|
opinion |
Việt Điển |
tự do ngôn luận, |
|
|
Thư Gởi Ông Nguyễn Gia Kiểng Về Quyển ‘Tổ Quốc Ăn Năn’ Của Ông.
Nguyễn Thùy trang 3
Sử mệnh Việt Nam đă ‘ghim’ dân tộc ta trong trạng thái đó cho măi đến nay, cho dù có tiếp xúc với Tây phương nhưng tâm lư người Việt Nam vẫn mang nặng cái ‘truyền thống’ đó. Đấy là cái ‘bế tắc tâm lư’, cái ‘tật nguyền tập thể’ như anh nói. Sử mệnh Việt Nam bạc đăi dân tộc ta quá nhiều v́ không phải do Nó (Sử mệnh Việt Nam) mà v́ Sử mệnh Nhân loại bắt buộc Nó phải như thế, hoặc ‘dành’ cho Nó sự việc đó. Để làm ǵ? Để dân tộc ta biến thành con ‘thiêu thân’ hay phải đành làm kẻ ‘tuẩn nạn’ cho một lư tưởng nào không cho nó, không v́ nó, phải chăng? Không phải thế. Sử mệnh Việt Nam và Sử mệnh Thế giới đă chọn dân tộc và mảnh đất Việt Nam làm địa bàn, làm thí điểm để thể hiện ḍng sinh hóa của Nhân loại từ buổi đầu tách rời tính thể uyên nguyên[1] để Nó (V.N.) phải khóc từng đêm, từng ngày lệ máu, để Nó phải từng đêm từng ngày thổn thức hồn mộng nguyên sơ bị biến thành chiêm bao lửa cháy như Đinh Hùng đă linh cảm:
- Bộ lạc ta xưa mất hải tần Buồn nghiêng nội địa cháy tà luân Đêm thiêng thổn thức hồn du mục Ngày vọng lên non tiếng ác thần Cửa ngục song hồ run ánh lửa Trăng mê màu huyết loạn hồng vân Nguyên sơ tuổi đá bừng cơn mộng Cúi mặt u huyền khép áo xuân... (Đinh Hùng - Mê hồn ca)
Và Nguyễn Du đă nói trong bài ‘Xuân Dạ’ mà Nguyễn Xuân Tạo đă dịch như sau:
Đêm đen nào thấy ánh dương trong Hàng liễu âm thầm đứng trước song Ốm liệt giang hồ bao tháng trải Xuân về mưa gió suốt đêm ṛng Lâu năm đất khách đèn chong lệ Ngàn dặm quê hương nguyệt giải ḷng Ngoài xóm Nam Đài Long thủy chảy Trôi hoài kim cổ một ḍng không[2].
Lịch sử phát triển đất nước, như đă nói trên, đă tạo cho Dân tộc ta một vị trí thuận lợi để đón nhận tất cả mọi nền văn hóa Đông Tây. Và dân tộc ta phải trải chịu đọa đày, điêu đứng v́ tất cả mọi nền văn hóa du nhập đó. Việt Nam biến thành thứ ‘giỏ rác’ chứa đựng hết mọi cái xấu, tốt, dở, hay của các kiến trúc tinh thần của nhân loại, mà phần xấu, phần dở lại quá nhiều, v́ các nền văn hóa ngoại lai đến với dân tộc ta không bằng những ‘tinh túy, tinh hoa’, mà do từ óc ‘Tư hữu-Chiếm hữu’ của loài người, hoặc bằng vơ lực thống trị, hoặc bằng sức mạnh xâm lăng về lư thuyết, chính trị, măi lực, tiền tệ, kỹ thuật,... bằng những ư đồ, thủ thuật ‘đi hàng hai’ của các nước tiền tiến văn minh. Dân tộc Việt Nam là dân tộc đau khổ nhất thế giới không hẳn v́ chết chóc quá nhiều, không v́ bị nô lệ, thống trị lâu năm, không v́ chiến tranh, loạn lạc triền miên, không v́ tai nạn thiên nhiên liên tục, mà v́ những ‘trấu tro’ của các kiến trúc tinh thần nhân loại đổ vào, để dân tộc ta luôn luôn bị ‘chấn thương’, phải gánh chịu cái ‘tật nguyền tập thể’, cái ‘văn hóa tồi dở v́ bao bế tắc tâm lư’. Điều nầy do sắp dặt của Sử mệnh Việt Nam cùng ḍng Sử mệnh Thế giới để dẫn về một ‘Hạnh vận’ cho Việt Nam trong những ngày tới. Nói thế, không phải phó mặc cho dẫn dắt của Sử mệnh, xem Sử mệnh là một ‘định mệnh’, một ‘tiền định’ đă an bài rồi buông xuôi chờ đợi. Không thể để quốc gia bị ‘giải thể trong ḷng người rồi giải thể thực sự’ nhưng cũng không thể khoanh tay ngồi chờ ‘sung rụng’, đón đợi vận may đến với ḿnh mà phải ‘hành động’. Người Việt Nam phải hành động ngay từ bây giờ. Nhóm Thông Luận và anh đă ‘hành động’ qua việc ‘xét lại Lịch sử và nền Văn hóa dân tộc’ rồi kêu gọi, chủ trương ‘Ḥa hợp Hoà giải Dân tộc’, ‘xây dựng thể chế Dân chủ pháp trị đa nguyên và nền Kinh tế thị trường’. Chủ trương đúng nhưng cái ‘bế tắc tâm lư’ kia chưa thể nào giải tỏa. Anh bảo ‘phải đầu tư vào tiếng Việt’ nhưng ‘đầu tư’ bằng cách nào, như thế nào, anh chưa nói. Muốn giải tỏa cái ‘bế tắc tâm lư’ đó, cần phải hoạt động trên nhiều mặt, và tất cả những hoạt động của người Việt trong nước hiện nay, cùng của người Việt ở hải ngoại, trong đó có anh và nhóm Thông Luận, có thể xem là những ‘viên gạch lót đường’, những chuẩn bị cho Lịch sử Việt Nam tiến tới trong xu hướng của thế giới hiện nay. Những năm cuối của Thế kỷ XX (cuối Thiên kỷ II) và những năm đầu Thế kỷ XXI (đầu Thiên kỷ III) bày ra bao xáo trộn trầm trọng, có thể xem là những nguy nan rộng lớn cho toàn địa cầu (vụ khủng bố tại Mỹ ngày 11 tháng 9/2001 vừa qua chẳng hạn) nhưng, theo tôi, chính lại là những sự việc đưa đến t́nh trạng ‘ổn định địa cầu’ và nền văn minh thế giới xoay hướng, đổi chiều. Lịch sử có những bước đi của nó. Việc phát triển về phương Nam, tạo cho Việt Nam địa bàn thuận lợi giao tiếp và đón nhận mọi kiến trúc tinh thần nhân loại, là việc không nằm trong dự liệu của dân tộc ta. Việc các nước Âu Châu khởi đầu từ đôi nước, tiến đến Thị trường chung Âu Châu, lúc đầu chỉ nhằm ‘thoát ra bớt sự chi phối’ của hai siêu cường ‘Mỹ và Liên Xô’ và tạo thế ‘cân bằng’ giữa hai siêu cường đó, để dần dần, qua trên 50 năm thương thảo, tiến đến một ‘Âu Châu thống nhất’ với một Chính phủ chung, một tiền tệ chung,... nào có ngờ rằng đă đưa nhân loại đến một thế ‘quần cư mới’ (từ bầy người đến thị tộc, bộ lạc, dân tộc, quốc gia, rồi khối, vùng và nay mai sẽ là liên lục địa). Cũng nên thêm một dẫn chứng: Người Việt Nam đă có một ‘ngôn ngữ nói’ tức một tiếng nói và giọng nói phong phú và thống nhất, nhưng lại không có ‘chữ viết’, hoặc đă có mà đánh mất đi. Cho măi sau nầy, do nhu cầu truyền đạo, các giáo sĩ phương Tây cơ sở nơi mẫu tự La Tinh, Bồ Đào Nha, đặt ra lối chữ mà nay ta gọi là ‘chữ quốc ngữ’. Sự việc nầy nói lên ǵ?
Căn cứ vào phạm trù cặp ba ‘Thể, Tướng, Dụng’ của nhà Phật th́ trong ngôn ngữ cấu âm của con người: Thể của ngôn ngữ là âm thanh (tiếng nói, giọng nói), Dụng của ngôn ngữ là ư nghĩa từ và câu, Tướng của ngôn ngữ là chữ viết tức văn tự. Trong ngôn ngữ ‘quốc ngữ’ hiện nay của chúng ta, cái Thể (tiếng nói, giọng đọc) do người Việt; cái Dụng (ư nghĩa) phần lớn mượn nơi chữ Hán (xem là tiêu biểu cho văn hóa phương Đông), cái Tướng lại do người Âu Châu đặt ra (có thể xem là tiêu biểu cho văn hóa phương Tây). Người Việt chúng ta chỉ có cái Thể mà cái Thể lại là phần quan trọng, v́ Dụng và Tướng phát sinh từ cái Thể. Có ai ngờ việc đó? Chữ ‘quốc ngữ’ của chúng ta đă thể hiện, phần nào, theo tôi, tính cách ‘hội nhập’ của văn hóa thế giới. ‘Phải đầu tư vào tiếng Việt’, lời của anh quá đúng v́ quên ngôn ngữ, quên cái Thể là mất gốc, nhưng anh chưa nêu ra biện pháp nào. Cơ sở trên ‘lộ tŕnh của Tư tưởng’, cơ sở nơi ‘bản chất của con người Việt Nam’ hay ‘cái bí mật của người Việt Nam’, như anh nói (tiếng nói, khuynh hướng Về Nguồn,..., tức cái Thể); cơ sở nơi lịch sử đấu tranh giữ nước và phát triển đất nước; cơ sở vào t́nh trạng đen tối và phân hóa của xă hội Việt Nam nơi quốc nội và nơi hải ngoại; cơ sở vào oái oăm lịch sử (hay t́nh cờ lịch sử) đă đẩy đưa hàng triệu người Việt tha hương nơi xứ người, thu thập văn hóa khắp năm châu; cơ sở vào t́nh h́nh và diễn tiến của thế giới hiện nay (lịch sử Tư hữu-Chiếm hữu); cơ sở vào những phát triển của trí tuệ con người về tất cả mọi mặt; đặc biệt về khuynh hướng Nhân bản càng lúc càng phát triển trên thế giới[3]... cũng sẽ bị xét lại như thế; [có thể nào liên tưởng đến điều mà Kinh Thánh nói là ‘giờ phán xét cuối cùng’, đến sự việc ‘tuyển dân’, đến câu ‘Ta làm mới lại hết thảy muôn vật’ (Khải Huyền: 21, 5) và nhất là lời nói bí hiểm của Jésus ‘Đến ngày phán xét, nữ hoàng nam phương sẽ đứng dậy với ḍng dơi nầy mà lên án nó, v́ người từ nơi đầu cùng trái đất đến nghe lời khôn ngoan của Salomon; mà đây nầy, có môt người lớn trọng hơn vua Salomon’ (Ma: 12-42)]; tôi tin tưởng rằng ‘Việt Nam sẽ là địa bàn do Sử mệnh Thế giới và Sử mệnh Việt Nam chọn làm nơi thể hiện sự ‘hội nhập’ của Văn hóa nhân loại, nơi thể hiện điều Jésus đă nói ‘Trả lại cho Cezar những ǵ của Cezar và trả lại cho Đức Chúa Trời những ǵ của Đức Chúa Trời’ hay nói theo lời Ca dao Việt Nam ‘Ta đi xách nuớc rửa cho con ḿnh’; đấy là thời điểm mà Nguyễn Du đă tiên cảm: ‘đoạn trường thơ phải đem mà trả nhau’ để Việt Nam cũng như toàn thể ‘Đoạn trường sổ rút tên ra’ khi cho hồn ma Đạm Tiên (tượng trưng cho cái Chết và cuộc đời đau khổ trong quá khứ) báo biểu cho Kiều (tượng trưng cho thân phận khổ đau trong hiện tại) cái giờ phút ‘sống lại’ tươi đẹp của Kiều, sở hữu những ǵ cần thiết mà không chiếm hữu một thứ ǵ cho riêng ḿnh, nói theo nhà Phật là ‘Chân không mà Diệu hữu’. Sử mệnh Việt Nam và Sử mệnh thế giới đang chuẩn bị cho giờ ‘quặn thắt’ cuối cùng, một đoạn trường tối hậu để nhân loại ‘sinh thành’ trở lại. Sự việc ‘toàn cầu hóa’ và ‘chống toàn cầu hóa’ cùng nạn khủng bố và bao chiến tranh c̣n dây dưa về lănh thổ, về sắc tộc, về tôn giáo hiện nay, thêm vào đó là nạn ô nhiễm môi sinh cùng vận tốc phát triển cuả kỹ thuật bên cạnh đ̣i hỏi Tự do và Nhân quyền càng lúc thêm khẩn trương là báo biểu giai đoạn cuối của lịch sử ‘Tư hữu-Chiếm hữu’ mà nền Kinh tế thị trường đang lồng lộn trong đỉnh cao phát triển của nó đang trên đường tự cáo chung, để đồng hợp nhân loại trong cuộc đấu tranh chung cho ‘nhân quyền, nhân bản’, tạo nên sự ‘sống lại’ của nhân loại trong một trạng thái khác trước (tôi đă dự đoán nơi đôi tác phẩm). Riêng về Việt Nam, tôi hoàn toàn đồng ư với anh: ‘Chế độ độc tài nầy là chế độ độc tài cuối cùng. Việt Nam có thể tiến lên, tiến xa và tiến cao’. Nhưng ‘tiến lên, tiến xa và tiến cao’ bằng cách nào? Nếu chỉ ‘áp dụng kinh nghiệm của các nước tiến bộ hiện nay về nền Dân chủ pháp trị và nền Kinh tế thị trường’ th́ tôi nghĩ chưa đủ, có thể cũng không hợp mấy, v́ nền Dân chủ pháp trị và nền Kinh tế thị trường nơi các quốc gia tiến bộ đó đang gặp khủng hoảng, đặt các quốc gia đó trước những ‘găy đổ, xáo trộn’ trầm trọng, vả thời đại đang đối đầu với một ‘xung kích của tương lai’ vô cùng gây cấn. Hơn nữa, các quốc gia đó không ‘tù đọng’ ở trạng thái hiện nay; áp dụng những kinh nghiệm của họ th́ ta lại phải ‘theo đuôi’ họ, v́ họ đă tiến sang những nẻo đường mới khác, vả lại nhân loại đang trên đường đổi mới. Theo tôi, phải nh́n ra diễn tiến của Thế giới như thế, mọi hành động của chúng ta mới có thể đáp ứng được t́nh h́nh. - Về ‘Đoạn trường tân thanh’ của Nguyễn Du: Nơi Chương 4 phần III sách anh, anh đă có những nhận định lệch lạc, thiển cận về tác phẩm và tác giả. Có thể thẳng thắn nói rằng ‘anh chưa hiểu bao nhiêu về sách nầy của Nguyễn Du’. Mặc dù, theo anh, chưa một nhà văn nào trên thế giới sáng tạo ra nhiều ngôn ngữ như Nguyễn Du và ‘Nguyễn Du là khuôn mặt văn học lớn nhất và cao nhất của nước ta cho đến ngày nay, cho nên những thiếu sót của ông càng đáng tủi hổ cho chúng ta hơn là những tác giả khác’[4]. Rồi nói về ‘bước nhảy vọt của thơ văn cả về phẩm lẫn lượng’ trong Thế kỷ 19, ‘Văn học Việt Nam vẫn chưa có một tác phẩm nào lớn, có tầm vóc quốc tế. Cảm hứng vụn vặt, đam mê chốc lát -di sản của một nền văn hóa nhàn dư- đă chỉ đẻ ra những tác phẩm nhỏ, hoặc họa hiếm là trung b́nh như trường hợp truyện Kiều. Chúng ta thiếu óc sáng tạo và thiếu sự dài hơi. Tại sao?’[5]. Câu hỏi được anh trả lời: ‘Không phải chúng ta thiếu tài năng..., không phải chúng ta thiếu đề tài và chất liệu;...Chúng ta không sáng tác được v́ chúng ta thiếu tầm nh́n và cách nh́n để thấy được cái vĩ đại ngay chung quanh chúng ta. Chúng ta thiếu tư tưởng’[6]. Điều anh nói, nghĩ ra không sai nhưng không phải trường hợp Truyện Kiều của Nguyễn Du. ‘Chúng ta thiếu tư tưởng’, điều nầy không riêng Việt Nam mà, theo tôi, chung cho cả nhân loại, cái ‘Tư Tưởng’ theo lời M. Heidegger đă trích trong phần trước. Thật ra ‘không phải thiếu’ mà là ‘không hoặc chưa nh́n ra’. Nguyễn Du đă ‘nh́n ra’ nhưng không mấy ai, cả Việt Nam và Thế giới, biết được. Thế giới không biết cái ‘thâm sâu, ẩn nhiệm’ của truyện Kiều do v́ tác phẩm rất khó dịch sang ngoại ngữ và các bản dịch đă có chưa thể nói lên được cái ‘giá trị siêu tuyệt’ của tác phẩm cùng ‘tư tưởng’ Nguyễn Du đă mượn qua một ‘tiểu thuyết diễm t́nh, b́nh thường’ để phổ vào.
Trong tác phẩm ‘La Révolte des masses’[7], Ortega Yves Gasset viết: ‘Nước Anh ư? A, Shakespeare! Nước Đức ư? -A, Geothe! Nước Y-Pha-Nho ư? -A, Cervantès! Nước Nga ư? -A, Dostoievsky!’. C̣n Việt Nam th́ sao? Ta có thể trả lời: ‘A, Nguyễn Du’ nhưng Nguyễn Du chưa mấy ai hiểu nổi và quốc tế cũng chưa biết đến.
Anh viết: ‘Nhưng về khía cạnh khác (ngoại trừ sáng tạo ngôn ngữ), truyện Kiều đem đến cho tôi một tâm sự chua chát. Đoạn trường tân thanh là tên một tiểu thuyết vô danh của một tác giả vô danh bên Trung Quốc, Thanh Tâm tài nhân. Nguyễn Du đă giữ nguyên tên tác phẩm và, theo một số nhà nghiên cứu văn học, cũng giữ nguyên cả cốt truyện, kể cả những chi tiết ngớ ngẩn như hồn ma Đạm Tiên, Từ Hải chết đứng, Thúy Kiều chết đi sống lại và gặp văi Giác Duyên... Ông cũng giữ nguyên cái Triết lư ‘tài mệnh tương đố’ bi quan và rẻ tiền. Nói chung, Nguyễn Du không có cảm hứng và tư tưởng của chính ḿnh mà chỉ ḥa nhịp theo cảm hứng của một tác giả tầm thường của Trung Quốc và đi theo mạch tư tưởng rất tầm thường của người nầy’[8]. Tôi mạo muội nghĩ rằng anh chưa nhận ra cách nói (le dire) của thi sĩ và của nhà tư tưởng... Trong ‘Đoạn trường tân thanh: Tiếng vui trong lời buồn’[9], tôi và anh bạn Trần Minh Xuân đă trả lời các điều mà anh cho là ‘ngớ ngẩn’ nêu trên, và chứng minh rằng ‘Đoạn trường tân thanh’ không chỉ là câu chuyện t́nh thương tâm, không chỉ là tác phẩm thuần nghệ thuật, không phải được viết ra (được phóng tác) cốt để gởi gắm cái tâm sự đau đớn, u ẩn đêm ngày của tác giả, không phải để ‘biện hộ’ cho cảnh ngộ và cuộc đời Nguyễn Du trong bối cảnh thời đại của ông; không phải do thương cảm một hồng nhan bạc phận; không hẳn là bức tranh cùng lời tố cáo xă hội phong kiến thối nát; cũng không phải chỉ để phản ảnh một hiện thực đau buồn, trầm thống của nhân gian; Đoạn trường tân thanh cũng không là một tác phẩm triết lư dù có đề cập đến Khổng, Lăo, Phật; không là quyển ‘Kinh’ như bao quyển Kinh v́ không đề cập đến một vấn đề, một sự vụ riêng lẻ hoặc để tŕ tụng hầu trở nên thánh thiện; cũng không nói lên một phương thức tu chứng nào để giải thoát trầm luân. Mọi giá trị của tác phẩm (nghệ thuật, triết lư, đạo đức, nhân đạo, tâm lư, lịch sử, xă hội,...) là những cái đến sau, mặc nhiên đến, hay là những cái cục bộ, từng phần, tất yếu nằm sẵn trong cái ‘chung cùng, bao quát, toàn diễn, toàn tŕnh’ mà Nguyễn Du muốn phổ vào tác phẩm. Cái ‘chung cùng, bao quát, toàn diễn, toàn tŕnh’ đó là Tư tưởng Nguyễn Du và ‘Đoạn trường tân thanh là một tác phẩm Tư tưởng’. Và v́ là ‘tác phẩm tư tưởng’ nên khó ḷng nh́n ra cái thâm sâu, kín nhiệm của nội dung tác phẩm. Nói ra phải thật dài ḍng, chỉ xin nêu đôi điểm chính, hy vọng anh có ‘cái nh́n’ khác với những điều anh đă viết về kiệt tác nầy:
Trước tiên, ư nghĩa của nhan đề ‘Đoạn trường tân thanh’. ‘Cựu thanh’ và ‘Tân thanh’ Nhan đề nầy do Nguyễn Du đă đặt cho tác phẩm phóng tác chứ không là nhan đề quyển tiểu thuyết của Thanh Tâm tài nhân. Nhan đề tác phẩm của Thanh Tâm tài nhân là ‘Kim Vân Kiều truyện’ có nghĩa câu truyện về ba người: Kim Trọng, Thúy Vân và Thúy Kiều. Mặc dù vẫn giữ nguyên cốt truyện của tác giả Trung Hoa, Nguyễn Du đă lược bỏ những đoạn nhảm nhí, tục tĩu[10] và đặt tên là ‘Đoạn trường tân thanh’ mà nhiều người thường gọi nôm na là ‘Truyện Kiều’. Nhan đề mới nầy nói lên ư Nguyễn Du như thế nào? ‘Đoạn trường’ có nghĩa là ‘đau khổ’; ‘Tân thanh’ có nghĩa là ‘Tiếng kêu mới’; ‘Đoạn trường tân thanh’ có nghĩa là ‘Tiếng kêu mới về đau khổ’, ‘Tiếng kêu mới về đoạn trường’. ‘Tiếng kêu mới về đoạn trường’ không là tiếng than mới mẻ hay một đoạn trường mới nào khác tiếp theo cái đoạn trường cũ đă có, mà là ‘cái nh́n mới’, cái ‘ư nghĩa mới’ về đoạn trường hay của đoạn trường mà thôi. Cuộc sống vốn khổ, cuộc đời vốn khổ không thừa trừ bất cứ ai, bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào, khác biệt nhau là về tính chất, mức độ và kỳ gian[11]. Xưa nay, người ta nh́n những đoạn trường đó theo cái nh́n ‘cựu thanh’, riêng Nguyễn Du lại nh́n theo cái nh́n ‘tân thanh’. ‘Tân thanh’ nơi Nguyễn Du là ‘ngôn ngữ mới’ và ‘ngôn ngữ mới’ là ‘cái nh́n mới’, cái ‘ư nghĩa mới’ về đau khổ. Mượn tất cả những ‘đoạn trường cựu thanh’ của Kiều, của Kim, của Hoạn, của Từ Hải, của tất cả nhân vật trong truyện, kể cả của Nguyễn Du, của tất cả mọi người Đông Tây Kim Cổ (dù đă có thời thành công, huy hoàng, tráng lệ), Nguyễn Du muốn đưa dẫn chúng ta đến một ‘cái nh́n mới’ về đoạn trường. Cái ‘nh́n mới’ đó như thế nào?
Từ ‘Có thành Không’ chuyển sang ‘Không trong Có’: Từ lúc ‘kim thoa, bả quạt, hoa quỳ’ trao nhau và ‘Tiên thề cùng thảo một chương’,... ‘Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương’, cuộc t́nh Kiều Kim xem như đă hoàn hảo, tốt đẹp, trong tâm thức đă là ‘một thịt’ dù ‘chưa chăn gối cũng vợ chồng’. Nhưng rồi, cuộc đời oái oăm đă bẻ găy t́nh duyên đôi lứa. Mười lăm năm không gặp lại, mười lăm năm sống trong tưởng nhớ ngậm ngùi. Cuộc t́nh, thế là trên thực tế ‘Có thành không’. Mười lăm năm sau tái hợp: ‘Mười lăm năm mới bây giờ là đây’ và ‘động pḥng d́u dặt chén mời’ nhưng ‘Lọ là chăn gối mới ra sắt cầm’. Cả hai cùng có bên nhau, cùng ăn chung nằm chạ, thế mà không là ‘vợ chồng’. Cái ǵ lạ? Một màn hài kịch? Cuộc t́nh đă chuyển từ ‘Có thành không’ sang thành ‘Không trong Có’. Chúng ta muốn thế nào? Chúng ta muốn ‘có trong không’ hay ‘không trong có’? ‘Sở hữu mà không sở hữu’, ‘không sở hữu mà sở hữu’, qui luật Kinh tế nào giải thích được chăng? ‘Cuộc đời đă đưa cuộc t́nh hai người từ ‘Hữu’ vào ‘Không’, buộc hai người phải sống cái ‘Hữu trong Không’ để kết cục dẫn về sống cái ‘Không trong Hữu’. Liệu có thể bảo theo lời Kinh Duy Ma ‘Bất trụ vô vi, bất tận hữu vi’ được chăng? Một điều nữa, kết thúc câu truyện khiến ta liên tưởng đến lời Jésus: ‘V́ đến khi sống lại, người ta không lấy vợ cũng không lấy chồng, song những kẻ sống lại là như thiên sứ trên trời vậy’ (Ma: 22-30). ‘Thiên sứ’ là trạng thái sống ‘Hữu trong Không’ và ‘Không trong Hữu’ cùng lúc. Kiều đă ‘sống lại’ [cái chết của nàng là cái ‘chết hụt’, cái chết của nàng không là cái chết đoạn kiếp, đổi kiếp, hóa kiếp để đầu thai sang kiếp khác], ‘nàng sống lại trong cuộc đời nầy nhưng trong một trạng thái khác trước’, cái trạng thái ‘Không trong Có’. Chính cái kết thúc kỳ lạ của câu truyện đă khiến Nguyễn Du phóng tác ‘Kim Vân Kiều truyện’ của Thanh Tâm tài nhân mà không phóng tác một tác phẩm sáng giá nào khác trong vườn Văn học Trung Hoa, cũng như không sáng tác một truyện nào tương tự, dù ông không hẳn không biết bao nhiêu ‘hồng nhan bạc phận’ như một nàng Tiết Đào đời Đường, một Huyền Trân, một Ngọc Hân công chúa hay một Đặng Thị Huệ thời nhà Trịnh. Cái ư nghĩa của cuộc sống ‘Hữu trong Không’ nầy, về mặt Kinh tế, có thể nào đưa đến trạng thái ‘Kinh tế hổ tương’ như đă nói ở trên. Nhân loại, sau cơn ‘quặn thắt cuối cùng’ của Lịch sử Văn minh duy lư trong Tư hữu-Chiếm hữu sẽ trên đường tiến đến trạng thái sống đó. Đấy là do ‘vận hành dịch chuyển’ của Lẽ Đạo ứng vào Sử mệnh Thế giới, và Sử mệnh Việt Nam, từ ‘Không trong Không’ dẫn về ‘Không trong Có’, nói theo nhà Phật là từ ‘Chân Không’ dẫn về ‘Chân Không trong Diệu Hữu’.
Tử và Sinh tương tại đồng thời, song song, trái ngược: Kết thúc của câu truyện liên hệ đến ba nhân vật: Đạm Tiên, Kim Trọng, Thúy Kiều. Cả ba nhân vật nói lên cái lẽ ‘Tử Sinh’ trong ṿng tại thế. ÂM CẢNH, DƯƠNG TRẦN, hai cơi, hai nơi, hai cuộc sống, hai cảnh đời trái ngược hầu như lúc nào cũng tương tại đồng thời nơi Kiều. Cái ‘bây giờ’ của Đạm Tiên nơi Kiều là một hiện tại của một quá khứ bi thương. Đạm Tiên, h́nh ảnh của cái chết đau thương, của đoạn trường, của bạc mệnh (không riêng cho nữ giới), cái bạc bẽo, vô nghĩa của cuộc đời, cuộc đời thực sự đang và sẽ diễn ra, đấy là cuộc sống tại thế của mỗi người dù bất kỳ ai; đấy là cái ‘đoạn trường cựu thanh’ mà tất cả đều gánh chịu. Đạm Tiên, h́nh ảnh của quá khứ được ‘thực tại hóa’ nơi Kiều. Kim Trọng, ngược lại, h́nh ảnh của hạnh phúc, sáng lạng, tươi vui; h́nh ảnh của thông giao, tri ngộ, gắn bó, dựng xây, đồng hợp, sáng tạo cho nhau. Kim Trọng, h́nh ảnh của cái sống náo nức, rộn ràng của con tim sống động, h́nh ảnh của hiện thực, của niềm tin, của sức sống bây giờ và ngày tới. Kim Trọng, h́nh ảnh của hiện thực, bị đẩy xô về quá khứ để lại được ‘tương lai hóa’ nơi Kiều. H́nh ảnh hiện thực trở thành mộng và mơ. Niềm mơ, cơn mộng lại biến thành hiện thực để lại mất đi trong hiện thực, rồi lại trở thành mộng và mơ lẽo đẽo bay bay trong ḍng sống hiện thực của Kiều. Kim Trọng biến thành Tiếng Gọi, Lời Mời để Kiều vọng về hầu t́m được chút an ủi, an b́nh trong hiện thực đoạn trường và có được nghị lực chịu đựng mọi ma nghiệt, trầm luân.
‘Tử’ và ‘Sinh’, ‘Chết’ và ‘Sống’, ‘Thực’ và ‘Mộng’, qua hai h́nh ảnh Đạm Tiên, Kim Trọng luôn luôn hiện diện nơi Kiều, nhưng cái ‘xa xôi lại cận kề, gần gũi’, cái ‘cận kề gần gũi lại lăng đăng xa xôi’. Đạm Tiên, h́nh ảnh viễn ly mà cận lập; Kim Trọng, h́nh ảnh cận lập mà viễn ly. Hai h́nh ảnh trái ngược mà đồng hành, hai h́nh ảnh tương phản mà tương tại, hai h́nh ảnh nghịch chiều mà từng lúc giao thoa nơi Kiều. Đạm Tiên, h́nh ảnh quá khứ mà thực tại, h́nh ảnh cuộc đời đau khổ trước mắt; Kim Trọng, h́nh ảnh thực tại bị đẩy xô về quá khứ để dịch chuyển về tương lai, h́nh ảnh của động lực, của niềm tin và bóng h́nh chập chờn của hạnh phúc. Không riêng Kiều, bất kỳ ai, ở đâu và lúc nào cũng có một Đạm Tiên của ḿnh và một Kim Trọng cho ḿnh. Anh và nhóm Thông Luận của anh cũng thế thôi, anh Kiễng ạ!
Đạm Tiên, Kim Trọng, Thúy Kiều, bộ ba nầy cặp kè, tương tại và đồng hành. Bộ ba nầy là toàn bộ cơ cấu của sinh hoạt con người. ‘Đạm Tiên, con người trừu tượng, cái tôi bị tha hóa, bị khách thể hóa, cái tôi của cuộc đời, cái tôi xă hội, cái tôi tại thế của hiện thể. Kim Trọng, cái tôi siêu vượt, cái tôi tín ngưỡng, cái tôi thăng hoa, cái hướng lực d́u dắt hiện thể qua từng chặng đường của cơi tại thế. Thúy Kiều, cái tôi chủ thể, cái tôi tự do, cái tôi hiện hữu, cái biệt nghiệp trong ḍng cộng nghiệp’. Theo tôi nghĩ, cả ba ‘cái tôi’ đó nơi mỗi người, M. Heidegger gọi chung là DASEIN, tiếng Pháp dịch là ‘Être dans le monde’, tiếng Việt dịch là ‘Hữu Thể tại thế’. Thân phận con người thể hiện qua mối chấp tranh giữa ba cái tôi đó. Nhưng không có mối chấp tranh đó th́ không có ‘cái sống của con người’. Không có mối chấp tranh đó th́ cuộc sống chẳng có ư nghĩa ǵ, không có thành tựu ǵ, và xă hội nhân loại chẳng có tiến bộ, văn minh, văn hóa, tiến hóa ǵ ráo. Hai h́nh ảnh của ‘Chết’ và ‘Sống’, của ‘Tử’ và ‘Sinh’ xuất hiện nơi Kiều không cách xa nhau mấy, cùng trong buổi chiều, cùng trong ngày Thanh minh, sau buổi Lễ Hội. Tác phẩm đă mào đầu đời Kiều bằng một ngày vui lễ hội để kết thúc cuộc sống đoạn trường của nàng cũng bằng một ngày vui lễ hội không giống trước. Khoảng cách xuất hiện giữa Đạm Tiên và Kim Trọng, giữa ‘Chết’ và ‘Sống’ không xa khiến ta nghĩ rằng cả hai cặp kè nhau, luôn luôn cận lập, không phải thay chỗ cho nhau mà cùng đồng hành, song song, trái ngược và chỗ cuối cùng để gặp là chỗ tan hóa h́nh ảnh nầy vào h́nh ảnh kia, hay đúng hơn, cả hai tan hóa vào nhau, tạo nên cảnh sống lại của Kiều không c̣n Đạm, không c̣n Kim với ư nghĩa buổi ban sơ phùng ngộ.
Đấy là lư do đă khiến Nguyễn Du phóng tác ‘Kim Vân Kiều truyện’ của Thanh Tâm tài nhân, rồi đặt tên tác phẩm là ‘Đoạn trường tân thanh’, chứ không phóng tác một tác phẩm nào khác. Và đấy cũng là lư do đă đưa đến cảnh sống ‘kỳ quặc’ ‘có trong không’ giữa Kiều và Kim: ‘vợ chồng mà không vợ chồng’, ‘vợ chồng mà chỉ là bè bạn’ và cảnh sống ‘tu tại gia’ của Kiều v́ văi Giác Duyên đă ‘trốn’ Kiều, đă ‘mây bay hạc nội biết là về đâu’. Kết cục câu truyện với cảnh sống Kiều-Kim như thế, với cảnh đoàn tụ gia đ́nh, nói lên ǵ về cảnh sống của nhân loại trong nay mai?
Câu hỏi của Thúy Kiều và báo biểu của Đạm Tiên: Sau ngày Lễ Hội (ngày Thanh Minh: Lễ là tảo mộ, Hội là đạp thanh), sau cuộc giáp mặt giữa chết (Đạm Tiên) và sống (Kim Trọng), sau lần họa thơ, Kiều băn khoăn, buồn rầu, than van tự hỏi:
-Đoạn trường là ssổ thế nào Bài ra thế ấy vịnh vào thế kia?
Câu hỏi đó, nàng không trả lời được nhưng lại được chứng minh qua xuộc sống long đong, ch́m nổi của nàng. Câu hỏi đó lại do Thần Chết (Đạm Tiên) trả lời lúc nàng thiêm thiếp tỉnh mê, được văi Giác Duyên vớt lên từ sông Tiền Đường:
-Đoạn trường s𓁅 rút tên ra Đoạn trường thơ phải đem mà trả nhau C̣n nhiều hưởng thụ về sau Duyên xưa đầy đặn, phúc sau dồi dào.
Vừa trả lời, Đạm Tiên vừa báo biểu cuộc sống của Kiều từ nay. Tại sao lại Đạm Tiên mà không là ai khác? Sao không là văi Giác Duyên, là sư Tam Hợp hay một ‘thiên sứ’ trên trời? Đạm Tiên là h́nh ảnh cuộc đời đau khổ, chính cuộc đời đă trả lời cho Kiều. Cuộc đời báo biểu cho Kiều biết rằng ‘mọi đau khổ của nàng chấm dứt từ đây’ v́ ‘mọi vần thơ đau khổ, tức những sự việc gây khổ cho nhau giữa mọi người, hay hiểu rộng hơn nữa là mọi trang đời, mọi trang lịch sử khổ đau đă trút đổ lên cho nhau, từ nay chấm dứt, từ nay xóa sạch’ và những ǵ đă ‘có’ mà phải ‘mất’ đi, cái duyên xưa ấy nay trở về đầy đặn như thuở ban đầu, và từ nay trở đi mới hoàn toàn hạnh phúc, cái hạnh phúc của cuộc sống ‘có trong không’ và ‘không trong có’. Câu trả lời đúng với Kiều trong câu truyện nhưng mang một ư nghĩa sâu xa hơn. Đoạn thơ Đạm Tiên trả lời câu hỏi của Thúy Kiều cho thấy cái ‘chốn sẽ về’, cái ‘nơi sẽ đến’, cái cứu cánh cùng ư nghĩa cuộc sống thế gian, của cơi hiện hữu dẫy đầy trắc trở, thương đau. Diễn tiến lịch sử nhân sinh sẽ đến thời kỳ cáo chung đoạn trường để những ǵ tốt đẹp đă đánh mất (bản chất, giá trị tự thân của con người) sẽ lại phục hồi nguyên thể và thế gian sẽ là hạnh phúc miên viễn, tṛn đầy. Nguyễn Du đă mượn câu truyện để nói lên cái ‘vận hành dịch hóa của nhân sinh [lịch sử đau thương tại thế] khởi từ đâu [từ tên bán tơ vô danh, từ một sự việc nhỏ nhặt, vô nghĩa, không lư do, không bằng cớ (vu oan cho Vương Ông)], dẫn về đâu [đoạn trường sổ rút tên ra] sau dọc dài lệ máu đă gây ra cho nhau [những ‘chân lư tại thế’ qua lời Tú Bà]. Đấy là cái ‘Tư Tưởng’ của Nguyễn Du âm ỉ đêm ngày[12] mà Nguyễn Du không thể nào diễn tả, đă ‘ru’ ông vào một ‘cô đơn’ suốt mặt, toàn diện (cái cô đơn của con người tư tưởng); lúc bắt gặp quyển ‘Kim Vân Kiều truyện,’ đă phóng tác rồi đặt tên là ‘Đoạn trường tân thanh’ v́ thấy diễn tiến của câu truyện phù hợp với Tư tưởng của ông. Tác phẩm b́nh thường của Thanh Tâm tài nhân, qua lời thơ phóng tác của Nguyễn Du đă mang chứa một nội dung vô cùng ẩn mật, cao sâu. Nguyễn Du, con người ‘truớc khi chết vẫn luôn lo lắng chuyện ngh́n năm’[13], nhất định đă ôm ấp nơi ḿnh cái ‘Tư tưởng’ nào đó, lúc đọc ‘Kim Vân Kiều truyện’, xuất thần cảm hứng để mượn qua câu truyện mà diễn đạt tư tưởng ḿnh. Hiểu như anh về Nguyễn Du, tôi thấy không đúng mà có thể vô t́nh đă ‘làm nhục’ một thiên tài và một kiệt tác của dân tộc. Phạm Quỳnh trước đây đă nói như một khẳng quyết: ‘Truyện Kiều c̣n, nước ta c̣n’; tôi không rơ Phạm Quỳnh có nh́n ra cái ‘Tư tưởng’ sâu xa của Nguyễn Du nơi tác phẩm không, nhưng lời Phạm Quỳnh hẳn cho thấy ông đă có ‘cái nh́n’ đặc biệt nào đó hơn tất cả mọi người về tác phẩm của Nguyễn Du, chứ không vội vàng, hấp tấp, hồ đồ như anh khi bảo rằng ‘một số thơ của người Việt hải ngoại khu Bolsa hiện nay c̣n hay hơn truyện Kiều’.
Chân lư và kinh nghiệm tại thế qua bài giảng của Tú Bà: Mượn qua lời Tú Bà dạy Kiều nghề rước khách, Nguyễn Du đề cập đến những ‘chân lư’ và kinh nghiệm thường hằng trong cuộc sống tại thế. Trước tiên, khuyên Kiều không nên ‘dại dột’ hủy ḿnh, Tú Bà nêu ra hai chân lư: Chân lư thứ nhất: -Một người dễ có mấy thân. ‘Thân’ là tấm thân xác, cái h́nh hài sắc tướng, cái cấu trúc của hiện thể. Thân xác chỉ có một, một lần trọn vẹn, không ai có hai thân xác. ‘Tôi là thân xác của tôi’ (je suis mon corps), đấy là quan điểm Hiện tượng luận của Merleau Ponty. Ai chối căi điều nầy? Chân lư thứ hai: -Người c̣n th́ của mới c̣n. ‘Người’ nơi đây là tấm thân. ‘Của’ nơi đây vừa là của cải vừa là cuộc sống. Tấm thân có c̣n th́ mới c̣n cuộc sống. Tấm thân có c̣n, cuộc sống có c̣n th́ mới c̣n của cải v́ tấm thân là thứ của cải đầu tiên con người sở hữu, thứ của cải làm nên của cải dù vật chất hay tinh thần. Điều nầy không đúng sao?
Lúc ‘huấn nghệ’ cho Kiều, Tú Bà nêu 2 chân lư tiếp theo:
Chân lư thứ ba: -Nghề chơi cũng l𓋛m công phu. Làng chơi ta phải biết cho đủ điều ‘Nghề chơi’, trong truyện là ‘nghề làm điếm’ nhưng cách nói của Nguyễn Du không dừng ở đấy. Nếu quan niệm ‘đời là hư trường’, ‘đời là một sân khấu’, mỗi người (quốc gia, dân tộc, nhân loại) là từng diễn viên (bi kịch hay hài kịch) th́, nói theo lối ngày nay, ‘mỗi nghề chơi là một tṛ chơi của thế giới trong thế giới của cuộc chơi’[14]. Sử quan Thần học cho rằng: ‘Lịch sử là tấn kịch diễn xuất Thánh ư của Thiên Chúa và mỗi biến cố là một bài học dạy cho loài người từ trên trời’[15]. Đi vào đời là đi vào ‘tṛ chơi lớn’ và mỗi người phải có một ‘nghề chơi’ để ‘chơi’ với cuộc đời. ‘Nghề chơi’ nơi đây không chỉ riêng là ‘việc làm kiếm sống’ hàng ngày mà c̣n là cái ‘khả năng’, cái ‘tính chất’, cái ‘năng khiếu’, cái ‘sở năng’ về một phương diện nào đó. Cuộc đời bắt buộc mỗi người phải có một nghề chơi: nghề dạy học, nghề đi buôn, nghề làm thợ, nghề chính trị, nghề khoa học, nghề ca hát, thể thao, nghề măi dâm, cờ bạc,... kể cả nghề đi tu. Có nghề lương thiện, có nghề bất lương. Nghề chơi nào th́ cũng phải qua tấm thân xác, cho dù là nghề trí tuệ. Nhưng đă gọi là ‘nghề’ th́ phải có chuyên môn, không chuyên môn th́ chỉ là một hoạt động trong phút chốc không giúp ǵ cho cuộc sống. Mà chuyên môn th́ đ̣i hỏi kỹ thuật. Kỹ thuật th́ bao gồm đủ mọi thứ: khéo chân tay; khéo mồm mép; khéo mánh lới, thủ đoạn, mưu trí; khéo vận dụng, bố trí, sắp đặt; khéo biết dùng vật liệu, phương tiện; khéo biết chọn thời điểm, thời cơ, thời gian thích hợp; khéo tính toán, tiên đoán, khai thác được sở thích, nhu cầu, thị hiếu của làng chơi thời đại; khéo nh́n ra được qui luật vận hành mọi sự, mọi vật; khéo phát kiến, phát minh những mới lạ hấp dẫn, lôi cuốn,... Mọi cái ‘khéo’ đó phải do công phu học tập, trau giồi hoặc do kinh nghiệm, do năng khiếu hoặc phần lớn phải qua các trường lớp dạy nghề, các trường kỹ thuật. Kỹ thuật càng cao, nghề chơi càng tuyệt nghệ th́ càng có nhiều hợp đồng làm ăn cao giá, càng hái ra tiền. Do đó ‘nghề chơi nào cũng lắm công phu’. Làng chơi’ là địa bàn hoạt động của ‘nghề chơi’, hay nói có vẻ chính trị kinh tế hơn, đấy là ‘thị trường tiêu thụ nghề chơi’. Trong ‘làng chơi’, không hẳn ai cũng giống ai. Sở thích khác nhau, khuynh hướng khác nhau, tính t́nh khác nhau, điều kiện khác nhau, môi trường khác nhau, nghề chơi theo đó phải thay đổi cho phù hợp với khách mộ điệu, với ‘làng chơi’. Kẻ nào biết rơ hết tâm lư, nhu cầu, sở thích của làng chơi mà sử dụng nghề chơi của ḿnh thật chu đáo, tinh vi, đúng lúc, hợp thời, hợp cảnh th́ mới là ‘người soi’ và nghề chơi của ḿnh mới thành công rực rỡ, mới tạo lợi lớn, mới lẫy lừng danh tiếng. ‘Làng chơi ta phải biết cho đủ điều’. [Đáng thương cho những kẻ không có nghề chơi thập thành và những kẻ dù nghề chơi tuyệt kỹ nhưng lội ngược ḍng, không phù hợp với làng chơi thời đại].
Nhưng cuộc đời vốn không giản dị. Làng chơi luôn luôn thay đổi sở thích, nhu cầu, thay đổi môi trường; càng lúc thời trang càng đổi mới bắt buộc nghề chơi phải thay đổi ngón nghề cho phù hợp. Từ đó, nghề chơi ví đuổi hụt hơi làng chơi, nhưng làng chơi cũng ví đuổi hụt hơi những nghề chơi mới, để cả hai không bị đánh giá là lạc hậu, thoái trào, tụt hậu, thoái hóa, không đuổi kịp phong trào, không bắt kịp trào lưu, không tương ứng với thời đại. Mỗi người vừa là một ‘nghề chơi’ vừa là ‘làng chơi’ cho nghề chơi kẻ khác. Nghề chơi và làng chơi quan hệ nhau khăn khít. Xét lịch sử Tiến bộ, Văn minh của Thế giới nói chung, trên tất cả mọi b́nh diện, mọi lănh vực; xét cuộc sống của từng người, của từng quốc gia, dân tộc, ta thấy chẳng đă áp dụng cái ‘chân lư’ qua hai câu thơ trích trên lúc Tú Bà huấn nghệ nghề gái đĩ cho Kiều sao. Nói có vẻ triết lư hơn, ‘nghề chơi’ phải phát huy năng lực của ‘tính công cụ’ (outilité) và ‘tính phục vụ’ (servilité) nơi ḿnh đến cùng độ hiệu quả để làng chơi đến ‘mê mẩn đá’, ‘lăn lóc đời’. Tú Bà vô cùng sành sơi khai thác cái ‘nghề chơi’ nơi Kiều. Các ông Tư bản ngày nay c̣n hơn hẳn Tú Bà v́ không chỉ khai thác triệt để ‘nghề chơi’ mà c̣n luôn tạo ra ‘làng chơi mới’ để cả xă hội nhân loại ví đuổi hụt hơi, hầu khỏi bị ‘lạc hậu’ trước những ‘nghề chơi’ và ‘làng chơi mới’, theo cái vận tốc cơ năng của kỹ thuật và tiền bạc, của dạng thức ‘Tư hữu-Chiếm hữu thị trựng’.
Chân lư thứ tư: -Người ta ai mất tiền hoài đến đây. Ai chịu bỏ tiền mua một vật dụng tồi. Ai bỏ công đi xem nhiều lần một vở hát không ra ǵ, một buổi tŕnh diễn ca nhạc mà nghệ sĩ không tên tuổi,... Cửa hàng Tú Bà ‘xôn xao oanh yến, dập d́u trúc mai’ là do những gái đĩ thập thành như Kiều đă biết ‘vui ḷng khách đến, vừa ḷng khách đi’, cuốn hút được làng chơi ‘trăm ngh́n đổ một trận cười như không’ kiểu Thúc Sinh. Làng chơi không thể vung tiền phí phạm với những nghề chơi chẳng ra ǵ. ‘Ai cũng như ai, người ta ai mất tiền hoài đến đây’, ai cũng thế cả, tất cả đều giống nhau như đúc về mặt nầy. Cái ‘chân lư’ nầy dễ hiểu. V́ thế nên phát sinh những ngón nghề cạnh tranh đủ mọi mặt: kỹ thuật, giá cả, thị trường, thời trang, trang trí, chất lượng; cách thế ‘tiếp tân, chiêu đăi’ càng lúc tinh vi, phương pháp quảng cáo càng lúc thêm xảo thuật, các phương tiện truyền thông, giao hàng càng phát triển để cổ vơ và khích động làng chơi. Chân lư nầy là hệ quả của ba chân lư trước. Nào ai không đồng ư chân lư nầy? Ngoài bốn ‘chân lư’ trên, Tú Bà c̣n ‘dạy’ chúng ta hai kinh nghiệm quí báu khác, cần thiết cho làm ăn sinh sống, cho giao du tiếp xúc thường ngày: Hai kinh nghiệm đó là:
-Vành ngoài bảy chữ, vành ttrong tám nghề -Nỗi đêm khép mở, n𓁇i ngày riêng chung
‘Vành trong, vành ngoài, bảy chữ, tám nghề’, trong truyện là những thủ thuật chiêu khách. Nhưng Nguyễn Du không dừng ở đấy. ‘Bảy chữ, tám nghề’ là những cách thức, phương pháp, mánh khoé, kỹ thuật, những tính toán, sắp đặt để ‘nghề chơi’ (việc làm, công tŕnh) đưa đến kết quả, thành công. ‘Vành ngoài, vành trong’ ám chỉ cả ‘bên ngoài, bên trong’, cả ‘nội dung, h́nh thức’ của cả đối tượng lẫn chủ thể (sở thích, nhu cầu, tâm lư, hoàn cảnh,...). ‘Nỗi đêm, nỗi ngày’, từng lúc, từng nơi, từng cảnh ngộ, từng thời gian, từng trường hợp, từng đối tượng mà ‘xuất xử’ cho phải đường, phải lối, mà áp dụng ‘vành trong, vành ngoài, bảy chữ, tám nghề’ cho hợp thời, hợp lẽ, hợp cảnh, hợp t́nh, hợp lư. ‘Khép mở, riêng chung’, đấy là cặp ‘phạm trù’ mà mỗi ai trong chúng ta không sống? Dù đối ngay với vợ, với chồng, với mẹ cha, con cái, bạn bè thân sơ, đối với người lớn, kẻ nhỏ, với vua tôi, bạn thù, với quốc gia, quốc tế, kể cả với tri kỷ, tri âm,..., phần nào nên khép kín, phần nào nên mở phơi, phần nào nên giữ lại, phần nào nên tung ra, phần nào nên trao, phần nào nên nhịn,... trong tất cả mọi giao du, tiếp xúc, hợp tác, giao dịch,... Khi con người không tin nhau, không thành thật với nhau, khi c̣n óc ‘chiếm hữu’ cho ḿnh, khi c̣n phải là ‘nghề chơi và làng chơi’ của nhau th́ phải ‘vành trong, vành ngoài, khép mở, riêng chung’ măi măi như vậy để ḿnh khỏi bị thiệt, để người khỏi bị đau, để ‘hai bên cùng có lợi’, nói theo ngôn ngữ ngoại giao ngày nay v́ rằng ‘Niềm thâm thông là một thiết cận nghịch lư’[16]. Anh hoàn toàn không để ư đến ‘ngôn ngữ’ Nguyễn Du trong tác phẩm của ông. Cách nói của thi sĩ cũng như cách nói của nhà Tư tưởng kín đáo, ẩn nhiệm như vậy đó. Anh không để ư đến cái ‘đằng sau’ của ngôn từ. C̣n biết bao điều ‘ẩn nhiệm’ nơi lời Nguyễn Du trong ‘Đoạn trường tân thanh’. Mỗi nhân vật trong truyện là ‘điển h́nh’ cho một loại người trong xă hội đối với cuộc đời như ‘Tú Bà’ là ‘phát ngôn viên’ của lẽ sống tại thế, ‘Thúc Sinh’ là ‘người khách’ đến với cuộc đời,...
‘Đoạn trường tân thanh’ của Nguyễn Du là một tác phẩm tư tưởng. Một tác phẩm tư tưởng không chủ ư mô tả, phản ảnh hiện thực của cá nhân hay xă hội[17] mà chỉ mượn qua những hiện thực đó và qua ‘cách nói’ của tác giả (nhà thơ, nhà tư tưởng) đề cập đến cái lư do chính, cái nền tảng nào đă làm phát sinh và chi phối cái hiện thực dẫy đầy trạng huống, muôn h́nh, muôn vẻ, biến thái, biến dị thường ngày của cuộc sống, cuộc đời. Tư tưởng Nguyễn Du hay ‘Tư tưởng trong Đoạn trường tân thanh’ như thế nào? Xin chưa nói nơi đây. Tôi và anh bạn Trần Minh Xuân đă phân tích từng nhân vật trong tác phẩm ‘Đoạn trường tân thanh: Tiếng Vui trong Lời Buồn’[18] (mới tập I) nhưng chưa phân tích rơ ràng Tư tưởng trong tác phẩm. Theo chúng tôi ‘Đoạn trường tân thanh’ đề cập đến diễn tiến sinh hóa của nhân sinh, ư nghĩa cùng cứu cánh của cuộc sống, cuộc đời, đến lịch sử Tiến hóa của nhân loại trong ḍng vận hành của Lẽ Đạo. M. Heidegger, hơn một trăm rưỡi năm sau Nguyễn Du, theo tôi, đă cùng có ‘cái nh́n’ đó khi viết về ‘Con đường Tư tưởng’ (le chemin de la pensée): ‘Bởi tiếng gọi từ một nguyên sơ thăm thẳm, một miền cố quận được hoàn trả lại cho chúng ta’[19]. Nhân loại đang đau thương cùng cực, đang rối rắm, điên đầu trăm bề vạn mối; nhân loại đang đi vào một ‘đụng đầu lịch sử’ của Biệt nghiệp con người, Biệt nghiệp từng quốc gia, dân tộc với cái Cộng nghiệp chung của chủng loại người. Cuộc đụng đầu đó sẽ rất lắm tang thương, găy đổ nhưng là để dẫn đến thời điểm ‘Túc khiên đă rửa lâng lâng sạch rồi’ hầu ‘Đoạn trường sổ rút tên ra’ để mở ra ‘Chân trời hào quang tính thể’[20] trong giờ ‘Muôn vật đổi mới’ (Jésus) cho khắp cơi nhân quần. Đấy là thời điểm ‘hồi sinh, phục sinh’ hay ‘sanh lại’ (Jésus) của con người, của nhân loại, miễn là biết ‘hồi đầu thị ngạn’ (lời Phật) v́ ‘Phúc họa đạo trời’ nhưng ‘Cỗi nguồn cũng ở ḷng người mà ra’. Đấy là cái ‘Tiếng Vui’ gùn ghè, cận lập, quanh quẩn gần xa bên ‘nỗi buồn tại thế’ của nhân sinh. Nguyễn Du nói đến cái ‘viễn ảnh’ đó của nhân loại, của dân tộc chúng ta. Nguyễn Du đề cập đến các thuyết ‘Tài mệnh tương đố’, ‘hồng nhan bạc mệnh’ và ‘Nghiệp báo’ không ở lối hiểu thông thường lâu nay. Nguyễn Du đă hiểu Khổng giáo, Phật giáo ở tầng cao hơn mà trước nay chưa một ai để ư đến. Tác phẩm tầm thường của Thanh Tâm tài nhân đă trở nên một ‘tác phẩm tư tưởng siêu tuyệt’ qua lời thơ và Tư tưởng Nguyễn Du. Nguyễn Du không nông cạn, hời hợt, ngớ ngẩn như anh bảo. Anh đọc sách, nhất là các sách về Văn học, nghệ thuật, hoàn toàn theo lư luận mà không, hay ít, bằng ‘tâm t́nh’, nghĩa là bằng ‘rung động của tâm tư’, bằng cảm nhận, suy nghiệm, cảm nghiệm, chứng nghiệm. Do đó mà những ǵ anh viết về ‘Nho giáo’ nơi các chương sau, theo tôi, có quá nhiều lệch lạc, v́ anh không ‘hội nhập’ anh vào với tác phẩm và tác giả, không ‘tự đứng’ ḿnh vào hoàn cảnh và thời đại tác giả để nh́n ra khung cảnh thời đại, trạng thái lịch sử, từ đó nhận ra những ‘tâm tư’, ư t́nh, những ‘ẩn ức’, những ‘bào xót’, ‘quặn đau’ của thân phận con người cùng ḍng đời lúc đó đă ‘ghim’ tác giả vào những cảnh ngộ, những cảnh đời ra sao. Tôi đă đọc sách anh với ‘tâm t́nh’ nên mới nhận ra những ‘ư t́nh’ anh, để thư nầy phần nào được gọi là ‘tâm t́nh’ cùng anh; nếu chỉ đọc hoàn toàn bằng ‘lư’ th́ tôi không cần phải viết thư nầy mà sẽ chỉ là những lời công kích, phi bác nặng nề v́ toàn bộ sách anh chỉ có ‘phỉ báng, đả kích’ trong lúc không đưa ra được những ǵ gọi là ‘mới mẻ’ [những ǵ anh nêu ra để ‘làm lại đất nước’, xét ra, mọi người đều để ư đến rồi]. Về Khổng Tử và Nho Giáo: Anh dành đến những 4 Chương trong phần III để nói về Khổng Tử cùng Khổng giáo (hoặc Nho giáo), thêm hai chương nữa để nói về Kẻ Sĩ và bài thơ ‘Kẻ Sĩ’ của Nguyễn Công Trứ. Anh cho rằng ‘nghề chính của Khổng Tử chỉ là nghề thầy cúng’[21], ‘Cả đời kẻ sĩ chỉ sống với giấc mộng làm tôi tớ’[22]. Anh không tiếc lời ‘mạt sát’ Khổng Tử cùng kẻ ‘quân tử’, ‘kẻ sĩ’; tất cả những ‘đạo đức’, những lời Khổng Tử trong ‘Luận ngữ’ đều bị anh ‘nhờm tởm, phỉ nhổ’ không tiếc lời. Xin không trích ra nơi đây v́ ngại sẽ làm ‘gai mắt’ người đọc[23]. Tôi không nghiên cứu về Khổng giáo hay Nho giáo, cũng chẳng đọc ǵ nhiều những sách nói về Nho giáo. Hiện tôi chỉ có quyển ‘Khổng Tử’ của Nguyễn Hiến Lê. Đọc lại quyển nầy của Nguyễn Hiến Lê và sách của anh, tôi thấy ‘Nguyễn Hiến Lê điềm đạm, mực thước, thận trọng và khách quan’ v́ không có dụng ư, chủ tâm, tư kiến ǵ trong lúc ‘anh hoàn toàn chỉ có chỉ trích, đả phá do định kiến’. Cái ‘định kiến’ của anh là ‘cái bế tắc tâm lư’, cái ‘tồi dở của văn hóa Việt Nam là do ảnh hưởng nặng nề của Nho giáo’; vậy nên phải ‘vứt bỏ’ Nho giáo, thay thế bằng ‘những kinh nghiệm của các nước tiên tiến’(!). Anh quá vơ đoán và ‘trịch thượng’ không chỉ riêng chỉ trích đạo Nho mà luôn cả mọi ‘cách hiểu’ Nho giáo trước nay. Với ‘định kiến’ chắc nịch như thế, tôi thấy ‘không nên’ nêu ư kiến ǵ để trao đổi với anh. Một điều chắc chắn, xin thưa ngay là ‘ngoài một đôi điều, c̣n th́ mọi phán đoán, nhận định của anh về Nho giáo đều hoàn toàn sai lạc’. Chỉ riêng ư kiến về quan điểm ‘tam giáo đồng nguyên’ của anh[24] đủ chứng tỏ rằng anh chẳng chịu suy nghĩ chín chắn, sâu xa ǵ cả. Anh đă hiểu ‘Đoạn trường tân thanh’ của Nguyễn Du nông cạn, hời hợt như trên th́ mọi ư kiến lệch lạc, sai lầm của anh về Khổng Tử và Nho giáo cũng là điều dĩ nhiên thôi. Có thể, bản tâm anh không đến nổi ‘bạc ác’ nhưng v́ cái ‘định kiến’ trên nên anh đă phải ‘nặng lời quá đáng’ như thế. Về ‘Mười định luật cho một xă hội phát triển’ (chương 7 phần IV), theo tôi, chỉ ‘Định luật I’ mới đáng gọi là định luật. C̣n 9 ‘định luật’ sau chỉ là hệ luận, điều kiện cho Định luật I thôi. Xét chung, những ‘định luật’ đó chẳng chứa đựng ǵ mới lạ, hay ho, chẳng có ǵ đáng gọi là ‘sáng giá’. Hầu như ai nghĩ đến Chính trị, Kinh tế đều đă biết như anh. Áp dụng ‘10 định luật’ đó của anh vào thực trạng Việt Nam hiện nay, dù là do người Cộng sản hay người Quốc gia chống Cộng, dù do người Việt hải ngoại nầy với bao ‘trí thức’ uyên bác về Chính trị, Kinh tế, Tài chánh, Giáo dục, Khoa học, Kỹ thuật,... (học hỏi được nơi các nước ‘tiến bộ’) và dù là chính Anh, người đề ra 10 định luật trên, cũng không thể ‘làm lại đất nước’ mà chỉ đưa đến t́nh trạng xáo trộn, nhầy nhụa thôi. Tại sao? Xin không nói nơi đây. C̣n rất nhiều ư kiến muốn trao đổi với anh nhưng thư quá dài, vả lại mọi vấn đề không thể nào tŕnh bày hết được trong một ‘Thư gởi’. Nh́n ra ‘tâm ư’ của anh đối với Đất nước, Dân tộc, nên tôi mới viết thư nầy. Có người bảo với tôi (khi tôi ngỏ ư viết thư cho anh): ‘Quyển sách của Nguyễn Gia Kiểng có đáng giá ǵ đâu mà phải bận tâm, mất th́ giờ’.
Phần III
Trong phần nói về ‘Những Điểm Tôi Đồng Ư Và Không Đồng Ư’ với anh, tôi đă nêu ra sơ lược một số ư kiến về Sử mệnh Việt Nam và Sử mệnh Thế giới, lịch sử Việt Nam, về diễn tiến của t́nh h́nh Thế giới, về hạnh vận Việt Nam. Trong phần III nầy, tôi muốn nói rộng hơn, nhưng vấn đề không thể đơn giản v́ phải đề cập đến tất cả mọi lănh vực nhân sinh, mọi bộ môn học (Đạo học, Triết học, Sử học, Xă hội học, Kinh tế Chính trị, Khoa học,...) và phải nhiều chứng minh cụ thể. Nói chung, tôi cơ sở vào hai ‘quy luật Tiến hóa’ theo quan điểm Tiến Hóa mà tôi phát hiện: ‘Trương nở của Lượng cô đọng vào phẩm’ [hay: ‘Tế vi của cấu trúc giảm thiểu tính cồng kềnh của khối lượng’, không riêng về mặt cơ năng] và ‘Biệt nghiệp tan hóa vào Cộng nghiệp’ [hay ‘Từ chủ thể và đối tượng rơ mặt sang trạng thái’]. Không thể nào tóm tắt, vậy nên xin không nêu ra. Hy vọng, nếu có một ‘cơ duyên’ nào đó, tôi được gặp anh và nếu anh muốn được biết qua, tôi sẽ được hầu chuyện cùng anh.
Nơi đây, chỉ xin góp ư với anh về ‘thái độ’ của chúng ta trước thực trạng bi đát của Việt Nam và trước những ‘hỗn mang’ hiện nay của t́nh h́nh thế giới: 1.- Phải suy luận trên ‘thế động’ của Tư tưởng thay v́ trên ‘thế biến’ của thời sự. 2.- Phải ‘nổi loạn v́ xót thương’ thay cho ‘nổi loạn v́ hận thù’. 3.- Phải can đảm làm một cuộc ‘chạy trốn về đằng trước’, tóm tắt qua hai câu thơ sau: ‘Chạy về phía trước mù khơi Đào sâu dĩ văng đôi lời thơ xanh’.
Thưa anh, Thư quá dài. Những ư kiến trao đổi với anh, anh đánh giá thế nào, anh để ư hay cho là ‘nhảm nhí, tầm phào, ảo tưởng’, tôi không mấy lưu tâm. Quyển ‘Tổ Quốc ăn năn’ của anh, với câu phụ đề ‘Nghĩ lại đất nước trên ngưỡng cửa một thế kỷ và một thiên niên kỷ mới’ khiến tôi chú ư v́ nghĩ rằng ‘ít ra có một trí thức chịu nh́n về tương lai đất nước’ trong lúc rất nhiều người ‘chỉ biết miêu tả hiện tại’ hay ‘chỉ đào bới quá khứ cho quá khứ’. Nhưng, đọc toàn bộ sách anh, tôi ‘thất vọng’, không phải do những ‘đả kích’ nặng nề của anh về lịch sử, về văn hóa mà chính do cái ‘tương lai’ mà anh muốn xây dựng cho Việt Nam, tôi thấy chẳng có ǵ đáng gọi là ‘sáng giá’, tươi đẹp mà chỉ là ‘bắt chước’ người, ‘mô phỏng’ theo người giữa lúc mà mọi cái ‘hay, đẹp’ của người đang lâm vào khủng hoảng. Theo tôi, anh nên viết lại quyển nầy, với một nhan đề khác, với những suy nghĩ cao sâu hơn về Việt Nam và Thế giới. Kính chào anh. Trévoux (France), 11 tháng 10 năm 2001 Nguyễn Thùy
---------------------------------------------------
Chú thích
[1]
Tư tưởng, theo M. Heidegger.
|