|
opinion |
Việt Điển |
tự do ngôn luận, |
|
|
Nguyễn Thùy trang 2
sĩ Tây
Sơn’ do Nguyễn Huệ thống lãnh là bao nhiêu, chắc là ít hơn nhiều so với quân
Thanh, vì thế nên mới có việc mộ binh mà anh cho là tàn ác. Theo đó thì, so sánh với ‘người da đen đơn sơ đã chống trả, đánh tan đạo Quân Pháp’ thì ‘chiến thắng Đống Đa’ phải là ‘hiển hách’ chứ không là ‘không đáng kể’. Cho dù Nguyễn Huệ là tướng cướp nhưng một tướng cướp mà trở thành anh hùng dân tộc thì cũng tốt lắm chứ. Anh muốn so sánh trận Đống Đa với những trận chiến thời Đế quốc La Mã, thời Napoléon hay thời Đệ nhất và Đệ nhị Thế chiến sao? Theo anh thì Nguyễn Huệ là ‘tướng cướp’, là ‘thảo khấu’[1], là ‘con người hung bạo đánh tất cả mọi người’[2] và ‘tâm lý tôn thờ Nguyễn Huệ thật là dễ sợ’[3]. Cho dù về mặt cá nhân, Nguyễn Huệ xấu tàn xấu mạt như thế nhưng phủ nhận hay hạ giá trị một nhân vật lịch sử đã có công với dân tộc thì là quả anh đã tự mâu thuẫn với câu anh viết (mà tôi đồng ý) đã trích trên: anh đã suy luận như một cá nhân chứ không phải như một dân tộc. Qua sách anh, Nguyễn Huệ quả là hung thần, ác quỷ nhưng dưới mắt và trong lòng nhân dân ‘trận Đống Đa và hàng ngàn (xin nói là ‘hàng ngàn’ thôi) quân Thanh bỏ mạng và riêng Tôn Sĩ Nghị phải trốn chạy’ thì quả là những hình ảnh đáng tự hào của dân tộc. Tôn thờ Nguyễn Huệ, không ai tôn thờ những cái tàn độc, xấu xa của Nguyễn Huệ mà tôn thờ một nhân vật có công với đất nước thôi. Anh bảo: ‘Thực ra các tài liệu nhà Thanh cho thấy một cách rõ rệt là vua Càn Long không có ý định đánh chiếm nước ta. Không những thế vua Càn Long còn cấm Tôn Sĩ Nghị giao chiến. Nhà Thanh can thiệp vì có sự cầu cứu của mẹ vua Lê Chiêu Thống và đám quần thần nhà Lê, nhưng ý đồ của họ chỉ là dọa để Nguyễn Huệ thần phục Lê Chiêu Thống, và ngay cả Nguyễn Huệ cứng đầu không chịu cũng chỉ giúp Lê Chiêu Thống có thanh thế mà chiêu tập lực lượng để chia đất với Nguyễn Huệ mà thôi’[4]. Anh tin vào Sử nhà Thanh, nhưng sử đó viết vào lúc nào, ngay thời Càn Long còn tức vị hay sau nầy? Mà dù có vào lúc Càn Long còn tức vị hay sau nầy thì chắc gì đã đúng. Liệu các Sử đó có ý ‘gỡ sĩ diện’ cho Càn Long và nhà Thanh trước thảm bại đớn đau của đoàn quân xâm lăng? Nếu chỉ vì lời yêu cầu của mẹ vua Lê Chiêu Thống và đám quần thần mà đem quân can thiệp thì việc làm của Càn Long chỉ vì tình cảm chứ không vì chính trị; Càn Long là vị vua có tài, có trí, hẳn không làm như thế. Nếu chỉ để dọa Nguyễn Huệ phải thần phục Lê Chiêu Thống thì với ‘bản tính hung bạo’ (như anh viết), làm sao Nguyễn Huệ chịu nghe. Còn như để Lê Chiêu Thống ‘có thanh thế mà chiêu tập lực lượng để chia đất với Nguyễn Huệ’ thì là Càn Long muốn dùng ‘người Việt giết người Việt’ để sau đó có cơ thôn tính Việt Nam. Nếu quả như thế thì Càn Long khôn ngoan trong thủ đoạn ‘thực dân’ nhưng Nguyễn Huệ đã phá vỡ âm mưu đó của Càn Long, như thế là tốt cho đất nước chứ? Ý kiến thô thiển nầy của tôi chắc là không đúng theo ý anh. Trang 162, anh viết: ‘‘...sợ quân Thanh quay lại phản ứng, Nguyễn Huệ ra lệnh cho dân chúng Thăng Long phải đắp xong trong vòng ba ngày một chiến lũy xung quanh để phòng thủ. Các giáo sĩ có mặt tại đó không thể nào tưởng tượng dân chúng Thăng Long có thể làm được điều đó. Nhưng họ đã làm được, họ đã làm tới kiệt sức vì sợ Nguyễn Huệ tàn sát, họ biết Nguyễn Huệ không hề do dự trước sự chém giết. Tường xây lên xong, các giáo sĩ kinh hoàng, họ đặt tên cho Nguyễn Huệ là ‘Attila mới’ từ đó’’. Tôi không rõ có sự việc nầy không. Mà dù có xảy ra thì ‘xây chiến lũy phòng thủ’ là việc nên làm. Nhưng điều nầy có ‘mâu thuẫn’ với đoạn anh vừa viết trên không ‘Vua Càn Long không có ý định đánh chiếm nước ta’. Có thể vì sợ lệnh nên một số dân phải làm đến kiệt sức nhưng một việc làm cần thiết cấp bách cho đất nước, thì phải thế. Chiến lũy đó sao bây giờ không còn di tích? Ai đã phá chiến lũy đó? Gia Long chăng? Vả lại, thưa anh, trong lịch sử Thế giới, bao nhiêu công trình đồ sộ, những di tích lịch sử quy mô, ngày nay đã ‘làm giàu’ cho bao quốc gia chẳng đã do sự tàn ác của các vua chúa, lãnh chúa đã hy sinh xương máu nhân dân xây dựng nên chăng, như Kim Tự Tháp, như ‘Vạn lý trường thành’? Các quốc gia đó bây giờ đã ‘hưởng lợi’ trên hàng vạn vạn hài cốt quần chúng nhân dân do tính ác độc của tiền nhân họ, lấy cớ ‘an ninh’ hay chỉ vì để thỏa mãn một sở thích như một cung A Phòng, một nền Đồng tước, như những ‘đấu trường’ ở La Mã, những ‘châteaux forts’, cung điện, đền đài tại Âu Châu,... Việt Nam ta không có những ‘di tích lịch sử’ qui mô như thế, phải chăng do vua chúa Việt Nam nhân từ hay ‘ngu dốt không biết độc ác’? Các giáo sĩ kinh hoàng, đặt tên cho Nguyễn Huệ là ‘Attila mới’, có thể các giáo sĩ nầy quên nghĩ đến tiền nhân của họ đã từng là ‘Attila’ mà chỉ ‘xúc động’ trước cảnh dân chúng Thăng Long cực nhọc đến kiệt sức thôi. ‘Nhất tướng công thành, vạn cốt khô’, lời xưa từng nói như vậy, nếu cái ‘công thành’ đó chỉ cốt tạo danh, tạo quyền cho vị tướng hay cho bè đảng của ông thì quả là ác độc; ngược lại, nếu cái ‘công thành’ đó nhằm tránh một tai nạn, một hiểm họa cho đất nước, dân tộc về lâu về dài thì cái ‘vạn cốt khô’ kia, nghĩ ra, là điều cần thiết, điều khó tránh. Nếu muốn ‘trách cứ’ Nguyễn Huệ trong việc bắt dân Thăng Long đắp chiến lũy trên thì nên trách Nguyễn Huệ đã lơ là không lo cho dân chúng đủ ăn đủ uống trong công tác nhọc nhằn nầy thôi. Anh ‘ác cảm’ gì với Nguyễn Huệ hay anh ‘hằn học’ với những ai đó mà không chịu nghĩ xa hơn? Anh lại viết: ‘Nhưng anh em Tây Sơn đã làm một việc khác rất lớn, rất tai hại cho chúng ta và đã khiến chúng ta là chúng ta ngày nay; đó là phá tan và chấm dứt hơn hai thế kỷ tiếp xúc và giao thương đầy hứa hẹn với thế giới bên ngoài, nhất là phương Tây’[5] vì đã phá tan Phố Hiến và Hội An ‘doanh nhân nước ngoài bỏ chạy kinh hoàng và không bao giờ trở lại Việt Nam nữa’[6]. Đúng vậy, nhưng anh em Tây Sơn nào có ý thức gì về việc đó đâu, nào có chủ trương đánh giết doanh thương ngoại quốc đâu, cũng như không để ý đến Tôn giáo, không bài xích việc truyền đạo như thời các vua triều Nguyễn. Sự việc nầy là một ‘lỗi lầm lịch sử’ (nếu muốn nói thế) chứ không là lỗi lầm của anh em Tây Sơn. Mà sao có lỗi lầm lịch sử đó cũng như bao lỗi lầm lịch sử khác[7]? Anh sẽ bảo là do ‘tôn trọng bạo lực, do không nhìn ra thế giới bên ngoài, do một văn hóa tồi tệ[8], do cái ‘software’ của người Việt Nam tồi dở’. Cho là đúng đi, nhưng tôi lại nghĩ rằng ‘có một cái gì đó’ đúng hơn những điều anh nói và chính do nó mà mọi cái tồi dở của con người Việt Nam, của dân tộc Việt Nam đã phát sinh[9]. Doanh thương Tây phương không đến lại Việt Nam vì sợ cảnh tàn sát của anh em Tây Sơn nhưng rồi sau đó họ lại đến, nhất định phải đến[10] vì đấy là qui luật phát triển của dạng thức ‘Kinh tế thị trường’ đang phôi thai. Xét trên mặt địa lý, nhân loại từ khởi thủy đến nay, có ba nền Văn minh: văn minh lục địa, văn minh hải đảo và văn minh không gian[11]. Thuận theo chiều hướng đó, dân tộc ta phát triển về phương Nam, tạo ra nền ‘Văn minh hải đảo sông Cửu’ trong lúc nền ‘Văn minh sông Hồng là nền Văn minh lục địa’. Và khi dân tộc ta hoàn tất cuộc Nam tiến đến Cà Mau thì phương Tây đã rời bỏ chế độ kinh tế nông nghiệp và thủ công tiến sang nền kinh tế công nghiệp và thương mãi. Trong lúc đó Việt Nam và Á Châu vẫn còn trạng thái kinh tế nông nghiệp thủ công. Và Tây phương cần thị trường. Cuộc Nam tiến đến mũi Cà Mau để tạo nền Văn minh sông Cửu do nhu cầu mở rộng đất sống, nhưng cũng để tạo điều kiện tiếp đón nền Văn minh hải đảo từ ngoài tràn vào. Và dân tộc ta lại phải đón nhận bao nghiệt ngã, điêu linh do Văn minh hải đảo đến từ Tây phương[12] như miền Bắc đã phải trải chịu tai ương do nền Văn minh lục địa bởi ảnh hưởng của Văn hóa Trung Hoa và Ấn Độ. Và toàn thể Đất nước ta đã ở vào vị trí khá tốt, tiếp nhận được hết mọi trào lưu văn hóa của thế giới. Ông cha ta tiến vào phương Nam chỉ nghĩ cần mở mang đất sống, nào đâu biết sẽ tạo nên một vị trí thuận lợi như thế cho dân tộc về sau. Lịch sử có những bước đi của nó, ra ngoài ý chí, dự liệu của con người. Nói theo Jean Paul Sartre là ‘Lịch sử tự tạo mà không tự thức’[13]. Nói về Nguyễn Huệ, anh không hề lưu ý việc Nguyễn Huệ biết dùng trí thức (sĩ phu thời đó) như Ngô Thời Nhiệm, như La Sơn phu tử (hỏi ý kiến ông nầy) và việc Nguyễn Huệ dùng chữ Nôm thay cho chữ Hán. Anh chỉ để ý đến cái xấu của Nguyễn Huệ mà không để ý đến những việc làm tốt của Nguyễn Huệ đối với đất nước để quả quyết rằng ‘nhưng thần tượng Nguyễn Huệ thiên tài quân sự, anh minh, sáng suốt và nhân nghĩa chỉ là một xuyên tạc lịch sử có dụng ý’ và ‘tôn sùng Nguyễn Huệ là một tâm lý rất tai hại mà ta cần chấm dứt’[14]. Có phải vì anh thấy Mặt Trận của nhóm Hoàng Cơ Minh đề cao Nguyễn Huệ, lấy đấy làm động lực kích thích cuộc đấu tranh chống Cộng sản bằng bạo lực mà anh phải giáng cho Nguyễn Huệ những ‘đòn’ chí tử do từ anh ‘coi khinh’ lối chống Cộng của họ?[15] Hay vì nhóm Hoàng Cơ Minh đã bằng những lời lẽ thô bạo ‘xúc phạm’ đến anh và nhóm Thông Luận mà anh thấy khó thể thẳng thắn, trực tiếp nói ra nên ‘giận cá chém thớt’ bằng cách ‘chém chết’ cái ‘thần tượng’ của nhóm nầy? Tôi nghĩ một trí thức như anh không làm những việc như thế; chẳng qua vì để biện minh cho chủ trương và quan điểm của anh và của nhóm Thông Luận là phải vứt bỏ cái tâm lý cùng nền văn hóa ‘tồi dở’ trước đây mà anh phải ‘chơi trò khổ nhục kế’ hay ‘làm bước nghịch hành’ như tôi dự đoán nơi phần I thư nầy, tuy nhiên, dù có chủ tâm như thế thì lời lẽ cũng không nên quá đáng. Trong chương 9 phần 2, dựa vào nhan đề quyển ‘Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử’ của Nguyễn Kiên Trung[16], anh viết: ‘Lịch sử phải chính xác và khách quan mới có thể dùng làm tài liệu để suy nghĩ và làm việc. Đem tâm tình để đọc lịch sử cũng đã là điều phải rất thận trọng, còn đem tâm tình mà viết lịch sử là điều hết sức nguy hiểm. Tâm tình nhất định là chủ quan rồi. Nếu tâm tình của mình sai lệch thì sao? Mình có thể đầu độc những tâm hồn trong trắng. Nhưng ‘Đem tâm tình viết lịch sử’ là một truyền thống thuộc văn hóa Trung Hoa. Các quan viết sử nhục mạ và bôi bẩn một số nhân vật làm cho họ bị đời sau nguyền rủa đồng thời cũng tâng bốc, làm đẹp và thánh hóa một số nhân vật khác để làm gương mẫu cho các thế hệ sau’[17]. Đúng vậy, ai cũng nghĩ thế, tuy nhiên, tôi thấy cũng cần nêu lên đôi điều dè dặt. Trước tiên, anh hiểu ‘Đem tâm tình viết lịch sử’ là ‘Viết lịch sử bằng tâm tình’, ‘dùng tâm tình viết lịch sử’, trong lúc đó, tôi (dù chưa đọc sách nầy) lại hiểu nhan đề đó là ‘Viết lịch sử với tất cả tâm tình của mình’, ‘Viết lịch sử với tất cả chân tình’[18]. Hai chữ ‘bằng’ và ‘với’ khác nghĩa nhau nhiều lắm. Cùng một nhan đề mà anh và tôi đã hiểu khác nhau[19] thì việc đọc, viết và suy nghĩ về lịch sử chắc cũng rất nhiều khác nhau. Tôi cũng chưa đọc tác phẩm đó nên không thể nói nhiều. Lịch sử muốn hoàn toàn khách quan thì chỉ là ‘Lịch sử theo lối biên niên’, nghĩa là chỉ ghi lại sự kiện, không cần nói đến động cơ, nguyên nhân, diễn tiến, hậu quả của từng sự kiện. Lịch sử, như thế, chỉ là những ‘bức hình’ được chụp lại nguyên bản[20]. Trước nay, hầu như không có một quyển sử nào như thế. Tôi có lược qua những khó khăn của người viết sử và một số cách viết sử trong đôi tác phẩm của tôi nhưng không trích nơi đây, nghĩ rằng một trí thức như anh hẳn đã quá biết. Theo tôi: ‘Lịch sử là chuổi dài nối tiếp nhau của các dạng hiện hữu trong một dạng thức Tư hữu-Chiếm hữu nhất định nào đó’. Nước ta, cho mãi đến nay, cũng như Âu Tây từ tiền bán thế kỷ XVIII trở về trước, vẫn lẩn quẩn trong ‘dạng thức Tư hữu và Chiếm hữu phong kiến’ với nền Kinh tế Nông nghiệp và thủ công. Trong dạng thức ‘Tư hữu-Chiếm hữu’ đó, lịch sử thường được ‘định đoạt’ bởi ‘vua quan, anh hùng, hiệp sĩ, lãnh chúa, lãnh vương, gian hùng, bạo chúa, bởi ‘tài ba, khả năng riêng’ của từng người, áp đảo, chinh phục được số đông bằng sức mạnh của thể xác, của cơ mưu và quyền lực (họa hoằn mới có một sĩ phu, một trí thức). Trong dạng thức Tư hữu-Chiếm hữu phong kiến đó, giới trí thức thường giữ vai trò hỗ trợ chứ khó có thể đóng vai trò lãnh đạo[21]. Tôi không rõ những vua Pharaons, những Cézar, những người thuộc dòng Borgia ở Ý, những vì vua của một số nước Âu Châu trước đây, trước khi lên địa vị ‘lãnh đạo’ có là những ‘trí thức uyên bác’ hay không. Ở Á Châu thì thường là như thế nhưng không phải do Văn hóa Trung Hoa. Một điều nữa cần nên nói là: Trong dạng thức Tư hữu-Chiếm hữu phong kiến với nền Kinh tế Nông nghiệp và thủ công thì việc trị nước được quan niệm là ‘Nhân trị’ chứ không là ‘Pháp trị’. Mỗi vị vua, mỗi lãnh chúa tự đặt ra luật pháp, rồi tự mình hành xử, bắt buộc nhân dân tuân phục. Gặp vị vua anh minh, nhân từ thì nhân dân nhờ vì vị vua đó đã lấy ‘đức’ mà cai trị (Đức trị); ngược lại là nhân dân khốn đốn, lầm than. Từ cuối Thế kỷ XVIII, một số nước Âu Châu rời bỏ dạng thức ‘Tư hữu-Chiếm hữu phong kiến’ với nền Kinh tế Nông nghiệp thủ công[22], tiến sang nền Kinh tế Công nghiệp và Thương mại, đưa dạng thức Tư hữu Chiếm hữu phong kiến sang dạng thức ‘Tư hữu-Chiếm hữu thuộc địa’, trong lúc đó Việt Nam (Á châu nói chung) vẫn còn trì trệ với dạng thức Tư hữu-Chiếm hữu phong kiến. Các nước Á Châu bị một số nước Âu Châu chinh phục, thống trị hầu như là điều dĩ nhiên vì dạng thức Tư hữu Chiếm hữu mới nầy cao hơn dạng thức Tư hữu-Chiếm hữu phong kiến, cũng như ‘Văn minh hải đảo’ cao hơn ‘Văn minh lục địa’. Nhưng dạng thức Tư hữu-Chiếm hữu thuộc địa nầy đã phải nhường bước cho một dạng thức Tư hữu-Chiếm hữu mới cao hơn là dạng thức ‘Tư hữu-Chiếm hữu thị trường’ từ sau Đệ nhị Thế chiến. Dạng thức Tư hữu-Chiếm hữu thị trường, theo tôi, đang trên đà tự nó cáo chung do đỉnh cao phát triển của nó để nhân loại tiến đến một nền ‘Kinh tế hỗ tương’, còn Tư hữu nhưng không còn phải cần thiết Chiếm hữu[23]. Sự việc ‘Toàn cầu hóa’ và ‘chống Toàn cầu hóa’ hiện nay là báo biểu. Cái gì đã là động lực cho diễn biến đó? Đấy là ‘Lẽ Tiến hóa’ với những qui luật của nó, xin không nói nơi đây. Lời Jésus, lời Thích Ca nói về Lẽ Tiến Hóa đó theo một cách lập ngôn u mật mà trước nay chưa để ý đến thôi. Các nhà viết sử Việt Nam trước đây -mà có thể ngay tại nhiều nước- đã viết sử trong cái tâm lý bị chi phối bởi dạng thức Tư hữu-Chiếm hữu phong kiến chứ không hẳn do ‘thuộc văn hóa Trung hoa’ như anh bảo; và chính các nhà viết sử Trung Hoa cũng như thế. Qua cách định nghĩa lịch sử của tôi vừa nêu trên, tôi quan niệm ‘lịch sử nhân loại từ khởi thủy đến nay chỉ là lịch sử Tư hữu-Chiếm hữu qua nhiều dạng thức khác nhau’. Tôi và anh Trần Minh Xuân đã phân tích trong tác phẩm ‘Nhân loại mới...’[24]; từ đó, chúng tôi dự đoán lịch sử sắp tới của Thế giới theo hai qui luật mà chúng tôi phát hiện và cũng từ đó chúng tôi nói đến cái ‘hạnh vận’ của Việt Nam. Ở hai trang 234 và 235, nói đến ‘Một Chuyển Tiếp Tự Nhiên’, anh nêu ra hai điểm ‘tích cực’ của chế độ Cộng sản là: ‘tiêu diệt được óc tôn sùng bằng cấp, một căn bệnh tâm thần rất tai hại của người Việt...; quá chú trọng bằng cấp mà đã cấp phát bừa bãi cho đảng viên những học vị to lớn khiến bằng cấp trở thành những mảnh giấy lộn không hơn không kém. Tình trạng nầy đưa đến hậu quả tốt mà họ không ngờ là con người từ đây sẽ chỉ được đánh giá theo khả năng... Nói cách khác, người ta sẽ phải có thực học thay vì chỉ cần học vị. Đấy là một cuộc cách mạng văn hóa rất lớn mà vô tình Đảng Cộng sản đã làm được’ và ‘Hai là nó (đảng Cộng sản) đã phần nào biến dân tộc Việt Nam từ một dân tộc từ chương, công chức và làm thành công một dân tộc buôn bán và kinh doanh’. Cộng sản tiêu diệt óc tôn sùng bằng cấp rồi cấp phát ‘bằng cấp giấy lộn’, và đấy là ‘hậu quả tốt’, đấy là ‘cuộc cách mạng văn hóa rất lớn’ mà họ vô tình làm được vì từ nay con người chỉ được đánh giá theo khả năng. Tôi thấy không cần lý luận với anh về điểm nầy, chỉ xin nói rằng ‘một trí thức bằng cấp cao như anh, có thừa khả năng chứ không phải là thứ ‘học vị’ mà không chịu làm công cụ cho chúng thì chúng cũng ‘vất’ qua bên và cho rằng ‘trí thức không bằng cục phân’ như Mao Trạch Đông đã bảo’. Cộng sản vô tình, ‘hoàn toàn vô tình biến dân tộc Việt Nam từ từ chương công chức thành một dân tộc buôn bán và họ đã thành công’. Chao ôi! Biết nói sao với anh? Buôn bán ư? Buôn hàng lậu, buôn gái tơ, buôn trẻ con (vấn đề con nuôi), buôn bán thân xác, xuất cảng lao động, buôn bán bằng ‘bia ôm, cà phê ôm, karaoke ôm,...’ Kinh doanh ư? Kinh doanh bằng nhập cảng hàng ngoại (đặc biệt của Trung Cộng), phá hoại tài nguyên để xuất cảng, kinh doanh bằng quán ăn, tiệm nhảy, bằng xây khách sạn, sân chơi; kinh doanh bằng móc ngoặt, hối lộ; kinh doanh bằng mua nhà, tậu khách sạn nơi nước ngoài. Cũng là kinh doanh cả đấy nhưng không do lòng yêu nước, không để phát triển đất nước mà chỉ để làm giàu và hưởng thụ cho cá nhân, gia đình, cho tập đoàn lãnh đạo. Người Việt Nam mở được cơ xưởng kỹ nghệ nào dù là thủ công cũng khó lòng đứng vững, nếu không đến phá sản do không đủ tiền hối lộ, đóng thuế, vì thủ tục rườm rà, vì không cạnh tranh nổi với hàng ngoại nhập, vì... Trung Cộng không muốn một Việt Nam phát triển. Lối ‘cách mạng văn hóa’ đó, lối ‘buôn bán kinh doanh’ đó của Cộng sản đã đưa Việt Nam trở thành một trong những nước nghèo nhất thế giới, anh cho đấy là ‘thành công’ sao? là bước chuyển tiếp tốt đẹp sao? Mọi tiện nghi văn minh bên ngoài được nhập cảng, được vay mượn đó với một ‘hạ tầng văn hóa’ suy đồi, chỉ đưa đến ‘giết chết’ truyền thống văn hóa, càng khiến cho ‘văn hóa thêm tồi, con người thêm tồi’. Cái nhìn của anh về Việt Nam hiện nay chẳng khác cái nhìn của một khách du lịch nước ngoài, chỉ quẩn quanh nơi một số thị trấn, nhìn hời hợt bên ngoài, nhìn thoáng qua lớp vỏ chứ không thấy được cái bên trong rũa nát ra sao, hoặc chỉ tin vào báo chí truyền thanh, truyền hình của Đảng cộng. Anh còn bảo: ‘Anh không quá lo ngại về sự băng hoại của đạo đức hiện nay... Tất cả những đức tính đó (những con người có khả năng, chăm chỉ, lương thiện và nhã nhặn) một sinh hoạt kinh tế thị trường đúng nghĩa, nhất là hoạt động buôn bán sẽ đem lại’. Anh hiểu thế nào là ‘sinh hoạt kinh tế thị trường đúng nghĩa’? Kinh tế thị trường, do ‘tự do kinh tế’, do cạnh tranh và sáng chế, đưa đến tiến bộ, văn minh; nhưng chỉ trên mặt tiện nghi vật chất chứ không mấy chú ý đến giá trị đạo đức, cho dù thành quả của Kinh tế thị trường có ảnh hưởng đến đạo đức. Tôi hoàn toàn không tin ‘nền kinh tế thị trường với hoạt động buôn bán đem lại cho con người tính lương thiện’. Kinh tế thị trường chỉ nhằm vào lợi nhuận, vào làm giàu, vào hưởng thụ, vào vui chơi, vào thời trang; nhìn tất cả, kể cả con người, đều là năng lượng, hàng hóa, của cải để khai thác và tiêu dùng. Nền Kinh tế thị trường đó nằm trong tay giới tài phiệt gồm chủ nhân xí nghiệp, kỹ nghệ, ngân hàng, các cơ sở thương mãi và dịch vụ lớn có tầm vóc quốc tế,... Nền Kinh tế thị trường đó đầu tư vào Khoa học Kỹ thuật để hưởng thụ thành quả của Khoa học kỹ thuật ứng dụng vào Kỹ nghệ và Thương mãi chi phối hết mọi sinh hoạt của các quốc gia, tạo nên những cạnh tranh không ngừng về kỹ thuật, thị trường, giá cả, mãi lực, sức mạnh vũ khí,... Tôi không là nhà Kinh tế, cũng chẳng nghiên cứu gì về Kinh tế nên nói những điều nầy với anh chẳng khác ‘múa rìu qua mắt thợ’. Anh cứ cười nhưng tôi nói theo cái hiểu biết nông cạn của tôi. Nền Kinh tế thị trường đó đang xáo trộn cuộc sống con người và xã hội, đưa con người luôn luôn bấn loạn vì phải đuổi bắt tiện nghi cho hợp với thời trang, hợp với mọi ‘tiến bộ’ thần tốc của những phát minh, sáng chế, hợp với vận tốc của thời gian cơ giới của xã hội công nghiệp đang trên đà ‘tự động hóa’, ‘robot hóa’. Tự do, Bình đẵng, Nhân quyền, Dân chủ, tuy luôn được đề cao nhưng thực chất chỉ có giá trị lợi dụng cho tâm lý ‘Tư hữu-Chiếm hữu’ đến cùng độ của Tư bản tài phiệt. Tôi và anh Trần Minh Xuân đã viết trong Nhân Loại mới...: ‘Tự do, Bình đẵng luôn là thứ mà kẻ yếu đòi hỏi, biến thành vũ khí của kẻ mạnh để nhân danh và là của cải của ai có điều kiện, có phương tiện’. Nền Kinh tế thị trường đã đưa đến cái logic trong việc ‘hợp lý hóa’ trong tổ chức xã hội, tuy có nhiều bảo đảm, nhiều dự phòng tốt đẹp cho cuộc sống[25] và tuy có tạo ra nhiều công ăn việc làm về nhiều mặt, nhưng, theo tôi nhìn thấy nơi các quốc gia tiên tiến hiện nay, đặc biệt tại Pháp, đã hầu như đưa đến tình trạng ‘áp bức không nguyên nhân, khổ đau không chứng cớ, tội lỗi không tìm ra thủ phạm’[26] và tình trạng ‘sung túc mà nghèo nàn, ổn định mà bất an, tự do mà ràng buộc, người giàu giàu thêm, người nghèo nghèo mãi’. Xin không dám dông dài thêm. Nền Kinh tế thị trường và nền Dân chủ pháp trị tại một số quốc gia tiên tiến hiện nay đang bày ra bao cái ‘ngột ngạt’ cho cuộc sống con người, bao tệ nạn xã hội. Thế giới và riêng nước Pháp ngày nay đang chứng kiến và phải đối phó với bao nhiêu vấn đề do sự suy đồi của đạo đức. Nền Kinh tế thị trường đó đã và đang khiến thế giới ngày nay rắc rối, phức tạp ra sao do phải cạnh tranh về mọi mặt giữa các quốc gia tiên tiến. Dĩ nhiên, như tôi có nói ở trên, Kinh tế thị trường là con đẻ của dạng thức ‘Tư hữu-Chiếm hữu thị trường’ trên diễn trình Tiến hóa của nhân sinh; chúng ta không thể không theo vì đấy là một ‘tất yếu lịch sử’ nhưng phải làm sao ngăn ngừa đạo đức không băng hoại. Vì thế, tôi rất muốn biết ‘thế nào là Kinh tế thị trường đúng nghĩa’, có phải do ‘một nhà nước dân chủ pháp trị đúng đắn, tin tưởng vào kinh tế thị trường và khai thác mọi ưu điểm của nó’[27]. Thế nào là ‘một nhà nước dân chủ pháp trị đúng đắn’, thế nào là ‘ưu điểm của nền kinh tế thị trường’? Anh đã nói trong việc so sánh chế độ chính trị và kinh tế hiện nay giữa một số quốc gia với Việt Nam, với một số quốc gia chậm tiến, độc tài khác thôi. Mười qui luật anh nêu trong phần III, liệu có nói lên cái ‘đúng đắn’ của nên Dân chủ pháp trị và các ‘ưu điểm’ của nền Kinh tế thị trường chăng?[28] Một điều, ai cũng biết, là Cộng sản chấp nhận Kinh tế thị trường trong cái thế ‘chẳng đặng đừng’ chứ đâu mấy thích, vì thế mà họ đã chủ trương ‘Kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa’, đưa đến một thứ ‘Kinh tế què quặt’, rốt cuộc chẳng ra ngô, ra khoai gì cả. Anh lại còn bảo: ‘Một thành quả cũng rất vô tình nhưng vô cùng vĩ đại của chế độ Cộng sản là đã tạo ra cộng đồng người Việt hải ngoại’. Chữ ‘tạo ra’, nghe sao trớ trêu! Tôi không có ý kiến về từ nầy vì sẽ rơi vào hài hước mà tôi không muốn ‘thất lễ’ với anh. Cộng sản không ‘vô tình’ đâu, chúng chỉ ‘không ngờ’ thôi. Lúc đầu, chúng không ngờ và ngăn cản nhưng rồi sau đó chúng ‘chủ trương’[29] ‘tống xuất’ số người ‘phản động’ để ‘bớt miệng ăn’ và để tránh rắc rối, hậu hoạn cho chúng. Quả thật, tình cờ lịch sử hay một trớ trêu lịch sử đã đẩy hàng triệu người Việt bỏ nước, bỏ nhà ra đi lưu vong nơi xứ người, sống khá sung túc và học hỏi được bao cái hay, cái đẹp của văn minh văn hóa trên toàn thế giới. Lớp người nầy sẽ là tài nguyên, của cải vô cùng quí giá cần thiết cho việc xây dựng đất nước mai nầy nếu,... lại nếu,.., nếu biết đặt lòng ‘yêu nước cho cái tên chung của tổng thể Việt Nam’ trên cái ‘yêu nước cho cái tên riêng của cá nhân mình’ mà tránh được cái óc ưa làm quan, làm lãnh tụ, làm giàu, ưa hưởng lạc cho riêng cá nhân và gia đình. Dùng lại câu của Jean Paul Sartre: ‘Lịch sử tự tạo mà không tự thức’. Cái ‘thức’ của Lịch sử lại do con người có ‘tự thức’ hay không. Chung quy lại do ‘con người’ như anh nói. Chương 19 phần II và chương 1, chương 2 và chương 3 phần III: Tôi hoàn toàn đồng ý với anh và xúc động nữa khi anh bảo: ‘Đặt lại một số vấn đề lịch sử cũng là chất vấn tâm lý của một tập thể dân tộc và rà soát lại các giá trị nền tảng, các giá trị đã góp phần quyết định ra số phận của dân tộc đó’[30]; ‘Đó là một lịch sử rất chật vật và vì thế chúng ta là một dân tộc bị chấn thương nặng’[31]; ‘Tuy nhiên khối người tinh nhuệ đó (Việt Nam) đã chỉ đi từ tai họa nầy đến thảm kịch khác, như vậy rõ ràng là họ phải có một tật nguyền tập thể nào đó. Con người Việt Nam là cả một bí mật chưa được khám phá, nhưng điều chắc chắn là nó mang một tiềm năng rất lớn chưa được phát huy được vì một số bế tắc tâm lý’[32] và ‘phải tiếp cận bằng con người Việt Nam vì nền văn minh Việt Nam là một nền văn minh không có di tích vật chất’[33] Ở chương 2 phần III, anh viết: ‘Điều mầu nhiệm là mặc dầu bị chà đạp và miệt thị, không những bởi ngoại nhân mà còn do chính thành phần được coi là ưu tú của mình, xã hội Việt Nam vẫn giữ được tiếng nói riêng của mình, để rồi dần dần tiếng Việt toàn thắng trên đất Việt’[34]; ‘Chúng ta đừng quên ngôn ngữ không phải chỉ là dụng cụ phát biểu ý kiến mà còn là cấu trúc của tư tưởng. Chúng ta suy nghĩ bằng ngôn ngữ trước khi diễn tả bằng ngôn ngữ’[35]; ‘...lập trường của tôi rất rõ rệt: phải dùng tiếng Việt và đầu tư vào tiếng Việt’[36]; ‘Khi một quốc gia thua kém mặc dù những điều kiện địa lý không đến nỗi quá bất lợi thì chỉ có thể có hai giải thích, một là con người tồi, hai là văn hóa tồi mà thôi... Tất cả các nhà bác học về nhân chủng, y khoa, tâm lý đều đã đồng ý với nhau về một kết luận: chỉ có một giống người trên thế giới này mà thôi và mọi dân tộc đều có những khả năng như nhau hay ít ra gần như nhau’; ‘Nguyên nhân của sự thua kém bi đát hiện nay như vậy chỉ là vì văn hóa của chúng ta quá tồi mà thôi. Vậy chúng ta phải thay đổi văn hóa nếu muốn vươn lên’[37]. Và anh đi đến ‘tạm chấp nhận’ một định nghĩa thu hẹp về Văn hóa: ‘văn hóa của một dân tộc là toàn bộ những nhận thức và những giá trị đã tạo ra cho dân tộc đó một cách suy nghĩ và hành động, một cách tiếp cận và ứng xử với môi trường xung quanh’, rồi nhận định ‘Các nền văn hóa khác nhau không phải vì chúng chứa đựng những giá trị khác nhau mà vì chúng dành cho các giá trị những trọng lượng khác nhau. Và sự khác biệt nầy có thể đưa đến những hậu quả cực kỳ lớn’, để đi đến kết luận: ‘Khi chúng ta nói cần thay đổi văn hóa (hay cần làm một cuộc cách mạng văn hóa) là chúng ta muốn nói cần thay đổi trọng lượng tương đối của các giá trị dựa trên kinh nghiệm của những dân tộc tiến bộ chứ không cần nhập cảng giá trị nầy, loại bỏ giá trị kia’[38]. Trích dẫn dài dòng như trên và tôi gạch dười đôi đoạn để minh xác rằng tôi hoàn toàn tán thành ý kiến anh nêu ra và rất xúc động trước tấm chân tình của anh đối với đất nước, dân tộc. Tôi ‘tâm phục’ tấm lòng đó, chí hướng và quyết tâm đó của anh, hiểu ra những khổ tâm của anh ‘lịch sử nước ta có cái gì thực u uất’[39] và: ‘Tôi mong các độc giả đó hiểu cho rằng chính tôi đã rất đau nhức khi phải xét lại những gì mà chính mình trong một thời gian dài đã cho là đúng và lấy làm nền tảng cho nhiều lý luận khác. Nhất là khi tôi phải làm việc đó tự mình và một mình, trong một cuộc xung đột với chính mình’[40]. Tôi nghĩ đến cả những ‘đau nhức’ những ‘tủi hổ’ của anh khi nhìn đất nước ta quá ‘quá tệ lậu’ so với những nước khác. ‘Nguy cơ tan rã có thực’[41]. Tôi cũng từng cùng tâm trạng đó như anh. Tôi cũng đã từng ‘xung đột với chính mình’ trong bao viết lách khi đề cập đến con người Việt Nam, lịch sử Việt Nam, cùng những lời của Jésus, Thích Ca, đến các vị tu sĩ các tôn giáo, đến Thánh Kinh và Kinh điển Phật giáo, đến những ‘hiểu biết’ của các thức giả Đông Tây, đến các bộ môn Triết lý, Khoa học, Văn học, Chính trị, Kinh tế...[42] Những đoạn trích trên trong tác phẩm của anh không là những ‘tiếng lòng’ phát xuất từ tinh thần yêu nước, thương nòi cùng mong muốn Dân tộc, Tổ quốc Việt Nam sớm có một ‘bộ mặt mới’ tươi sáng, hào hùng trong cái Thế giới bốn bể năm châu nầy sao? Tôi chia xẻ với anh những suy nghĩ đó và do ‘cảm thông’ với cái ‘tiếng lòng’ âm ỉ đêm ngày của anh mà tôi thấy phải thận trọng đối với những đoạn nào tôi thấy anh đã ‘xúc phạm nặng nề’ đối với tiền nhân, lịch sử và văn hóa của dân tộc. Và, trong niềm thông cảm đó, xin trình bày cùng anh đôi ý kiến về một số những đoạn trích trên. Dân tộc ta là một ‘dân tộc bị chấn thương nặng’; người Việt Nam đã ‘phải có một tật nguyền tập thể nào đó’, đúng thế, nhưng không hẳn do tâm lý và văn hóa Việt Nam. Dân tộc ta đã ‘tạo’ nên lịch sử nhưng không ‘điều hướng’ được lịch sử để phải có ‘một tâm lý tồi, một văn hóa tồi’. Nó (Việt Nam) đã không thể có một ‘Văn hóa chính thống’ của nó, nói theo anh ‘chúng ta thiếu tư tưởng’[43] mà phải chấp nhận nền Văn hóa của kẻ thống trị hay du nhập mọi Văn hóa bên ngoài. Việc du nhập Văn hóa là điều dĩ nhiên vì tất cả mọi người, tất cả mọi dân tộc, về lâu về dài, phải ‘giao tiếp’ nhau do cái tính chất ‘hữu thể tương giao’ (sujet relationnel), một tính chất bản nhiên của con người. Nhưng dân tộc ta đã không ‘tự chủ’, có nghĩa là ‘thụ động’, trong việc tiếp nhận văn hóa bên ngoài, mặc dù qua thời gian có ‘dung hóa’ ít nhiều. Vì thế mà tầng lớp sĩ phu ngày trước và cả tầng lớp trí thức ngày nay cũng thế, chỉ là ‘học nhờ, viết mướn’ như Nguyễn Đổng Chi đã viết trong ‘Việt Nam cổ văn học sử’. Theo các nhà nghiên cứu miền Bắc Việt Nam (ngay trong thời còn chiến tranh), thì ông cha ta từ ngày xưa đã có một nền văn minh, văn hóa rực rỡ về đủ mọi mặt từ ‘âm nhạc, hội họa, chế tác dụng cụ chiến tranh, luyện kim, trị thủy, nhuộm vải,...’ đến ‘canh tác nhiều giống hoa màu, thuần dương súc vật, y học, toán học, thiên văn học,...’[44]; chiếc ‘trống đồng Ngọc Lũ’ đến nay được công nhận là sản phẩm phát xuất từ nền văn minh Đông Sơn, Hòa Bình, được lan ra xứ khác, người nước khác cũng chế tác nhưng phẩm chất kém thua; như thế ‘văn hóa Việt Nam’ đã không ‘tồi’, nhưng sao tình trạng lại ‘bệ rạc’ đến nay? Cho dù có bị xâm lăng thống trị cướp phá hay hủy diệt thì sao người sau không ứng dụng kinh nghiệm để tiếp tục kế thừa và phát triển? Ngay cả bài ‘Bình Ngô đại cáo’ cũng viết bằng chữ Hán dù Nguyễn Trãi rất thông suốt chữ Nôm. Nguyễn Trãi viết cho Lê Lợi, cho nhà Minh bên Tàu hay chỉ riêng cho tầng lớp sĩ phu Hán học? Nguyễn Trãi khinh thường đại đa số nhân dân, cho đấy là tầng lớp ‘thứ dân’[45] nên không cần dịch sang tiếng Nôm chăng? Cho đến mãi sau nầy, sau gần 60 năm bị Pháp đô hộ, Bùi Kỷ và ai đó mới dịch sang Nôm, tại sao phải lâu đến thế? Ngay thời chống Pháp dưới triều Tự Đức, Hàm Nghi, các phong trào Văn Thân, Cần Vương cũng không nhắc đến áng văn đặc sắc nầy để khích lệ tinh thần đấu tranh chống Pháp[46], tại sao? Một dân tộc, một quốc gia sơ sinh[47], không có một trình độ văn minh đáng kể, một nền văn hóa rõ ràng, minh bạch, rồi liên tiếp bị bao thời kỳ xâm lăng, thống trị không chỉ bởi ngoại nhân mà còn bởi giới sĩ phu trong nước ‘thần phục’ văn hóa bên ngoài, một lịch sử luôn luôn bị ‘chấn thương’, bị đọa đày trong ‘bất hạnh’, thế sao không bị đồng hóa, không bị mất gốc lại còn tiếp tục phát triển về phương Nam và vẫn tồn tại, đôi khi rất oai hùng, cho mãi đến ngày nay dù có thua kém bao nước khác? Nền Văn hóa đích thực, cái ‘Tư tưởng đích thực’ của Việt Nam, không phải không có[48] nhưng mơ màng quá, lãng đãng quá nên đã khiến ‘lịch sử luôn bị chấn thương’, khiến ‘dân tộc phải gánh chịu một tật nguyền tập thể’. Dân tộc Việt Nam không có những gì cần thiết phải có như người, bằng người[49] mà nếu có được thì cũng phải mất đi vì lẽ nầy hay lẽ nọ. Một chứng cớ: Việt Nam (hay miền Nam Việt Nam) từ 1954 đến 1975 đã tiếp xúc nhiều với thế giới, đã bắt đầu tiếp thu trào lưu khoa học kỹ thuật Âu Mỹ và đã có cơ phát triển mạnh thì cái ‘họa đỏ’, tức Cộng Sản, ào ạt tràn đến, hủy phá hết một số thành tựu cùng khả năng vươn lên để đến bây giờ ‘tụt hậu’ quá xa so với thế giới, so với những nước mà trong quá khứ xem ra không sánh bằng nước ta. Tại sao? Cộng sản không là ‘tai họa’ tự trời giáng xuống như anh bảo, thế là do người Việt Nam dại khờ mang lấy vào mình hay do Chủ nghĩa Cộng sản lúc bấy giờ đang trên đà bành trướng? hoặc do vì lý thuyết ‘Dân chủ tự do’ và nền ‘Kinh tế thị trường’ trên thế giới thua kém hoặc không đủ khả năng thắng vượt chế độ ‘độc tài đảng trị’ và nền ‘kinh tế tập sản’ của Cộng sản để Việt Nam thêm một ‘chấn thương’ dài, một ‘tật nguyền’ nặng? Do đâu? Trả lời không thể dễ dàng. Theo tôi, có một yếu tố đã tạo nên cái ‘tật nguyền tập thể’, đã khiến dân tộc ta phải mang lấy cái ‘tâm lý tồi’, cái ‘văn hóa tồi’. Cái yếu tố đó là ‘dòng Sử mệnh Việt Nam’. Sử mệnh Việt Nam đã ‘bạc đãi’ dân tộc ta suốt dọc dài lịch sử, vì ‘Sử mệnh Việt Nam gắn liền với Sử mệnh Thế giới’. Điều nầy không phải do tôi tưởng tượng hay chưa thoát ra khỏi cái ‘trạng thái tư tưởng thần linh hoặc siêu hình’ (état théologique, état métaphysique) như Auguste Comte đã phân tích. Tôi ‘phát hiện’ điều nầy do ‘trầm tư’ lại lịch sử và văn hóa dân tộc, do trầm tư lại Truyện Kiều, do ‘cảm nhận’ lời người xưa qua Kinh điển, sách báo, đã có cơ duyên đọc được rời rạc, qua loa, do từ phân tích lại cuộc chiến Việt Nam từ 1954 đến 1975.
Chắc anh thấy rằng, ngoại trừ những cuộc nổi dậy và khởi nghĩa thời bị Trung Hoa thống trị, còn thì, từ đấy về sau, mọi thành công của lịch sử ‘giải phóng dân tộc’ không do chính người Việt Nam mà do sự đồng hợp của nhiều nguyên nhân xa xôi: thắng Pháp năm 1954 không hoàn toàn do chính nhân dân ta mà do Cộng sản quốc tế (nhất là Cộng sản Trung Hoa); do Hoa Kỳ muốn thay thế Pháp tại Việt Nam, do phong trào ‘giải trừ thuộc địa’ đang lên cao và thành công tại đôi nước; đánh tan lực lượng Cộng sản kỳ Tết Mậu Thân 1968 không hẳn hoàn toàn do quân đội Việt Nam Cộng Hòa; đánh thắng quân đội Việt Nam Cộng Hòa tại Nam Lào trong ‘chiến dịch Hạ Lào’ không do Cộng sản Bắc Việt; người Mỹ rút khỏi miền Nam, bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa để Cộng sản chiếm trọn miền Nam không do quân đội Việt Nam Cộng Hòa bạc nhược, không do Cộng sản Bắc Việt mạnh mà do Mỹ ‘nhất định’ phải rút lui, do quốc tế Cộng sản, do phong trào phản chiến tại Mỹ, do Richard Nixon qua gặp Mao Trạch Đông, do vụ Watergate tại Mỹ, do dư luận quốc tế không thuận lợi cho Việt Nam Cộng Hòa. Tất cả ‘hầu như do từ đâu đâu’(!) và hai miền Nam Bắc có ‘ầm ầm cơ giới’ thì cũng chỉ là ‘máu ta mà đạn người’. Tôi đã viết trong một tác phẩm dài bằng thơ:
-...Hai
mươi lẻ dây dưa thế kỷ
Từng
lớp lớp hùng binh, chiến tướng
Câu
‘giải phóng’ từng cơn lạnh gáy Nếu đúng như tôi nghĩ thì cuộc chiến Việt Nam đối với người Việt Nam chỉ là ‘phần năm thế kỷ đôi co, hai bờ tranh chấp một giờ nhục vinh!’. Ai nhục, ai vinh? ‘Nhục’ đấy nhưng là ‘cái nhục tạo đà cho vinh’ do từ hàng triệu người Việt Nam nơi hải ngoại, do từ ‘tinh thần dân tộc’ nơi một số nhân dân cùng tín đồ, tu sĩ các Tôn giáo,..; ‘Vinh’ đấy nhưng là để ‘theo vinh liền nhục’; Cộng sản đâu biết họ đã tạo một ‘vết nhơ’ cho lịch sử và một cái ‘nhục’ cho chính họ, nhục vì bao đảng viên đã phản tĩnh, xé thẻ đảng, bao người trí thức và văn nghệ sĩ đã chối bỏ cả quá khứ ‘anh hùng’ để phản kháng lại đảng và chế độ, nhục vì ngoại trừ tập đoàn Cộng sản cùng số người ‘tôi mọi’ cho họ, còn thì hàng triệu triệu nhân dân ‘lê thân héo lạc loài cửa quỷ, dẫn hồn tàn vạn lý ma trơi’ và đất nước tàn tạ, héo hon, dân tộc lầm than, tăm tối, cúi mặt không dám nhìn tương lai.[50] Không phải ‘chúng ta thiếu tư tưởng’ như anh nói. Dân tộc ta không phải không có Văn hóa, không phải không có Tư tưởng, nhưng Văn hóa Việt Nam, Tư tưởng Việt Nam bềnh bồng, lãng đãng, mơ hồ quá, khó lòng nhận diện ra tỏ tường. Nhưng ‘’Tư tưởng là gì?’, tôi chưa định nghĩa được. Lâu nay, chúng ta thường nghĩ "Tư tưởng là những ‘ý thức, nhận thức, những suy luận, tư duy, những phán đoán, lý luận’ kết thành hệ thống như ‘tư tưởng triết lý, chính trị, kinh tế, quân sự, đạo đức,..’ tư tưởng Platon, Aristote, Hégel, Machiavelli, Chausewitz,.. ..’’. Tư tưởng không là cách thế luận lý cũng không là thái độ thể nghiệm tự thân; cả hai đều là hình thái, phương cách thể hiện tác động của Tư tưởng chứ chưa là Tư tưởng. Dựa theo M. Heidegger: ‘Tư tưởng là sự dấn thân bởi và cho chân lý của Hằng Thể (hay Đạo thể); Hằng Thể mà lịch sử không bao giờ hoàn tất mà luôn trong trạng thái đợi chờ. Lịch sử Hằng Thể gánh chịu và thiết định mọi điều kiện và cảnh huống nhân sinh’[51]. Hiểu như thế thì ‘Tư tưởng Việt Nam cũng là Tư tưởng chung cho toàn thể nhân loại’. Cái Tư Tưởng đó không minh thị mà chỉ cặp kè, lãng đãng nơi cõi hiện hữu của con người, của từng dân tộc và của nhân loại. Nó (Tư tưởng) là cái gì ‘hư mà thực’, ‘gần mà xa’, ‘xa mà lại gần’, nó luôn luôn là thứ ‘cận lập viễn ly’ hay ‘viễn ly cận lập’[52]. Dân tộc Việt Nam và nhân loại cùng một Tư tưởng đó nhưng Việt Nam cũng như nhân loại vì đắm mình vào cõi hiện hữu của ‘Tư hữu và Chiếm hữu’ nên đã quay lưng lại với Tư tưởng, đã phải để, phỏng theo lối nói của một nhà thơ, ‘Một mặt trời đẫm máu xuống sau lưng’[53]. Tư tưởng là cái gì ‘siêu hình’; ‘siêu hình’ có nghĩa là ‘vô hình’ nhưng thể nhập vào cái hữu hình để tác động cái hữu hình thể hiện ra nó trong vòng hiện hữu. Tư tưởng là của chung nhân loại nhưng biểu hiện khác nhau, đưa đến những quan niệm về vũ trụ và nhân sinh khác nhau, qua lịch sử từng tập đoàn nhân loại (dân tộc) do từ những đặc điểm riêng biệt của từng tập đoàn đó[54]. Vì thế, đúng theo lời anh nói, các nền Văn hóa của các dân tộc khác nhau không vì mang lấy những giá trị khác nhau mà vì mỗi dân tộc đã dành cho các giá trị đó những ‘trọng lượng’ khác nhau. Thay đổi Văn hóa, hay làm cuộc ‘Cách mạng văn hóa’, cũng theo anh, là ‘thay đổi trọng lượng tương đối của các giá trị dựa trên kinh nghiệm của những dân tộc tiến bộ chứ không là cần nhập cảng giá trị nầy, loại bỏ giá trị kia’. Vì Tư tưởng là chung nhất cho toàn thể nhân loại nên dù văn hóa từng dân tộc khác nhau nhưng tất cả, nhanh hay chậm, đều hướng về, đều ‘đồng quy’ vào cái Tư Tưởng duy nhất đó, nói theo lời Đức Khổng là ‘Thiên hạ đồng quy nhi thù đồ’. Nhưng ‘thay đổi trọng lượng’ của những giá trị đó như thế nào, bằng cách nào? Anh nêu ra ‘kinh nghiệm của các nước tiến bộ’ dựa trên ‘nền dân chủ pháp trị’ và ‘nền kinh tế thị trường’, tôi thấy chưa mấy vững. ‘Dân chủ pháp trị’ và ‘Kinh tế thị trường’ là xu thế trong hiện tại đối với những quốc gia trên đường phát triển vì đấy là ‘tất yếu lịch sử’ của dòng Tiến hóa nhân sinh, nhưng tại các quốc gia tiến bộ như anh nói, đang đối đầu với nhiều khủng hoảng trầm trọng. Oswald Spengler đã nói ‘sự suy tàn của phương Tây’[55], ‘sự suy tàn của nền văn minh Faustienne’ và Walter Lippman đã nói đến ‘Hoàng hôn của nền dân chủ’[56]. Thời đại hiện nay đang đối đầu với một ‘xung kích của tương lai’[57] có thể rất nhiều ngoạn mục về mặt cơ năng, nhưng về mặt ‘giá trị tinh thần’ thì xem ra rất nhiều băng hoại. Thế giới đang đi tìm ‘thuốc chữa’, không vì nhìn ra được Tư tưởng, không vì nhìn ra được hướng tiến của lịch sử, mà chỉ vì để giải quyết bế tắc trong hiện tại, để phát triển nền Kinh tế thị trường một cách hữu hiệu hơn, mà không gây ra chiến tranh đế quốc, dẫn đến một thế chiến mới vô cùng ghê khiếp với kỹ thuật và số lượng vũ khí tối tân. Nhu cầu ‘toàn cầu hóa’ là liều ‘thuốc chữa’ đó, nhưng cũng lắm nguy hiểm, vì sẽ có thể dẫn đến ‘sự nổi dậy của quần chúng’[58], mà các phong trào ‘chống toàn cầu hóa’ là báo biểu. André Malraux đã nói: ‘Thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ của tín ngưỡng hay không tín ngưỡng’[59], lời nầy có thể suy diễn theo ba cách: một là ‘thế kỷ XXI là thế kỷ của Huyền nhiệm’ (mystique), hai là ‘thế kỷ của chiến tranh tôn giáo,’ ba là ‘thế kỷ không còn tôn giáo,’ có nghĩa phần nào không còn những giá trị tâm linh, vì Tôn giáo bị chối bỏ. Chiến tranh nào, dù là chiến tranh sắc tộc, chiến tranh chính trị, kinh tế, tôn giáo,... chung quy cũng nằm trong dạng thức ‘Tư hữu-Chiếm hữu’ thôi. ‘Lịch sử nhân loại từ khởi thủy đến nay chỉ là lịch sử của Tư hữu-Chiếm hữu qua từng dạng thức khác nhau’, theo tôi nghĩ. Trước những khủng hoảng của các nước tiến bộ hiện nay, nếu dựa theo kinh nghiệm của họ mà ‘thay đổi trọng lượng của các giá trị’, trường hợp dân tộc ta thực hiện được thì dân tộc ta lại ‘đọng’ lại nơi tình trạng của họ hiện nay, trong lúc họ đã tiến sang dạng ‘Tư hữu-Chiếm hữu’ mới và chúng ta lại ‘lẽo đẽo’ theo họ hoặc là cả thế giới nầy gãy đổ và chúng ta gãy đổ theo. ‘Nguy cơ tan rã có thực’[60] nhưng không riêng dân tộc ta mà toàn nhân loại. Biện pháp anh nêu ra, tôi thấy chẳng mấy hữu hiệu. Dĩ nhiên, nền Dân chủ pháp trị và nền Kinh tế thị trường rất cần thiết cho Việt Nam cũng như cho nhiều quốc gia khác, nhưng phải biết ứng dụng thế nào để phù hợp với diễn tiến tiến hóa của nhân loại, để không phải ‘tụt hậu’ lần nữa và để góp phần ngăn ngừa cái ‘gãy đổ’ của thế giới do từ những khủng hoảng trầm trọng về Kinh tế, Chính trị, về Tôn giáo và về cả phát triển Khoa học kỹ thuật vì, theo tôi, nền Văn minh hiện nay đang chuyển hướng, đổi chiều. Nhà Khoa học Michio Kaku, giáo sư Vật lý Đại học New York City College, trong tác phẩm Visions, nói đến nền ‘Văn minh hành tinh’ (civilisation planétaire) tuần tự qua ba ‘kiểu’ (type) qua sự sử dụng năng lượng: · kiểu I, sử dụng toàn thể năng lượng của toàn địa cầu (đất, nước, gió, lửa, quặng mõ, than đá, dầu hỏa, nhiệt điện,...); · kiểu II: ngoài năng lượng địa cầu, thêm năng lượng mặt trời; · kiểu III: kết hợp với năng lượng các dải thiên hà, do ba cuộc Cách mạng lớn: cách mạng lượng tử (revolution quantique), cách mạng tin học (révolution informatique) và cách mạng sinh học phân tử (révolution biomoléculaire). Và ông cho rằng ‘cuối cùng, chúng ta đạt được khả năng khả dĩ thần thánh để vận dụng cuộc sống hầu như tùy thích’[61]. Michio Kaku, theo tôi là nhà ‘duy khoa học’ mặc dù ông có đề cập đến các vấn đề chính trị, kinh tế, nhân số, đạo đức nhưng cũng trong viễn tượng khoa học đó. Với tinh cách ‘duy khoa học’ đó, thế giới tất yếu sẽ dẫn đến một ‘chế độ kỹ trị’ (hay kỹ phiệt), quyền lực nằm gọn trong tay các chuyên gia, họp thành ‘giai cấp trí thức’ (knowledge class) mà ‘tính cách độc tài, chuyên chế’ càng ghê khiếp, vì tất cả đều do kỹ thuật, không một ai có thể ra khỏi. Người ta đã nói đến ‘thời đại của kiến thức’ (ère du savoir) mà kiến thức được nói nơi đây phần lớn là kiến thức khoa học kỹ thuật. Trong tác phẩm ‘La fin du travail’, Jeremy Rifkin nói đến ‘Văn phòng ảo’ (bureau virtuel) nơi các cơ sở, xí nghiệp, chỉ cần đôi người vì tất cả được điều hành bằng máy vi tính và Internet, và ông tỏ ra bi quan về tuyệt đại đa số nhân dân thế giới trước sức phát triển của nền văn minh kỹ thuật. Tuy không bác bỏ mọi tin tưởng của các nhà ‘duy khoa học’ nhưng tôi nghĩ rằng ‘lịch sử có những bước đi của nó, nhiều khi ra ngoài dự liệu của con người’. Tôi nghĩ rằng vận hành lịch sử nhân sinh và vũ trụ được điều hướng bởi ‘Tư tưởng’ mà tôi gọi là Lẽ Đạo để đưa lịch sử hội nhập vào với nó. Diễn tiến Tiến hóa của lịch sử nhân sinh sẽ dẫn về với Tư Tưởng nguyên sơ. Tôi cảm nhận ra điều đó qua Đạo học Đông phương, qua Thánh Kinh Ky Tô giáo và lời Jésus, qua bao nguồn triết lý xưa nay, qua các dữ kiện của thời đại (chính trị, kinh tế, khoa học kỹ thuật,...) và qua cả thi ca dân gian Việt Nam và truyện Kiều. Vì thế mà tôi ‘lạc quan’ và đề cập đến cái ‘hạnh vận’ của Việt Nam trong ngày tới. Trình bày với anh dài dòng như thế, không phải để ‘khoe’ tôi đọc nhiều sách [thực ra tôi đọc chẳng được bao nhiêu so với nhiều trí thức khác, và đọc cũng không hiểu mấy vì ngoại ngữ (tiếng Pháp) của tôi quá tồi] mà chỉ để trao đổi và tâm tình cùng anh, nếu có thể, góp cùng anh đôi ý kiến để đặt lại vấn đề ‘thay đổi trọng lượng về các giá trị’ hầu phát huy được nền Văn hóa dân tộc theo những nẻo đường thích nghi với diễn tiến của thời đại để không còn ‘tồi, dở’ như anh nói. ‘Con người Việt Nam là cả một bí mật chưa được khám phá nhưng điều chắc chắn là nó mang một tiềm năng rất lớn chưa được phát huy vì một số bế tắc tâm lý’, lời này của anh, theo tôi, đúng ở phần sau, không hẳn đúng ở phần trước. Con người Việt Nam, riêng rẻ từng người, chẳng có gì ‘bí mật’ cả. Nó có tính tốt lẫn tính xấu mà xấu lại quá nhiều. Trong giao du tiếp xúc hoặc hợp tác cá nhân với cá nhân, ta dễ lầm lẫn nhưng giao thiệp lâu ngày, ta khám phá ra hết mọi cái bên ngoài lẫn bên trong của từng người ta giao tiếp. ‘Con người Việt Nam’ trong câu của anh, nên hiểu là ‘con người của tổng thể dân tộc Việt Nam’ chứ không phải là từng người riêng lẻ. ‘Những tiềm năng rất lớn chưa được phát huy’, anh muốn nói đến những khả năng còn tiềm tàng nơi con người Việt Nam. Người Việt Nam đã thể hiện khả năng của mình trên nhiều mặt rồi, chỉ tiếc là chưa chịu đồng thuận, đồng hợp với nhau thôi nên không theo kịp đà tiến của nhân loại. Cái ‘bế tắc tâm lý’ là ở đấy, nhưng theo tôi, chính do đun đẩy oái oăm của dòng Sử mệnh Việt Nam. Vậy ‘những tiềm năng chưa được phát huy’ và ‘cái bí mật chưa được khám phá’ không ở riêng từng người Việt Nam mà ở chính ‘con người tổng thể Việt Nam’, nghĩa là ở Dân tộc chúng ta. Những ‘tiềm năng’ và ‘bí mật’ đó chính là những ‘giá trị’, cái ‘bản chất’ nơi con người Việt Nam, nơi dân tộc Việt Nam. Trước nay, ta thường dùng từ ‘bản chất’ nhưng không rõ nghĩa ra sao. Cả khoa ‘Hiện tượng luận’ của E. Husserls nghiên cứu hầu xác định được ‘bản chất’ (eido) sự vật nhưng cuối cùng cũng khó lòng tìm ra. Bản chất con người là điều kín nhiệm mà con người luôn luôn đi tìm để thể hiện qua cuộc sống của mình. Theo tôi, bản chất con người chính là những giá trị tự thân nơi con người. Và xin gởi đến anh đoạn sau đây trích trong một sách của tôi và anh Trần Minh Xuân đang viết, sắp hoàn thành: ‘Lâu nay, nói đến bản chất hay giá trị con người là ta đặt con người trong thế đối chiếu với các sinh vật khác, hoặc với tha nhân (so sánh người nầy với người nọ), hoặc so sánh con người trong một cấu trúc xã hội nầy với con người trong một cấu trúc xã hội khác, để phát hiện những khác biệt cùng những tính chất chung, rồi đánh giá hơn kém nhau. Phương pháp đó không đủ để nói lên giá trị tự thân của con người. Không một phương pháp luận nào giúp ta khám phá được giá trị thật của con người. Bởi vì, giá trị con nguời tuy nội tại nơi con người, nhưng không im lìm bất động mà là trên đường thể hiện, trên đường ‘hoàn thành’. Con đường hoàn thành đó là cuộc sống của con người. Cuộc sống con người là tiến trình viên thành giá trị tự thân của con người. Giá trị con người, nói chung, chỉ được phát hiện và xác định qua cuộc sống con người, không phải nơi từng cá nhân riêng lẻ, mà là nơi chung chủng loại. Bậc quân tử, kẻ tiểu nhân, người nầy anh hùng, kẻ kia vô lại, kẻ dữ, người hiền, kẻ thánh nhân, người gian tà,..; tất cả những phân biệt, đánh giá đó đều do từ so sánh, đối chiếu, cơ sở trên một số tiêu chuẩn phát sinh từ những qui ước xã hội và chỉ nằm trong phạm vi tỷ giảo cá thể với nhau. Giá trị hay bản chất con người được biểu hiện qua cuộc sống con người, và chỉ được xác định qua con người, trong tư cách là tổng thể, chứ không là từng cá thể riêng biệt... Vì cái cá thể luôn luôn là hình ảnh của một tổng thể chứa sẵn nơi nó, và tổng thể cũng luôn luôn là cái cá thể qui định bởi tổng thể, cái tổng thể nội tại nơi nó và thể hiện qua nó’[62]. Hiểu như thế, thì, theo tôi, ‘cái bí mật’ của con người Việt Nam không riêng rẻ nơi từng người mà là ‘cái bí mật của con người tổng thể Việt Nam, nghĩa là của cả dân tộc Việt Nam’. Do đâu có cái ‘bí mật’ đó mà suốt mấy nghìn năm lịch sử, không người Việt Nam nào, kể cả anh, vẫn chưa ‘khám phá’ ra được? Theo tôi, ‘cái bí mật của con người Việt Nam do từ dòng Sử mệnh của dân tộc Việt Nam’. Nhưng ‘cái bí mật của con người Việt Nam cũng là cái bí mật của con người nói chung, nghĩa là của con người trong tổng thể nhân loại và do dòng Sử mệnh của nhân loại, tức của chủng loại người chúng ta’. Nhưng ‘Sử mệnh là gì?’. Theo tôi, ‘Sử mệnh là vận hành lịch sử, tức diễn biến sinh hóa qua quá trình thời gian, theo một lẽ Tất định Như nhiên nào đó, hướng về một cứu cánh chung cục, qua từng kỷ nguyên sinh hóa của một dân tộc, trong dòng dịch chuyển chung của nhân loại, trong hành trình đưa lịch sử chủng loại hội nhập vào cái Lẽ Tất định Như nhiên’. ‘Lẽ Tất định Như nhiên,’ là cái gì? Nói đến điều nầy, phải dựa vào Đạo học, Triết học, Tôn giáo. Cái ‘Lẽ Tất định Như nhiên’ đó, theo Martin Heidegger là cái ‘Đạo Thể’ được ứng dụng vào Lịch sử qua ‘Con đường Tư Tưởng’[63], Tư Tưởng theo câu của M. Heidegger đã trích trên. Xin không nói thêm vì rất rắc rối, khó hiểu, vì phải đề cập đến cái ‘Nguồn gốc’ phát sinh vũ trụ hiện tượng. Cái ‘bí mật của con người Việt Nam cũng là cái bí mật của con người nói chung, con người của Tổng thể Nhân loại’ mà Lịch sử từng dân tộc, cũng như Lịch sử chung của Nhân loại, là hành trình tìm về Bản chất làm sáng hiện những giá trị tự thân nơi con người. Ý nghĩa và Cứu cánh của cuộc sống, cuộc đời là ở đó. Nhưng vì cuộc sống mỗi người trung bình chỉ 100 năm, trong lúc ‘cuộc sống của chủng loại không là hành trình quy tử, mà luôn luôn được tiếp nối qua cái chết của từng hiện thể (cá nhân, tập đoàn, dân tộc) trong chủng loại. ‘Cái chết của hiện thể tạo nên cái sống của chủng loại. Lịch sử chủng loại được cấu tạo qua từng cái sống và cái chết của từng thế hệ hiện thể trong chủng loại đó’. Do quan niệm về ‘Ý nghĩa, Cứu cánh’ cuộc sống, cuộc đời khác nhau nên ‘vũ trụ quan và nhân sinh quan’ khác nhau, đưa đến Lịch sử sinh hóa từng dân tộc khác nhau, hoặc tù đọng, ngưng trệ trong một trạng thái ‘Tĩnh’ hoặc bức xúc, hối hả, tiến bộ, văn minh trong một trạng thái ‘động’. Quan niệm vũ trụ và nhân sinh của Dân tộc Việt Nam mơ màng, giản dị quá nên ‘ghim’ dân tộc ta trong thế ‘Tĩnh’ hàng bao thế kỷ, ngăn chặn hết mọi khả năng phát minh, sáng chế, bành trướng, phát triển, chinh phục ngoại giới ở quy mô lớn. Dạng thức ‘Tư hữu-Chiếm hữu’ lẩn quẩn trong trạng thái ‘gia đình’ và ‘phong kiến’, chế độ Kinh tế nặng về Nông nghiệp, thủ công; chế độ Chính trị nặng về ‘Nhân trị’ hơn ‘Pháp trị’.
Chú thích
[1]
Trang 159.[2]
Trang 161.[3]
Trang 150.[4]
Trang 155.[5]
Trang 166.[6]
Trang 166,167.
|