ‘Ý thức Mạt Na’. ‘Thức Mạt Na thứ bảy [trong tám thức, theo Duy Thức học] là một loại Tâm Thức có bản chất so đo, thuơng ghét, tính toán thiệt hơn, chấp trược và quản lý vạn pháp một cách kiên cố. Bản chất của Tâm Thức nầy là chấp ngã ích kỷ và nó không bao giờ thức tỉnh truớc sự hành động so đo chấp trược của mình’[14]. Nguồn gốc của ‘chấp ngã’ là do cái Tướng và Dụng nơi từng Diệu hữu, nơi từng dạng Tồn tại. Mỗi dạng Tồn tại, mỗi loại Diệu hữu[15] trong cõi Sắc giới[16], theo chúng tôi, bao gồm bốn yếu tính nền tảng: ‘hiện bày[17]’ [hay ‘có mặt’, ‘hiện diện’ cùng và với mọi dạng Diệu hữu khác], ‘tiếp nối[18]’ [để kéo dài sự có mặt], ‘phát triển[19]’ [mở rộng hiện hữu về mọi mặt] và ‘thăng hóa[20]’ [thay đổi cách thế Diệu hữu, thay đổi dạng Tồn tại từ thấp lên cao, tốt đẹp hơn]. Bốn Yếu tính trên thuộc về Tướng đưa đến bốn yêu cầu căn bản thuộc về Dụng: ‘tự nuôi dưỡng[21]’ [để duy trì sự có mặt], ‘tự sinh sản[22]’ [hay ‘truyền dòng’ để tiếp nối], ‘tự phát triển[23]’ [để hiện hữu đầy đủ, sung mãn hơn] và ‘thăng tiến[24]’ [để nâng cao cách thế hiện hữu]. Không một dạng Diệu hữu, tức không một dạng Tồn tại nào nơi cõi thế không có bốn yếu tính và bốn yêu cầu đó. Không có các yếu tính và yêu cầu trên thì không có sự Sống. Do các yếu tính và yêu cầu nầy mà vạn pháp tương tác nhau làm phát sinh Nhân Duyên Quả. Vì các yếu tính và yêu cầu trên nên mỗi chủng loại và mỗi hiện thể trong chủng loại phải ‘Tư hữu’ để rồi ‘Tư hữu’ dẫn đến ‘Chiếm hữu’. · Tư hữu là ‘có cho mình’ bằng cách tạo ra của cải, trước tiên là lương thực, để phục vụ yếu tính đầu tiên [hiện bày] và yêu cầu đầu tiên [tự nuôi dưỡng] rồi tiếp theo để phục vụ các yếu tính và yêu cầu khác. Ta nhớ lời Thánh Kinh: ‘Ngươi phải làm đổ môi trán mới có mà ăn’. · Chiếm hữu là tranh đoạt, cướp giật của cải người khác hoặc của bên ngoài để bảo đảm hiện hữu, lâu dài, sung mãn. Chiếm hữu là biến cái ‘tự dụng’ của kẻ khác thành cái ‘tha dụng’ phục vụ cho cái ‘tự dụng’ của mình. Do ‘Tư hữu–Chiếm hữu’ nên lịch sử tại thế, nói riêng lịch sử nhân loại hay lịch sử thế giới, trước nay chỉ là ‘lịch sử Tư hữu–Chiếm hữu qua nhiều dạng khác nhau,’ từ tính cách cá nhân sang tính cách tập thể, tập đoàn. Dạng thức Chiếm hữu đi từ gia đình sang Chiếm hữu phong kiến, Chiếm hữu thuộc địa, rồi Chiếm hữu thị trường hiện nay trên tất cả mọi bình diện: sức người, sức của, tình cảm, trí tuệ,... Cạnh tranh, áp bức, bóc lột, bất công, chiến tranh,... do từ đó. Nhưng không ‘Tư hữu–Chiếm hữu’ thì cũng không phát triển, không tiến bộ, văn minh. Cái trớ trêu là thế. Làm sao vừa phải tuân thủ những ‘qui luật muôn đời’ trên mà không phải đau khổ, không phải gây nên tội lỗi cho mình và giữa nhau? Để thoát vượt phần nào cái trớ trêu trên, Jésus rao giảng Đức Bác ái và Đức Công bình. Với Phật giáo là phải biết ‘Xả,’ nghĩa là phải giũ sạch mọi cái gây nên đau khổ, phải giũ sạch ‘cái Tôi cá nhân’ nơi mình, có nghĩa là không để chúng chi phối ta. Muốn thế, ta phải giữ được Trung Đạo, tức là phải phát huy cái ‘Tâm’ nơi ta, cũng là cái ‘Tính Không’ nguyên thủy, vì chạy theo ‘Tư hữu–Chiếm hữu’ để phục vụ ‘cái Tôi’, ta đã quên lảng, đã làm lu mờ cái Tâm, đã ngăn cản cái Tâm sáng hiện, thể hiện trong mọi ý nghĩ, tình cảm, hành động của ta. ‘Trung Đạo’ là giữ được cái ‘Tính không’ nơi mình, là ‘bất trụ vô vi, bất tận hữu vi’[25]; chẳng hạn ‘không thể không cần của cải (bất trụ vô vi) cũng không phải tạo lập của cải bằng bất cứ giá nào (bất tận hữu vi)’. Vì rằng ‘giải thoát không hết, không không hết giải thoát’[26] và ‘nếu ở trong Tướng mà lìa Tướng, ở trong Không mà lìa Không, đó là trong ngoài không mê’[27] và ‘Không có Vô minh cũng không có cái hết Vô minh; không có lão tử cũng không có cái hết lão tử’[28]. Sống với những qui luật muôn đời đó nhưng không để chúng tác động cái ‘Tôi cá nhân’ vụ lợi, như thế là ‘tự giải thoát’ cho ta. Đấy là cách tu chứng cho riêng từng người, cái ‘giác ngộ’ nơi từng người; và nếu tất cả đều như thế là cả chủng loại được giải thoát. Nhưng không thể ai ai cũng đều ‘giác ngộ’ được như vậy. Vậy, muốn giải thoát cả chủng loại người [nhân loại] phải làm thế nào? Đấy là điều đức Phật không thể nói ra rõ ràng, vì Phật nhìn ra ‘dòng Tiến hóa’ phải tiến qua từng giai đoạn lịch sử, từng kỷ nguyên sinh hóa của từng chủng loại, mới có thể tiến đến ‘Lý Sự viên dung vô ngại’. Vì thế, dầu có ‘đốn Lý’ nhưng phải đợi ‘Sự giải trừ dần’ qua từng giai đoạn lịch sử Tiến hóa; ‘Lý tuy đốn ngộ, Sự nãi tiệm trừ’ là như vậy. Cái ‘yếu tính Thăng hóa’ chưa thể tức thì đến với toàn thể chủng loại. Nhân loại phải qua một quá trình phát triển như thế nào đó mới có thể thăng hóa, có nghĩa là ‘thay đổi được dạng tồn tại hiện thời sang dạng tồn tại cao hơn’ như dạng tồn tại ‘vượn người’ sang dạng tồn tại ‘người động vật’ và nay mai, theo chúng tôi, từ dạng ‘ngưồi động vật’ (homme animal) sang dạng ‘người nhân tính’ (homme humain) và sau đó.... Quá trình Tiến hóa đó, theo Kinh điển, đã được đức Phật nói rất ẩn mật qua các cụm từ ‘Sắc–Không’, ‘Chân không–Diệu hữu’ và ‘Vô dư Niết bàn’ cùng ‘Hữu dư Niết bàn’ mà chúng tôi hiểu là ‘từ Không vào Sắc để dẫn về Không trong Sắc’, ‘từ Chân không vào Diệu hữu để dẫn về Chân không trong Diệu hữu’; tóm lại là ‘từ Không trong Không dẫn về Không trong Có’. ‘Vô dư Niết bàn’ là trạng thái ‘Không trong Không’; ‘Hữu dư Niết bàn’ là trạng thái ‘Không trong Có’. Sắc–Không; Không–Sắc trùng trùng Chân không–Diệu hữu ngập ngừng đơm hoa Cõi mình trong cõi người ta Viên dung Lý Sự vào ra Niết bàn Do đó, chúng tôi xin mạn phép không đồng ý với Thiền sư Nhất Hạnh khi ông bảo: ‘Niết bàn tuyệt đối cũng gọi là Niết bàn Vô dư, đối với Niết bàn Hữu dư, tức là Niết bàn còn sót lại ít nhiều quả báo’[29]. Từ ‘Vô dư Niết bàn’ đi vào cõi ‘Sắc giới’ [Diệu hữu] để dẫn về ‘Hữu dư Niết bàn’, từ ‘Không trong Không dẫn về Không trong Có qua quá trình hiện hữu nơi cõi tại thế’, đấy là ‘con đường Tiến hóa của nhân sinh và của muôn loài qua quá trình thời gian’. Đức Phật muốn nói đến cái Lẽ Tiến hóa hoằng viễn, thâm sâu nầy chứ không chỉ riêng nói về Đức lý cá nhân hay Đức lý xã hội. Lịch sử nhân sinh nơi cõi tại thế là lịch trình ‘hiện tượng hóa’ của Chân không hay của Tính thể Chân như, của Phật Tính, Phật Tâm qua quá trình thời gian ứng vào cho chủng loại người, do từ các ‘Yếu tính’ và các ‘Yêu cầu’ của dạng ‘Tồn tại người’ được nói ở trên. Không để ý đến điều nầy là không nhìn ra cái ‘Sử tính’ (historalité) của Tiến hóa và cái ‘Tự tính lịch sử’ (sujet historial) nơi mỗi hiện thể người; do đó, theo chúng tôi, phần nào giới hạn giáo lý đức Phật. Cuộc Tiến hóa đó ứng vào cho Lịch sử nhân loại ra sao? Như đã nói, Lịch sử Nhân loại hay Lịch sử Thế giới, nhìn chung, chỉ là Lịch sử của ‘Tư hữu–Chiếm hữu’ qua nhiều dạng khác nhau. Dạng chiếm hữu hiện nay là dạng ‘Chiếm hữu thị trường’ với nền ‘Kinh tế thị trường’, tuy đã có mầm mống từ lâu nhưng phát triển mạnh nhất từ sau Đệ nhị Thế chiến, thay thế cho dạng ‘Chiếm hữu thuộc địa’ bị cáo chung. Dạng Chiếm hữu này đang phát triển đến đỉnh cao của nó đưa đến nhu cầu ‘Toàn cầu hóa’ phù hợp với trạng thái ‘Văn minh liên lục địa’ do từ sức phát triển của nhân sinh về tất cả mọi mặt[30]. Dạng thức ‘Tư hữu–Chiếm hữu thị trường’ nầy, do những phát triển cực kỳ nhanh chóng và quy mô đã đem đến và hứa hẹn rất nhiều tiến bộ tốt đẹp cho cuộc sống con người và nhân loại, trong một tương lai gần, với ba cuộc Cách mạng: ‘Cách mạng Tin học, Cách mạng Sinh học phân tử, Cách mạng Lượng tử’[31] và ‘Thời đại của hiểu biết’. Nhưng, oái oăm thay, ‘sự sung mãn bên ngoài thường lại do từ một sa sút của bên trong’. Thế kỷ XXI đang phải đối đầu với nhiều nguy cơ[32] đang gây đổ vỡ trật tự và hòa bình thế giới, đang làm cạn tắt tình người, có thể cả làm giảm sút giá trị con người. Người ta đã nói đến ‘sự xung kích của tương lai’ (le choc du futur), ‘sự xung kích của các nền văn minh’ (le choc des civilisations)[33]. Chủ trương ‘Toàn cầu hóa’ đang gặp chủ trương ‘chống Toàn cầu hóa’ nhằm mục đích ngăn ngừa chủ trương ‘Toàn cầu hóa’ đừng biến thành vũ khí của các Tổ hợp tư bản, vũ khí của kẻ mạnh khống chế nhân loại. Nguy cơ gãy đổ tình người Trên cao vi tiếu Phật cười hay đau Chuyển vần Biệt Nghiệp trước sau Trăm năm Cộng Nghiệp qua cầu trường sinh Lạc quan hay bi quan? Tương lai xấu hay tốt? Liệu đã đến thời điểm nhân loại phải nhận chịu sự việc ‘tuyển trạch tự nhiên’ do luật ‘cạnh tranh sinh tồn mạnh được yếu thua’ theo lý thuyết Darwin chăng? Chúng tôi không nghĩ thế. Trước tình hình thế giới hiện nay và trong những năm tới, có thể nói ‘nhân loại đang trong giờ quặn thắt cuối cùng như người thai phụ trong giờ mãn nguyệt khai hoa để sinh thành trở lại’. Nền văn minh hiện nay đang trong những quặn thắt đó và sẽ đổi chiều. Nền Kinh tế thị trường hiện nay sẽ tự nó cáo chung vì đòi hỏi của lịch sử, tiến sang một dạng Kinh tế mới mà chúng tôi dự đoán là nền ‘Kinh tế hổ tương’ (économie mutuelliste), còn Tư hữu nhưng không nhất thiết phải Chiếm hữu, hoặc ‘Chiếm hữu là để Khai phóng cho nhau’ chứ không phải để áp bức, bóc lột, thống trị. [1] Hiện đại hóa Phật giáo, hệ phái ‘Tiếp hiện’ theo Giáo sư Ngô Trọng Anh. [2] Thuật ngữ của Thiền sư Nhất Hạnh. [3] Khi chào đời Đức Phật được chư Thiên đến nâng đón và tắm rửa. Sau đó, lúc để xuống đất, Ngài bước bảy bước và dưới mỗi bước chân là một bông sen nở. [4] Từng cá thể và chủng loại. [5] Lá Bối xuất bản, Sài Gòn 1969, 1972; Paris 1978. [6] Thích Thanh Từ: ‘Ma ha Bát nhã Ba la mật đa tâm kinh giảng giải’, bản Ronéo do Ngô Thị Giang đánh máy xong 4 giờ chiều ngày Thứ Sáu 30/09/1988, Phật lịch 2532. [7] Tu viện Kim Sơn tại Hoa Kỳ ấn hành, mùa Xuân Phật lịch 2534, không ghi năm dương lịch. [8] Không rõ câu chữ Hán có dịch đúng theo câu kinh nầy trong Phạn ngữ; hoặc lời kinh Phạn ngữ có ghi lại hoàn toàn trung thực lời thuyết pháp của Phật hay không. Điều nầy chúng tôi không biết và cũng chưa nghe ai đề cập đến. [9] Tự ‘đối tượng hóa mình’, nói theo triết lý; ‘tự vật chất hóa mình’, nói theo đôi nhà khoa học. [10] Kinh Hoa Nghiêm, bản dịch của Thích Trí Tịnh, Phật học viện Quốc tế xuất bản, California, Phật lịch 2542, tập 3, trang 126. [11] Lục tổ Huệ Năng, người Lĩnh nam, là Tổ thứ 6 của Thiền Tông độ. Chính Tổ Huệ Năng làm cho Thiền được hưng vượng ở Trung hoa. Sáu vị Tổ của Thiền tông gồm có: 1. Đạt Ma; 2. Huệ Khả; 3. Tăng Xán; 4. Đạo Tín; 5. Hoằng Nhẫn; và 6. Huệ Năng. [12] ‘Kinh pháp bảo đàn’, bản dịch của Thích Mãn Giác do Chư Phật tử tại Pháp ấn tống nhân dịp viếng Bồ Tát Quán Thế Âm 19/6/1990, trang 63. [13] Xin nói riêng về những dạng tồn tại có cấu trúc hình thể. [14] Thích Thắng Hoan: ‘Khảo nghiệm Duy Thức học’, Chùa Phật Tổ, Ban Văn hóa ấn hành, Long Beach, California, không ghi năm tháng, có thể vào năm Nhâm Thân 1992 dựa theo lời giới thiệu, trang 53. [15] Mỗi giới loại, mỗi chủng loại và mỗi hiện thể trong từng giới loại, chủng loại. [16] Vũ trụ hiện tượng. [17] Présence. [18] Continuité. [19] Développement. [20] Sublimation. [21] Nuitrition. [22] Reproduction. [23] Développement. [24] Progression. [25] Kinh Duy Ma, bản dịch của Thích Huệ Hưng, Phật học viện Quốc tế xuất bản, Phật lịch 2530 - 1986, trang 107. [26] Tận, vô tận giải thoát - Kinh Duy Ma, sđd, trang 109. [27] Kinh Pháp Bảo Đàn, sđd, trang 72. [28] Vô vô minh, diệc vô vô minh tận, vô lão tử, diệc vô lão tử tận - Bát nhã Ba la mật đa tâm kinh, lời dịch của Thích Thanh Từ, sđd. [29] ‘Kim Cang: gươm báu chặt đứt phiền não’, Lá Bối, San José, 1992, trang 58. [30] Xin không nêu ra đây vì quá dài dòng. [31] Visions, tác phẩm của Michio Kaku, bản dịch Pháp ngữ cuả Gilles Minot, Albin Michel, Paris 1999. [32] Xin không liệt kê. [33] ‘The Clash of Civilizations and the Remaking of World Order’ của Samuel P. Huntington, bản pháp ngữ, edts Odile Jacob, Paris, 1997.
|