|
| |
Thư Gởi
Ông
Nguyễn Gia Kiểng
Về Quyển ‘Tổ Quốc Ăn Năn’ Của Ông.
Nguyễn
Thùy
trang 1
Thưa
Anh,
Xin được gọi bằng Anh vì tuổi tác không chênh lệch nhau nhiều, vì cùng thân phận
ly hương và cùng hoài bão một tương lai tươi đẹp cho Đất nước Việt Nam.
Tôi
được đọc mấy chục trang đầu quyển ‘Tổ Quốc Ăn Năn’ của Anh nơi nhà anh Đỗ
Bình (người được anh tặng sách), sau đó đọc lướt qua toàn bộ quyển sách nơi nhà
anh Võ Thu Tịnh (cũng được anh tặng sách), tôi nẩy sinh ý kiến viết thư nầy cho
Anh.
Trước tiên, xin đôi dòng tự giới thiệu. Tôi không mấy được quen hàng ngũ trí
thức và Văn Nghệ sĩ dù tôi có viết một số tác phẩm (thơ, truyện, biên khảo).
Tôi không có một bằng cấp nào khả dĩ được ‘liệt’ vào giới trí thức. Tôi không
biết một ngoại ngữ nào ngoài đôi tiếng Pháp lem nhem chưa đủ để có thể nói
chuyện với một người Pháp. Có thể nói không cần khiêm tốn, tôi là kẻ ‘thất học’
nhưng lại mang bệnh ‘trầm tư’. Đấy cũng là hai cái ‘khổ’ trong cuộc sống. Do
‘trầm tư trong thất học’, tôi phát hiện được một số điều, ‘cảm nhận’ được một số
lời người xưa (qua Kinh điển, sách báo có cơ duyên được đọc), hiểu qua loa về
Văn hóa và Lịch sử Việt Nam,... Xin mượn những hiểu biết nhỏ bé nầy để hầu
chuyện cùng Anh.
Một
điều cũng xin thưa: Tôi chưa hề biết gì về nhóm Thông Luận, chưa đọc một tài
liệu nào của nhóm Thông Luận, chưa đọc một bài nào của Nguyễn Gia Kiểng, cũng
chưa đọc một bài viết nào (tán thành hay chỉ trích) của bất cứ ai về Thông Luận
và Nguyễn Gia Kiểng. Tôi chỉ loáng thoáng nghe ‘‘nhóm Thông Luận chủ trương ‘Hòa
giải Hòa hợp Dân tộc’, khuynh hướng thân Cộng’’. Tôi không để ý dư luận nầy vì
‘thân Cộng, chống Cộng’ lâu nay đã trở thành quá phổ biến gán ghép cho nhau giữa
người Việt hải ngoại. Tôi cũng không tham gia vào bất cứ tổ chức, đoàn thể, hiệp
hội Chính trị, Văn hóa nào tại Pháp, tại Mỹ hay ở đâu. Nói thế để anh hiểu rằng
tôi không có một ‘thiên kiến, tư kiến’ nào khi viết thư nầy về quyển sách của
Anh.
Thư
nầy gồm ba phần:
-Phần
1 nói những ý nghĩ của tôi ‘phỏng đoán’ tâm trạng Anh lúc viết tác phẩm trên,
-
Phần 2
nói những ý kiến của tôi (đồng ý và không đồng ý) về nội dung tác phẩm của Anh,
nhân đấy được trao đổi ý kiến và tâm tình cùng anh.
-Phần
3 trình bày với Anh những ‘suy nghĩ’ của tôi về ‘Tương lai Đất Nước, Dân tộc’
chúng ta (những yếu tố nền tảng -theo tôi nghĩ- của Văn hóa và Lịch sử Việt Nam,
những diễn tiến của Thế giới, những dữ kiện để Việt Nam ‘hòa nhập’ vào diễn
trình chung của Thế giới).
Tôi không chủ trương thảo luận, tranh luận, đối thoại với Anh, cũng không hẳn
‘phê bình, đánh giá’ tác phẩm của Anh mà chỉ ‘trao đổi’ ý kiến và ít nhiều ‘tâm
tình’ với Anh thôi nên dùng qua hình thức ‘Thư gởi’. Tôi nghĩ không cần
thiết ‘xin lỗi’ nếu có những điều khiến Anh phật lòng hay ‘cười chê’. Tôi
viết với tâm trạng và thái độ chơn thật, ngay thẳng của một kẻ ‘thất phu’ yêu
nước.
Phần I
Đọc qua vài chục trang đầu cùng Mục Lục quyển sách, tôi lờ mờ đoán ra những gì
anh viết trong một số phần sau. Rồi lướt qua toàn bộ tập sách
trong tôi lẫn lộn ‘bực tức, phẫn nộ’,
thích thú, đồng ý
lẫn ‘xót xa’.
Thắc mắc, phân vân, tôi ‘phỏng đoán’ tâm trạng Anh khi viết ‘Tổ
Quốc Ăn Năn’.
1.
Anh ‘được chọn’, ‘bị chọn’ hay ‘tự chọn’ làm con ‘thiêu thân’(?) hoặc tự
‘đốt mình’ làm ‘đuốc’ hầu soi ra một lối đi. ‘Tự thiêu mình thành đuốc’, anh cố
ý đưa đến một ‘phản tĩnh’, một ‘tự quy’ nơi mình và nơi mọi người để ‘tĩnh
thức’, biết ‘nhìn lại’ và ‘nhìn ra’ mình và người hầu ‘định hướng’ cho một hành
trình từ nay trên đường xây dựng lại Tổ Quốc.
2.
Anh bày ra và tự ru mình vào một ‘trò chơi khổ nhục kế’, có nghĩa biến
mình thành ‘mũi nhọn’ xung kích, khiêu khích, đả kích tất cả mọi người, mọi mặt
và ‘bằng lòng, vui vẻ’ đón nhận tất cả mọi tấn công từ mọi phía để qua những
‘đòn tấn công’ đó, mọi người sẽ sớm ‘tự quy, phản tĩnh’, nhận ra rằng mọi thứ
‘vũ khí’ lâu nay được dùng
để ‘chống Cộng’ và xây dựng Đất Nước, không hữu hiệu chút nào. Anh mong muốn (và
kêu gọi) mọi người -người Quốc gia và cả người Cộng sản- sớm ‘xét lại’ ý thức
Quốc gia, Dân tộc giữa lúc Thế giới đã đi vào một kỷ nguyên mới, nếu không tình
hình hiện nay
‘có thể đưa đất nước đến chỗ giải thể’,
‘giải thể trong lòng người, rồi giải thể thực sự’.
Theo anh, muốn thoát được tình trạng bi đát hiện nay, muốn ‘cứu nước’, muốn xây
dựng Quốc gia hưng thịnh để tránh cảnh ‘bị giải thể’ trên, cần thiết phải ‘xét
lại’, phải từ chối, từ bỏ mọi quan điểm về Quốc gia, Dân tộc, mọi thái độ ‘yêu
nước’ lâu nay mà, theo anh, là thiển cận, cổ hủ, lạc hậu, không ứng hợp với Kỷ
nguyên mới. Vì thế, tôi nghĩ, Anh chịu ‘hy sinh’, chịu đựng tất cả mọi ‘đòn tấn
công’, hy vọng lúc ‘tấn công’ anh, mọi người sẽ biết ‘xét lại’.
3.
Viết ‘Tổ Quốc Ăn Năn’, anh tự làm một bước ‘nghịch hành’ trong tư tưởng:
đem ‘nghịch lý’ để phá bỏ những gì trước nay được xem là ‘thuận lý’ mà thật ra,
theo anh, lại là ‘hồ đồ, hư ngụy, phi lý’. Biết nói ra là bị chống đối, đả kích
nhưng vẫn nói, cần thiết phải nói, mạnh dạn nói trong chủ ý đánh thức ‘lương
tri’ mọi người biết ‘xét lại’ để ‘tự hủy phá’ cái ‘lâu đài tâm lý và trí thức’
thiển cận không còn hợp thời đại, trước yêu cầu ‘phải đổi mới’ của Đất Nước hầu
tránh cho Quốc gia khỏi phải đi đến tình trạng ‘giải thể trong lòng người, rồi
giải thể thực sự’.
Những điều nói trên không rõ có đúng với tâm trạng anh không? Có thể do tôi
‘tưởng tượng’ theo cái ‘chủ quan’ của tôi; một chủ quan không hại mình, hại
người, không hại Quốc gia, Dân tộc thì nếu không tốt cũng không xấu. Do những
điều trên nên dù ‘bất đồng’ với Anh trên nhiều điểm, dù có nhận ra ‘cái nhìn’
của Anh về Lịch sử, về ‘con người Việt Nam’ còn sơ sài, hạn hẹp về nhiều mặt,
tôi vẫn nhận ra ‘thiện chí’ cùng ‘tấm lòng’ của Anh đối với Tổ Quốc, Quê Hương.
a) Anh
là người yêu nước và chống Cộng sản. Ngoại trừ trường hợp Cộng sản đưa anh làm
‘cò mồi’ theo thủ đoạn trí trá quen dùng của họ để lũng đoạn, ly gián, ‘vô hiệu
hóa’ tinh thần yêu nước của các hàng ngũ và phong trào chống Cộng nơi hải ngoại,
còn thì, theo tôi, Anh là người thực tâm nghĩ đến Đất nước. Anh không là Cộng
sản, không thân Cộng sản, không cam tâm làm ‘công cụ’ cho Cộng sản vì bị đe dọa
hay vì quyền lợi cá nhân, cũng như đủ minh mẫn để không rơi vào cạm bẫy, thủ
đoạn Cộng sản, cũng không phải do Cộng sản ruồng rẫy, coi khinh Anh, không dùng
Anh mà Anh trở thành chống Cộng. Những điều Anh nêu ra có thể ‘trái tai, ngược
ngạo’ nhưng phát xuất từ tấm lòng, từ suy tư, từ những xót xa, dằn vật trước
cảnh tình Đất nước. Những đoạn anh nói về ‘Xô Viết Nghệ Tĩnh’,
về Phạm Văn Đồng thích dùng tiếng Pháp,
về Hồ Chí Minh xin được vào học ‘Trường Thuộc Địa’, về sự việc Đảng và Nhà Nước
Cộng sản quỵ lụy nghe quan Thầy Cộng sản Trung Quốc phán dạy
và nhiều đoạn khác cho tôi thấy Anh không là, không thể là Cộng sản. ‘Chế độ
độc tài nầy (chế độ Cộng sản hiện đang ngự trị Việt Nam) sẽ là chế độ độc tài
cuối cùng tại Việt Nam với điều kiện là vẫn còn là một quốc gia sau cuộc thử
thách nầy’
và đoạn cuối trang cuối của quyển sách (cùng một số đoạn khác) nói lên nỗi
niềm lo nghĩ, tin tưởng của Anh đối với Đất nước.
b) Anh
là người thành thật tuy có hơi cao ngạo trong thái độ và quá khích trong lập
luận: Anh đã nói lên những ‘may mắn’ của anh ‘rất được số phận ưu đãi so với
đồng bào’
cùng với cái ‘lòng không thể yên’, ân hận thấy ‘cuộc đời mình nhỏ lại và thấp
xuống’
cùng những ‘dằn vật’ khi thấy ‘hình như đại đa số người Việt không nhìn thấy một
mối nguy lớn cho đất nước’ (mối nguy bị giải thể) và ‘hình như đa số người Việt
không nhìn thấy sự cần thiết của đất nước cho chính đời mình’,
‘Người Việt có thể hưởng ứng nồng nhiệt những tổ chức nhảm nhí
nhưng chỉ dành cho quê hương đất nước một quan tâm nhỏ’
cùng nêu lên mọi ‘đả kích, mạt sát’ anh.
Anh nói đúng những điều anh nghĩ, không e dè, không lấp lửng, không ngập ngừng,
nghi ngại. Chỉ trích, chê bai thẳng thừng, không khoan nhượng nhưng đặt hết niềm
tin vào con người Việt Nam: ‘Con người Việt Nam là cả một bí mật chưa được
khám phá, nhưng điều chắc chắn là nó mang một tiềm năng rất lớn chưa phát huy
được vì một số bế tắc tâm lý’... ‘Cái khó của chúng ta là phải làm một
việc mà từ trước chúng ta đã không cố gắng để làm, nghĩa là tìm hiểu chúng ta là
ai’,
‘Chúng ta có đồng bào, tổ tiên và con cháu. Chúng ta có hiện tại, nghìn trước và
nghìn sau’
(Nhưng có dân tộc nào không có như vậy, thưa anh?).
c) Anh
là người can đảm: Can đảm trong ý nghĩ, trong lời nói (có can đảm trong việc làm
hay không, tôi chưa rõ). Anh can đảm khi bảo rằng ‘đưa ra mười ý mới trong đó
có chín ý sai và một ý đúng vẫn còn hơn là nói mười điều đúng cả mười nhưng chỉ
là những ý cũ’:
‘biết rằng sẽ gây sóng gió nhưng là một sóng gió cần thiết, nếu chúng ta không
muốn ngủ yên trong sự thua kém’.
Cái ‘can đảm’ của anh đã được một số người nhận thấy lúc phát biểu ý kiến về tác
phẩm của anh như Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng, ký giả Đinh Quang Anh Thái, Luật sư
Đào Tăng Dục,...
tôi không cần thiết nói thêm.
d) Anh
là người có chí hướng và quyết tâm: Chí hướng của anh là ‘phải giữ lấy đất
nước Việt Nam, phải làm lại đất nước bằng lòng yêu nước và tinh thần trách
nhiệm’.
Muốn thế, mỗi người Việt Nam phải ‘ăn năn và sám hối’ và Tổ Quốc cũng phải
ăn năn và sám hối: ‘chính tổ quốc phải nhận lỗi về những đày đọa đã gây ra
cho các con của mình, và tự sửa đổi.’
Quyết tâm của anh là phải can đảm ‘đạp đổ’ mọi quan điểm lâu nay về lâu đài ‘Văn
Hóa Dân Tộc’,
không chỉ riêng tại Việt Nam mà chung cả châu Á hay phương Đông.
Con đường và phương pháp thực hiện là phải ‘Hòa giải hòa hợp Dân tộc’
để xây dựng một thể chế chính trị ‘Dân chủ đa nguyên’. Anh quan niệm
‘Dân chủ đa nguyên’ ‘đi xa hơn dân chủ’
và mới phát triển được đất nước để giữ vững đất nước và anh nêu ra ‘mười
định luật cho một xã hội phát triển’.
Anh phân tích một số xã hội Âu Mỹ cùng một số xã hội Á Châu và Phi Châu để chứng
minh rằng do ‘Dân Chủ’ và ‘Phát triển’ mà các nước Âu Mỹ (Hoa Kỳ,
Pháp,...) ‘dân giàu, nước mạnh, sung túc, phồn vinh...’. Chí hướng đẹp,
quyết tâm dũng cảm, phân tích chi ly, quan điểm rõ ràng, lý luận khúc chiết; anh
quả là một ‘trí thức yêu nước’, nhiệt thành với ‘chí hướng và quyết tâm làm lại
đất nước’. Nhưng...
Bốn
điều vừa nêu trên có thể bị nhiều người đánh giá là ‘tôi tìm cách biện hộ cho
anh’ và sẽ ‘phản đối’ tôi nhưng tôi nghĩ phần nào ‘phản ảnh’ được ý và tình của
anh. Sự việc ‘ghi chú’ từng trang sách của anh sau từng đoạn được trích, nghĩ ra
không cần thiết với anh (vì anh là tác giả) nhưng chỉ để nếu có người nào đọc
được thư nầy sẽ dễ tìm ra nơi sách anh. Chính do ‘nhìn’ ra ý tình anh như trên
nên tôi mới viết thư nầy.
Phần
II
Những
điểm tôi đồng ý và không đồng ý với anh.
A.
Những điềm tôi đồng ý với Anh:
Năm
1979, viết lén lút tại Saigon, dưới chế độ Cộng sản, tôi hoàn thành (với sự cộng
tác của anh bạn Trần Minh Xuân) quyển ‘Tinh Thần Việt Nam’,
có nêu ra một số điểm tổng quát giống như anh
nhưng tôi ‘rào trước đón sau’ và lời văn ‘nhã nhặn’ hơn anh. Những điểm đó, xin
tóm tắt như sau:
1) Dân
tộc Việt Nam không có những đặc trưng ưu tú như người, bằng người:
-
không
có một ‘chữ viết’ cho mình và do mình.
-
không
có một hệ thống tư tưởng cho mình và do mình, ngoài tục ‘thờ cúng ông bà’.
-
không
có một công trình khoa học, kỹ thuật nào đồ sộ cho mình.
-
không
có một công trình nghệ thật nào sáng giá để hãnh diện (ngoài ‘Đoạn trường
tân thanh’ của Nguyễn Du)
-
Mọi cuộc đấu tranh
chống ngoại xâm chỉ nhằm ‘bảo tồn cái gia tài vật chất’ (lãnh thổ, sinh mạng)
chứ không để ‘bảo vệ cái gia tài Văn hóa’.
-
Mọi
điều được nêu ra để ‘tự tôn nòi giống, tự hào dân tộc’ (con cháu Rồng Tiên, đoàn
kết bất khuất, tự chủ, tự cường, trung hậu đảm đang, thông minh, lanh lợi,...)
không hẳn là tính chất ‘đặc thù’ của dân tộc ta; mọi dân tộc đều có và một số
dân tộc còn hơn hẳn ta.
2) Dân
tộc Việt Nam là dân tộc nhiều trầm luân.
-
Trầm luân không
riêng vì bị xâm lăng, thống trị, bị nội chiến, loạn lạc triền miên, bị tai họa
thiên nhiên mà phần lớn do bao thói hư tật xấu hầu như cố hữu (xin không nêu ra
vì quá dài dòng). Dĩ nhiên, dân tộc nào cũng có nhiều tính xấu, không riêng gì
dân tộc ta, nhưng bên cạnh những cái xấu họ đã có những thành tựu đáng kể về mặt
nầy mặt nọ khiến cái xấu của họ dễ được quên đi.
-
Trầm
luân vì thiếu óc sáng tạo, thiếu vận dụng khả năng phát triển. Người Việt Nam
‘thông minh’ trong cái nhỏ, cái tiểu tiết, giỏi về mặt tiểu xảo hơn là phát minh
sáng tạo trên kích thước lớn, do đó cuộc sống cá nhân và đất nước trì trệ, chậm
tiến, luôn luôn quẩn quanh trong qui mô ‘sản xuất nhỏ’ về đủ mọi mặt. Đất nước
luôn luôn đói nghèo, tơi tả, dậm chân ì ạch tại chỗ và càng lúc càng có cơ nguy
thụt lùi, tụt hậu. Niềm tự hào dân tộc từ đó được thay cho mặc cảm tự ti, mặc
cảm nhược tiểu cho mãi đến nay và sẽ còn kéo dài để có thể ‘quốc gia sẽ bị giải
thể trong lòng người rồi giải thể thật sự’ như anh nói.
Những điều nêu trên, tôi nghĩ cũng trùng hợp với nhiều điều trong sách của anh
nên tôi không cần phải trích trong sách của anh để dẫn chứng. Tôi sẽ nêu thêm
trong phần nói về ‘những điểm tôi không đồng ý với anh’. Nhưng sách của tôi và
tác phẩm của anh đi theo hai ngã khác nhau. Anh ‘quật ngã’ lâu đài truyền thống
Văn hóa trước nay để ‘làm lại đất nước’ theo chủ trương ‘Hòa Giải Hòa Hợp Dân
Tộc’, xây dựng thể chế ‘Dân Chủ Đa Nguyên’ thì tôi lại đi tìm những điểm căn bản
của Tinh thần Dân tộc để giải minh tại sao dân tộc ta lại không thể có một số
đặc trưng nào đó như người và giải minh những đoạn trường mà dân tộc Việt Nam đã
phải trải chịu để nói đến cái ‘hạnh vận’ của Việt Nam trong những ngày tới.
B.
Những điểm tôi không đồng ý:
l)
Trước tiên về nhan đề ‘Tổ Quốc Aên Năn’.
Tôi thấy dùng từ ‘Tổ Quốc’ nơi đây không mấy ổn. Anh đề cập đến ‘Tổ Quốc, Đất
Nước, Núi Sông, Non Nước, Quê Hương’, những từ nầy thường được dùng lẫn lộn và
thường hiểu là đồng nghĩa với nhau. Thực ra, nếu phân tích, chúng có đôi khác
biệt. Xin tạm sơ lược về nghĩa các từ đó.
- ‘Đất
Nước’ chú trọng về mặt lãnh thổ trên đó một Dân tộc sinh sống;
- ‘Quê Hương’ có thể vừa l�à toàn thể Đất Nước nhưng cũng có thể chỉ là một vùng
của Đất Nước (xóm làng, thôn ổ), thường chỉ nơi ‘chôn nhau cắt rốn’, nơi một
người đã sinh ra và cư ngụ, do đó mang nặng tính chất tình cảm.
- ‘Núi Sông, Non Nước’ cũng cchỉ Đất Nước nhưng có tính cách thơ mộng, thường
dùng trong văn chương.
- ‘Tổ Quốc’ tuy cũng ám chỉ� Đất Nước, và theo anh ‘nhấn mạnh hơn về lịch sử
và di sản văn hóa’
nhưng, theo tôi, đấy là một ‘ý niệm’ hơn là một thực thể và hoàn toàn có tinh
cách tình cảm. Từ ‘Tổ Quốc’ cũng giống như các từ ‘Trời, Thượng Đế, Đạo’ vốn
không là thực thể theo nghĩa vật lý. Trong văn chương và tôn giáo, ta có thể
‘nhân hóa’ Trời và Thượng Đế nhưng không nhân hóa Tổ Quốc và Đạo, ngoại trừ
trong ‘Thơ’ vì đấy là ‘đặc quyền’ của Thơ. Do đó, tôi nghĩ không thể gán một
hành động (ăn năn) cho một ý niệm (tổ quốc). Có thể dùng ‘Đất Nước ăn năn’, ‘Dân
Tộc ăn năn’, nhưng như thế cũng không ổn lắm. Tôi nghĩ dùng nhan đề ‘Việt Nam ăn
năn’ có lẽ đúng hơn là ‘Tổ Quốc ăn năn’ vì cái tên Việt Nam bao gồm cả Dân Tộc,
Đất Nước, Quê Hương, Nhân Dân và luôn cả các Chính Quyền trong quá khứ và hiện
tại, cũng bao gồm đủ mọi phương diện sinh hoạt. Cũng có thể dùng nhan đề ‘Lịch
Sử ăn năn’. Nhưng ‘Việt Nam ăn năn’ hay ‘Lịch Sử ăn năn’ thì lại không đúng với
lời anh: ‘Tổ Quốc phải rời bỏ bàn thờ thiêng liêng, tối cao và vô trách nhiệm
để thân thiện đến với mọi người. Tổ Quốc phải lột xác để trở thành một Tổ Quốc
khác, một Tổ Quốc hiền hòa thay vì dữ tợn, một Tổ Quốc có trái tim thay vì có
nanh vuốt...’[tôi mạo muội liên tưởng đến sự việc đem bàn thờ Phật sắp dài
trên đường phố Huế trước đây].
Ở
trang 570, 571 khi nêu những phản bội của Cộng sản, những chủ trương và hành vi
độc ác của Cộng sản, lẽ ra nên dùng ‘Cộng sản thế nầy thế nọ’, anh lại ‘đồng
hóa’ Cộng sản với Tổ Quốc để bảo ‘Tổ Quốc đồng nghĩa với chiến tranh và chết
chóc’, ‘Tổ Quốc hành động như bọn giặc cướp’, ‘Tổ Quốc đểu cáng và lật lọng’.
Nếu không phải anh dùng từ ‘Tổ Quốc’ nơi những dòng nầy để mỉa mai Đảng Cộng sản
thường nhân danh ‘Tổ Quốc’ trong mọi thủ đoạn mị dân, giả hình của họ, thì, chao
ôi! Tội nghiệp cho Tổ Quốc của tôi, của tất cả người Việt trước nay!
Anh đả kích, lên án người Việt Nam; đả kích, lên án các chính quyền Cộng sản và
Quốc gia trước nay; đả kích, lên án truyền thống Văn hóa dân tộc thì được nhưng
đả kích, lên án và đòi hỏi Tổ Quốc như trên thì nghe ra sao sao ấy. Anh muốn
thay thế Tổ Quốc Việt Nam nầy bằng một Tổ Quốc do anh tạo ra chăng? Tổ Quốc Việt
Nam từ bao đời phải lột xác để trở thành một Tổ Quốc khác, Tổ Quốc khác đó là
‘Tổ Quốc Nguyễn Gia Kiểng’ chăng? Ôi, cái ‘Tổ Quốc Nguyễn Gia Kiểng’
hiền hòa, có trái tim chứ không dữ tợn, không có nanh vuốt quả là tốt đẹp nhưng
sao lời lẽ trong sách của ‘Tổ Quốc Nguyễn Gia Kiểng’ nhiều đoạn lại nghe
ra dữ tợn và hầu như chứa đầy ‘nanh vuốt’?
Dùng từ chưa mấy minh xác (tôi nghĩ thế) để đặt tên cho một tác phẩm ‘chính
luận’ lẫn biên khảo [không rõ có thật là biên khảo không?] thì mọi lập luận nêu
ra sẽ bị đánh giá là ‘hàm hồ’, cường điệu, chủ quan và bị chống đối, âu cũng là
điều thông thường, không đợi phải do thiên kiến, do ‘đối lập’ hay do tỵ hiềm
hoặc do lý do nào khác.
Anh bảo ‘Tác giả viết với kiến thức và suy tư cá nhân của mình’
nhưng ý kiến và suy tư cá nhân mà có liên hệ đến cả tập thể, gây hiểu lầm, ngộ
nhận giữa tập thể thì có tác hại hơn là xây dựng. Thế hệ trẻ Việt Nam sau nầy,
đọc sách anh với những câu như trên sẽ thấy ‘gớm ghiếc’ Tổ Quốc Việt Nam quá và
chắc chúng sẽ bỏ Việt Nam, tìm cách sống ở một nước khác, thờ Tổ Quốc nước đó.
Anh là người yêu nước, muốn ‘làm lại đất nước’ mà hầu như ‘nguyền rủa’(!) Tổ
Quốc như thế thì liệu còn ai nghe, còn ai ‘dám’ đối thoại với anh, còn có thể
‘hòa giải, hòa hợp’ với anh.
Tôi nhớ lời Lão Tử ‘Thánh nhân lấy lòng trăm họ làm lòng mình’. Đọc sách
anh, tôi thấy ‘anh lấy lòng anh làm lòng trăm họ’ có nghĩa anh ‘áp đặt, bức bách
trăm họ’ thuận theo lòng anh, ý anh. Có thể nói anh là ‘người hùng’ nhưng, thưa
anh,
‘xung quanh kẻ anh hùng, tất cả trở thành bi kịch’.
Theo tôi, anh nên tìm một nhan đề khác cho tác phẩm.
2) Về ‘Địa Lý Và Con Người Việt Nam’:
Đất nước ta có nhiều tài nguyên hay không, tôi không hoàn toàn quả quyết. Về
khoáng sản, tôi không rõ
nhưng về mặt ‘lâm sản, nông sản, hải sản’ thì tôi tin là khá giàu. Việt Nam đứng
vào hàng thứ ba về sản xuất gạo, hàng thứ tư về sản xuất cà-phê. Bờ biển dài
3200km như anh nói, là một vựa cá lớn nếu biết khai thác. Dãy Trường Sơn từ Bắc
chí Nam khá nhiều về gỗ và nhiều thứ gỗ quí. Cây trái, hoa quả Việt Nam chắc
cũng không kém nước nào.
Niềm ‘tự hào’ về ‘Quê Hương giàu đẹp’ không phải thiếu căn cứ và là một ‘tình
cảm’ có tác dụng gắn liền con người với đất nước chứ không ‘tạo ra một sự yên
tâm tai hại’ để rồi ‘mất đi sự lo lắng cần thiết để giữ gìn đất nước và
xây dựng tương lai’.
Người Cộng sản tàn phá tài nguyên thiên nhiên để đất nước ‘không còn rừng
xanh và bặt tiếng chim’
không do ‘mất đi sự lo lắng giữ gìn đất nước’ mà do ngu dốt và do tham
lam làm giàu cho Đảng và cho cá nhân.
Tuy nhiên, người Việt Nam cũng đề cập đến cái ‘nghèo’ của đất nước. Một bài thơ
được phổ nhạc thời chống Pháp đã viết ‘làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá’,
lời trong đôi bản nhạc của Phạm Đình Chương,
Phạm Duy
và từ ‘Quê nghèo’ trong thi ca trước nay đâu có ‘ca tụng’ cái giàu của đất nước
đâu mà chỉ muốn nói lên tình cảm người Việt Nam: nghèo nhưng tình nghĩa đậm đà,
son sắt; nghèo nhưng kiên trì chịu đựng.
Nhưng không phải nhiều tài nguyên mà đất nước phú cường, nhiều khi lại là ‘tai
hại’ vì sẽ là ‘miếng mồi’ cho óc thực dân của các nước mạnh. Ít tài nguyên thiên
nhiên chưa hẳn là một nguy hại. Chung quy do con người có biết chăm sóc, gìn giữ
và khai thác tài nguyên một cách hợp lý hay không. Nhận xét của anh đúng phần
nào nhưng không hoàn toàn xác đáng. Anh dùng ý kiến đó để ‘phản bác, phủ nhận’
một thái độ hơn là minh chứng một ‘sự kiện’ của đất nước.
‘Chính nhờ núi mà nước ta còn đến ngày nay’,
‘sự tồn tại của nước ta chỉ được bảo đảm nhờ vách núi dày đặc và hiểm trở’,
‘chúng ta đã tồn tại được chủ yếu là nhờ có núi làm biên giới thiên nhiên’.
Điều nầy đúng với lối đánh giặc ngày xửa ngày xưa khi còn phải đi bộ, đi bằng
ngựa, bằng voi. Nước Pháp với dọc dài biên giới phía đông toàn là núi, lại có
chiến lũy Maginot, thế mà có ngăn được Đức Quốc Xã xâm lăng đâu. Lúc bị xâm lăng
rồi hoặc lực lượng bị đánh bật, Núi chỉ có lợi cho kháng chiến bằng ‘du kích’
như ở Việt Nam, Pháp,
Tchechenie, UCK ở Macédoine,... Núi gây trở ngại cho lực lượng xâm lăng nhưng
không là yếu tố chủ yếu giúp gìn giữ được đất nước; yếu tố chủ yếu là tinh thần
yêu nước và khả năng tự vệ của nhân dân. Ngày nay, với vũ khí tối tân, với các
hình thức ‘xâm nhập bằng văn hóa; kinh tế, thương mại, sách báo, phim ảnh, âm
nhạc’ như anh nói, núi không còn là ‘lá chắn’ hữu hiệu nữa. Tôi hoàn toàn đồng ý
với anh ‘bài toán giữ nước đã thay đổi hoàn toàn. Chúng ta không còn trông
vào núi được nữa. Muốn giữ nước từ đây, ta phải có khả năng tự vệ thực sự, tinh
thần dân tộc thực sự, lòng yêu nước thực sự’.
Trong chương ‘Lòng Mẹ Bao La Như Biển Thái Bình’ nói về Biển, tôi
hoàn toàn đồng ý với anh, ngoại trừ câu cuối: ‘Nghĩa là dân chủ’. Anh
viết
‘Nhưng muốn phát huy chức năng đó (chức năng của biển: một nước du lịch, công
nghiệp, thương nghiệp và dịch vụ, nguồn lợi của giao thương với thế giới), điều
bắt buộc tự nhiên là ta phải hội nhập với thế giới, có một chế độ chấp nhận được
cho cả thế giới. Nghĩa là dân chủ’.
Đúng thôi, nhưng không đợi phải là ‘chế độ dân chủ’. Một nước độc tài đảng
trị như Việt Nam Cộng sản, thế mà Hoa Kỳ đã bãi bỏ ‘phong tỏa kinh tế’, đề nghị
‘thương ước Mỹ-Việt’, vẫn có khách du lịch nước ngoài,
vẫn được viện trợ, vẫn vay được tiền nơi các ngân hàng thế giới, vẫn được thế
giới đầu tư, bang giao, giao thương. Vấn đề là do chính quyền nước đó chủ trương
‘tỏa cảng’ hay chịu giao tiếp với thế giới.
Ngày nay, việc hội nhập với thế giới trở thành một ‘tất yếu’, một ‘bắt buộc’ mà
bất kỳ chính quyền nào, quốc gia nào cũng không thể thoát ra cho dù quá khích,
thiển cận, hủ lậu đến đâu như chính quyền Taliban ở A-Phú-Hãn. Anh không nghĩ
đến khuynh hướng ‘toàn cầu hóa’ đang sôi nổi hiện nay sao? Đấy là một ‘tất yếu’
của vận hành lịch sử nhân sinh do yêu cầu của dạng thức Kinh tế Thị trường, do
phát triển của Khoa học Kỹ thuật, đặc biệt về mặt truyền thông, do đòi hỏi của
nhân đạo nhân quyền. Những phong trào chống đối ‘toàn cầu hóa’ không thể ngăn
chặn được sự việc nầy vì đấy là một ‘tất yếu lịch sử’. Những phong trào chống
đối ‘toàn cầu hóa’ có tác dụng khiến việc ‘toàn cầu hóa’ hướng vào phục vụ toàn
thể nhân quần để khỏi biến thành ‘vũ khí’ của nhóm tư bản tài phiệt khống chế
nhân loại thôi. Chính sự việc ‘toàn cầu hóa’ nầy sẽ là một trong những điều kiện
bắt buộc các nước ‘độc tài’ phải chuyển qua ‘dân chủ’. Tôi tin như thế.
Tuy nhiên, cũng nên trình bày một đôi dè dặt: ‘‘sự việc ‘toàn cầu hóa’ và ‘chống
đối toàn cầu hóa’ có thể đưa dẫn đến một tình trạng khủng hoảng lớn rộng trên
thế giới: một ‘chế độ kỹ trị’
và sự ‘nổi loạn của quần chúng’ chống Khoa học Kỹ thuật qua sự việc đòi
hỏi Nhà nước phải thỏa mãn cuộc sống cá nhân và gia đình mà không một Nhà nước
nào có thể thỏa mãn’’. Xin không dông dài thêm.
Về
Chương ‘Nước Non Nghìn Dặm (II)’ nói về môn Địa lý và sự ‘rời bỏ nông
thôn’. Tôi đồng ý với anh là người Việt Nam ít chú trọng đến môn Địa lý, cả
Lịch sử nữa, trong đó có cả tôi. Người Việt Nam, đa số đi du lịch không để tìm
hiểu địa lý, lịch sử mà chỉ để gặp người quen, chụp hình rồi khoe nhau là đã đi
nhiều nơi, biết nhiều chỗ, một phần do óc không chịu tìm tòi học hỏi, một phần
do không đủ điều kiện.
Người
Việt Nam (trong đó có tôi) không rõ địa lý Việt Nam từng miền, từng vùng, có thể
cả nơi vùng cư ngụ, thật đáng buồn và xấu hổ. Lỗi ở giới trí thức và các Chính
quyền Việt Nam: sách báo về địa lý, lịch sử, về các mặt khác
quá ít, không khuyến khích, không tổ chức hướng dẫn,... Một số Trí thức Việt Nam
tại hải ngoại nầy dù cuộc sống đã sung túc, dù đã về hưu, về già, nhiều thời
gian rảnh rỗi nhưng nào mấy ai nghĩ đến việc ‘soạn’ lại Tự Điển, dịch sách ngoại
quốc để thực hiện những Quyển ‘danh từ’ về môn nầy môn nọ; nào mấy ai chịu học
và nghiên cứu cách ‘làm vườn’, cách chài lưới, cách làm đồ gỗ, nói chung các
nghề thủ công, mà chỉ chú trọng đến những nghề ‘cao cấp’: Bác sĩ, Dược sĩ, Kỹ sư
Điện toán, Tiến sĩ Kinh tế, Tiến sĩ Luật,... để mai nầy được ‘ngồi bàn giấy’,
được ‘làm quan’.
Thật
đáng xấu hổ khi nhìn đến nay, tại quốc nội, chổi quét nhà vẫn là tàu cau, tàu
dừa, bì thơ vẫn còn quệt hồ để dán, tiệm ăn vẫn đầy tràn rác rưới, đường rầy vẫn
ngập những phân người, chuồng trâu, bò, heo lợn vẫn hôi hám bẩn thỉu như xưa...
trong lúc Karaoké, Vidéo, truyện chưởng, bia ôm, cà phê ôm tràn ngập. Nói càng
đau lòng. Tôi thấy được cái ‘đau lòng’ đó của anh qua tác phẩm của anh dù lời lẽ
có làm bất mãn nhiều người.
Tuy
nhiên, cái ‘exode rural’ anh nói, cần xét lại. Nông dân đổ dồn về thành
phố chưa hẳn là việc tốt, nhất là lớp người nông dân Việt Nam ta chưa có một
nghành nghề phù hợp với sự phát triển văn minh đô thị. Vấn đề an ninh, vấn đề cư
trú, vấn đề vệ sinh, ô nhiễm không khí, vấn đề lưu thông, vấn đề thất nghiệp sẽ
rất nan giải. Thành phố, anh biết đấy, là nơi thể hiện văn minh nhưng cũng dễ
đưa con người vào suy đồi, trụy lạc. Cách hay nhất, theo tôi là ‘đưa kỹ nghệ về
nông thôn’ với điều kiện mở mang đường sá và nhiều phương tiện lưu thông. Nhận
xét và đề nghị của anh trong chương nầy còn quá đơn sơ, hời hợt. Tôi có đến một
‘ngôi làng’ nước Đức ở Karlsuher, ngôi làng được xây dựng như một thành phố nhỏ,
có đủ mọi tiện nghi văn minh, nhiều xí nghiệp, cơ xưởng,... Có lẽ ta nên theo
kiểu đó.
Chương 6 ‘Mưu Sự Tại Nhân’, tôi đồng ý vơi anh. ‘Mưu sự tại nhân mà
thành sự cũng tại nhân’, điều nầy đúng thôi, ít ra là lúc khởi sự một công
trình nào.
Có lẽ nên thêm lời Nguyễn Du: ‘Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều’.
Nhưng không hẳn hễ ‘mưu sự’ là có thể ‘thành sự’, ngay cả trong việc ‘mưu sự’ đó
‘do’ và ‘cho’ riêng cá nhân mình vì còn tùy thuộc nhiều điều kiện chủ quan cùng
khách quan.
Tục ngữ Pháp bảo ‘Người đề nghị, Trời quyết định’, Nguyễn Du cũng bảo:
‘Bài ra thế ấy, vịnh vào thế kia’ và ‘Người dù đã quyết, Trời nào đã cho’,
nhất là khi cái ‘mưu sự’ đó nhằm đến một tập thể lớn rộng. Nguyễn Thái Học, Phan
Bội Châu, Phan Chu Trinh,... đã ‘mưu sự’ nhưng nào ‘thành sự’, nhưng người đời
và lịch sử tôn vinh. Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản đã ‘mưu sự’ nhưng cái ‘thành
sự’ của họ thực sự không do họ và cái ‘thành sự’ của họ đang và sẽ còn bị lịch
sử nguyền rủa, lên án.
Chính anh và nhóm Thông Luận cũng đang ‘mưu sự’ đấy chứ, liệu có ‘thành sự tại
nhân’ không, tôi chưa thấy dấu hiệu nào. Kiến thức tôi quá ít nên không thể đưa
ra những ‘nhận xét’ về người các nước khác như trường hợp Hòa Lan mà anh đã viết
trong sách. Bàn vấn đề nầy sẽ rất dài dòng nên xin dừng nơi đây.
Trong các Chương còn lại của phần I sách anh, tôi không có gì để nói nhiều,
ngoại trừ vấn đề ‘lòng yêu nước’. Tôi đồng ý với anh một số điểm như
‘người Việt Nam hiếu học, học giỏi, tinh anh, có lòng hảo tâm, không ưa nhau
(ils ne s’aiment pas), lòng yêu nước chưa có ở một mức độ cần có, chưa ý thức
được sự cần thiết của phương pháp và tổ chức, thiếu giác quan đồng thuận, khinh
thường tiếng Việt’, nhưng những gì anh nêu ra để làm luận cứ và chứng minh
còn sơ sài, hời hợt.
Nhận
xét, tìm hiểu tâm lý, tính tình một người, một dân tộc không thể giản dị, đơn
sơ. Anh bảo: ‘Chất liệu (phần cứng nơi máy điện toán: hardware) nghĩa là cấu
tạo cơ thể và trí óc của người Việt Nam tốt. Vậy thì phải chăng cái software
(phần mềm), nghĩa là cái văn hóa và tâm lý của người Việt Nam tồi dở? Tôi tin
như thế’.
Tôi cũng nghĩ như anh nhưng vấn đề không thể ‘kết luận’ giản đơn như thế.
Tôi đã băn khoăn điều nầy từ lâu và đi tìm những nguyên nhân tiềm ẩn nào đã
khiến người Việt Nam mãi mãi chia rẽ, không ‘đồng thuận’, không đoàn kết, không
thương yêu nhau thực sự để lịch sử dân tộc phải luôn luôn trầm luân trong khổ
nạn và đến nay lẽo đẽo theo đuôi thế giới văn minh cách xa ta hàng thế kỷ mà
không tủi thẹn!
Anh bảo ‘Lòng yêu nước đó chưa có ở một mức độ cần có, chúng ta phải tạo ra
hay phát minh lại’.
Lòng yêu nước là một tình cảm cao quí hằng có nơi người Việt Nam từ lâu đời, đâu
phải cần ‘tạo ra hay phát minh lại’. Đoạn nầy của anh dễ khiến người ta hiểu lầm
và đánh giá anh sai lạc để càng chống đối anh nhiều hơn.
Ý anh muốn nói là ta phải tìm cách thế, biện pháp khơi động lòng yêu nước đó lên
mức độ cao hơn, tích cực hơn và tránh sử dụng nó phục vụ cho ý đồ cá nhân và bè
phái hầu tạo được đoàn kết, tạo được sức mạnh ‘làm lại đất nước’ và xây dựng đất
nước. Điều nầy không một ai không muốn, nhưng mà... Anh nhận định rằng ‘Vấn
đề giản dị như thế nầy: khi một dân tộc đã có xung đột gay gắt thì chỉ có hai
chọn lựa, một là hoà giải với nhau để quốc gia tiếp tục tồn tại và đi tới, hai
là không hòa giải và chấp nhận tan vỡ’.
Lý thuyết thì như thế nhưng làm sao thực hiện được hòa giải, thưa anh? Hoà giải
với ai, bằng cách nào? Phan Chu Trinh, Phạm Quỳnh,... trước đây, tuy không nói
ra rõ ràng nhưng đã phần nào đi trong cái thế ‘hòa giải, hòa hợp’ với
người Pháp, họ đã không ‘thành sự’, đương thời họ cũng gặp chống đối và người
Pháp nào có chịu ‘hòa giải, hòa hợp’ đâu.
Cái ‘xung đột gắt gao’ hiện nay, theo anh và tất cả mọi người đều thấy, là
‘xung đột giữa người Cộng sản với người Quốc gia chống Cộng’. Ngay giữa
những người, những đảng phái Quốc gia, tuy cùng mẫu số chung là ‘chống Cộng,
quang phục Quê hương’, thế mà luôn tỵ hiềm, tranh chấp, dèm pha, chống báng
nhau huống hồ là ‘hòa giải, hòa hợp’ với Cộng sản. Mà Cộng sản nào có
muốn ‘hòa hợp’ với ai đâu.
‘Hoà
giải, hòa hợp’
với Cộng sản có nghĩa là ‘chấp nhận cúi đầu phục tùng chúng, nghe lệnh chúng,
làm tay sai cho chúng’. Đã thế, chúng lại còn ‘phá hoại’ mọi ‘hòa giải,
hòa hợp’ của người Việt Nam hải ngoại bằng đủ mọi thủ đoạn, trong đó có cả
thủ đoạn dùng chiêu bài ‘hòa giải hòa hợp’ đễ lũng đoạn, làm cho hàng ngũ
người Việt hải ngoại rách nát, tơi tả; và chúng đã ‘thành sự’ phần nào.
Kinh nghiệm qua bao lần ‘hòa giải hòa hợp’, những lần ‘hợp tác’ giữa các
Đảng Quốc gia với Đảng Cộng sản và kinh nghiệm qua một số người Việt hải ngoại
về hợp tác với Cộng sản để kinh doanh hay ‘phục vụ đất nước’
được Cộng sản kêu gọi, ‘trân trọng’ lúc đầu rồi chỉ ít sau là ‘chán chường’ đành
lại ‘cút’ ra lại ngoại quốc nếu may mắn không bị Cộng sản sát hại hay bỏ tù;
những kinh nghiệm đó, anh không để ý đến sao?
Anh chỉ mới nêu ra khẩu hiệu hoặc chủ trương ‘hòa giải hòa hợp’ mà không
đưa ra biện pháp, phương pháp thực hiện cụ thể, đúng đắn mà tự thân anh, qua một
số lời lẽ trong sách nầy, cũng đã phần nào thiếu tinh thần hòa giải, hòa hợp
rồi. Người ta chống đối, đả kích Anh cũng đúng thôi, tiếc rằng mọi lời chống đối
nhiều lúc cay độc, tàn ác và có thể họ ‘chống để chống’ chứ không đưa ra quan
điểm để đối thoại. Tục ngữ ta có câu: ‘Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà
nói cho vừa lòng nhau’ nhưng những người chống đối Anh và cả Anh nhiều lúc
cũng đã không chịu ‘lựa lời’.
Trở lại vấn đề ‘Yêu Nước’. Mỗi người chúng ta có hai cái tên: một cái tên
riêng của từng người (A, B, X,...) và một cái tên chung là ‘Việt Nam’. Tên riêng
mỗi người thuộc cá nhân người đó, cái tên chung ‘Việt Nam’ là cái tên của tổng
thể Đất nước và Dân tộc. Chúng ta thường ‘yêu nước’ cho cái tên riêng của ta,
chứ ít ‘yêu nườc’ cho cái tên chung của Tổng thể Dân tộc. Do đó mà óc lãnh tụ,
óc ham quyền, ham vị, ham lợi đã khiến chúng ta khó lòng ‘đồng thuận, đoàn kết’,
đúng như anh nói nơi đoạn cuối trang 204.
Một điều xin thêm: bình thường, lòng yêu nước thể hiện một cách bình lặng, ít
được nhận ra và thường được xem như là một ‘đức tính’ cá nhân, một ‘đặc điểm’
của riêng một người như một Bác sĩ, một Thầy giáo tận tụy với bệnh nhân và học
sinh, một công chức dù nghèo cũng không chịu tham những, hối lộ, ăn cắp của
công; một nhà văn không viết những gì đồi trụy dù thừa khả năng để mong sách bán
được khá tiền; một doanh thương nhất quyết không buôn lậu, trốn thuế, không làm
hàng giả mạo; cha mẹ dốc lòng lo cho con cái trau dồi đức hạnh, học vấn; một du
học sinh biết học cái hay của nước người để về nước phục vụ đồng bào,...
Lòng yêu nước chỉ dễ dàng nhận thấy rõ rệt lúc đất nước phải đối đầu với một
nguy cơ; điều nầy không cần nói ra ai cũng thừa biết dân tộc ta đã từ lâu từng
chứng tỏ lòng yêu nước đó như thế nào. Cộng sản đã ‘phá hủy’ lòng yêu nước đó
qua chủ trương ‘Yêu Nước Là Yêu Chủ Nghĩa Xã Hội’ nghĩa là phải yêu Đảng
Cộng Sản, phải phục tùng và phục vụ Đảng Cộng sản.
Người Việt hải ngoại, tuy luôn vọng về Đất nước, tuy chống Cộng sản nhưng lại
thường chỉ biết ‘yêu nước’ qua cái tên riêng của mình thôi. Điều đó cũng không
khác gì một số nhà kỹ nghệ, kỹ thuật, doanh thương ‘nước Pháp dân chủ’ đã sang
Anh, sang Mỹ sinh sống, làm việc, phục vụ nước ngoài vì được trả lương cao hơn,
được trả thuế nhẹ hơn mà quên nghĩ rằng cần ở lại nước mình để phục vụ nước mình
dù điều kiện sống có khó khăn hơn ở nước người. Do đó mà ta thấy các ông nhà
giàu, các nhà tư bản, lúc thấy đất nước có gì bất ổn, có gì khẩn trương là vội
tìm cách ‘khuân vác’ tài sản và sinh mạng gia đình sang nước ngoài. Các ‘tay tổ’
Cộng sản Việt Nam cả chục năm nay đang làm việc đó, số còn lại thì tìm đủ cách
làm giàu và hưởng lạc, trở thành thứ ‘trưởng giả thời thượng’.
Xưa nay, xét ra chỉ có hai cách ‘trị nước’ được áp dụng: một là dùng quyền, dùng
lực đập nát đầu hay thắt cổ buộc bụng bắt nhân dân vì sợ chết mà phục tùng; hai
là dùng địa vị, quyền lợi câu nhử, mua chuộc nhân dân để nhân dân vì ‘ham sống
xa hoa, hưởng thụ’ mà phục vụ. Một bên là cách của các chế độ phong kiến chuyên
chế và của Cộng sản; một bên là cách của Tư bản tài phiệt. Cộng sản Việt Nam và
Trung Quốc hiện nay áp dụng cả hai. Vì thế, dù anh ‘kêu gọi’ đến mòn hơi cũng
không thể nào thực hiện ‘đồng thuận, hòa giải hòa hợp dân tộc’ được với người
Cộng sản hiện nay. Hơn nữa, anh có để ý rằng người Việt hải ngoại khó lòng tạo
được một Cộng đồng thống nhất, vững mạnh, ngoài những điều kiện chủ quan
còn do nhiều điều kiện khách quan. Cộng sản không muốn có một ‘Cộng đồng người
Việt hải ngoại’ mạnh mẽ nên phá hoại bằng mọi cách, mà chính Hoa Kỳ cũng không -
hay chưa - muốn thế. Lý do? Xin không nói nơi đây. Xin chép hai đoạn đầu bài thơ
‘Cuộc tình nghiệp dĩ’ của tôi ngày ở đảo Pulau Bidong, mượn qua ‘cô nàng
ngoại quốc’ (một cố vấn Mỹ tại đảo) để nói mối quan hệ Mỹ-Việt:
Hỡi cô nàng ngoại quốc
Bước phân vân hai hàng
Cô đẹp màu ma mị
Như màu sương đảo hoang
Tôi
nhìn, cô không biết
Tình
câm tôi nín thinh
Bởi tôi người dân Việt
Sống
trọn sử mệnh mình...
Vấn đề
rắc rối và khó khăn lắm, anh ơi! Nói thế, không có nghĩa là tuyệt vọng, bất lực
rồi buông xuôi, vô trách nhiệm. Vẫn còn có lối thoát và cách để làm nếu ta ‘yêu
nước cho cái tên chung của tổng thể Việt Nam’. Một điều, tôi thấy cũng cần nói
để hy vọng Anh và mọi người không đến bi quan: sự phân hóa hiện nay của xã hội
Việt Nam thật đáng buồn nhưng, theo tôi, là một ‘tất yếu’ của Lịch sử Việt Nam
hứa hẹn một ‘hạnh vận’ cho Việt Nam sau khi còn phải một ‘đoạn trường tối hậu’
nữa trước khi thực sự ‘phục sinh’. Tôi không nói hoàn toàn bằng linh cảm mà có
nêu ra chứng cứ nhưng không tiện nói nơi đây vì không nằm trong nội dung thư
nầy.
3) Về
phần II gồm 19 chương: Kiến thức về Lịch sử,
về Xã Hội học, nói chung về tất cả mọi môn tôi chẳng được mảy may nào nên không
dám lạm bàn nhiều với anh. Tuy nhiên, với tâm thành cũng xin đôi trao đổi:
- Về
Quốc gia Việt Nam và Nguồn gốc Dân tộc: Anh nêu lại những yếu tố cấu tạo nên
Quốc gia theo lối hiểu lâu nay nơi trang 477 nhưng anh bảo ‘quốc gia là một
khái niệm trừu tượng’ và ‘phần lớn các thành tố của quốc gia không chắc
chắn’. Tôi nghĩ ‘Quốc gia không là khái niệm trừu tượng mà là một thực thể
vì có một lãnh thổ, có một dân tộc (thuần nhất hay đa tạp), có một tiếng nói
chung, có một tổ chức quản lý cuộc sống chung,... để từ đó hình thành một lịch
sử chung, nhằm đến một tương lai chung.
Có thể có dân tộc mà không có quốc gia như dân tộc Do Thái qua 2000 năm phiêu
bạt. Hoa Kỳ chỉ thực sự là Quốc gia kể từ 1781với một lãnh thổ chung, một hệ
thống quản lý chung,...; trước đấy chỉ có từng bộ tộc thổ dân sống từng miền
riêng rẽ và từng sắc dân ngoại quốc đến xâm chiếm, khai thác miền đất Mỹ.
Anh bảo ‘Quốc gia Việt Nam không thể được định nghĩa như một chủng tộc mà cần
được quan niệm như là sự chấp nhận chia xẻ một tương lai chung’.
Sự ‘chấp nhận chia xẻ một tương lai chung’ chỉ có khi đã có sự sống chung với
nhau của dân tộc trên một lãnh thổ; nếu sống rời rạc, tha hương mỗi người mỗi
nơi thì cái ‘tương lai chung’ đó không hoặc khó thể thành tựu. Ý kiến trên của
anh chưa là một định nghĩa về quốc gia.
Về ‘Nguồn gốc dân tộc’ chúng ta, đến nay vẫn còn là vấn đề đang được truy tầm
bởi người trong nước cũng như ở hải ngoại và cả bởi người nước ngoài. Tôi tự
thấy chưa có dữ kiện để bàn đến nơi đây. Tuy nhiên, dù nguồn gốc dân tộc chưa
được minh định rõ ràng nhưng ‘ý thức quốc gia’ đã có từ thời lập quốc.
Ngay khi Vua Hùng đầu tiên đặt tên nước là ‘Văn Lang’ thì mặc nhiên đã có ý thức
Quốc gia rồi vì đã xem mọi người cùng sống trên dải đất lúc bấy giờ là cùng một
dân tộc,
đã nhìn ra phạm vi đất đai chủng tộc đó cư ngụ và đã tổ chức nên hệ thống quản
lý, tức là một ‘Nhà Nước’ dù còn sơ sài. Khi Mã Viện đánh thắng hai Bà Trưng,
dựng trụ đồng khắc 6 chữ ‘Đồng Trụ Chiết, Giao Chỉ Diệt’, theo câu đó, Mã
Viện đã mặc nhiên ‘nhìn nhận’ Giao Chỉ là một ‘nước’ thuộc một ‘chủng tộc’ khác
với người Hán dù ‘nước’ đó và ‘chủng tộc’ đó do người Hán thống trị và đặt tên
(Giao Chỉ). Câu thơ của Lý Thường Kiệt ‘Nam quốc sơn hà Nam đế cư’ càng
rõ ràng hơn vì xác nhận cả ‘đất nước’ (sơn hà), cả dân tộc (Nam quốc) và cả chủ
quyền lãnh thổ (Nam đế cư).
Vậy thì, ‘ý thức Quốc gia của người Việt Nam đã có ngay từ thời lập quốc chứ
không phải là thứ gì mới có gần đây và không phải do tiếp xúc với người Pháp mà
ta mới có’. Câu trả lời của Trần Bình Trọng trước sự dụ dỗ của quân Nguyên:
‘Ta thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc’ cho thấy thà
làm quỷ nhưng ở đất nước mình hơn là ‘quyền cao chức trọng’ ở một nơi không phải
đất nước mình. Những câu ca dao:
-Ta về
ta tắm ao ta
Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn
-Trâu ta ăn cỏ đồng ta
Tuy là cỏ cụt nhưng là cỏ quê
đã
bóng gió nói lên cái ‘ý thức quốc gia’, cái ‘tinh thần dân tộc’ dầu có thể bảo
phần nào hơi cố chấp. Anh hiểu sử có phần thiên lệch.
Anh hầu như coi khinh thần thoại, huyền thọai, truyền thuyết của dân tộc. Điều
ta để ý là ‘ý nghĩa’ của huyền thọai, thần thoại, truyền thuyết chứ không hẳn ở
sự việc trong các truyện đó. Xin không nói nhiều vì sẽ quá dài dòng và có thể bị
suy diễn là kẻ ‘thất học’ mà muốn huênh hoang. Chỉ xin nêu đôi vấn đề có thực:
Trên thế giới, có dân tộc nào mà cuộc khởi nghĩa (hay nổi dậy) giành độc lập
(hay chống bạo tàn) đầu tiên hết lại do nữ giới lãnh đạo? Cho dù Bà Trưng
‘khởi nghĩa’ chỉ vì ‘thù chồng’ thôi, chứ không do lòng yêu nước, thì sau khi đã
diệt được Tô Định (thù chồng đã trả) thì Bà cứ gởi thư xin hàng nhà Hán và yêu
cầu nhà Hán tái lập ách cai trị chứ sao lại ‘tự chủ’ cai trị vùng đất vừa được
giải phóng? Và nếu không do lòng yêu nước thì Bà đầu hàng Mã Viện ngay, cần gì
phải chống lại để đến phải trầm mình nơi dòng Hát giang? Khi Mã Viện dựng trụ
đồng như một ‘bùa chú’ đe dọa dân tộc, người Việt Nam đã ‘chất thêm đá vào chân
trụ đồng’ để lâu ngày trụ đồng bị chôn lấp đi. Điều nầy vừa nói lên cái khôn
ngoan của người Việt ‘không dám xô ngã thì tìm cách chôn đi’ vừa cho thấy
tinh thần tự chủ của ý thức quốc gia; sự việc nầy liệu có do cái ‘tồi dở’ của
Văn hóa nơi nhân dân ta lúc bấy giờ chăng? Còn bao nhiêu sự việc khác được phản
ảnh qua thần thoại, huyền thoại và truyền thuyết mà anh không chú ý, sách anh
không nói đến.
Anh cũng không để ý đến ca dao, dân ca để nhìn ra những ‘ẩn ngữ’, những ý tình
kín đáo, những bài học về lịch sử mà tổ tiên muốn nhắc nhở cho con cháu. Anh chỉ
dựa vào những ‘lịch sử thành văn’ (chưa hẳn đúng đắn) để lấy ‘tâm lý một trí
thức ngày nay’ phê phán ‘tinh thần’ dân tộc ta, tôi nghĩ sẽ rất thiếu sót và dễ
sai lệch.
Một điều xin thêm: Chỉ riêng dân tộc Việt Nam mới gọi quốc gia là Đất Nước, Núi
Sông, Non Sông, Nước Non. Những từ đó nói lên gì trong tâm thức người Việt
Nam? Những từ đó vừa nói lên tính chất an trụ và luân lưu tức hai trạng thái
‘Tĩnh’ (Đất, Núi, Non) và ‘Động’ (Nước, Sông) (giống như Âm và Dương theo Đạo
học) vừa biểu trưng cho hai chất liệu căn bản (Đất, Nước) cần thiết cho sự sống
của con người và của sinh vật. Tinh thần yêu nước đã tiềm tàng
ngay nơi các từ ngữ đó.
Trong bài thơ ‘Qua đèo Ngang’ của Bà Huyện Thanh Quan, 4 câu đầu miêu tả cảnh
tiêu sơ của một làng quê miền núi, sao Bà Huyện đang đứng ngay nơi mảnh đất Quê
hương mình mà lại ‘nhớ nước, thương nhà’ để đến phải ‘đau lòng con
quốc quốc, mỏi miệng cái gia gia’? Bà Huyện ‘nhớ nước nào’?, thương nhà
nào?’ Có phải Bà Huyện đau buồn trước cảnh sống nghèo nàn của người dân mà ‘vọng
tưởng’ đến cảnh đất nước và gia đình người dân tươi sáng hơn; hoặc Bà đã mơ màng
‘linh cảm’ vận nước nay mai sẽ phải lầm than, tăm tối mà Bà, cũng như dân tộc,
không có cách thế nào tránh khỏi nên từ trong cảm thức đã ‘dậy’ lên nỗi nhớ
nước, thương nhà để phải ‘một mảnh tình riêng ta với ta’?
Vậy thì, ý thức quốc gia, lòng yêu nước vốn là cái gì ‘đã có’ nơi tâm hồn Việt
Nam chứ không là thứ tiếp thu từ văn hóa ngoại lai và Quốc gia Việt Nam đã có từ
lâu chứ không phải ‘mới hình thành xong từ thế kỷ 19’ như anh nói.
Cuối trang 225, anh viết: ‘Chính sự suy sụp của tinh thần dân tộc đã khiến
chúng ta thua một cách hổ nhục dưới tay người Pháp chứ không phải vì người Pháp
mạnh. Ngày nay cũng chính sự suy sụp tinh thần dân tộc đã khiến chúng ta không
tự giải phóng được khỏi tay đảng Cộng sản chứ không phải vì chế độ Cộng sản
mạnh. Có những lúc mà những bài học lịch sử thật đáng suy ngẫm’. Bài học
lịch sử nào cũng đáng suy ngẫm cả. Anh quyết đoán như trên, tôi thấy quá hời
hợt.
Những
phong trào như Hoàng Hoa Thám, Phan Đình Phùng, Trương Công Định, Thiên Hộ
Dương... làm sao quy tụ được số đông dân chúng nếu không do tinh thần dân tộc
quyết tâm bảo vệ đất nước. Chỉ tiếc những phong trào đó riêng rẻ từng địa phương
chứ không kết hợp, thống nhất với nhau thành một lực lượng hùng mạnh. Các lực
lượng đó lại không mấy được huấn luyện về quân sự, không đủ vũ khí tương đương
với giặc Pháp mà chỉ có phần ‘tinh thần’ thôi. Ý chí mạnh mà sức lực, khả năng
quá yếu, nói theo câu chữ Hán là ‘lực bất tòng tâm’, vì thế mà nhiều gương tuẩn
tiết rất hào hùng.
Triều đình nhà Nguyễn đã để mất nước không do thiếu Tinh thần dân tộc mà chỉ vì
lý do trên cùng với bao nguyên nhân khác, trong đó không riêng về mặt vũ khí mà
có lẽ, như anh nói, do ‘văn hóa’ của vua quan nhà Nguyễn quá tồi, không có chủ
trương rõ ràng, không động viên được toàn thể nhân dân, không biết ‘nhìn xa’...
Một Nguyễn Tri Phương bị bắt, nhịn ăn mà chết; một Phan Thanh Giản, một Hoàng
Diệu và bao bao nữa tự tử; một Duy Tân trẻ tuổi bỏ ngôi vua, mưu đồ khôi phục
đất nước, bao nhiêu sĩ phu bị bắt, bị giết hoặc tuẩn tiết; những gương tiết tháo
đó không do từ lòng yêu nước, từ tinh thần dân tộc mà chịu hy sinh sao? Ta thua
Pháp lúc bấy giờ do chúng ta quá ‘tệ’, quá ‘tồi’ trong phương thế đối đầu với
xâm lăng chứ không phải do ‘suy sụp của tinh thần dân tộc’.
Ngày nay, chúng ta cho đến bây giờ không giải phóng được bàn tay Cộng sản cũng
không phải vì suy sụp của Tinh thần dân tộc. Cộng sản hiện rất mạnh, theo tôi,
vì nắm cả lực lượng công an cùng quân đội; chúng lại ‘mạnh’ về mọi thủ đoạn nham
hiểm, độc địa, không kể bao nhiêu yếu tố khác. Tinh thần dân tộc hiện bị suy sụp
tại quốc nội vì Cộng sản đã tàn phá; giới trẻ phần lớn cầu an, đua đòi hưởng thụ
thời trang; không thấy tương lai nên tìm vui trong sa đọa hoặc vì đói nghèo phải
lo kiếm sống. Nhưng một số người không nhỏ như một số tu sĩ và tín đồ các tôn
giáo, ngay cả số người Cộng sản trước đây đã phản đối lại chế độ Cộng sản, do
đâu, nếu không do Tình thần Dân tộc. Ở hải ngoại, bao nhiêu phong trào chống
Cộng sản đã khiến Cộng sản phải e ngại và tìm cách phá hoại cho bằng được. Cộng
sản mạnh vì chúng còn được nuôi dưỡng, tiếp trợ bởi những thế lực bên ngoài.
Xin góp với anh một đôi ý kiến như sau: ‘Trong hướng tiến tới của Lịch sử,
nhất là một lịch sử bi đát như Việt Nam, bao giờ cũng có những vụ, những việc mà
người ta gọi là ‘những viên gạch lót đường’ cho lịch sử tiến tới. Những
‘viên gạch lót đường’ đó thường là những hy sinh, những nỗ lực, những trường hợp
phần lớn là bi thương. Hàng trăm ngàn thuyền nhân bỏ minh nơi biển cả hay làm
mồi cho hải tặc Thái Lan, hàng triệu người tỵ nạn Cộng sản lưu vong nơi nước
ngoài, hàng trăm ngàn người điêu đứng trong các ‘nhà tù cải tạo’ hay vùng ‘Kinh
tế mới’, hàng trăm người thà chết chứ không chịu ‘cưỡng bức hồi hương’; một số
người tự thiêu nơi quốc nội và hải ngoại; sự từ bỏ đảng tịch và xé thẻ đảng của
một số đảng viên Cộng sản; sự chống đối của bao người Cộng sản đối lập với tập
đoàn Cộng sản đương quyền; bao nhiêu nhà văn phản kháng chế độ tại quốc nội;
những phong trào đấu tranh cho nhân quyền ở trong nước và hàng loạt đấu tranh
của người Việt hải ngoại, mà một số thành tựu khá đáng kể như ‘hủy phá việc tôn
vinh Hồ Chí Minh’ của Liên Hiệp Quốc, biểu tình trực diện chống các phái đoàn
Cộng sản, biểu tình, tuyệt thực trước trụ sở Liên Hiệp Quốc và tại nhiều nước
khác, xây dựng những kỳ đài Việt Nam tại San Jose, California, Houston, Texas
cùng đôi nơi khác; sự việc văn thơ chống Cộng trở thành một phong trào, một
khuynh hướng đi vào lịch sử văn học đất nước sau nầy: sự việc từng cá nhân âm
thầm nghiên cứu lại nguồn gốc dân tộc, truy tầm tinh hoa truyền thống dân tộc;
sự việc thành lập nhiều hội đoàn xã hội văn hóa như các Hội Ái Hữu ngưới Việt
đồng hương, Hội Ái Hữu các Trường học, các Quân binh chủng, các ngành nghề (như
Hội Dược sĩ VN, Hội Chuyên gia VN,...), Tổng Hội Sinh viên Việt Nam cùng bao
nhiêu Hội đoàn khác mà tôi không được biết; các đài truyền hình và truyền thanh
ở ngoại quốc; trường hợp Lý Tống đơn phương về nước rải truyền đơn chống Cộng,
Trần Hồng lái xe ủi sập cổng tòa Đại sứ Việt Cộng; vụ Hoàng Cơ Minh, Võ Đại Tôn
(dù khen chê thế nào); vụ xuống đường xé ảnh HCM và cờ Cộng sản ở khu Bolsa đầu
năm 1999,... và kể cả Anh cùng nhóm Thông Luận,..., bao nhiêu sự vụ khác nữa,
theo tôi là ‘những viên gạch lót đường’, những chuẩn bị cho lịch sử Việt Nam
tiến đến một chung cục tươi vui’.
Tất cả những sự việc trên chẳng đã phát xuất từ ‘Tinh thần Dân tộc’, từ lòng
‘yêu nước thương nhà’ sao? Chỉ tiếc, tất cả các vụ việc trên còn rời rạc, sôi
nổi từng lúc, lẻ tẻ từng địa phương chứ chưa kết hợp thành phong trào liên tục,
đồng khắp, mạnh mẽ. Lý do là vì tuy cùng mẫu số chung nhưng Tinh thần Dân tộc đó
chưa biểu hiện được tính cách ‘yêu nước’ cho ‘cái tên tổng thể Việt Nam’. Vì thế
nên
‘‘đừng chê khinh, đừng bôi nhọ lẫn nhau, đừng lợi dụng, tranh giành để quảng
cáo riêng mình hay tập thể mình. Hãy tán tụng, đề cao; hãy thương xót,
khâm phục; hãy tự hào, cổ võ thêm lên. Và mỗi người, nghĩ đến đất nước, dân tộc,
hãy bằng sức mình, gắng làm nên một thứ gì đó để thêm một ‘viên gạch lót đường’,
một chuẩn bị cho dòng lịch sử tiến nhanh’’.
Trước bao khó khăn nan giải, trước một đối phương đang mạnh và quỷ quyệt,
gian ngoan, tôi nghĩ cần thiết phải ‘bao dung’ giữa người yêu nước, thông cảm để
đưa đến một ‘đồng thuận’, đồng hợp mọi khả năng, mọi ý kiến, mọi hoạt động hầu
trở thành một sức mạnh, một tiếng nói chính nghĩa chung để quốc tế nể vì, ủng hộ
và Cộng sản sớm ra đi hay sớm tĩnh ngộ mà trở về với Dân tộc. Đấy là việc phải
làm hiện nay. Anh và nhóm Thông Luận muốn làm việc đó, chỉ tiếc phần nào thiếu
bao dung. Tinh thần Dân tộc nơi người Việt Nam không chết, không suy sụp đâu,
thưa anh!
- Về các nhân vật lịch sử. T�ôi không mấy kiến thức về Sử nên không dám góp ý về
những điều anh nhận xét, phê phán một số nhân vật lịch sử như Hồ Quí Ly, Mạc
Đăng Dung, Nguyễn Huệ,... Tôi đồng ý câu anh viết: ‘Ta không coi trọng
những gì có lợi cho đất nước mà chỉ để ý xem cái gì độc đáo trong một con người;
chúng ta vẫn suy luận như những cá nhân chứ không phải như một dân tộc’.
Tuy
nhiên, riêng về Nguyễn Huệ thì trong đầu óc đại đa số nhân dân, Nguyễn Huệ là
một anh hùng có công lớn với đất nước. Nói về Nguyễn Huệ, người Việt Nam chỉ
nghĩ đến việc đánh thắng quân Thanh chứ không ai nghĩ Nguyễn Huệ là tướng cướp
và không ai nghĩ chiến thắng Đống Đa chỉ là một chiến công nhỏ nhít không đáng
kể. Nếu quân Thanh chỉ có 6000 kỵ binh như anh nói thì lực lượng chủ lực tức
‘binh sĩ Tây Sơn’ do Nguyễn Huệ thống lãnh là bao nhiêu, chắc là ít hơn nhiều so
với quân Thanh, vì thế nên mới có việc mộ binh mà anh cho là tàn ác.
Ở
trang 223 và 224, anh nêu ra mà không nói rõ lý do, nguyên nhân, sự việc quân Cờ
Đen đánh bại hai lần quân Pháp rất dễ dàng, không do vì vũ khí; và người nô lệ
da đen ở đảo Haiti (mà dân số không quá nửa triệu người) đã đánh tan đoàn quân
tinh nhuệ của Nã Phá Luân đệ nhất với 34.000 lính thủy được chỉ huy bởi những
tướng tá tài giỏi, lại thêm đoàn chó dữ tợn biết săn người da đen. Có phải quân
Cờ đen và người nô lệ da đen đó có ‘lòng yêu nước cao’ hay có kỹ luật, biết đoàn
kết trong lúc người Việt Nam với lịch sử mấy nghìn năm lại thua trận nhục nhã
trước lực lượng mấy ngàn người Pháp?
Theo đó thì, so sánh với ‘người da đen đơn sơ đã chống trả, đánh tan đạo Quân
Pháp’ thì ‘chiến thắng Đống Đa’ phải là ‘hiển hách’ chứ không là ‘không đáng
kể’. Cho dù Nguyễn Huệ là tướng cướp nhưng một tướng cướp mà trở thành anh hùng
dân tộc thì cũng tốt lắm chứ. Anh muốn so sánh trận Đống Đa với những trận chiến
thời Đế quốc La Mã, thời Napoléon hay thời Đệ nhất và Đệ nhị Thế chiến sao?
Theo anh thì Nguyễn Huệ là ‘tướng cướp’, là ‘thảo khấu’,
là ‘con người hung bạo đánh tất cả mọi người’
và ‘tâm lý tôn thờ Nguyễn Huệ thật là dễ sợ’.
Cho dù về mặt cá nhân, Nguyễn Huệ xấu tàn xấu mạt như thế nhưng phủ nhận hay hạ
giá trị một nhân vật lịch sử đã có công với dân tộc thì là quả anh đã tự mâu
thuẫn với câu anh viết (mà tôi đồng ý) đã trích trên: anh đã suy luận như một cá
nhân chứ không phải như một dân tộc.
Qua
sách anh, Nguyễn Huệ quả là hung thần, ác quỷ nhưng dưới mắt và trong lòng nhân
dân ‘trận Đống Đa và hàng ngàn (xin nói là ‘hàng ngàn’ thôi) quân Thanh bỏ mạng
và riêng Tôn Sĩ Nghị phải trốn chạy’ thì quả là những hình ảnh đáng tự hào của
dân tộc. Tôn thờ Nguyễn Huệ, không ai tôn thờ những cái tàn độc, xấu xa của
Nguyễn Huệ mà tôn thờ một nhân vật có công với đất nước thôi.
xem tiếp trang 2
|
|