vhvt

      tự do tư tưởng và sáng tạo

văn học 
bình khảo



  

 

         

Thơ Song Nhị

BA CHẶNG  ĐƯỜNG - MỘT HÀNH TRÌNH

NGUYỄN THÙY

 

trang 2

 Xin em đợi chờ. Sớm muộn thế nào cũng sẽ đến 'tự cuối thiên thu nghìn vạn hướng, Quay ngược thời gian sử đổi chiều':

                                       -…Ngày đi. Ngày đến. Ngày về lại

                                        Vẫn hẹn. Vẫn mong. Dẫu trễ tràng

                                        …….

                                        Xin hẹn vối nhau cùng lượt nhé

                                        Quê hương xứ sở đón ta về

                                        Cờ bay rợp nắng mùa xuân mơi

                                        Người lại gặp người nỗi hả hê

                                               (Phố xưa đốt pháo đón giao thừa – VLĐX-

                                                                             kính tặng Hoàng Tử Bảo Ân)

               Bỡi  vì  'Quê hương  đâu mãi vùng đất cấm, Đời sẽ rộn  ràng  những  bến  sôn g'     (Sang mùa - VLĐX).  Xin hẹn, xin chờ: 'Ai đó thương nhau chờ hội mới, Sang xuân sẽ nở rộ hoa hồng' (Sang mùa). Vì rằng 'ĐOẠN CUỐI HÀNH TRÌNH ĐÊM ĐEN SẼ HẾT' (từ giữ ngục tù), vì rằng 'Phút giờ tăm tối nhất của đêm đen lại chính ngay vào lúc bình minh hiển hiện'  (2) và 'Lại vì cớ tội ác sẽ thêm nhiều thì lòng yêu mến của phần nhiều người sẽ nguội lần. Nhưng kẻ nào bền chí cho đến cuối cùng thì sẽ được cứu' (Tân ước Mathieu: 24: 12-13). Xin hẹn, xin chờ. Ngày đó chắc hẳn không xa.

          Ba chặng đường 'Ra đi, Đến ở, Trở về' của hành trình Song Nhị,  ba chặng đường đầy gian khổ, bi thương, cô đơn, buồn đau, u uất nhưng không thiếu vắng niềm tin, vẫn tràn đầy khí lực và chan chứa tình người. Hiểu theo Đạo Học, Ba chặng đường, một hành trình không của riêng Song Nhị, không của riêng ai, không của riêng người Việt nơi hải ngoại hiện nay mà chính là hành trình chuyển dịch của dòng vận hành của Lẽ Đạo, của Thượng Đế, của Thể tính Chân Như  từ 'Chân Không' đi vào 'Diệu Hữu' để trở về với 'Diệu Hữu trong Chân Không'. Đấy là ẩn dụ 'Tổ quốc – Kiều địa – Cố hương' của nhà tư tưởng M. Heidegger (3). Song Nhị không nói gì về tư tưởng, về triết học nhưng lời thơ đã hàm ngụ tính tư tưởng nơi cõi lòng luôn luôn thiết tha hướng vọng về Cội Nguồn, về mái ấm của ngôi nhà Hằng Thể óng mượt yêu thương. Từ trong cảm thức, Song Nhị đã từ lâu mơ màng âm thầm nuôi dưỡng cái hướng vọng đó, mượn hành trình 'Ra đi, đến ở, trở về'  của riêng mình diễn tả tâm trạng, tâm tình và ý hướng vọng  về cái lẽ hoằng viễn, thâm sâu bằng lời thơ đơn giản nhưng chất ngất niềm tin.     

 

          Song Nhị yêu thơ và làm thơ từ thuở còn thư sinh. Thơ theo anh suốt cả cuộc đời. Thơ theo anh vào chiến trận, vào ngục tù, sống với anh trong chặng đường 'đến ở' lạnh buồn, 'ngao du' cùng anh suốt mọi ngã đường đất nước trên những 'lối đi xưa' và trên những 'lối đi ngày tới' trong ngày về.  Suốt đời anh sống với thơ ; suốt đời thơ 'ăn ở' với anh. Thơ cho mẹ, cho cha, cho chiến hữu, cho đồng hương, cho bạn bè, cho cô em nhỏ, cho bé thơ, cho cụ già, cho quê hương, đất nước, cho cuộc đời, cho nhân loại đầy đủ mọi cảnh ngộ, mọi sắc thái của hành trình nhân thế. Thơ là 'chất sống' một người, điều nầy dễ hiểu. Nhưng không chừng đó. 'Chất sống' nơi thơ –với những người thực sự là nhà thơ- mang chở một 'sứ mạng' cao cả, thiêng liêng. Thơ không chỉ là 'tiếng nói của con tim', không chỉ là những biểu hiện của thực tại, không chỉ là những rung động của tâm tư về phận mình hay vận nước mà còn là một 'thăng hoa' ý chí và tâm tình, một thăng hoa dể đạt được cái bản thể tinh anh, thuần khiết của con người nằm sâu trong vô thức hướng về hòa nhập với cái 'bản thể của tự nhiên' (le naturel de la nature).. Song Nhị đã viết:

                                       -…Tôi sẽ mãi làm thơ                                       

                                        Ngôn từ vụng dại

                                        Sẽ lang thang gom gió sớm mây chiều

                                        Để đem về xây tổ ấm thương yêu

                                        Cho hồn tôi hồn em ngủ ngoan trong đó

 

                                        Tôi sẽ mãi làm thơ

                                        Để cùng em đời đờøi trăng sao hội ngộ

                                        (dẫu bầu trời sương khói mùa đông)

                                        Tôi sẽ đốt thơ thắp sáng ngọn nến hồng

                                        Soi tỏ lòng tôi – Lòng em

                                        Nếu muốn

 

                                        Có thể thơ tôi làm em phiền muộn

                                        Làm mọi người ghét bỏ tôi thêm

                                        Nhưng không ai có quyền

                                        Vắt trái tim lấy máu làm độc dược

                                        Bỡi máu tim là dòng suối ngọt

                                        Mãi mãi luân lưu nuôi mạch sống không cùng

 

                                        Mà thơ là tiếng nói của lòng

                                        Tiếng nói trăm năm vào đời cứu rỗi

                                     (Một đời với thơ – VLĐX)

           Bài thơ như một 'thông điệp'. Thơ là ngôn ngữ của mọi ngôn ngữ, là nghệ thuật của mọi nghệ thuật. 'Thông thường, thi sĩ được tạo dựng vào khởi điểm hay tận cùng của một thời đại của thế giới. Chính do từ các thi khúc mà mọi dân tộc từ sơ sinh đã từ trời xuống đất để đi vào cuộc mưu sinh, vào địa bàn văn hóa. Chính do từ các thi khúc mà mọi dân tộc trở về với cảnh sống nguyên sơ. Nghệ thuật thiết lập mối chuyển tiếp từ bản thể tự nhiên vào văn hóa và từ  văn  hóa vào bản  thể tự nhiên'  (4).

          'Tiếng nói trăm năm vào đời cứu rỗi'. Thơ   cứu   rỗi  con   ngươời.  Không   có  thơ,  Nguyễn Chí Thiện đã rũa xác trong tù; không có thơ, chàng sẽ không có một công trình sáng giá góp cho đời. Thơ đã cứu sống Nguyễn Chí Thiện; Thơ đãø làm 'địa ngục nở hoa' nơi chàng (nhan đề tập thơ 'Hoa địa ngục' của NCT). Thơ đã biến Nguyễn Chí Thiện  thành  nhân  vật  lịch  sư û một  thời.   Nguyễn Chí Thiện  làm thơ  không để trở thành thi sĩ. Thơ đến với anh, bắt anh  phải 'đảm đương' một vai trò lịch sử  trong dòng lịch sử dân tộc, qua thơ. .

          Một câu thôi 'Tiếng nói trăm năm vào  đời  cứu  rỗi',   Song  Nhị  đã  nói  lên   cái  hoằng   viễn, thâm sâu,  u trầm, kín  nhiệm, muôn đời của Thơ.  Song Nhị đã vào đời với thơ, vào quân ngũ, vào chiến trận với thơ.  Nơi anh, người dân, người lính, người thơ quyện vào nhau. Người 'chiến sĩ  nghệ sĩ' không đi tìm vinh quang trong chiến thắng. Cái vinh quang của họ ở nơi trọn vẹn nghĩa vụ, ở nơi cái 'sứ mạng lịch sử ' của thời đại dù có phải vì bắt buộc mà dù có phải bị bắt buộc, họ cũng đã sống với thơ. Toàn bộ thơ anh không nói gì đến chiến thắng, chiến công, đến những hãnh diện, tự hào, oanh liệt ngày qua sau một 'thành công' nào đó đánh bại quân thù. 'Tiếng hờn chiến mã' là tiếng hờn vì nghĩa vụ không tròn, vì tình yêu không trọn vẹn để phải đau thương cho dân, cho nước, cho nhà. Người 'chiến sĩ nghệ sĩ' đi vào chiến trận với hình ảnh 'người dân nơi người lính' chứ không phải 'người lính nơi người dân' hay chỉ là người lính đơn thuằn. Người 'chiến sĩ nghệ sĩ' chiến đấu để bảo vệ người dân qua người lính . Điều nầy thường không mấy ai để ý và khó rõ ràng nói ra. Đi vào thơ không phải để trở thành thi sĩ; đi vào chiến đấu không phải để tìm vinh quang. Mộng trở thành thi sĩ sẽ giết chết thơ; mộng tìm vinh quang sẽ giết chết ý nghĩa chiến đấu hay sẽ khiến chiến thắng không còn vinh quang mà là cuồng bạo. Nhà khoa học ra công tìm tòi, nghiên cứu không để mong trở thành nhà thông thái; nhà triết học mong tìm một hướng đi, một giải quyết nhân sinh không phải để được là triết gia. Người làm thơ cũng thế; người chiến sĩ cũng thế. Người hiệp sĩ trở thành hiệp sĩ vì đã cứu người chứ không phải muốn được là hiệp sĩ nên mới cứu người. 'Bảo vệ người dân qua người lính', ý nghĩa chiến đấu nằm ở đấy. Và, có thể phần nào đấy là cái 'triết lý' ẩn tàng nơi thơ Song Nhị dù anh chẳng bao giờ triết lý:

                                       -Xin từng đốt ngón tay mỏi mòn lời hứa hẹn

                                        Xin ngày tháng dài ao ước đơn sơ

                                        Xin một lần gỏ cửa gọi tên người còn đáp lại

                                        Xin cho quay về nhận diện ấu thơ

                                        ……..

                                        Xin bồng súng chào mừng đồng loại

                                        Nhận huấn lệnh đi vào cuộc đời

                                        Sự khởi đầu bằng vết hằn ký ức

                                        Và gió mưa luân vũ quay cuồng

                                        Những đứa bạn nằm yên dỗ giấc

                                        Cũng thôi

                                        Hạnh phúc vẹn toàn

                                       ……..

                                       Xin bài kinh cầu trổi thành nhạc khúc

                                       Một phút an ủi vỗ về

                                       Một phút bình yên trên vòm trời ảo tưởng

                                       Ôm tròn hoài niệm quay đi

                                       Sự có mặt của những ngày dẫy đầy triệu chứng.  

                                                             (Tình ca nhập cuộc – VLĐX)

          'Nhận diện ấu thơ' trong sự 'có mặt dẩy đầy triệu chứng', giữa 'luân vũ quay cuồng' , giữa 'vòm trời ảo tưởng'. 'Nhận huấn lệnh đi vào cuộc đời', huấn lệnh nơi đây không hẳn là 'mệnh lệnh' của cấp chỉ huy hay của Đảng và Nhà Nước nếu nói về phía những người bên kia. 'Huấn lệnh đi vào cuộc đời' là sự 'bắt buộc phải 'ra đi' do ' thiết yếu của đời cõi âm' do 'điều biết tự trời'; huấn lệnh đó là cái nghĩa vụ phải gánh vác do đòi hỏi của thiết yếu lịch sử. Làm tròn nghĩa vụ đó là vinh; không làm tròn được không là nhục. Cái 'nhục' ở nơi tránh né cái nghĩa vụ đó hay đưa cái nghĩa vụ đó đi sai đương lịch sử. Hân hoan nhận cái nghĩa vụ lịch sử đó (bồng súng chào mừng đồng loại)  đi vào cuộc đời. 'Chào mừng đồng loại' : chào mừng thân nhân, bạn bè, chiến hữu, chào mừng mái ấm gia đình thân thương, có thể chào mừng cả nhân loại trong việc 'ra đi' do sứ mạng lịch sử  đó, do từ 'vết hằn ký ức'. Ký ức nào? Gần gũi là ký ức Quê hương, Tổ quốc; cao rộng, thâm sâu hơn, đấy là ký ức về Cội nguồn mà Song Nhị đã nói . Victor Hugo đã nói trước đây:

                                   -Mọi điều đã được nói.Điều xấu cáo chung; lệ buồn 

                                    chấm dứt; không còn xiềng xích tù gông, không còn tang ma, không còn báo động

                                            Hố thẳm khắc khe không còn câm nín,  (mà)

                                    bập bẹ lên lời : tôi nghe gì?

                                    Đau khổ nhân sinh tan đi trong mọi vùng bóng tối;

                                    Thiên sứ từ cao lớn tiếng gọi mời:

                                            Nguồn cội !     (5)

          'Xin cho quay về nhận diện ấu thơ'; nhận diện là nhìn ra, thấy lại, sống lại. Tuổi ấu thơ con người cùng  cái Cội nguồn nguyên khởi bao giờ cũng bình dị, đơn sơ, thuần nhiên, thánh khiết, vô ưu . 'Xin được như  vậy' (Ainsi soit-il, bốn câu thơ đầu trích trên). Và những người nằm xuống? Họ còn  mãi ôm 'hằn ký ức', 'ôm tròn hoài niệm'; họ đã không may mắn nhìn lại được 'tuổi ấu thơ' của Quê hương, Dân tộc, của chính mình , của Cội Nguồn nguyên thể thì xin 'bài kinh cầu' (requiem) đừng cần thiết gọi hồn họ siêu thăng mà hãy trở thành tiếng nhạc, lời thơ vỗ vể họ một phút bình yên  giúp họ được 'quay đi', không còn phải đối diện với 'sự có mặt của những ngày dẫy đầy triệu chứng' đang còn phải diễn ra. Song Nhị 'ra đi', -'đi vào chiến đấu'- với ý tình như thế. 'Xin tiếng nói đây em, Một lần từ biệt, Xin tiễn đưa bằng nỗi nhớ xa xôi, Xin con tàu vào viễn lộ hoàng hôn, Sương mù biển lặng, Gom hết đau thương đốt lửa giữa trời' (Tình ca nhập cuộc).  Bài thơ được viết năm 1969  giữa lúc súng giặc vang rền khắp nẻo quê hương. Ba mươi ba năm sau (năm 2002) nơi xứ Mỹ, ý tình đó vẫn theo anh:

                                       -..Sông với núi và trăng sao cây cỏ

                                        Em và tôi và tất cả muôn loài

                                        Đã hiện hữu trước ý đồ tạo hóa

                                        Đã căn phần tự thuở mới phôi thai

 

                                        Tôi đã đến, đã đi và sẽ tới

                                        Cuộc trăm năm đoái tưởng chữ vuông tròn

                                        Khi nhân ảnh khuất sau vừng nhật nguyệt

                                        Xin gửi người còn lại khoảnh lòng son

                                                            (Lời mặc khải của tiền thân)

          Hiện hữu không do từ ý muốn của riêng ai mà do 'ý đồ tạo hóa', do từ 'căn phần tự thuở mới phôi thai'. Đi vào cuộc đời là đi vào 'viễn lộ của hoàng hôn', nói theo Oân Như Hầu Nguyễn Gia Thiều:

                                       -Cái quay búng sẵn lên trời

                                        Lờ mờ nhân ảnh như người đi đêm

                                                            (Cung oán ngâm khúc)

thì phải lần mò bước đi trong đêm tối bủa vây. Cái quay phải quay, không được từ chối ngưng quay. Nhưng không phải vì thế  mà không chịu nhìn ra hướng mình quay và điều chỉnh dòng quay thế nào cho thuận theo ý mình, thuận theo  cái lý vận hành của Tạo hóa. Thuận Nghiệp chính là để 'Cải Nghiệp'. Cải nghiệp bằng :'Gom hết yêu thương đốt lửa giữa trời'. 'Đốt lên, đốt cho bừng sáng  giữa trời bao la chất lửa yêu thương' để mai kia vĩnh viễn ra đi giả từ cõi thế, 'khi nhân ảnh khuất sau vừng nhật nguyệt'  (parting is all we need of hell) được 'gữi người còn lại khoảnh lòng son'. 'Khoảnh lòng son', vâng, chỉ thế, đơn sơ chỉ thế nhưng khó khăn thay và mấy ai chịu nghĩ, chịu làm.'Lưu thử đan tâm chiếu hãn thanh'  (lưu lại tấm lòng son cùng sử sách – Nguyễn Công Trứ : Chí làm trai), Giản dị quá đi thôi! Nhưng giữa cảnh 'chợ trời' nham nhở tranh đoạt lợi danh, quyền uy, chức vị, nào mấy ai đủ nghĩa khí, can trường thực hiện, ngoài một số ít người luôn nuôi dưỡng nơi mình 'khí hạo nhiên chí đại chí cương' (Nguyễn Công Trứ : Kẻ sĩ) và ngoài nhà thơ, những nhà thơ thực sự là nhà thơ, những nhà thơ đi vào cuộc đời với cả tâm hồn người dân chất phác, người chiến sĩ kiên cường và người nghệ sĩ lãng mạn bát ngát yêu thương trang trải tình người thanh tân, thánh khiết đem 'Thơ vào đời trăm năm cứu rỗi' . Đấy  là sứ  mạng của Thơ,  của nhà thơ, những nhà thơ lớn của thời đại nguy nan (poètes en temps de détresse- M. Heidegger) , những nhà thơ lớn vào thời tận cùng của một giai đoạn lịch sử bi thương của thế giới (lời Holderlin, trích trên). Bao nhiêu bài nữa nhưng xin dừng . Bàng bạc trong thơ Song Nhị những ý tình xa xôi, hoằng viễn đó, những ý tình triết lý về ý nghĩa làm người, ý nghĩa cuộc sống, có thể do xuất thần cảm ứng mà anh không biết, không ngờ. Nhưng dù do xuất thần thì cũng đã do từ lâu rồi tiềm tàng nội tại trong tâm tư phát sinh từ bản chất nghệ sĩ vừa hạo nhiên vừa lãng mạn. Xin sống với cái tâm hồn 'chiến sĩ-nghệ sĩ' nơi anh để nhận ra phần nào kín nhiệm nơi thơ anh.  

          Với tâm hồn đó, Song Nhị đã đi vào chiến trận với hình ảnh 'người dân nơi người lính'. Điều nầy, người lính Mỹ đồng minh không thể nào hiểu được  (6).  Cả những lính Việt Nam bên kia chiến tuyến. Họ –những người Cộng sản- đi tìm vinh quang không cho người dân, có thể không cả cho người lính mà chỉ cho họ, cho tập doàn Cộng sản, cho chủ nghĩa, cho cái 'ý thức hệ' riêng tây của họ. Họ đã biến ngươi dân thành người lính, họ bảo vệ người lính hơn người dân. Họ đã xua hàng trăm, hàng ngàn người dân đi trước lính trong những cuộc tấn công. Chiến thuật 'biển người' đã giết hàng loạt nguời lính và người dân. Họ –người Cộng sản- biến người lính không còn là người dân để họ tìm vinh quang trong chiến thắng  và để người lính được nhận phần thưởng 'liệt sĩ, anh hùng' (!). Họ biến người lính thành từng cầu thủ bóng tròn, thành từng võ sĩ  quyền anh, những 'sát thủ' hay những 'giác đấu' phải thắng mọi đối thủ để được Đảng tặng thưởng tiếng 'anh hùng' đem vinh quang (!) về cho Đảng (7). Tất cả đều thuộc về Đảng và Nhà nước, nằm trong vòng tay, khuôn khổ cuả Đảng và Nhà nước, cả đất nước, tôn giáo, pháp lý và lịch sử cũng thế. Xin không dông dài để khỏi bị gán ghép là 'tố Cộng'. Quang Dũng, một chiến sĩ nghệ sĩ thời chống Pháp đã không theo văn nghệ của Đảng nên bị đánh giá là 'lãng mạn tư sản' nên bị thất sủng. Và bao người như thế cho mãi đến nay, không cần kể nói nơi đây. Người lính không mang theo hình ảnh người dân nơi mình, không 'bảo vệ người dân nơi người lính' thì chỉ là người lính đánh thuê, người lính của lực lượng xâm lăng hay công cụ trong tay kẻ độc tài. bá đạo. Song Nhị không đề cập đến điều nầy nhưng qua thơ anh, ta mơ màng nhận ra tính cách chiến đấu theo tinh thần 'hiệp sĩ  hùng anh' nơi người lính, nơi người 'chiến sĩ' đúng nghĩa là 'chiến sĩ'.

           Do bản chất 'ngưởi dân, người lính, người nghệ sĩ', quyện vào nhau,  thơ Song Nhị kết hợp cả hai tính chất cổ kính của thơ xưa với tính lãng mạn cũa thơ nay. Trong 'Tiếng hờn chiến mã', lời thơ phảng phất không khí đường thi qua các bài Thất ngôn, ngũ ngôn  tứ tuyệt hay những bài ít nhiều theo lối cổ phong. Ta dàọc ra cái phong thái hạo nhiên, cái khí tiết kiên cường của kẻ sĩ phu yêu nước trước đây, cái dũng của con người hào kiệt , nguy nan, gian hiểm dạ chí không sờn. Có buồn đau vì nghĩa vụ không tròn, vì lâm vào thế phải 'gảy kiếm cung'  thì cũng là cái buồn đau, than thở, ngậm ngùi chung do thời không xuôi, thế không thuận chứ không rũ liệt, nát tan , nhục nhã để phải tự mình đánh mất khí tiết hùng anh. Qua thơ Song Nhị, ta như sống cái không khí 'Kẻ sĩ' của một Nguyễc Công Trứ ngày nào.

                Những bài làm theo thể thơ mới, tự do và nhất là Lục bát, phần lớn nơi 'Về lối đi xưa' chan chứa tình cảm ngọt mát tính chất trữ tình, tha thiết, mặn nồng, cảm động.  Lời thơ như  tuôn chảy, dàn trải, mở phơi tình tự. Hình ảnh trong thơ không nơi từ ngữ mà nơi văn ảnh tức hình ảnh của toàn bài chứ không chú trọng nơi một ẩn dụ, một biện pháp tu từ nào. Bài 'Sáng lại lòng con'  là một điển hình. Mượn một hình  ảnh hiện thực 'Cặp kính viễn mẹ cha cho con'  chuyển thành văn ảnh mang tính chất ẩn dụ vừa nói lên tình cha nghĩa mẹ đậm đà cùng công khó và ý tình mẹ cha vừa mang chứa ít nhiều tính chất triết lý. 'Cặp kiếng' mẹ cha trao cho không chỉ để giúp con nhìn đọc tỏ tường mà trở thành 'cặp kiếng của lương tâm', của 'trí tuệ', của 'tấm lòng' nhìn rõ mình, rõ người, rõ nhân tâm, thế sự, rõ tình đời, vận nước; cặp mắt già vì số tuổi, vì buồn đau, vì truân chuyên, nhục nhằn, khổ nạn, cặp mắt đã mờ, cặp mắt sáng lại:

                                       -…Con đã thấy dã hiểu rồi

                                        Thưa mẹ

                                        những gì rất đáng yêu

                                        những gì rất ghê sợ

                                        con đã đến đã đắm mình trong đó

                                        tha thiết trong yêu thương              

                                        dạn dày trong đau khổ

                                        sôi sục trong hờn căm

                                        con lớn lên theo năm tháng nhục nhằn

                                        mắt con đã mờ

                                        mắt con sáng lại.

                                                       (Sáng lại lòng con – LHCM)  

          Tính chất trữ tình nơi đây, phần nào do tính cách hạo nhiên của kẻ sĩ,  đã vượt lên trên 'mặt bằng tình cảm' thường ngày, hướng đến một thứ tình yêu lung linh, diệu vợi, thiêng liêng nào khác:

                                    -…Tôi trải lòng mình                        

                                     tiếng yêu thương mời gọi                

                                     xin mặt trời soi

                                     vườn tĩnh ngộ nở hoa

                                                                             (Thông điệp từ địa chỉ New York 9/11

                                                                                        Gởi loài người)

           Ngoài một số bài ngậm ngùi về  cảnh phải 'ngã ngựa'  và một số bài nói về  cảnh 'đổi đời tê tái' của Cộng sản  phủ trùm lên đất nước, nhân dân,  nhìn chung, thơ Song Nhị luôn luôn nói đến 'tình người', không chỉ giới hạn nơi nhửng mối tình thiết tha cao quí ai cũng hằng mong trong cuộc sống hằng ngày (yêu mẹ cha, chồng vợ, con cái, bạn bè, yêu Tổ quốc, nhân dân,…) mà còn hướng đến một tình yêu thăng hoa con người cùng cuộc sống, cuộc đời để cả mặt đất bình yên, cả nhân loại không còn trong bóng tối quỷ ma. Xin mượn lời thơ của Victor Hugo trong bài 'Bên bờ vô hạn'  (au bord de l'infini) để kết thúc bài viết nầy và cũng để phần nào nói lên cái 'Tình Yêu' thánh thiện, thiêng liêng mà Song Nhị ước mong được thấy dựng xây cho tất cả mọi người nơi cõi thế, thứ tình yêu Song Nhị đã đem theo mình trong chiến đấu, trong ngục tù cải tạo, trong thân phận lưu dân nơi xứ người qua suốt cuộc hành trình 'Ra đi, Đến ở, Trở về'  biểu hiện qua Thơ 'Tiếng nói  trăm năm vào đời cứu rỗi' :

                                 -…Giờ đã đến. Hy vọng lên. Thắp sáng lại linh hồn lịm tắt

                                  Thương yêu nhau! Thương yêu nhau! Vì là lửa ấm thiêng liêng

                                             Lửa của ngày thực sự bình yên,

                                   Vũ trụ mịt mờ, giá buốt, ăm ắp đảo điên

                                   Đang hỏi đòi nhân thế thăng hoa bỡi ngọn lửa thiêng

                                             Và con người bỡi tình yêu vô hạn.   (8)

                                   

                                                                                           Nguyễn Thùy

                                                                              Grenoble (France) 15/11/2002

 

Chú thích:

       1) Hai câu thơ, tôi không nhớ được chép lại nơi sách nào (có thể từ một sách của Bùi Giáng). Ngày ở Pulau Bidong (1989), tôi có đọc một 'Tuyển tập thơ tiếng Anh'. Không biết tiếng Anh, tôi chỉ 'nhìn' qua số vốn liếng tiếng Pháp ít oi và nhờ vào Tự Điển. Từ 'Parting' có thể dịch là 'chia ly, biệt ly, từ ly, vĩnh ly'; tôi dịch theo tiếng thuần Việt là 'Ra đi'. 'Hell' có nghĩa là 'địa ngục' Nhưng đã vào địa ngục thì không còn 'ra đi' nữa; do đó từ 'hell' nơi đây chỉ cõi sống trần gian dẫy đầy tội lỗi khổ đau, nên tôi dịch là 'đời nhân gian' phỏng theo lời thơ Nguyễn Du trong truyện Kiều :"Hay đâu địa ngục ở miền nhân gian".. Lời thơ Emily Dickinson đã gợi ý tôi làm đôi bài thơ, xin trích đôi đoạn:

            a)  Hỡi Thượng Đế, u sầu chi quá đổi

                  Chẻ chia mình để giải tỏa cô đơn

                  Tự chứng quả giữa dòng đời trôi nổi

                  Đi tìm yêu trong đáy thẳm tình buồn…..

                          …………

                  Người tìm lại dung nhan Người buổi đó

                  Trải u sầu đen tím gót nhân gian

                  Bước dịch chuyển theo trang đời lổ đổ

                  Để dời đô lên ngự đỉnh Thiên đàng. 

           

           b)                 Em giả từ nguyên sơ

                                Vào nằm dòng sử máu

                                Gieo linh hồn nghiệp báo

                                Sầøu nhân quả bơ vơ….. 

     2) L' heure la plus sombre est juste avant l'aurore – Arnaud Desjardins : 'Regards sages sur un monde fou', édt. La Table Ronde, No 2938, Paris 1997, trang 280, câu cuối cùng của sách  

     3) 'Tổ quốc, Kiều địa, Cố hương' (Patrie, Colonie, Sol natal). Xin không đi vào Đạo học vì quá dông dài và khó hiểu. Xin nói về người Việt hải ngoại hiện nay. Chúng ta đã phải rời Tổ Quốc (Quê Hương, Đất nước) ra đi, 'đến ở' nơi miền Kiều địa (đất khách, quê người), luôn luôn khao khát và quyết tâm 'trở về' với 'Cố hương' (cố quận) để làm đẹp Tổ Quốc, Quê Hương với bao hành trang tích lũy qua chuổi ngày phiêu lưu nơi đất khách. Về mặt Đạo học (Ontologie, Philosophie de l' Eâtre), Tổ Quốc chính là Cội Nguồn phát sinh vũ trụ hiện tượng, Kiều địa là cõi sống thế gian (cõi Diệu hữu theo Phật giáo) với vô vàn hiện thể vật và người luôn luôn biến đổi vô thường; Cố hương hay Cố quận là sự quy hồi, hồi phục của Tổ Quốc, Cội Nguồn trong một trạng thái tròn đầy, viên mãn, tốt đẹp hơn thưở ban đầu.  Phần nào lời thơ Emily Dickinson và tấm 'gương cũ' trong lời thơ Bà Huyện Thanh Quan (nghìn năm gương cũ soi kim cổ) mang ý nghĩa đó. Thơ Song Nhị tiềm tàng ý nghĩa cao rộng nầy .

     4) En général, les poètes se sont formés au début ou à la fin d'un âge du monde. C'est avec les chants que les peuples descendent du ciel de leur enfance pour entrer dans la vie active, au pays de la culture. C'est avec des chants qu'ils s'en retournent à la vie originelle. L'art constitue la transition de la nature à la culture, et de la culture à la nature – Holderlin – Trích dẫn bỡi M.Heidegger trong tác phẫm 'Holderlin Hymnen', bản dịch Pháp ngữ "Les Hymnes de Holderlin" của Francois Fedier và Julien Hervier, nrf, Gall. Paris 1988, trang 33. (Từ 'nature' nơi đây, xin không hiểu là 'thiên nhiên' mà là 'bản thể của tự nhiên' (le naturel de la nature).                           

     5) Đoạn cuối bài trường thiên 'Au bord de l'infini' (Bên bờ vô hạn) của Victor Hugo:                            Tout sera dit. Le mal expirera; les larmes

          Tariront; plus de fers, plus de deuils, plus d'alarmes;

                           L'affreux gouffre inclément

          Cessera d'être sourd, et bégaiera: Qu' entends-je?  

          Les douleurs finiront dans toute l' ombre; un ange

                           Criera : Commencement!

 ('Commencement' không nên hiểu là 'bắt đầu' hay 'khởi đầu' (début) mà là 'Khởi nguyên' hay 'Cội Nguồn' . Sự khác biệt giữa 'khởi đầu' và 'khởi nguyên', xin không nói nơi đây vì sẽ dông dài).

      6) Một số phim Mỹ cho ta thấy người lính Mỹ hầu như chỉ được huấn luyện  trở thành 'đấu thủ' dể quật ngã hết mọi đối thủ như trong phim Rambo với tài tử  Sylvester Stalone.  Một số phim  Mỹ khác chỉ chiếu cảnh chiến đấu của lính Mỹ với đối thủ của họ là Việt Cộng mà không đề cập gì đến những chiến đấu của Quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Người lính Mỹ cùng cấp tướng tá và ngay cả các viên chức Chính quyền Mỹ ở Nhà Trắng, ở Ngũ Giác Đài không bao giờ nhìn ra cái khó chịu của người lính Việt Nam Cộng Hòa bị bắt buộc phải tuân theo những kế hoạch hành quân, những kỹ thuật chiến đấu  nhà nghề theo lối 'đấu thủ', 'giác đấu' của họ. Người lính Việt Nam Cọng Hòa cũng kiên cường, gan dạ, bất khuất, hiên ngang nhưng không trong tính cách 'đấu thủ' và 'đối thủ' trong 'đọ sức' để  tìm vinh quang cho cá nhân. Họ-người Mỹ- không bao giờ nhìn ra cái tính cách 'người dân nơi người lính' của người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa (dĩ nhiên, tôi không nói đến những hạng 'lính kiễng', những cấp tướng tá di sản của Quân đội Pháp cùng những thứ tướng tá do hối lộ hay cách nào khác để được lên lon đều đều).    

      7) Như những 'Nguyễn Văn Trổi, Nguyễn Văn Bé' và bao bao nữa qua sách báo Cộng sản.

      8) Đoạn thơ cũng trong trường thiên 'Bên bỡ vô hạn' của Victor Hugo:                              

                                          L' heure approche. Espérez. Rallumez l' âme éteinte!                     

                                         Aimez-vous! Aimez-vous! Car c' est la chaleur sainte,

                            C'est le feu du vrai jour,            

         Le sombre univers, froid, glacé, pesant, réclame    

         La sublimation de l'être par la flamme,

                            De l'homme par l'amour!

                                                 (Victor Hugo: Les Contemplations; nrf Poésie/Gallimard, Paris , 2002, trang 407).


Trở lại trang 1


 


   
Hosted by www.Geocities.ws

1