|
spirit |
Việt Điển |
tôn giáo |
|
|
Thiền Sư Chơi Trò Bịt Mắt Trần Minh Xuân & Nguyễn Thùy trang 2 Nền ‘Văn minh liên lục địa’ sẽ tạo nên một trật tự mới, bảo đảm được hòa bình và nhân quyền, nhân bản với một đổi thay của cấu trúc xã hội nhân loại: sự hình thành một ‘Liên bang toàn địa cầu’ mà mỗi vùng, mỗi khối[1] là một tiểu bang; giao dịch quốc tế sẽ là giữa các khối với nhau; kỹ thuật sẽ được phân công; một nền đức lý, pháp lý và giáo dục chung áp dụng cho toàn địa cầu, mặc dầu văn hóa từng dân tộc vẫn được duy trì để phong phú hóa văn hóa nhân loại; tôn giáo sẽ lại nẩy nở để làm chỗ tựa cho tâm linh sau khi đã có nhiều cải cách về mặt tổ chức; chế độ chính trị trên căn bản sẽ là ‘Dân chủ xã hội’ [do cao trào đòi hỏi nhân quyền]; Kinh tế sẽ là ‘Kinh tế hổ tương’ [do phải tránh cạnh tranh thị trường dẫn đến chiến tranh đế quốc],... Giao thoa cuộc sống chuyển vần Vòng tay lớn kết mùa xuân nhơn tình Hồi đầu thị ngạn bình minh Trăm năm nở đóa hoa quỳnh vàng tươi Đấy là yêu cầu của lịch sử, của thời đại để con người và nhân loại ung dung tiến vào ‘Kỷ nguyên Không gian’ đang bắt đầu phôi dựng. Đấy là điều Jésus đã nói ‘Ta làm mới lại tất cả’ và theo cách nói ẩn mật của đức Phật được hiểu như trên: ‘từ Không vào Có dẫn về Không trong Có qua quá trình của Có’. Cái ‘Tâm chung phổ quát’ (conscience universelle), cái ‘Trách nhiệm phổ quát’ (responsabilité universelle) trước những quặn thắt đó sẽ lại bừng sáng để con người nhìn nhau, đối xử với nhau trong tương nhượng, trong hoà bình, trong tinh thần ‘bình đẵng tánh trí’. Con người và nhân loại sẽ đạt được yếu tính ‘thăng hoa,’ sau khi yêu cầu ‘thăng tiến’ đạt đến đỉnh cao cùng cực của yếu tính ‘phát triển,’ để đổi mới dạng tồn tại mình từ dạng ‘con người động vật’ sang dạng ‘con người nhân tính’. Nếu ‘Đức lớn của trời đất là tài bồi sự sống’ thì không một ai ngăn cản tiến trình đó được, dù là Hoa Kỳ hay một quốc gia, một chủ trương nào khác. Lịch sử có những bước đi của nó, ra ngoài dự liệu của con người, nói theo J. P. Sartre: ‘Lịch sử tự tạo mà không tự thức’[2]. Lịch sử tự tạo vì do con người, nhưng không ‘tự thức’ vì được chỉ đạo ẩn mật bởi Lẽ Đạo, bởi dòng Tiến hóa[3]. Thiền Sư Nhất Hạnh chưa để ý đến những điều đó nên, theo chúng tôi, mọi viết lách, mọi giảng huấn của ông không góp phần nào vào tiến triển của xã hội, vào diễn tiến Tiến hóa của nhân sinh và chưa khai mở thêm được giáo lý Đức Phật, ngoài việc giảng giải theo như lâu nay, dù có thêm nhiều luận cứ thích đáng, dù có thu hút được sự chú ý và lôi cuốn được nhiều người. Do đó, mọi luận giảng của ông về Phật giáo, dù có ‘cao kỳ’ đến mấy thì, theo chúng tôi, cũng là ‘lẩn quẩn’ như lâu nay, chứ chưa đạt đến chỗ thâm sâu của lời Phật. Đức Từ Bi của Thiền sư chẳng thể hiện được chút nào Phật pháp theo lời Kinh Hoa Nghiêm: “Tôi thà riêng mình chịu mọi sự khổ, đem thân chuộc tất cả ác đạo chúng sinh, chứ không để chúng sinh đọa nơi địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ, diêm la vương, các ác đạo”[4] Thiền sư đã không ở lại trong nước để chia xẻ hoặc gánh chịu chung khổ nạn của nhân dân dưới chế độ bạo tàn, để chống lại những chủ trương, thủ đoạn của Đảng và Nhà nước Cộng sản phá hoại, lũng đoạn Giáo hội Phật giáo Dân lập cùng phá hoại các tôn giáo, nói chung. Thiền sư không rao giảng Từ Bi với kẻ ác. Thiền sư tìm cách sang nước ngoài, sống đời an nhàn rồi mượn cái Tự do của nước người để thuyết giảng Từ Bi một cách chung chung. Có bao giờ Thiền sư chịu tĩnh tâm xét lại mình để hiểu ra cái ‘Từ Bi’ đó là có thật hay chỉ là thứ giả hình? Xin mượn lời một nhà thơ: ................. Những tên kỳ bí danh kỳ lão Nói hoảng mê từng dấu ngoặc riêng Thật ra ông vẫn là vua dóc Nên cứ no lòng buổi ngửa nghiêng!... (Phương Thiều: ‘Giọt sữa đất’ Và khi ‘xen’ vào Chính trị, Thiền sư đã không có cái ‘Trí huệ Bát nhã’ đã đành mà ngay cả cái ‘Tâm bất nhị’ ông cũng không có nốt. Ông vẫn còn ‘phân biệt’, vẫn còn cái nhìn phiến diện, vẫn còn nằm trong tình trạng ‘phân ly Chủ–Khách’ (scission Sujet–Objet) trong phán đoán, trong lời nói, trong việc làm. 3. Thiền Và Chiếm Hữu. Phong trào Thiền sôi nổi suốt mấy chục năm qua ngay tại Âu Mỹ. Rất nhiều sách viết về Thiền, nhiều tổ chức tu tập Thiền, và nhiều cá nhân cũng hầu như bỏ hết mọi bận rộn, bỏ hết mọi việc làm, lắm khi bỏ cả hạnh phúc gia đình để tập Thiền. ‘Làng Mai’ của sư Nhất Hạnh được xem là một Trung tâm giảng và thực hiện Thiền. Chính sư Nhất Hạnh cũng tự gọi mình là Thiền sư... khiến lâu rồi ít còn nghe ai gọi ông là Thượng tọa hay Hòa thượng... như tiếng đời vẫn quen gọi nhiều tu sĩ đồng tu với ông từ trước, theo vị thế mỗi người, trong hàng giáo phẩm của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Thiền và Định là hai điều quan trọng trong ‘Bát Chánh đạo’, thường được gọi chung là ‘Thiền Định’. Theo Lục Tổ Huệ Năng: Bên ngoài xa lìa các Tướng tức là ‘Thiền’, bên trong không loạn tức là ‘Định’. Ngoại Thiền nội Định, cho nên gọi là ‘Thiền Định[5]’. Như thế, Thiền là để không chấp, để xả bỏ ‘cái Tôi’ nơi mình và Định là để sáng hiện cái Tâm; tóm lại, Thiền Định là để đạt được cái ‘Tính không’ nơi mình, để có cái nhìn ‘Bình đẵng tánh trí’ đối với mọi sự, mọi vật. Dĩ nhiên, đây là một phương pháp tốt đẹp giúp con người được an định, thanh thoát cả về thân xác lẫn thần trí; từ đó, tình cảm, ý nghĩ, hành động trở nên trong sáng, lương hảo trong ứng xử, trong tuơng giao giữa người với người, đồng thời có thể đạt đến một trí tuệ minh mẩn, một trí huệ thâm viễn bao la để nhìn ra những gì cao xa, diệu vợi, để thấy cuộc sống, cuộc đời không là nọa lực, khổ đau. Nhưng, như thế, Thiền Định cho dầu có đạt đến những kết quả tuyệt diệu nào cũng chỉ ứng dụng cho từng cá nhân để ‘tu tâm dưỡng tánh’ chứ khó lòng ứng dụng vào cuộc sống xã hội. Người Âu Mỹ hiện nay quan tâm tới Thiền, tu tập Thiền, có thể để thoát khỏi những bấn loạn của cuộc sống phải ví đuổi tiện nghi do vận tốc hối hả của thời gian cơ giới, do cuốn hút của thời đại, thời trang. Muốn Thiền ứng dụng vào cuộc sống xã hội, chúng tôi nghĩ, phải quên ‘cái Tôi’ cá nhân nơi mình, phải luôn luôn giữ được cái ‘Tính không’ nơi mình, phải ‘bất trụ vô vi, bất tận hữu vi’, có nghĩa không để cái ‘ái hữu, ái dục’ chi phối ta, mà cái dục nguy hiểm nhất là cái ‘dục Chiếm hữu’. ´´ Mượn Thiền quên lãng phiền lo Chong chênh chi khác chân cò bờ sông Giữ sao được cái ‘Tính không’ ‘Hữu Vô bất trụ’ cạn dòng sông ưu Ngay trong tình yêu cũng thế. Ta ‘tranh đấu’ để có ngươi yêu, để người đó yêu ta [vì là yếu tính tiếp nối và yêu cầu truyền dòng] nhưng không đòi hỏi người ta yêu phải nhất thiết thuộc về ta, nghĩa là ta không nhất thiết bắt buộc phải có người yêu đó, người ta yêu đó phải thuộc về riêng ta. Như thế, ta sẽ không làm mất tự do của người ta yêu, ta tôn trọng tình cảm người ta yêu, ta thoát được bao ‘tham, sân, si’ trong tình yêu và giữ được mãi tình cảm tốt đẹp của người ta yêu đối với ta. Xin chép lại đây tiểu luận ‘Thiền tự do’ trong ‘Ngụ ngôn-Trùng ngôn[6]’, được Nguyễn Thùy viết vào năm 1989 tại đảo Pulau Bidong: “Thiền Tự Do”Thiền sư ngồi trên mô đá, trầm ngâm nhìn dòng nước chảy. Môn sinh xin nhập đạo, lễ phép đứng bên. -Con biết ngồi bán kiết? -Thưa vâng. -Con biết ngồi kiết già? -Thưa vâng. -Con ngồi được bao lâu? -Dạ, thưa... suốt cả buổi hoặc hai ba ngày liên tiếp. -Khá lắm. Con ngồi thế, được gì? -Dạ, thưa, người ta bảo thế là ngồi Thiền, sẽ thấy tâm hồn thanh thoát, quên hết mọi phiền trược và tìm ra Niết Bàn. Thiền sư cười: -Thế con đã thấy Niết Bàn lần nào chưa? -Dạ, thưa chưa. Lúc ra khỏi Thiền, con lại thấy mọi việc y nguyên như cũ và con vẫn chẳng thấy con an lạc chút nào. -Thế đang lúc ngồi Thiền, con có thấy Niết Bàn không? -Dạ, cũng không. Tại vì con phải tập trung chế ngự thể xác con, quên đi mọi việc và lìa hết mọi tri kiến. -Con làm thế để khỏi chấp, phải không? -Thưa vâng, nhưng làm sao không chấp? -Không có cách nào cả. Thiền là để phá chấp, để quên chấp. Quên chấp cốt để quên đau khổ. Thiền mà còn hành hạ cái thân, còn tạo đau khổ cho thân xác, chưa là Thiền đúng nghĩa hay là chưa đạt được Thiền. -Kính thưa Đại Sư, xin Đại Sư chỉ giáo. -Hãy như dòng nước. -Kinh bẫm Đại sư, con ngu tối, chưa hiểu. -Nước chảy về chỗ xuôi dù chỗ đó là cát, là đất, là sỏi. Bản chất của nước là thế, ít ra ở cái không gian địa cầu nầy. Một giọt nước con đổ ra cũng chảy vào chỗ thấp. Nước không tìm cây để tưới, không tìm cá để nuôi. Cái dụng của nước không ở tự nó mà ở vật bên ngoài, giữ Tâm như nước, thế là Thiền. Môn sinh reo lên: -Thưa Đại sư, con ngộ. -Tốt, giải thích công án xem. -Thưa, nước không tìm cây để tưới, không tìm cá để nuôi. Cái dụng của nước không ở tự thân nước mà ở vật bên ngoài. Con phải giữ tâm con như nước, nghĩa là không đòi hỏi cái dụng nào của bên ngoài cho mình. Thế là tâm thanh thoát, con tự tại bình an, không thấy đau khổ. -Đúng. Không đòi hỏi cái dụng nào của bên ngoài có nghĩa là không chiếm hữu, không đòi hỏi bất cứ thứ gì phải nhất thiết thuộc về mình. Chiếm hữu là đầu mối của chấp, nguồn gốc của đau khổ. Giữ cái Tâm không bị xung động bởi chiếm hữu là cách Thiền dễ nhất, hữu hiệu nhất, tự do nhất; bất kỳ ở đâu, bất kỳ lúc nào, bất kỳ đối với vấn đề gì cũng Thiền được. Nguyễn Thùy Trích: ‘Ngụ ngôn–Trùng ngôn’ Thiền hành theo bước chân sư Quên đời quên cả cõi lưu cư buồn Định tâm quên hết sầu thương Nén cơn đau đứng ‘diện tường’[7] niệm kinh Giữa dòng biển sóng vô minh Chìm tan bào ảnh, hiện hình Tâm không Việc tu ‘Thiền’ của Thiền sư Nhất Hạnh, theo chúng tôi, cũng theo mọi cách lâu nay, ứng dụng cho từng cá nhân chứ chưa thể ứng dụng vào cuộc sống xã hội. Muốn ‘Thiền’ ứng dụng vào xã hội, cần để ý đến ‘diễn trình tiến hóa’ của nhân sinh qua lời Phật được nói ở trên, để luôn luôn ‘tiết chế Tư hữu’ và ‘giải trừ óc Chiếm hữu’. Điều nầy không chỉ riêng về mặt Đạo đức mà còn là nền tảng cho mọi chính sách, chủ trương, định chế về mặt Chính trị, Kinh tế, Pháp lý, hầu xã hội và thế giới nói chung tránh được chiến tranh, vui sống hòa bình. ‘Hiện đại hóa Phật giáo’, chủ trương của Thiền sư Nhất Hạnh chỉ nhằm cải cách một số nghi thức, chứ chưa nhằm ‘mở rộng’ được giáo lý của Đức Như Lai. Về mặt cá nhân Thiền sư Nhất Hạnh, không rõ ông đã thực hiện được điều mà Lục Tổ Huệ Năng đã nói ‘ngoại Thiền nội Định’ hay ông mới chỉ có ‘ngoại Thiền’ [thiền tọa, thiền hành] mà chưa ‘nội Định’ nên cái Tâm nơi ông vẫn còn là cái ‘Tâm phân biệt’. Rao giảng ‘Từ Bi’, kêu gọi Hoà Bình, tốt lắm; nhưng chỉ là thể hiện thứ tình thương chung chung. Lý do chính đã khiến xảy ra chiến tranh, hận thù, chính là cái óc Chiếm hữu [dù về phía nào] Thiền sư không đề cập vì chưa nhận ra [hay chưa để ý đến] ‘lẽ Tiến hóa’ qua lời Phật. II. Về Mặt Chính Trị. Qua một số sách của Thiền sư Nhất Hạnh đã được đọc, chúng tôi không tìm thấy quan điểm, lập trường, chủ trương chính trị của ông. Có lẽ ông không là người làm chính trị, hoạt động chính trị. Nhưng ông lại ‘xen’ vào chính trị. Có thể ông đem cái đức Từ Bi của Phật giáo để kêu gọi hòa bình, kêu gọi đừng gây chiến tranh và chấm dứt chiến tranh, nhưng lại không chịu nhận diện các nguyên nhân sâu xa gây ra cuộc chiến, khiến ông hành động như người mang hết thiện chí tận lực cắt ngọn mà không chịu bứng gốc ‘cây chiến tranh’. Qua những việc làm của mình Thiền sư có thể khiến nhiều người xúc động, nhưng riêng phần ông không rõ ông có thực sự xúc động trước cảnh tàn sát của chiến tranh đối với tất cả mọi người vô tội, ở cả bên nầy lẫn bên kia chiến tuyến, trên khắp các bãi chiến trường khốc liệt vì bom đạn của cả mọi phía hay không? Dù sao, việc làm chính trị của Thiền sư, theo chúng tôi nghĩ, đã không phát sinh từ cái ‘Tâm bất nhị’, điều tối thiết của một tu sĩ Phật giáo, mà xuất phát từ cái ‘Tâm phân biệt’, điều mà giáo lý và người Phật giáo luôn luôn cố tránh. Do đó, cho dầu chưa tin chúng tôi cũng không thể không lắng nghe tiếng nói của nhiều người phẫn nộ trước thái độ nghiêng về một phía khi bày tỏ xúc cảm và lên án chiến tranh của Thiền sư; họ đã không ngần ngại cho rằng ông đã ‘núp’ sau bộ áo cà-sa để hoạt động chính trị theo một ý đồ đen tối nào đó! Phần chúng tôi, dầu không nghĩ vậy, cũng không thể không nghe từ chỗ sâu kín nhất của cõi lòng dậy lên ít nhiều nhức nhối, xót xa, cay đắng lạ thường. Chúng tôi không đề cập đến đời tư của Thiền sư, cũng không đề cập về mối quan hệ của Thiền sư với Sư Bà Chân Không Cao Thị Ngọc Phượng. Chúng tôi không nghĩ Thiền sư là ‘tay sai Cộng sản,’ là một người ‘Cộng sản nằm vùng,’ như một số người quả quyết, cũng như không nghĩ Thiền sư nhận tiền của Cộng sản hay của nhóm khủng bố khi có vẻ đứng về phía họ như đôi người phỏng đoán. Chúng tôi chỉ xin đề cập đến những việc làm chính trị, hay đúng hơn là ‘xen’ vào chánh trị của Thiền sư, không do vì đức Từ Bi, mà do cái ‘Tâm phân biệt,’ vốn là một cấm kỵ nơi giáo lý nhà Phật: 1. Về Cuộc Chiến Quốc–Cộng Ở Việt Nam. Trong cuộc chiến vừa qua tại Việt Nam, kết thúc vào ngày 30 tháng 4 năm 1975[8], Thiền sư làm thơ, viết văn nói lên nỗi xúc động và lòng xót đau của ông về bao chết chóc của người dân vô tội. Thật quí hóa! Nhưng người ta chỉ nghe ông ‘lên án’ Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa mà không thấy ông đề cập gì đến nguyên nhân gây nên cuộc chiến, lên án những kẻ gây nên cuộc chiến sát hại nhiều triệu dân Việt. Thiều sư không đá động gì đến Cộng sản Bắc Việt là kẻ đã xua quân xâm lăng Miền Nam Việt Nam, là kẻ cũng đã gây chiến tranh, đã pháo kích, khủng bố, đã giết hại bao người dân vô tội. Cả những học sinh ngây thơ bé bỏng đang vui chơi ở sân trường Tiểu học Cai Lậy, tỉnh Định Tường, thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, cũng bị Việt cộng pháo kích giết chết không nương tay, mà không ai nghe Thiền sư lên tiếng bày tỏ một chút xúc động nào, cho dầu đó chỉ là một câu văn viết chiếu lệ, một bài thơ gượng gạo, hay một lời lên án suông. Thiền sư không hề đá động gì đến những chiến binh trẻ xăm đậm trên da thịt mình câu ‘sinh Bắc tử Nam’, những người bộ đội chưa kịp rời ghế nhà trường đã bị cưỡng bức đưa ra chiến trường, bị đẩy đến chỗ lạnh lùng giết chết vô số đồng bào ruột thịt Miền Nam mà họ không hề chút nào thù oán; ngay cả bản thân những bộ đội trẻ nầy cũng bị bức tử trên khắp mọi chiến trận. Thiền sư cũng không hề nghĩ đến hàng phụ nữ son trẻ bị bắt buộc phải làm dân công nơi những núi đèo nghiệt ngã, ngày đi chẳng có ngày về, phải chôn xác âm thầm, tăm tối nơi hang sâu hố thẳm...
Trong khi đó, Hòa thượng Thích Quảng Độ, trong bài viết ‘Nhận Định Về
Những Sai Lầm Tai Hại Của CSVN,’ được đưa lên mạng lưới thông tin toàn
cầu (internet)
[chúng tôi đọc được ngày 17-7-2002]
đã có cái nhìn rõ ràng và dứt khoát về hai phía tội phạm. Hòa thượng
viết:
“...Kể cũng chua chát, người Mỹ đã trút hàng triệu tấn bom đạn và chất
độc da cam xuống đất nước Việt Nam tàn sát hơn một triệu người dân Việt, bao
nhiêu người tàn phế và trẻ em quái thai vì chất độc hóa học, và hậu quả khốc
hại của nó còn kéo dài trong nhiều thế hệ nữa; nhưng vì họ có nhiều đô la
(mà trước kia CS cho là đồng tiền ‘vấy máu’) cho nên CS phải cố làm vừa lòng
họ. Còn những người dân Việt Nam yếu hèn thì CS đối xử như những con vật cho
nên người dân miền Bắc đã phải nói ‘ăn như lợn (tức ăn độn), ở như chuột,
làm như trâu, đối xử như chó.’ Lại như Hòa Sao đành ngậm miệng làm thinh Trước đời nghiệt ngã sinh linh điêu tàn Lạnh lùng nhìn cảnh nghiệp oan Thiền hành trên những nghĩa trang dân lành Dĩ nhiên, trong cuộc chiến vừa qua, cả hai bên Cộng sản [Cộng sản Việt Nam và Cộng sản quốc tế] cùng Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ đều gây bao nhiên thảm họa sát hại dân lành, nhưng không như Hòa thưởng Thích Quảng Độ lên án cả hai phía, Thiền sư Nhất Hạnh chỉ lên án Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ mà không lời nào chỉ trích hoặc lên án phía Cộng sản. Tại sao? Tại vì Thiền sư chỉ chăm chú nhìn về một phía, cố ý hoặc không chịu quay đầu nhìn về phía bên kia. Đức Từ Bi nơi Thiền sư, nếu có, quả thiên lệch, phiến diện, sai lạc,... nếu không muốn nặng lời suy diễn là làm theo dụng ý của những kẻ nào đó đứng đàng sau khích động ông. Thiền sư bịt mắt nhìn đời Ôm ‘Tâm phân biệt’ nuốt lời giải oan Câu Kinh Bát Nhã bàng hoàng Ém im tiếng thét của đàn dân đau 2. Từ 1975, Khi Cộng Sản Bắc Việt Chiếm Trọn Miền Nam. Từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, lúc đã chiếm trọn Miền Nam, Cộng sản Bắc Việt tráo trở, phủ nhận hết mọi cam kết của chúng, giải tán cả Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam, bắt đầu thi hành các chủ trương, chánh sách tàn ác còn tệ hại hơn ở Miền Bắc trước đây. Chúng đưa hàng trăm ngàn ‘lính và công chức chế độ Việt Nam Cộng Hòa’ vào các trại gọi là ‘Học tập Cải tạo’ nơi rừng sâu nước độc với chế độ lao động khổ sai, với chế độ giam cầm man rợ, với chủ trương ‘tẩy não’ tàn ác, khiến hàng trăm ngàn người phải bỏ mạng thảm thương vì bịnh tật, đói rét, vì lao động kiệt sức, vì bị cán bộ Việt cộng tàn sát [do phản đối lý luận trâng tráo ngụy tạo của Cộng sản, hoặc do tìm cách trốn khỏi trại giam]; bắt buộc hàng triệu dân chúng phải lên vùng Kinh Tế mới, sống đày đọa, nheo nhóc, chết dần, chết mòn; rồi những chiến dịch ‘Đánh Tư sản’, ‘Đổi tiền’, ‘Kiểm kê hành chánh’, ‘Truy lùng sách báo phản động đồi trụy’. Hàng triệu người, trong đó vô số kẻ không là ‘lính Ngụy’, không là ‘công chức Ngụy’, không là ‘Tư sản, Mại bản’, những lương dân chân lắm tay bùn phải đành liều chết rời bỏ Quê hương, ra đi tìm tự do trong những điều kiện hết sức ngặt nghèo, gian khổ, để hàng trăm ngàn người phải bỏ thây nơi biển cả, hoặc làm mồi cho hải tặc Thái Lan tha hồ hãm hiếp, bắn giết, cướp sạch chút tài sản bé bỏng của người tỵ nạn lén lút mang theo trên đường vượt biên. Chỉ trong vòng mấy tháng, sau khi ‘tiếp thu Miền Nam’(!?), Cộng sản đã biến đất nước Miền Nam trước đây trù phú, tốt đẹp, thành vùng tro than đen đũi; biến cuộc sống sung túc đầy đủ của nhân dân Miền Nam trở thành đói nghèo cùng cực, cho mãi đến nay ‘vẫn kiếp ngựa chó, vẫn thân tôi đòi’, ‘vẫn xác héo lạc loài cửa quỷ’, ‘vẫn hồn tàn vạn lý ma trơi’, ngoài một thiểu số đảng viên Cộng sản cùng số a dua, chạy theo ‘móc ngoặc’ với Đảng và Nhà nước Cộng sản nơi thị thành. Trong lúc đó, tập đoàn Cộng sản từ hàng cao cấp Trung ương đến từng lớp cán bộ Phường, Khóm tha hồ tham nhũng, hưởng thụ phè phỡn trên công sức lao động của nhân dân, trên những tiền viện trợ, đầu tư, trên cả số tiền người Việt ở hải ngoại gởi về nước nuôi gia đình, ngay cả trên tiền cứu trợ bão lụt do chính giới tu sĩ và Phật tử quyên góp giúp đỡ đồng bào lâm nạn. Cách làm giàu phi pháp, cảnh sống xa hoa, cảnh hưởng lạc nham nhở của Cán bộ Cộng sản, nhất là cấp đầu não [mua nhà, tậu đất, xây biệt thự, mở khách sạn, sân chơi, tậu tài sản nơi nước ngoài, gởi tiền vào ngân hàng ngoại quốc, dung dưỡng và toa rập mở ‘bia ôm, cà phê ôm’...; trắng trợn bao che, đồng lõa với gian thương, tội phạm (như vụ Năm Cam), tha hồ cho con cái, thân nhân du lịch, mặc kệ dân nước lầm than, điêu tàn...] còn gấp vạn lần tệ lậu hơn số người mà chúng tố cáo là ‘Tư sản, Mại bản’, ‘tay sai Mỹ Ngụy’ trước đây. Mặc dầu hiện nay, điện đóm có đến tại một số vùng thôn quê, đôi đoạn đường sá có được mở rộng, một số dân chúng có tivi, điện thoại, có máy điện toán, có tủ lạnh, xe hơi...; nhưng những tiện nghi văn minh vay mượn đó với một hạ tầng văn hóa suy đồi chỉ đưa xã hội thêm sa đọa, văn hóa thêm suy đồi và chỉ phục vụ cho thiểu số tầng lớp phong kiến, trưởng giả nắm quyền, ăn trên ngồi trước, còn tuyệt đại đa số nhân dân luôn luôn chạy ăn từng bữa, khố rách áo ôm, bần cùng, nô lệ. Dân chủ, Tự do, Nhân phẩm, Nhân quyền là những thứ Cộng sản thù ghét, sợ hãi, nên chúng tìm mọi cách trù giập, triệt tiêu bằng bao thủ đoạn gian ác, thủ tiêu, đàn áp, khủng bố mọi người yêu nước, yêu dân; đặc biệt đối với hàng ngũ Tôn giáo, Trí thức, Văn nghệ sĩ, cho dầu khá nhiều người đã là Cộng sản, đã có công lớn với Đảng, nhưng nay phản tỉnh, chống lại chế độ phi nhân của chúng. Tập đoàn Cộng sản cùng cái Nhà nước và bao nhiêu loại tổ chức do chúng nặn ra còn mãi bám lấy địa vị, quyền uy, danh lợi, còn tiếp tục độc đảng lãnh đạo, độc quyền trị nước, độc tài trị dân, độc tôn cai quản, thì đất nước, nhân dân ngày càng hiu hắt, lầm than, càng ngày càng lệ thuộc vào bên ngoài, vào tập đoàn Cộng sản Trung quốc cả về Chánh trị, Kinh tế, có thể cả mất dần lãnh thổ của dân tộc, như chúng đã ký hai Hiệp nghị hiến đất, nhượng biển cho Tàu cộng. [Nơi đây, chúng tôi không làm việc ‘ôn’ lịch sử, không liệt kê sự kiện, không trình bày các con số tội ác của phía Cộng sản. Nếu Thiền sư Nhất Hạnh không để bị ai kia bưng tai bịt mắt thì xin Thiền sư tìm đọc cuốn ‘Cộng Sản Trên Đất Việt’, quyển I, của Giáo sư Nguyễn Văn Canh, do Kiến Quốc phát hành năm 2002, và một số sách khác của những tác giả từng là đảng viên hoặc sống trong chế độ Cộng sản như Bùi Tín, Vũ Thư Hiên, Bùi Ngọc Tấn, Dương Thu Hương, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Văn Trấn, Hà Sĩ Phu, Nguyễn Thanh Giang, Phạm Quế Dương, Trần Độ..., với một ít tài liệu cụ thể được ghi nơi phần chú thích ở cuối bài nầy] Trước bao tội ác của Cộng sản, trước bao thảm cảnh của đồng bào cả nước, sao Thiền sư chẳng hề có một việc làm nào nói lên cái ‘Tâm Phật’ của Thiền sư, như viết một kháng thư gởi nhà cầm quyền Cộng sản Hà Nội để phản đối hành động phi nhân của chúng, hoặc một bài báo, một lời thơ tỏ bày đức độ từ bi đối với nhân dân bị Cộng sản chà đạp đớn đau? Tại sao? Tạo vì Thiền sư chỉ ‘thiền hành’ về một phía để chọn cho mình chỗ đứng ở một phía; để từ đó Thiền sư chỉ nhìn có một mắt, mắt kia bị thui chột, hay ông tự nhắm lại, tự tay bịt kín, cho đừng thấy, để khỏi phải lên tiếng trái với ý muốn của kẻ đứng sau ông. Ông không hề hoán vị mình vào tình dân, cảnh nước, để đau cái đau chung của dân tộc, khổ cái khổ chung của đồng bào [Đôi khi, chúng tôi cũng nghĩ rằng biết đâu Thiền sư đã chẳng có đôi thư riêng gởi Đảng và Nhà nước Cộng sản, hay gởi Liên Hiệp Quốc, hoặc đôi cơ sở nhân quyền nào đấy, nhưng chúng tôi lại nghĩ, nếu quả có thế thì việc làm chính đáng đó sao không công khai cho mọi người trong và ngoài nước được biết? Thiền sư sợ gì, sợ ai mà phải âm thầm, kín đáo, giấu giếm những việc làm tốt đẹp như thế, nếu quả Thiền sư thật sự có làm?] Cũng nên kể đến một số việc làm khá tốt đẹp của Thiền sư là việc ‘cứu người vượt biển’ năm 1976. Nhưng than ôi, việc làm nầy không do nhân đạo, không do lòng từ bi, mà chỉ là thủ đoạn của Thiền sư và Cao Thị Ngọc Phượng để ‘làm tiền’ nhân danh chức vụ ‘phụ tá điều hành’ Ủy Ban do Hội Đồng Liên Tôn và Hòa Bình Thế Giới thành lập. Chúng tôi không nêu chi tiết ra đây để khỏi mang tiếng ‘bôi bác’ Thiền sư. Bạn đọc và chính Thiền sư Nhất Hạnh hãy đọc bài ‘Nhất Hạnh, Con Người Nhiều Mặt: Một Thứ Đặc Sản Của Chiến Tranh Việt Nam Đã Bị Bụt Trác’ của ông Đặng Văn Nhâm nơi tạp chí ‘Hải Ngoại Nhân Văn’ (MA 01853 USA) số 32, tháng 12 năm 2001, để biết đích xác việc làm bất lương của Thiền sư, không riêng về việc nầy mà còn về cả tư cách và nhiều việc làm bất chánh khác của Thiền sư. 3. Phật Giáo Là Tôn Giáo Của Dân Tộc Việt Nam. ‘Phật giáo là tôn giáo của dân tộc Việt Nam’. Theo sự suy nghĩ thông thường của nhiều người nên nói chung người ta bảo thế và Thiền sư Nhất Hạnh chắc cũng nghĩ thế. Do vậy, một tấc đất mất đi người dân Việt nghe như đứt một khúc ruột và người con Phật trên đất nước Việt Nam cũng nghe như mất một phần thịt da của chính mình. Ấy thế mà, trước việc cắt lãnh thổ, nhượng lãnh hải cho Trung Cộng của nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam, chúng tôi chưa thấy một việc làm nào, cũng chưa đọc được một bài viết nào của Thiền sư về việc đó, như gởi kháng thư cho nhà cầm quyền Cộng sản, viết một bài báo, hay làm một bài thơ, trước sự việc tàn tệ hơn cả ‘buôn dân, bán nước’, vì thực tế nó là tự nguyện ‘giao dân[9], hiến nước,’ để có chỗ dựa, hầu duy trì quyền lực độc đảng độc tài áp chế dân mình. Như thế, tinh thần dân tộc, tấm lòng yêu nước của Thiền sư, ông để nó ở chỗ nào? Hay Thiền sư quan niệm đã là ‘Quốc tế Vô sản’ rồi thì đâu còn gì để nói nữa? Đạo đời liền với muôn dân Giang sơn cẩm tú là phần của chung Mất đi ai chẳng đau lòng Sao Thiền sư thấy như không có gì? Tại sao? Tại vì Thiền sư cho việc làm trên của Việt cộng là việc làm cần thiết để chúng nương tựa vào bọn ác ôn Trung quốc để trấn áp phe ‘phản tỉnh,’ dìm ém ‘diễn biến hòa binh’ để tạo thế duy trì sự lãnh đạo của nhà nước độc đảng độc tài đương quyền? Hay còn phải đợi thiên hạ nói chán chê rồi Thiền sư mới dám lựa lời lên tiếng cho khỏi lạc điệu với thế lực thầm kín nào đó ở bên trong, ở đàng sau hậu trường chánh trị dối gian trí trá? Hay tại vì Thiền sư cho rằng ‘đạo Phật là đạo của dân tộc’ chỉ là lối nói ‘lấy có,’ hoặc nơi Thiền sư không còn cái ‘căn tính’ Việt Nam nữa. Cái ‘Tâm Từ Bi’ của Thiền sư bị ông đánh mất ở đâu khiến ông không hề bày tỏ được chút nào xót đau trước những thảm nạn của quê hương, thảm nạn mất đất, mất dân.... và sau đó sẽ mất cả đạo nữa(!?). Chuyện đàn áp tôn giáo, quốc doanh tôn giáo, để lần hồi hủy diệt tôn giáo của nhà nước Việt cộng lâu nay cũng không ai nghe Thiền sư đề cập đến; đặc biệt là thảm nạn trực tiếp giáng xuống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, trực tiếp đe dọa sự sống và niềm tin của các Hòa thượng Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ..., các Thượng tọa, Đại đức Trí Siêu, Tuệ Sỹ... các cao tăng hàng đầu của Giáo hội – tổ chức từng có mặt Thiền sư ở vị thế được trọng nể hàng đầu mấy mươi năm trước – đang chịu đựng đủ mọi trầm luân khốn khó nơi quê nhà, bị thường xuyên kỳ thị, ngược đãi, bị trù giập và dìm ém đến tận cùng tang thương suốt mặt. Trầm luân đạo cũng như đời Sao Thiền sư cứ ngậm lời làm thinh Phật trên cao hẳn giật mình Xót thương sư đánh mất tình nước non 4. Không Đau Niềm Đau Chung Của Dân Tộc Và Đạo Pháp. Trong cuộc chiến Quốc–Cộng xảy ra ngay trên đất nước Việt Nam, hay nói rõ hơn là Miền Nam Việt Nam, để Miền Bắc Việt Nam làm hậu phương an toàn cho xã hội chủ nghĩa, chúng tôi cũng chưa đọc, chưa thấy một bài viết, một bài thơ nào của Thiền sư bày tỏ sự đau xót cho cái chết thê thảm của nhiều ngàn người bị chôn vùi tập thể bởi Bộ đội Cộng sản Bắc Việt và quân của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam trong kỳ tấn công vào Huế mấy ngày Tết Mậu Thân 1968, đồng loạt với nhiều thành phố khác. Trước mồ tập thể chôn người Không nghe sư nói một lời cảm thông Không thấy sư viết một dòng Đớn đau cho cảnh long đong kiếp người Xa hơn nữa, Thiền sư Nhất Hạnh cũng hầu như không bày tỏ lòng xót đau cho cả dân tộc Tây Tạng bị Cộng sản Tàu xâm lăng, thống trị, tàn sát dã man vô số sanh linh, phá nát vô số chùa chiền... khiến Đức ‘Phật sống’ Đạt Lai Lạt Ma và rất nhiều người con Phật phải nát lòng rời quê hương, bỏ xứ sở, từ giả thân nhân bè bạn ra đi làm người lưu vong ở hải ngoại không biết đến bao giờ mới được trở lại mái nhà xưa, thờ cúng nơi ngôi chùa cũ... Thiền sư không xúc động, không hề xúc động. Tại sao? Tại vì có lẽ Thiền sư cho đấy là những ‘tất yếu lịch sử’, những ‘tất yếu chính trị’ cần thiết cho chế độ độc tài? Và hàng trăm, hàng ngàn, hàng vạn... ngưồi dân vô tội kia phải chết để chế độ độc tài được sống, để cho những kẻ tự xưng mình là ‘anh hùng’(?) của chế độ được tiếp tục ‘vinh quang’ trên xương máu của chúng sinh(?). 5. Không Đau Niềm Đau Chung Của Nhân Loại. Nhiều năm qua rồi chúng tôi cũng chưa được đọc, chưa được thấy một bài viết, một bài thơ nào của Thiền sư Nhất Hạnh bày tỏ nỗi đau xót cho cái chết thê thảm của hàng trăm ngàn người bị tàn sát bởi bàn tay đẫm máu của Staline tại Liên Xô, những cái chết bi thương bởi chế độ bạo tàn của Milesovic tại Bosnia, Kosovo, những cái chết tức tưởi bởi cuộc Cách mạng Văn hóa của Mao Trạch Đông, những cái chết nghẹn ngào bởi những vụ đấu tố man rợ của Trung Quốc và của cả Cộng sản Việt Nam dưới thời Hồ Chí Minh cùng thời kế tiếp của những tội phạm thừa kế sự nghiệp gian ác của ông ta. Và mới đây, Thiền sư không hề xúc động trước cái chết của hơn 3000[10] người dân Hoa Kỳ trong cuộc khủng bố ngày 11-9-2001. Tuy vậy, Thiền sư cũng muốn đến Hoa Kỳ và đã được chánh phủ Hoa Kỳ cho nhập cảnh... để làm chuyện trái khoáy là diễn thuyết, họp báo, tiêu tốn một số tiền khá lớn [mà chỉ riêng phần chi cho việc đăng bài và hình Thiền sư trên báo New York Times của Mỹ cũng đã lên tới non năm vạn đô la] để Thiền sư kêu gọi Hòa bình... từ một phía, mà không có một lời lên án hành động sát nhơn của quân khủng bố. Đã vậy, Thiền sư lại còn bày tỏ lập trường hầu như đồng nhịp với bạo quyền Việt cộng nơi quê nhà. Thiền sư đã lên tiếng na ná như người nữ phát ngôn trí trá nói dối không biết ngượng Phan Thúy Thanh [của Bộ Ngoại giao Việt cộng] lên tiếng binh vực khủng bố và lên án cuộc chiến chống khủng bố của Tổng thống George W. Bush và chánh phủ Hoa Kỳ với các nước đồng minh Tây phương. Không những thế, Thiền sư lại còn lùi xa thêm nhiều năm trong quá khứ để lên án Mỹ đã oanh tạc tiêu hủy 300.000 nóc gia tại tỉnh lỵ Bến Tre, ở Việt Nam, chỉ vì 7 anh du kích bắn chơi lẻ tẻ [một sự kiện được Thiền sư bịa ra, một chuyện không có thật, với con số phóng đại quá trớn, vì ngoại trừ một số thành phố lớn, còn các Tỉnh lỵ khác ở Miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ, dân số đâu có nơi nào lên đến được con số ba trăm ngàn. Tỉnh lỵ Bến tre làm gì có đến 300.000 nóc gia, có đến 300.000 người, nếu gượng gạo cho mỗi nóc gia là một người]. Để từ đó, hay đúng hơn là cùng lúc, Thiền sư gián tiếp kêu gọi Mỹ đừng tấn công chế độ Taliban ở A Phú Hãn... vì làm thế là giết hại sinh linh, là gây thêm chết chóc, là tạo thêm nghiệp chướng, là... tội lỗi, là không tôn trọng hòa bình. Không rõ Thiền sư có đến Nữu Ước để cúi đầu tưởng niệm cái chết tức tưởi của hơn 3000 người Mỹ kia không. Thiền sư kêu gọi Hòa bình, kêu gọi đừng ‘lấy oán trả thù.’ Như vậy, phải chăng Thiền sư muốn để thù... tiếp tục gây thêm... oán. Ôi, sao mà vị tha, bác ái, nhân hậu, từ bi! Thiền sư không đau cái đau của các gia đình người Mỹ có thân nhân bị chết oan uổng; không xót thương hàng trăm hành khách vô tội đã phải bị ‘hy sinh’ trên bốn chiếc máy bay do quân khủng bố sử dụng; không nghĩ đến cái đau của nhân dân Hoa Kỳ và của Chính quyền Mỹ trước danh dự và quyền lợi bị tổn thương; không nhìn ra cái chế độ phong kiến tàn nhẫn của tập đoàn Taliban cầm quyền đã tước đoạt hết mọi quyền sống của người dân, đã phá hủy cả các tượng Phật từ lâu đời, đã xem tất cả mọi người trên trái đất không theo đạo Hồi quá khích là thù nghịch và chủ trương cuộc ‘thánh chiến’ để chống, để tiêu diệt nền văn minh Tây phương mà nhà cầm quyền Taliban cho là ngược với giáo điều kinh Coran của nhóm Islam quá khích. Từ Bi siết cổ bồ câu! Từ Bi gieo oán gây sầu do đâu? Từ Bi mua rẻ, bán rao Sông kia núi nọ càng cao thây người Tại sao? Tại vì, có thể Thiền sư nghĩ rằng Mỹ là nước giàu mạnh, với dân số 287,733,116[11] người thì hơn 3000 người chết có thấm thía vào đâu; tại vì Thiền sư nghĩ rằng hơn 3000 người Mỹ chết có đáng là bao so với hàng bao trăm ngàn người chết nơi nầy, nơi nọ, nơi kia do Mỹ gây ra, chẳng hạn 200.000 người Nhật đã chết vì hai trái bom nguyên tử của Mỹ dội xuống hai thành phố Trường Kỳ và Quang Đảo; tại vì Thiền sư nghĩ rằng chế độ Taliban là của người Taliban, họ có chà đạp dân họ thì là chuyện của họ; tại vì Thiền sư cho rằng Osama Bin Laden là ‘anh hùng’, là vĩ nhân cứu dân độ thế?! [Nơi đây, chúng tôi không có ý kiến gọi là phán xét về Osama Bin Laden cũng không nêu ra ý kiến về chế độ Tư bản Mỹ, nếu cần sẽ nói tới trong một dịp khác. Chúng tôi chỉ nói về cái đức ‘Từ Bi’ của Thiền sư Nhất Hạnh thôi]. Đành rằng hơn 3000 người chết so với dân số 287,733,116 người quả là ít oi! Nhưng con người ở đâu cũng là người, và bao nhiêu người cũng là người! Đơn độc một người hay một triệu người cũng là người! Chắc Thiền sư, hơn ai hết, phải biết là chỉ cái chết đau thương của một ngưòi thôi cũng đủ gây nên xót thương, cũng đủ để ta thể hiện đức Từ Bi rồi; huống hồ Thiền sư lại là một tu sĩ Phật giáo từng ở thứ bực cao trong hàng giáo phẩm của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất trước đây, và bây giờ trên cương vị một Thiền sư được sự ngưỡng mộ của nhiều người, từ người Việt Nam ở bên trong lẫn ở bên ngoài nước đến nhiều người ngoại quốc ở nhiều quốc gia trên thế giới. Một hay triệu cũng là người Khổ đau một cũng như mười khác chi Áo người hay áo Sa di Hữu sinh hữu diệt Từ Bi ngập ngừng Con đường Điền dã băn khoăn Thiền sư ngoảnh mặt lạnh băng cõi người Đức Phật ngày xưa, trong một tiền kiếp, thấy một con cọp đói lả đang sắp sửa định ăn thịt con cọp con bé nhỏ, đã đau lòng nhảy xuống thế mạng cho chú cọp con kia. Thiền sư Nhất Hạnh chắc chắn không có đức Từ Bi đến độ đó, nhưng bày tỏ lòng từ bi trước một cái chết đau thương thì chắc chắn có thể làm được, nhưng Thiền sư đã không làm, mà chỉ mượn những cái chết như thế để ‘kêu gọi hòa bình’ nhìn từ ‘một hướng’ và mưu lợi cho một phía, bất kể phía đó là phía của tội phạm chống nhân loại. Ôi Hoà bình! Hoà bình trên chết chóc, trên đổ vỡ, tang thương! Thiền sư mong muốn Hoa Kỳ đừng vì cái chết của hơn 3000 người Mỹ, đừng vì tự ái, đừng vì danh dự bị tổn thương mà gây chiến tranh với chế độ Taliban?! o Ý hẳn Thiền sư cho rằng chế độ Taliban là tốt, là đúng, là hay? o Ý hẳn Thiền sư cho rằng người dân A Phú Hãn có phải thân phận đọa đày vì chế độ Taliban, người phụ nữ Taliban có bị tước hết mọi quyền làm người, ngay cả không được đi học, không được làm việc dù là săn sóc những người bất hạnh, chữa bệnh cho những bệnh nhân đau khổ, thì cũng là việc đúng vì để ‘trả cái Nghiệp’ của họ? o Ý hẳn Thiền sư cho rằng cuộc Thánh chiến mà Bin Laden, Omar Charif cùng nhóm Hồi giáo quá khích chủ trương để tiêu diệt tất cả phần nhân loại còn lại là điều cần thiết để Thế giới được sống Hòa bình? o Ý hẳn Thiền sư cho rằng nạn khủng bố mà nhóm Taliban chủ trương là cần thiết vì là phương tiện của kẻ yếu chống với kẻ mạnh để đem lại Hòa bình cho thế giới? o Ý hẳn Thiền sư cho rằng nền văn minh hiện nay là lạc hậu thoái hóa không sánh được với nền Văn minh của chế độ Taliban(!) nên cần phải tiêu diệt? o Ý hẳn Thiền sư nghĩ rằng đức Từ Bi của người Taliban hơn hẳn đức Từ Bi của đức Như Lai, của người Phật giáo nên Thiền sư chẳng có lời nào về việc người Taliban hủy diệt các tượng Phật?... Nhân quyền nhân bản nhân sinh Bồ câu trắng gọi hòa bình đâu đây Đạn bom xé thịt, phanh thây Hận muôn năm cứ như mây chập chùng Thiền sư thuyết giảng lung tung Từ Bi miệng nói mà lòng dửng dưng Và bây giờ, chế độ Taliban đã bị Hoa Kỳ, Anh Quốc và đồng minh cùng người A Phú Hãn đánh tan, sao Thiền sư không nhỏ đức Từ Bi nào cho chế độ đó!? Hàng bao người dân A Phú Hãn phải tức tưởi chết vì bom vải đạn rơi, sao Thiền sư chẳng một bài nào, lời nào xót đau cho họ!? Và anh hùng Bin Laden đang phải sống chui nơi nầy nơi nọ để tránh bị bắt hay bị bom đạn sát hại, có thể đã chết rồi, sao Thiền sư không một lời thông cảm, xót đau!? Vậy thì đức Từ Bi của Thiền sư đặt nơi đâu, về phía nào, và cho ai, nếu không muốn nói ‘đức Từ Bi đó chỉ là hư ngụy’. Nó chỉ là ‘chiêu bài’ nhằm che đậy một ý đồ đen tối nào đó ở phía sau. ‘Lời kêu gọi hòa bình’ với đức Từ Bi đó chỉ là tiếng kêu vào hư không, vào sa mạc, không có đối tượng cụ thể, rõ ràng, nếu quả thật Thiền sư thực sự vì Từ Bi, Bác Ái, vì Hòa Bình, Hạnh Phúc cho tất cả nhân quần. Từ Bi với ai, Hòa Bình cho ai? Một nhãn hiệu, một chiêu bài hay một chủ trương lừa bịp, mị dân? Thiền sư đã từng ‘chắp tay cầu xin Bồ Câu Trắng hiện’ nhưng tội nghiệp cho Bồ Câu Trắng, nó đã phải chết đớn đau vì đức Từ Bi theo lối trên của Thiền sư; nó đã phải chết vì lối ‘kêu gọi hòa bình’ của Thiền sư. Thay vào đó là những diều hâu, những ưng ó đang lồng lộn giữa vòm trời dông tố bão bùng để rút rỉa thịt xương những ‘bồ câu trắng’ bé nhỏ đang co quắp, cóng tê giữa vòm trời gió mưa vần vũ. Xin gởi đến Thiền sư đôi dòng thơ tuy lời chẳng hay ho gì. Ôi! Bồ Câu Trắng của tôi Em nơi đâu? Sao không về? Sao không đến? Hay đang làm mồi cho diều hâu, ưng ó Móng sắc, cánh dài, mỏ đỏ Phanh thây, xé xác thịt da em? Đào huyệt chôn em Chính Thiền sư đó Miệng nói ‘Từ Bi’ Tay huơ bảng hiệu Hòa Bình Bảo em là người tình Tôn em thành thần tượng Cho diều hâu, ưng ó liên hoan! Tóm lại, với những ai thực sự chống cường quyền, bạo lực, chống áp bức, bất công, chống bóc lột, khủng bố, chống chà đạp nhân quyền; những ai mong muốn Hoà bình, Tự do thực sự thì mọi việc làm chính trị của Thiền sư Nhất Hạnh, nếu không muốn nói là giả hình, che đậy một ý đồ nào, thì cũng chỉ là những phát biểu ‘lấy có’, những tiếng kêu vào rỗng không. Sở dĩ thế là vì Thiền sư Nhất Hạnh chưa nhìn ra ‘diễn trình sinh hóa của nhân sinh’ mà Đức Phật đã nói qua cách lập ngôn u mật, qua cái ‘Biện Chứng Bát Nhã’ như đã nói trên; Thiền sư chưa giữ được cái ‘Trung Đạo,’ cái ‘Tính Không,’ cái ‘Tâm bất nhị’ dù công phu ‘tu thiền’ đến mấy. Xin nhắc lại: ‘Đức Từ Bi của Phật giáo luôn luôn đi đôi với Tâm Bình Đẳng’. Thiền sư Nhất Hạnh vô tình – hay cố ý – quên điều đó. Vì thế, Thiền sư đã làm lợi cho kẻ ác, Đức Từ Bi theo lối đó đã khuyến khích kẻ ác gây thêm tội ác. Chúa Jésus đã ngậm ngùi: ‘Khốn nạn thay cho ai là kẻ gây nên phạm tội’ (Ma: 18-7). Xin mượn lời nầy gởi đến Thiền sư.
Nguyễn Thùy & Trần Minh Xuân
Vài con số cần biết liên quan đến tội ác Việt cộng: • Ở Huế cuộc tắm máu Tết Mậu Thân 1968 Việt cộng đã chặt đầu, chôn sống khoảng 4,000 người, trong số nầy có 4 nhơn viên y khoa Tây Đức làm công tác nhơn đạo cho dân chúng tại Huế[12].
• Đầu tháng 4 năm 1975, theo tài liệu được trích dẫn bởi Ralph Kinner Bennett trong bài ‘On The Trail Of Hidden Massacre’ được đăng trên Reader’s Digest, số tháng 9 năm 1986, trang 118, một cuộc tàn sát tập thể cũng đã xảy ra ở Phú Yên và Khánh Hòa. Theo đó, khi quân đội Việt Nam Cộng hòa rút khỏi Phú Yên, tại các xã Thọ Vực, Lù Ba, Cây Xộp, Hố Ngựa và Cầu Dài, người ta đã khám phá ra nhiều hố chôn vùi xác tập thể, trong đó có một hố chôn 223 xác, một hố chôn 85 xác, hầu hết đều bị trói, nạn nhơn bị Việt cộng đánh bể đầu, có kẻ khác bị đâm, có người bị bắn chết[13].
• Khi Cộng sản Bắc Việt hoàn tất cuộc xâm lăng chiếm được Miền Nam Việt Nam, với sự giúp đỡ tận tình của Liên Bang Sô Viết, Trung Cộng và nhiều nước Xã hội Chủ nghĩa, chúng mau lẹ cho tiến hành cuộc ‘tắm máu trắng’ và hành quyết ít nhứt 65,000 người, từ năm 1975 đến năm 1983, theo tài liệu nghiên cứu suốt 3 năm dài của Giáo sư Karl Jackson thuộc phân khoa Khoa học Chánh trị Đại học Berkeley và Giáo sư Jacquelines Desbarats thuộc Đại học North Western University ở Everton, Illinois. • Theo lời Nguyễn Công Hoan, một Dân biểu Việt cộng đào thoát hiện đang sống ở California, thì “dù không có cuộc tắm máu qui mô nào xảy ra tại các thành phố lớn, nhưng ở các tỉnh xa, ở nơi mà không có các quan sát viên ngoài đảng, thì sự giết tróc lan tràn và được thực hiện dưới nhiều hình thức.[14]” • Theo ‘Violations of human rights in the socialist republic of Việt Nam, 1975’ do Aurora Foundation ấn hành ở California vào các tháng 12 năm 1988 và tháng 12 năm 1989, các trang 35-36, thì có khoảng 373 người bị giết ở Phú Khánh bằng súng máy; xác của họ được tìm thấy còn buộc lại với nhau và dìm chết ở sông Đà Rằng; sáu người khác bị giết bằng cách đập vỡ sọ[15]. • Trước khi xảy ra chiến tranh giữa hai miền Nam Bắc Đảng và Nhà nước Việt cộng cũng đã có một số vụ điển hình khủng bố nghiệt ngã dã man nhắm vào trí thức và người dân, như vụ ‘đàn áp, trừng trị’ nhóm ‘Nhân Văn giai phẩm,’ hay vụ ‘đấu tố tàn ác’ trong cuộc ‘Cải cách ruộng đất’ theo mô thức dã man tàn ác của Trung cộng, khiến cho cho 5% nạn nhân vô tội bị thảm sát dã man trên tổng số 13 triệu dân Miền Bắc từ năm 1952 tới năm 1956 [tức khoảng 650,000 người bị thảm sát bằng đủ mọi phương cách dã man tàn bạo và vô luân[16]] [1] Như Khối Âu Châu hiện nay. [2] L’Histoire se fait mais ne se connait pas. [3] Xin không nêu chứng minh. [4] Kinh Hoa Nghiêm, sđd, Phẩm Thập Hồi hướng. [5] Kinh Pháp Bảo Đàn, sđd, trang 42. [6] Nguyễn Thùy, ‘Ngụ ngôn-Trùng ngôn,’ Mekong-Tỵnan, California, Hoa Kỳ, 1990. [7] Gợi nhớ hình ảnh Đức Bồ Đề Đạt Ma cửu niên diện bích. [8] Chúng tôi quan niệm ngày 30-4-1975 chỉ là ngày kết thúc một trận chiến chớ chưa kết thúc cuộc chiến Quốc-Cộng. [9] Dân các vùng đất bị Việt cộng cắt dâng cho Trung cộng phải chịu sự cai trị của bạo quyền nước nầy. Đây là điều gây rắc rối không ít cho cả hai nước Xã hội Chủ nghĩa ‘cha con’ Việt-Trung. [10] Con số được ghi nhận sau một năm biến cố 11/9/2002 xảy ra. [11] Con số thống kê ghi được trên internet ngày 8-8-2002. [12] Nguyễn Văn Canh, Cộng Sản Trên Đất Việt, Kiến Quốc phát hành, 2002, trang 315. [13] Sđd, trang 17. [14] Xem Nguyễn Văn Canh & Trần Minh Xuân, Thuyền nhân và bạo lực, Mekong-Tỵnạn, 1991, trang 62. [15] Sđd, trang 62. [16] Xem Nguyễn Văn Canh, Cộng Sản Trên Đất Việt, Kiến Quốc phát hành, 2002, trang 24.
|