|
vhvt |
tự do tư tưởng và sáng tạo |
bình thơ |
|
|
Thơ Song Nhị BA CHẶNG ĐƯỜNG - MỘT HÀNH TRÌNH NGUYỄN THÙY trang 1
- Ra đi điều biết tự trời Ra đi cần thiết cho đời nhân gian (Parting is all we know of heaven And all we need of hell ) (Emily Dickinson) Hai tập thơ 'Tiếng hờn chiến mã' và 'Về lối đi xưa' cùng một số bài trên giấy rời của Song Nhị đến với tôi hôm nay. Đọc thoáng qua một số bài và tên hai tập thơ, nhất là tựa đề tập thứ hai, cảm giác đầu tiên của tôi là hầu như thơ Song Nhị luôn chập chờn, lãng đãng những 'Đi', 'Về', 'Đến', 'Ở' khiến tôi liên tưởng đến lời thơ Emily Dickinson trích trên (1). -Chiến mã lẫy lừng bao chiến trận đã đi là quyết một lần đi… (Tiếng hờn chiến mã) -Thì thôi, lòng hãy quên đi vậy Đi, Ở, Về, Đi. Cũng số phần… ………… Mai kia nếu phải ra đi nữa….. Nếu phải đầu thai một cõi nào…… (Về đây – VLĐX) -Ta về phố xá thời ma đạo tìm thấy hồn ta trong cổ thi… (Tìm lại hồn ta – THCM Toàn thể thơ Song Nhị qua số thơ tôi nhận được, theo tôi, tập trung vào từng chặng 'Đi, Đến, Ở, Về' nầy. 'Đi' là 'ra đi'; 'Về' là 'trở về, về lại'; 'Đến, Ở' là 'ngụ cư nơi đất khách, quê người'. Điều nầy bàng bạc hầu hết nơi thi ca người Việt hải ngoại nhưng nơi thơ Song Nhị đậm nét và rõ ràng, súc tích không riêng nơi một số bài mà trở thành đề tài và chất liệu trong thơ anh. 'Đi, Đến, Ở, Về', những động từ thường xuất hiện trong thi ca vẽ lên hành trình một kiếp sống, một thân phận; chân dung một lẽ đời với bao buồn, vui, khổ, sướng, phiền muộn, ưu tư, hân hoan, phấn khởi…., tất cả cảnh ngộ và tâm trạng con người trong vận hành lịch sử nhân sinh . Cuộc chiến tương tàn dưới đủ mọi nhãn hiệu nhân danh, trên hai mươi năm lẻ đã cày nát hình hài, da thịt, óc tim đất nước và con người Việt Nam. Không cần thiết phải xác định ở vị thế nào –bên nầy hay bên kia chiến tuyến, địch, thù, ta, bạn - để nhận định, đánh giá ngay gian, phải trái về phía nào - điều nầy mọi người đã nói, đã viết và lịch sử đã đề cập cũng như đang còn và sẽ xét soi -. Cái oái oăm, ngược ngạo, bi đát, phi lý và hài hước chưa hẳn ở nơi cuộc chiến mà chính ở lúc đã 'hòa bình' , lúc cuộc chiến đã tàn, đã ngã ngũ, đã kết thúc thắng bại, hơn thua'. Hòa bình', danh từ đẹp quá đi thôi! Ấy thế mà, tiếng súng vừa ngưng , hàng trăm ngàn người đã phải 'trốn chạy hòa bình'! Và, liên tiếp sau đó, hàng triệu người khác, đủ mọi thành phần, có cảû những kẻ từng muốn mong, khao khát hòa bình và náo nức mừng vui đón chào ngày 'thống nhất hòa bình' lại phải lo toan, tìm mọi cách để 'đào tẩu hòa bình' dù biết có phải chết nơi rừng sâu, biển cả (hàng trăm ngàn người đã chết rồi!).. Ngay bây giờ, nếu có cơ hội, chắc cũng lắm người tiếp tục 'trốn chạy hòa bình' sau trên hai mươi năm 'hưởng thụ hòa bình' ! Và cũng một số người bên phe 'chiến thắng', cùng thân nhân, con cái họ cũng đã 'đào tẩu hòa bình' , tìm cách 'ty nạn hòa bình' mỗi khi ra nước ngoài hay không trở về lại nước sau thời gian tu nghiệp, du học nơi các 'đế quốc đầu sỏ' mà họ đã từng nhiếc mắng, lên án không tiếc lời. 'Trốn chạy hòa bình' , nghe ra ngược ngạo, khiên cưỡng, trái tai, thế nhưng cả thế giới năm châu, cả cơ sở quốc tế toàn cầu –Liên Hiệp Quốc- đều công nhận qua danh xưng hợp pháp 'tỵ nạn chính trị' và hao tốn bao nhiêu sức người, sức của, thiện chí, tình thương đùm bọc, chở che. Một thứ 'Hoà bình' nghiệt ngã, hòa bình trong máu và nước mắt, trong xiềng xích, tù đày, trong thân phận khổ sai, no â lệ! Một tình cờ hay oái oăm lịch sử hay một sắp đặt ẩn mật trớ trêu của dòng Sử mệnh Việt Nam ra ngoài dự liệu của con người đã đẩy đưa đất nước đành lòng phó thác hàng triệu đứa con yêu quí phải 'trốn chạy hòa bình', xa rời khúc ruột thân thương , bơ vơ nơi xứ lạ, lạc loài, hiu hắt, buồn đau, để làm gì? Lịch sử sẽ trả lời. Thơ văn người Việt hải ngoại đã ít nhiều nhìn ra. Và, hơn ai hết, Song Nhị đã nhìn ra và đấy là những quặn đau cùng ước vọng nơi tâm thức qua cái 'Đi, Đến, Ở, Về' nơi các thi tập của anh.
'Tiếng hờn chiến mã' động lực 'Ra đi': 'Tiếng hờn' : hờn buồn, hờn tủi, hờn giận, hờn căm không hẳn là thù hận : hờn thời đại, hờn lịch sử, hờn tủi phận mình. -Người rã ngũ rồi non nước đâu tim ta máu đọng khối thâm sầu hỡi ơi, trời đất cùng rơi lệ trang sử lật rồi cuộc biển dâu! (Ta gục giữa hồn ta) -Một phần tư thế kỷ Tiêu ma trong một ngày Ngày rừng thiêng bão lộng Đàn chim vỗ cánh bay ……. Ôm gia tài lịch sử Ngậm lá bùa thiên di Trên nhánh đời chập choạng Ngồi hót thời biệt ly (Chặng hai ngàn thời chim di Việt Nam) 'Cuộc biển dâu', vâng, một cuộc biển dâu. 'Trải qua một cuộc biển dâu, Trăm điều thấy, nghìn điều đau não nề, Dân tộc đó, tĩnh mê mê tĩnh, Giang san đây, gan tím tím gan, Ba mươi tháng tư bảy lăm!…'. 'Trang sử lật rồi', lịch sử chấm dứt những trang đời chiến tranh thê thảm để lật sang những trang đời 'hòa bình' bi đát, nham nhở, điêu linh! Ôi, Hòa Bình! Nỗi tủi hờn theo sát lưng chiến mã. Chiến mã, con ngựa chiến, ngựa trận, ngựa sắt của Phù Đổng, ngựa Xích Thố của Quan Vân Trường, ngựa Ô Truy của Hạng Võ, ngựa Bạch Mã của César, ngựa Long Mã đã đưa thầy trò Đường Tam Tạng thỉnh kinh. Ngay cả những con ngựa đá điện Chiêu Lăng chân cũng dính bùn vì như cùng xông pha ra trận đánh đuổi quân Nguyên đã là đề tài cho hai câu thơ bất hủ của Trần Nhân Tông : 'Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã, Sơn hà thiên cổ điện kim âu' (đã có người dịch: Xã tắc hai phen bon ngựa đá, sơn hà nghìn thuở vững âu vàng) . Chiến mã nơi thơ Song Nhị không là ngựa mà là 'ngưỡi cỡi ngựa' tức người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa trong suốt cuộc chiến chống Cộng sản xâm lăng. Đoàn chiến mã anh hùng đó đã phải bị 'ngã ngựa', đã phải bị bắt buộc buông súng, buông gươm, phải nhận chịu bại trận theo 'mệnh lệnh' đầu hàng : -Kim cổ đông tây hề! Chiến mã ào ào ngọn vó hề! Sa trường bao phen đất dội trời rung chuyển chiến mã dọc ngang hề! tứ phương
Chiến mã lẫy lừng bao chiến trận Đã đi là quyết một lần đi Giang sơn, tổ quốc, lòng trung nghĩa Một phút, thôi đành! Lẽ thịnh suy…. (Tiếng hờn chiến mã) Không riêng 'đoàn chiến mã' màgần cả hai mươi triệu nhân dân Miền Nam, từ ngày đó, cũng ôm 'hờn chiến mã' như Song Nhị, cũng phải 'một phút, thôi đành! Lẽ thịnh suy'. Người 'chiến mã' Song Nhị đã ngã ngựa, đã phải nhận chịu thất bại, không do mình mà do từ những lý do đâu đâu; nói chung Song Nhị đã phải đứng chung trong hàng ngũ 'phải chiến bại' (!). Có những thất bại rất kiêu hùng dù thất bại vốn không hàm chứa kiêu hùng, và không ai, ít ra tự khởi đầu lại đi tìm kiêu hùng trong thất bại. Cái thất bại của phong trào Duy Tân, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Trương Công Định, Thiên Hộ Dương, của Nguyễn Thái Học, của Phan Bội Châu,…là những thất bại kiêu hùng. Cái thất bại cuả Imre Nagy xứ Lỗ Ma Ni trước đoàn quân xâm lăng của Liên Xô (thời Nikita Kroutchev) là cái thất bại kiêu hùng. Cái thất bại của Miền Nam Việt Nam trước cuộc xâm lãng vũ trang của Cộng sản là một thất bại kiêu hùng . Vì thế , thất bại mà không nhục. Cái 'nhục' không ở nơi 'đoàn chiến mã' mà do từ 'Trang chiến sử đồng minh cờ giũ cuộc, Nửa sơn hà nghịch lũ cuốn trôi phăng' (Vẫn đợi mùa Xuân – LHCM), do từ những lãnh đạo nhiều tham vọng mà bất tài, không tư cách ( cho dù trong 'thế chẳng đặng đừng', cho dù bị ép vào 'dường cùng, thế bí' thì ít ra cũng phải biết 'tự trọng', phải giữ được ít nhiều cái hào khí hùng anh của dân tộc như một Trần Bình Trong, một Phan Thanh Giản, một Hoàng Diệu, một Nguyễn Tri Phương,… xưa kia hay như một Lê Văn Hưng, một Nguyễn Khoa Nam,….trong ngày toàn dân 'ngã ngựa'). Cái 'nhục' còn ở ngay cả bên 'chiến thắng' do từ cái 'Hòa bình' mà họ đem lại cho cả nước, đúng hơn là họ áp đặt, bắt nhân dân phải gánh chịu. Cái thất bại của Song Nhị và của bao nhiêu chiến hữu như anh không nhục mà kiêu hùng. Vì thế, anh chỉ 'hờn' mà không nhục. Cái 'thất bại kiêu hùng' đó theo anh mãi mãi: -Sá chi sinh mạng thời binh lửa thì tiếc gì thân buổi bại hàng lê gót xích xiềng thời đại cổ ngậm ngùi chiến mã bước hiên ngang
Bước đi trên nỗi buồn hoang phế Trên những cỏ cây cúi gục nhìn Trên những vệ đường người lạnh cóng Những hàng đinh nhọn cắm xuyên tim (Tiếng hờn chiến mã) 'Bước hiên ngang giữa những ngậm ngùi' , ngậm ngùi cho cả một thời đại, cho cả loài người bày 'lối chơi hoang trò dã thú'; ngậm ngùi trước oan khiên của hồn sông núi gánh nặng trên vai oằn; trước cảnh 'nghịch thường' của đoàn chiến mã giờ đây phải ra sức nhọc nhằn 'xô trái núi' không để dựng xây công ích cho dân mà chỉ để 'dựng xà lim' giam nhốt con người: -Ở đây trời đất vừa thu lại còn một vòm đen chứa thế gian và cả loài người như đổi lốt bày trò dã thú lối chơi hoang
Tôi tưởng như mình vừa sống lại Tự nghìn kiếp trước nối oan khiên Oằn lưng gánh lấy hồn sông núi Hiu hắt trong lòng đóm lửa thiêng ……… Tôi đi núi đổ đè thân phận Đá cứa vai trần máu rướm tim Cả một đoàn người xô trái núi Dời non chuyển đá dựng xà lim (Tôi đi giữa đoàn tù vác đá – THCM) 'Tiếng hờn chiến mã' không phải để 'mím miệng, cắn răng' gượng nuốt nghẹn ngào, đau khổ vì hoàn toàn bất lực trước nghiệt ngã, không là thái độ 'so gan' trước kẻ thù hoặc cam phận chịu đựng; ngược lại, với Song Nhị, với những người như Song Nhị, 'tiếng hờn chiến mã' chính là để thách thức gian nguy, để nhìn ra mình, ra người, ra cuộc cờ dâu biển, để 'hờn' mình không tròn nghĩa vụ, từ đó hướng đến một nghĩa vụ mai nầy phải gánh vác khởi đi từ 'tiếng hờn', tữ những đau buồn, mất mát cùng những bức bách của lịch sử hôm nay: -…Dưới vòm đen nộ khí đàn ngựa đứng nhìn lên nhớ đường xa dong ruổi mang tội hình không tên
Ngày từng ngày lửa nắng đốt cháy cánh đồng hoang đốt trên làn da thịt đốt trên nổi cơ hàn đốt sao được tim óc đàn ngựa hồng bất kham (Đàn ngựa hồng trên cánh đồng hoang – LHCM) để 'trước họng súng trước lưỡi lê.Cùm kẹp, từng nụ cười vẫn nở rất tươi' (Một tù khúc cho em-LHCM) vì luôn luôn nuôi dưỡng : -…ta chờ xóa vết chân hoang về đem huyết sử viết trang chuyện đời ta chờ người lại với người xóa tan huyền thoại những lời võng ngôn. '(Từ cõi hồng hoang – LHCM) Cái 'chờ mong' đó được nung nấu từ 'Tiếng hờn chiến mã' hôm nay để tự thâm tâm vọng lên lời kêu gọi thắp sáng niềm tin: -Hỡi bầy chim trên khóm rừng già hỡi bầy ngựa hoang trên cánh đồng khô hãy thức đậy từ giờ nghe tiếng hát và nghe lời giục giã ………. Cuộc bể dâu làm vỡ vụn tinh cầøu thời gian qua chưa đủ mờ dĩ vãng nên lòng còn trên chóp đỉnh thương đau nên lòng còn trăm nghìn lời muốn nói nên tình còn trăm nghìn điều mến thương trong nỗi ngây ngất không cùng hãy ném hồn lên đỉnh ngọn sầu đông uống cạn sương mai giữa bầu trời lạnh giá ……. Trời sẽ nắng cây rừng hoang sẽ dậy Bầy chim di sẽ vỗ cánh bay về Ngày sẽ tới và mặt trời sẽ mọc Hỡi loài người vội vã tĩnh cơn mê. (Tiếng hát loài chim di - LHCM) Cuộc bể dâu có làm vỡ vụn tinh cầu, có biến đoàn chiến mã thành đàn ngựa thồ thân tàn ma dại, cũng không thể nào đốt được tim óc đoàn ngựa bấùt kham vì còn trăm ngàn lời chưa nói hết, trăm ngàn mến thương chưa tròn, trăm ngàn điều chưa trọn với đất nước, quê hương, với tổ quốc, gia đình nên 'tiếng hờn' luôn luôn vang vọng. Thơ Song Nhị luôn khắc khoải trong niềm ưu tư đó; chính niềm ưu tư nầy đã nuôi dưỡng chí hùng anh, đã thôi thúc cái kiêu hùng của 'chiến mã' miên viễn dậy dàng để luôn luôn 'đi về phía trước' (Từ giữa ngục tù – LHCM). 'Mang dấu tích một thời tao loạn,… đủ trăm nghìn nhức nhối từ một lần lịch sử sang trang' nhưng trong anh 'trăm nghìn ước mong chờ đợi' , không phải những 'viễn vọng mơ hồ, tìm thần tiên ở một ảo tưởng sa mù' (Từ giữ ngục tù) mà ngay ở đất trời dương cảnh, ở ngay nơi cuộc sống thế gian , ngay trong song sắt và bốn bức tường vây hãm: -…Ta phải sống ta sẽ đến đó với em với nghìn lần trìu mến ta sẽ giang hết đôi tay trải rộng tâm hồn lăn vào cuộc sống với nhiệt huyết dư thừa…. (Từ giữa ngục tù) 'Thất bại không nhục nhã' vậy 'chiến thắng có vinh quang'? Không, với những người như Song Nhị 'bại không nhục mà thắng cũng không vinh'. Tại sao? Tại vì Song Nhị là nhà thơ, là một nghệ sĩ. Song Nhị và những nhà thơ như Song Nhị đi vào lính, vào chiến đấu không để tìm 'vinh' và không phải để phải 'nhục' vì không 'vinh'. Cuộc đời bắt buộc phải 'ra đi' dù chỉ là đi chơi, đi dạo, đi chợ, đi học, đi du lịch hay 'đi' theo nghĩa của gái giang hồ hoặc 'đi' vào một nghiệp nghề kiếm sống bình thường (đi cày, đi làm, đi buôn, đi ở đợ,…) hay 'ra đi' theo một khuynh hướng, chí hướng nào (đi lập nghiệp, đi tu, đi làm Cách mạng, đi chiến đấu, đi vào triết lý, khoa học, nghệ thuật,…), không một ai không một lần 'ra đi', 'Parting is all we need of hell' ; khác nhau nơi sự việc, trường hợp, cảnh ngộ đã đưa đẩy việc ra đi, khác nhau nơi chủ đích, nơi ý hướng và tình tự lúc ra đi, trên hành trình ra đi. Song Nhị đã 'đi vào lính', làm thân 'chiến mã' vì nghĩa vụ, đã đành nhưng với tất cả tâm hồn nghệ sĩ nơi mình (điều nầy xin nói sau). Song Nhị đã 'trên nhánh đời chập choạng, ngồi hót thời biệt ly' (trích trên) và : -..ta đã ra đi từ một ngày như hãy còn quá mới có những khoảng thời gian tưởng như rỗng tuếch nhẹ hời nhưng lại ắp đầy trĩu nặng
Ta không thể nói những gì hiện hữu Là nhất thiết tuyệt vời Như bên tai vẫn vang vọng rêu rao Đủ điều thiện mỹ Mà từ hiện hữu nầy ta mới thấy những gì Thực sự có (Từ giữa ngục tù) Đoạn trích trên đủ cho ta thấy sự 'ra đi' của Song Nhị chất ngất tâm trạng nào và mang chở ý nghĩa ra sao. 'Tiếng hờn chiến mã' thúc giục 'ra đi' . 'Ra đi' để tiếp tục cuộc hành trình trong cõi thế vì còn phải 'oằn lưng gánh lấy hồn sông núi, heo hắt trong lòng đóm lửa thiêng' . Cũng như bao người, anh 'chạy trốn hòa bình', thứ hòa bình 'xã hội luông tuồng trong bệnh hoạn, con người con thú có gì hơn' và 'lễ nghĩa thay bằng câu dối trá' (về đây), thứ hòa bình của bạo quyền, bạo lực xoáy nát lương tâm, chôn vùi đạo lý, chà đạp quyền sống, phũ nhận tình người; thứ hòa bình khóa bịt miệng mồm, thắt đai dạ dày dân dã; thứ hòa bình trát trấu bôi tro , xéo dày, giẫm nát óc tim tâm hồn nghệ sĩ : -…ngọn sóng cuồng lưu xóa vùi đạo lý nhân loại ai còn tiếng gọi từ tâm ngôn ngữ văn chương lời rao quỷ dữ đâu đó hồn thơ máu chảy tim người… (Đổi đời – THCM) Anh đã từng bị bắt buộc 'Ra đi' bỡi bọn người chiến thắng, 'ra đi' để trả 'món nợ' (?) kẻ bại binh, mặc kẻ thù đày đọa. Và dù có phải 'ra đi' như thế nhiều lần thêm nữa thì vẫn không nguôi quên tiếng hờn chiến mã, vẩn luôn luôn là dòng máu Việt Nam, không bán lương tâm mình cho quỷ dữ, không bao giờ buông bỏ căn tính giống nòi. -…Mai kia nếu phải ra đi nữa nếu phải đầu thai một cõi nào xin mãi làm người con nước Việt dẫu lòng còn đó nỗi buồn đau. (Về đây – LHCM) Bây giờ, 'trốn chạy hòa bình', anh lại phải 'ra đi', tự bắt buộc mình 'ra đi', không để trở thành 'cái giá phải trả' trong tay phường 'chiến thắng' (?) mà với tâm nguyện tạo lập một 'hòa bình' đúng nghĩa thay cho thứ 'hòa bình' man trá, giả hình của kẻ thù tàn bạo, vô luân.
'Ra đi', hành trang chặng đường 'Đến, Ở'. 'Chạy trốn hòa bình' để 'Tiếng hờn chiến mã' có điều kiện mở phơi, vạch trần giai đoạn sử máu và thêm nung nấu can trường. 'Đến, Ở' xứ người, bơ vơ , lạc lõng như để 'nhận phần trả vay' nơi kẻ đã 'gieo mầm nhân quả' . Có thể Song Nhị không nghĩ như vậy mà hầu như do một 'căn duyên nào buộc' , một 'cần thiết nơi đời cõi âm', một tất yếu của kiếp người 'từ nguyên là bụi cát, ghé bến rồi ra đi': -…Ta từ cõi lạ một lần đến đây gieo mầm nhân quả nhận phần trả vay …… Ta từ cõi lạ một lần đến đây căn duyên nào buộc nhân sinh kiếp nầy (Chặng dừng) Chặng dừng 'đến, ở' trong thân phận ly hương xay xát đêm ngày tấm thân lữ thứ. Chiến mã ngày nào 'lẫy lừng bao chiến trận, dọc ngang hề! tứ phương' giờ nầy co rút lại giữa cảnh đất trời xa lạ, giữa cách sống, cách nhìn chẳng chút đồng điệu, đồng tâm. Một cách biệt, khác xa : ngôn ngữ, văn hóa, phong tục, thói quen, cả thân xác, hình hài,…một hoài nghi lạnh giá, 'hoài nghi hiện sinh, hoài nghi lý lịch' (doute existentiel, doute identitaire) xâm chiếm cõi lòng để hầu như thấy 'tuồng đời hư ảo, phận mình hư không': -…Ngày qua theo bóng đời xuôi theo dòng bóng đời chập choạng phận người rêu rong …….. Ta từ cõi lạ một lần đến đây ôâm toàn hư ảnh thả vào khói mây (chặng dừng) Ai không ngậm ngùi trong cảnh tha hương? Ai không héo hắt trong hoài thương, tưởng nhớ? Chặng đường 'đến, ở' ngun ngút buồn đau; tương lai hun hút dặm ngàn, mờ mịt, lạnh căm : -Xuân nầy có người viễn xứ hăm lăm năm biệt quê nhà lang thang chân trời góc biển ngậm ngùi đất tổ quê cha …….. bốn phương không là quán trọ ơi người viễn xứ về đâu? (Người viễn xứ) Thời gian lạnh lùng trôi, không đoái hoài thân phận kẻ ly hương 'trên lưng dày quá khứ, từng vết hằn bầm đen' (chặng hai ngàn thời chim di Việt Nam) , đã sang thiên kỷ mới mà những đợi chờ lịch sử đổi thay vẫn là một chuyện buồn, vẫn chưa một dấu vết vơi tan -…Một phần tư thế kỷ hoàng kim như bóng mây chặng hai nghìn đến hẹn chuyện buồn còn trao tay (chặng hai ngàn …) Và, bẽ bàng sao! Bao nhiêu đồng bạn cùng đoàn chiến mã bao thuở hiên ngang, bao thời oanh liệt và trong bao năm tháng ngày dài trong lao lung khổ nhục vẫn kiên cường bất khuất, thế mà, giờ đây….Và, bao kẻ khác, không trong đoàn chiến mã, nhưng cũng đã phải bao đọa đày khổ nhục, đã phải liều chết ra đi, thế mà, giờ đây…. -…Một ngày tôi ra ngõ Một ngày tôi ngồi hát phố xá người xôn xao cảm nghĩa tình dạt dào cờ giăng và biểu ngữ lời trao nhau giòn dã chính nghĩa mình giương cao đồng hương tố đồng bào
Một ngày tôi cúi mặt Một ngày tôi thức dậy Giọt nước mắt rơi mau thấy đàn ông đàn bà Giữa lằn ranh thù hận ném tiền vào thầy cãi Phất cờ vàng chọi nhau vác chiếu ra hầu tòa…. …….. (chuyện mỗi ngày của tôi) Giữa cảnh 'chợ trời chính trị' hổ lốn, bon chen, tranh giành nhau chút quyền, chút lợi, chút danh nham nhở, rẻ tiền; trước bao thủ đoạn nham hiểm, gian ngoan của kẻ thù cố tạo nên cảnh 'chợ trời bung xung' nhốn nháo đó, Song Nhị như thấy mình chỉ còn biết 'co lại trong xác con ve sầu', đành câm nín, im lìm ngày ngày 'lái xe vào hảng Mỹ, an phận làm cu li' để 'một ngày tôi lội bộ, ra bờ Thái Bình Dương, đọc lời kinh sám hối, tạ tội cùng quê hương' (chuyện mỗi ngày của tôi). Việc làm đẹp nhưng chỉ để tự thân an ủi mình . 'Tiếng hờn chiến mã' không bằng lòng thái độ tiêu cực . 'Tiếng hờn chiến mã' buộc anh cũng như bao người như anh phải chiến đấu, chiến đấùu cho một ngày về, chiến đấu cho một lẽ sống hiền hòa, cao quí, cho một mùa Xuân của đất nước thực sự đẹp tươi, 'cả dân tộc sẽ bừng lên sức sống, xóa hết nhục nhằn xây dựng một ngày mai!' (Phải nói lại những điều dã nói – VLĐX) : -đoạn cuối hành trình đêm đen sẽ hết ở đó sẽ là một mùa xuân những mùa xuân ta sẽ trang trọng cắm những bông hoa cho em cho cả cuộc đời… (từ giữa ngục tù – LHCM)
'Ra đi là để trở vễ' : 'Trở về' cũng 'cần thiết cho đời nhân gian' . Bước 'Ra đi' nào cũng mặc nhiên hứa hẹn bước 'Trở về'. 'Trở về' để phục thù bao oan khiên đã phải từng gánh chịu hay để tu bổ mái nhà khang trang, ấm cúng hơn xưa, hay dể xây dựng trang sử mới chung vui hoặc chỉ để sống lại những kỷ niệm một thời. Thượng Đế đã phải ra đi để lại trở về; Đạo thể chân như từ 'Vô dư Niết Bàn' , đã phải 'ra đi' đắm mình vào Diệu hữu (cõi tục đế) để được trở về trong Hữu dư Niết Bàn lộng lẫy hơn xưa. Con người cũng phải 'ra đi' vì điều đó tự trời, và thiết yếu cho vận hành nhân sinh nơi cõi thế (xin xem đôi bài thơ nơi phần chú thích). Sử mệnh Việt Nam đã hối hả xua hàng triệu con dân đất nước 'ra đi' vào lạnh lùng, hiu hắt để chuẩn bị cho một 'trở về' đẹp đẽ nay mai. (Xin không dài dòng điều nầy để khỏi rơi vào Đạo học và Chính trị). Từ nơi 'đến ở', Song Nhị cũng như bao người luôn nuôi dưỡng một 'Trở về'. Anh đã từng 'trở về' không từ nơi đất Mỹ mà từ nơi trại tù cải tạo của Cộng sản. Sau bao tháng ngày bầm giập tái tê, nhục nhã, anh đã 'trở về' lại vời làng xưa, phố cũ, trở về lại 'những lối đi xưa'. Những 'lối đi xưa' nay không còn sắc màu diễm ảo, mộng mơ, xinh đẹp mà tiêu điều, hiu hắt do một 'đổi đời' kỳ quặc , do 'trang sử lật rồi cuộc biển dâu' : -Về đây đời bỗng ngu ngơ lạ Quanh quất như chừng lạc lối xưa Phố mất tên, đường, nhà đổi chủ Người nhìn nhau thoáng mắt thờ ơ
Về đây. Về lại từ luân lạc Chưa trả dứt xong nợ quỷ thần Cảnh cũ người xưa chừ tản mác Thấy người mà buốt cả tâm thân…. (Về đây – VLĐX) Song Nhị đã về lại quê nhà Hà Tĩnh vào năm 1988 ( sau khi cả gia đình qua Lào để tránh cuộc 'cải cách ruộng đất', đấu tố hung tàn, man rợ 1956), cảnh cũ người xưa mà lòng chao đảo, ngỡ ngàng: -Tôi về Hà Tĩnh chiều nao Dưới chân Hồng Lĩnh máu đào chưa khô Quê người (xứ Lào) tôi nhớ Nguyễn Du Quê tôi tôi đứng giữa mù mịt xa… (Ba mươi hai năm về lại quê nhà – VLĐX) Và cũng một lần 'trở về' quê Nghệ Tĩnh cùng Hà Nội, Song Nhị ngậm ngùi ra sao? -…Ngày trở về thăm quê Nghệ Tĩnh Đất cằn sỏi đá ruộng đồng khan Con trâu đứng đợi hờ rơm cỏ Em bé ngồi trông miếng khẩu phần ……. Và buổi đi tàu ra phía bắc Tìm về văn hiến bốn nghìn năm Thương ôi, Hà Nội tiêu điều quá Năm cửa ô buồn ngõ tối tăm…… (Nước non thuở ấy – VLĐX) rồi trĩu nặng u hoài như Bà Huyện thuở nao 'nước còn cau mặt với tang thương' để 'nghìn năm gương cũ soi kim cổ' ; nhìn 'lăng Bác', nhìn tượng Lê Nin,…nhìn những anh công an khu phố sẵn sàng tri hô 'phản động' nhưng cũng vui vẻ tử tế nhận chút tiền hối lộ để 'phản động' được vào Tõa Đại sứ Úùc có việc cần. 'Lối đi xưa' bây giờ là thế đó, làm sao không quằn quại đau lòng cảm thấy 'đồng hương mà vẫn đứng ỏ hai miền, đồng hương mà phải cùng nói chung ngôn ngữ khác'. Từ nơi xứ Mỹ, Song Nhị đã chứng kiến bao 'trở về' của bao người để càng thêm tủi cực, ê chề : -..Người về. Ừ nhỉ về mà hưởng phú quí vinh hoa hậu đổi đời đã khuất nẻo rồi thời bão loạn sá gì vàng đỏ một trò chơi
Người về kẻ đợi người đưa đón mừng rỡ thay vì tiếng mặn chua rủng rỉnh đồng dô la nặng túi dại gì ai kẻ đuổi người xua…. (Người về – VLĐX) Lý do viện dẫn cho những 'trở về', tất cả nghe ra 'hữu lý' nhưng thực sự chẳng hợp tình, hợp cảnh chút nào dù 'trở về' để thăm viếng thân nhân, để nhìn lại quê hương xưa cũ, để hợp tác làm ăn xây dựng đất nước (?) với người Cộng sản hay tệ hơn và tàn nhẫn hơn là để hưởng thụ thân xác gái tơ tuổi đời non choẹt. Mọi 'trở về' đều kết thúc bằng một 'ra đi trở lại' ngay cả 'trở về hợp tác, dựng xây' (!). Song Nhị, một chiến sĩ, một nhà thơ –một chiến sĩ nghệ sĩ- không thể 'trở về' theo kiểu cách đó. Không thể trở về với tâm lý của kẻ 'phàm phu', hoặc với cái nhìn của một ngoại nhân du lịch. Trở về giờ nầy có khác gì với 'trở về' trước đây : -…Ngó lại Buồn Và tủi nhuục Nỗi đau như cắn xé thịt da người Đất nước về đâu sau thế kỷ Hai Mươi (Về đâu Đi đâu – LHCM) Những 'lối đi xưa' giờ đang héo hắt, lịm mình trong những 'độc tố bọc đường' man trá, giả hình. Không thể 'trở về' 'khi bạo lực còn trên ngôi thống trị, Khi nhân loại bước vào tân thế kỷ, Đất nước mình lùi lại mấy trăm năm?' (Phải nói lại những điều đã nói – VLĐX) . Chỉ 'trở về' trên những 'lối đi xưa' thuần hậu, hồn nhiên, tươi vui, trong sáng, đẹp đẽ thât sự cho con người, cho lẽ sống : -…Mai anh về em nhé Mùa xuân bừng nắng tưoi Cây đơm chồi lộc mới Hoa thắm lại môi cười .... Mái nhà xưa ấm lại Bếp lửa hồng reo vui Mẹ già thôi nước mắt Con thơ rộn tiếng cười ...... Hồn thơ anh chắp cánh Tình em hồng nắng mai Đời thênh thang rộng mở Ta đi vào tương lai (Mai anh về em nhé – THCM) 'Trở về' là để đi vào tương lai; 'trở về' là để dựng lại 'Cội Nguồn' mà dù cuộc sống có 'vô thường' đến đâu thì trên cái 'vô thường' đó , Cội Nguồn cũng luôn luôn thắp sáng khối óc, trái tim những người không 'mất gốc' : 'Du cư suốt cõi vô thường, Trăm năm về, ở ngọn nguồn cõi chung' (Nghĩ về Nguồn Cội – VLĐX) để tất cả, chết, sống, bạn, thù cùng nhìn ra : -...Trên mộ bia ai kẻ thua người được Có nhận ra nhau chung một cội nguồn (Phải nói lại những điều đã nói – VLĐX) Cái Cội Nguồn nguyên khởi từ đó vạn hữu đã 'ra đi' đắm mình vào cõi thế để một ngày, sau bao trầm luân dâu bể của hiện hữu vô thường, lại 'trở về' với Nó, với 'ngôi nhà Hằng Thể' (la Maison de l'Eâtre). 'Trở về' là tìm lại, sống lại thời tuổi mộng nguyên sơ trong một thế giới không sai biệt, không còn đếm đo, chia cắt, tính toán thị phi, tranh giành hơn thiệt. Song Nhị chỉ 'trở về' trong ý đó, với tâm nguyện đó (anh đã đớn đau đành cam bất hiếu không về phục tang mẹ mất ở Việt Nam tháng 4/2002). 'Trở về' không phải để 'trả thù, rửa oán' mà chỉ để góp phần đưa lịch sử sang trang, để đổi chiều lịch sử, để chấm dứt một giai đoạn lịch sử bi thương, mở ra những trang đời tươi đẹp cho mẹ, cho cha, cho đất nước non sông, cho người, cho đời, cho em:'Sẽ làm lại. Sẽ bắt đầu cuộc sống, Em góp nụ cười chung nỗi hân hoan' (Bài đầu tháng giêng – VLĐX). Còn riêng anh, chỉ một ước mong bé nhỏ : 'Anh về hái hạt mùng tơi, làm ve mực tím viết lời yêu thương' (Mực tím mùng tơi – THCM). 'Viết lời yêu thương', vâng, chỉ có thế, chỉ chừng ấy thôi; lời thơ giản dị chẳng chứa đựng gì cao xa nhưng không phải là chuyện dễ làm, không phải ai cũng làm được nếu không có 'tấm lòng' thực sự biết yêu thương. 'Lời yêu thương viết bằng mực tím từ hạt mùng tơi'. 'Hạt mùng tơi', sản phẩm của quê hương, một sản phẩm của tự nhiên hiền hòa, đạm bạc, bình dị, đơn sơ. 'Mực tím', màu tím, màu của suy tư, suy tư về tình yêu thương, do tình yêu thương để hành động vì yêu thương, phục vụ yêu thương hầu cuộc sống, cuộc đời thoát khỏi mọi thứ 'võng ngôn' chia cắt tình người, đã dùng yêu thương làm nhãn hiệu, chiêu bài che đậy bao ý đồ gian manh, biến yêu thương thành thù hận, hờn căm xéo nát tình người. 'Trở về', vâng, trở về nhưng bao giờ? Chưa ai trả lời. Song Nhị không xác quyết lúc nào nhưng: -…Lịch sử bước đi bằng đôi hia bảy dặm lịch sử sẽ trở về như bào thai đến chu kỳ của nó và sẽ dừng lại ở những chặng đường ……… Dù thời gian có bao lâu dẫu cuộc đời có vội vã hối thúc ta xin em đợi chờ. (xin em đợi chờ – LHCM)
|