|
vhvt |
tự do tư tưởng và sáng tạo |
văn học
|
|
|
Thơ Diễm Buồn:
" ĐẸP XƯA" VÀ " BUỒN ĐẸP " NAY Nguyễn Thùy trang 2 c) Cái 'Buồn đẹp' về những người lính chiến kiên cường, cống hiến đời trai cho đất nước, quê hương, cho tình người, cho hạnh phúc của nhân dân, nay đành 'ngã ngựa', bị rơi vào cảnh phải 'bỏ kiếm, buông cung' vì 'oái oăm lịch sử ', đành mang thân 'bại trận', mặc cho kẻ thù vùi giập, mặc cho kẻ thù 'bày tiệc máu say liên hoan hận, dựng cờ xương dàn trận mê cung' , vung vãi, huênh hoang miệng lưỡi với 'huyết kỳ ngờm ngợp màu tang' và lời hô phù thủy : - Trại cải tạo chốn rừng sâu ác hiểm Bắc Việt, Trảng Bàng, Tiên Lãnh, Năm Căn Tẩy não tâm linh, lao động nhọc nhằn Cái chết cận kề đường tơ kẻ tóc Hồi tưởng (Những ngày xưa thân ái) Cái 'Buồn đẹp' được viết thư cho chàng trai thuở nào 'Thôi anh ơi! Đừng nhìn lâu em thẹn, Aùnh mắt sao mà đầm ấm ý tình! Thương quá đi! Chàng tuổi trẻ chiến binh, Trong tiền kiếp như có lần ước hẹn' (Tết quê – Nỗi lòng người đi) và bây giờ như vẫn đang tiếp tục viết thư: - Ngày xưa tôi choàng vòng hoa cho lính Cho người hùng chiến đấu giữ quê hương Nay tôi viết cho tù nhân đáng kính Cho những ai mãi bất khuất kiên cường. Tôi viết cho anh người tù cải tạo (Những ngày xưa thân ái) d) Cái 'Buồn đẹp' nhớ lại ngày 'vượt biên' gian khổ; sóng gió loạn cuồng đã vùi giập cả xác mẹ thân con người chị 'Vụt nhanh như chiếc lá rơi tòm, Đôi cánh tay gầy ôm xác con, Chị đã chìm sâu vào lòng biển, Mênh mông đêm tối, nước đen ngòm' (sao rơi – Muôn thuở ân tình) để nay thấy biển là hãi hùng 'Biển ơi, biển chẳng hiền hòa dễ thương' . Bài thơ Lục Bát khá hay miêu tả cái 'buồn đẹp' rưng rức đau thương, âm ỉ quặn thắt tâm tư mỗi lần nhớ lại: -Ai yêu mặt biển chân mây …… Riêng tôi sợ biển vô cùng Sợ sương đêm phủ mịt mùng khắp nơi Sợ bão táp, sợ mưa rơi Biển gầm, sóng thét, kiếp người mong manh Sợ màu biển nước đen xanh Mặn môi, đắng miệng bủa quanh xác người Vô tình chi lắm, biển ơi Nhận chìm bao kẻ yêu đời tự do Ai hay đáy biển tối mò Là nơi mộ huyệt dành cho người lành Ai hay lơ lửng nước xanh Cá xà, cá mập tung hoành nơi nơi Đưa về đâu biển thẳm ơi? Nửa đời bên đó đầy vơi nỗi niềm! Biển trong tôi (Muôn thuở ân tình) d) Cái 'Buồn đẹp' thắp nhang cho những người nằm xuống nơi 'Đồi Hồng' (Rose hill) 'nước Đẹp' (nước Mỹ) hương hồn vọng về đất Tổ, quê Cha, luôn luôn gắn bó với tình sông, nghĩa núi: - Ngủ ngon nhé! Khi nằm yên dưới mộ Mảnh u hồn sẽ trở lại cố hương Thăm làng xưa và viếng lại miếu đường Hương nhang khói trong đêm rằm tháng bảy… Đồi Hoa Hồng (Những ngày xưa thân ái) e) Cái 'Buồn đẹp' làm dậy lên căm hờn bọn người tàn ác bất lương dùng bạo lực, bạo quyền, miệng lời trí trá, gian ngoan, giả hình, xem đất nước là của riêng, biến nhân dân thành nô lệ, sẵn sàng làm tay sai cho ngoại bang, nhượng đất, nhường biển cho kẻ thù dân tộc để tha hồ 'độc tài trị nước, độc quyền trị dân, độc chuyên hưởng thụ' : - Chưa giải phóng, một phần hai nước khổ Độc lập rồi cả nước chịu đau thương Địa ngục là đây khoác bóng thiên đường Ách đô hộ như nghìn cân trĩu nặng Hứa trái ngọt, giặc trao toàn trái đắng… Khi giặc về (Quê hương ngày em lớn) Diễm Buồn không nói riêng về thân phận, cảnh ngộ mình mà nói chung nỗi uất hận của toàn thể người Việt Nam phải sống dưới ách thống trị của bạo quyền Cộng sản. Diễm Buồn không nói theo một quan điểm chính trị nào mà nói theo lương tâm, theo những sự thật, việc thật đã được chứng kiến, đã từng cùng bao nhiêu người chịu đau, chịu khổ trong suốt thời gian Cộng sản cưỡng chiếm Miền Nam, đưa cả nước vào điêu tàn, lầm than, tăm tối. g) Cái 'Buồn đẹp' nung nấu ý chí, nâng cao niềm tin. Không như ai, Diễm Buồn không xấu hổ chút nào khi bị gọi là 'Ngụy' (ngụy quân, ngụy quyền, ngụy dân), cái nhãn hiệu mà Cộng sản gán cho toàn thể nhân dân Việt Nam bên nầy giới tuyến, chống lại cuộc chiến xâm lăng của chúng. Nhận mình là 'Ngụy', bằng lòng nhận là 'Ngụy' chỉ là cách phản ứng để từ đó dễ dàng tố cáo lại bọn người phản phúc bất nhân. 'Ngụy đấy nhưng biết thương nước, thương dân, thương người, biết đấu tranh cho Tổ Quốc, Quê Hương, biết lưu giữ, bảo tồn Văn hóa dân tộc, giang sơn gấm vóc của cha ông; còn các nguơi huênh hoang chính nghĩa cách mạng, luôn mồm la lối 'vì nước vì dân', luôn mồm rêu rao quảng cáo là "đầy tớ của nhân dân' nhưng coi kìa, ai đã dìm đất nước vào lạc hậu, nghèo nàn, dưa nhân dân vào dốt nát, khốn cùng, ai đã chưỉ tư bản thậm tệ để rồi khẩn cầu năn nỉ đế quốc đầu tư, viện trợ; ai đã cắt đất nhượng biển cho ngoại bang, ai đã làm tay sai cho kẻ bên ngoài suốt gần ba phần tư thế kỷ cho mãi đến nay, hết Liên Xô đến Tàu cộng,…; vậy thì, ai ngụy hơn ai?', 'ai mới thực sự là Ngụy, ngụy đạo đức, ngụy ngôn từ, ngụy hành động, việc làm, ngụy ngay với chính lương tâm?' . Diễm Buồn nói thẳng: - Tôi hãnh diện làm con em của Ngụy Chiêm ngưỡng ai bất khuất trước kẻ thù Vì quê hương họ lâm vào lao lý Ân tình nầy ghi khắc đến muôn thu Muôn thuở ân tình Và ngay trang đầu tập thơ đã nói ngay :Viết để vinh danh, nhớ ơn Ngụy quân, ngụy quyền, ngụy dân, những ai bất khuất trước kẻ thù' , lời nầy có thể làm phật ý một số người nhưng Diểm Buồn đã tỏ ra ngay thẳng, thành thật và can đảm. Đâu có vì một thứ 'mũ' của kẻ thù man trá 'chụp' vào đầu, đâu có vì một từ ngữ lộng ngôn trí trá của kẻ thù gán cho mà phải đau lòng, xấu hổ? Đau lòng xấu hổ vì bị kẻ thù gọi là 'Ngụy', như thế chẳng ra kẻ thù nói đúng hay sao? Từ ngày Cộng sản chiếm Miền Nam, từ 'Ngụy' hầu như trở nên thân thương, thắm thiết. "Xin độc giả cho phép tôi được dài dòng đôi chút, thuật lai hai sự việc tôi đã được chứng kiến: 'Năm 1977, tôi đi mua một món hàng, thấy giá quá cao so với túi tiền, tôi bảo : 'bớt cho chút ít đi, tôi,… Ngụy mà! Người chủ tiệm bỗng cười vui vẻ rồi bán cho tôi theo giá vốn. Gần chung cư tôi ở (chung cư Minh Mạng –Cộng sản đổi tên là Ngô Gia Tự, đường Sư Vạn Hạnh, phường 1 Quận 10), một bà già Tàu bán tạp hóa, một hôm treo lá cờ Quốc gia, bị Công an Phường lôi về hạch hỏi sao treo cờ Ngụy. Bà ta lơ lớ giọng Việt bảo : 'Tôi có biết chi đâu. Mấy bữa trước treo lá cờ xanh xanh, đỏ đỏ (cờ Măt trận giải phóng Miền Nam), bán ế quá, bữa nay treo lá cờ nầy (bà chỉ vào lá cờ vàng ba sọc đỏ nơi tay tên Công an), khách vào mua đông quá chừng chừøng, …". Aáy đấy, Diễm Buồn đã 'sống' với từ 'Ngụy' trong ý đó, trong niềm 'thân thương' đó. Cái 'Buồn đẹp' nhớ lời mẹ dặn hôm nao : -..Con đừng về dù một chuyến viếng thăm Chốn hải tần con có biết hay chăng Hàng vạn kẻ vùi thân trong cải tạo? …………. Có như thế dù mẹ đà khuất núi Cũng ngậm cười được hãnh diện vì con Nếu một mai không bền sắt tươi son Nhìn nhật nguyệt trên đầu con hổ thẹn
Nơi quê nhà nếu ai còn hỏi đến Mẹ nói rằng con chết lúc vượt biên Để tâm tư vơi bớt nỗi ưu phiền Và theo mẹ đi vào lòng đất lạnh…. Nên Diễm Buồn nhất quyết không về cố quốc một khi lũ bạo tàn còn đấy. Dù thương nhớ bao nhiêu xóm làng yêu dấu, thân nhân bè bạn mến thương, Diễm Buồn cũng đành lòng nhất quyết không về. Diễm Buồn không muốn chạm mặt với lũ người 'măt người dạ thú' để phải tiu nghĩu cúi đầu như một số ai kia, trước bọn người đã phá nát non sông, đã từng đày đọa đời mình. 'Khi quê hương đang ngắc ngoải từng ngày' thì liệu 'Về có trả được ngọn rau tấc đất?' (Tôi sẽ về – Nỗi lòng người đi). Diễm Buồn chỉ trở về khi: - Tôi sẽ về khi nước tan bóng giặc Góp bàn tay cùng gầy dựng non sông Tôi sẽ về khi không thẹn với lòng Được hoan hỉ không phụ lòng cha mẹ. Tôi sẽ về Cái ' Buồn đẹp' dâng lên niềm vui náo nức khi nghe tin có người về chống giặc dù mới chỉ một người! - Tin đưa về, tôi bàng hoàng tự hỏi Đã đi rồi sao? Chỉ một mình anh? Quê hương ta đang ngập tràn bóng tối Truyền dơn tung bay mở lối trời xanh
Anh thật sự đã về cùng dân Việt Về quê hương đang quằn quại tả tơi Chí sắt đá, anh không hề hối tiếc Chỉ mình anh, anh Lý Tống ơi! Anh đã về (Những ngày xưa thân ái) Cái 'Buồn đẹp' đưa đến tủi buồn trước cảnh bao nhiêu người cùng chung thân phận, giờ nầy chỉ lo công kích, dèm pha, tranh giành nhau những thứ hão huyềøn, phù phiếm 'Tham tiền chối bỏ tình thâm, Sá chi đất nước tổ tiên giống nòi,…Cùng chung số phận tha hương, Tranh quyền đoạt lợi cũng nương xứ người' (Lệ đá- Những ngày xưa thân ái) cùng bao kẻ cam tâm làm tay sai cho giặc chỉ vì 'Aùc nhân đủ cách gọi mời Khuyến dụ vật chất, ngọt lời lợi danh' (Lời Mẹ gởi con – Quê hương ngày em lớn). Cái 'Buồn đẹp' ngăn nước mắt tuôn trào; thổn thức nghẹn ngào nhưng không rũ liệt trong đau thương, càng buồn đau càng thêm tin tưởng: - Giờ không khóc được nữa rồi Lệ nay thành đá dâng đời mài gươm Trở về phá vỡ xiềng gông Trở về dựng lại non sông điêu tàn Lệ đá Lời Mẹ ngày nào càng ru Diễm Buồn vào phấn khởi: -…Trong khi Cộng sản đàn anh Đức, Nga sụp đổ tan tành bấy lâu Phai luôn vết đỏ Đông Aâu Đón chào ánh sáng năm châu huy hoàng Con đừng theo lũ ác gian Không lâu chúng sẽ tan hoang rã rời… Lời Mẹ gởi con (Quê hương ngày em lớn) Đấy là tất cả những 'Buồn đẹp' nơi thơ Diễm Buồn. Buồn cho đất nước, Quê hương tang tóc, buồn cho dân tộc, giống nòi lầm than, nghiệt ngã, buồn cho đồng bào khốn khổ, trầm luân; buồn để hận thù bạo quyền, bạo lực; buồn để nâng cao ý chí sắt son , để vững tin vào ngày mai tươi sáng, đấùy là những 'BUỒN ĐẸP' , những tình cảm tích cực, cao đẹp nơi các thi phẩm của nhà thơ nữ Miền Nam nầy. Diễm Buồn! xin cho được sống những 'Buồn đẹp' nầy của nàng; xin trân trọng nâng niu những 'Buồn đẹp' đó để thêm những 'kết tụ' trong sáng, mạnh hùng trong ý chí đấu tranh cho một ngày 'trở về phá vỡ xiềng gông, trở về dựng lại non sông thoát khỏi điêu tàn'.
Thơ Diễm Buồn rất đều, rất khuôn khổ, trơn tru từ đầu đến cuối: Lục bát ra lục bát, Thất ngôn ra thất ngôn, sáu chữ, năm chữ đều đặên, không bắc cầu, không kết thúc bất ngờ bằng hai câu hay một câu, không nhảy từ tám chữ, bảy chữ sang sáu, sang năm. Đừng tìm cái 'mới' về mặt hình thức nơi thơ Diễm Buồn. Diễm Buồn nghĩ sao, viết vậy. Không hoa hòe, điểm chuốt lời thơ, không văn hoa, bóng bẩy, không khổ công tìm chữ, chọn lời. Đọc thơ nàng, tôi có cảm tưởng nàng không chủ ý làm thơ; nàng chỉ nói, chỉ kể mọi điều, mọi chuyện rồi từ ngữ bỗng dưng tự sắp đặt nên thơ. Không rõ do nàng sẵn khiếu thơ hay do viết, do làm nhiều mà trở nên sành sõi. Diễm Buồn là người Miền Nam, vùng quê sông Hậu, gia đình nếu không giàu thì 'gia tư nghĩ cũng thường thường bực trung', có học, học cao nữa, quen nếp sống thị thành nơi quê nhà cũng như nơi xứ Mỹ, Diễm Buồn thừa sức 'hoa lá cành' cho thơ nhưng nàng lại không thế. Nàng không 'trang điểm' cho thơ cũng như không trang điểm cho mình (phải thế chăng, hỡi cô nàng 'thừa dư buồn đẹp'?). Nàng nói, nàng kể rồi từ lai láng nhớ thương, từ ngậm ngùi thương cảm, chữ và lời tự nhiên đến, tự nhiên 'thuận miệng xuôi tai', xuôi dòng như mạch nước. Không cần biện pháp tu từ, không cần hình ảnh lung linh, bay bướm; không phải nàng thiếu từ, thiếu vần, thiếu điệu mà vì nàng không chủ trương, không muốn như thế. Do đâu? Do từ tâm hồn nàng, do từ tính tình nàng. Thơ con gái -mà là con gái Miền Nam Việt Nam vốn xuề xòa, bộc trực, vốn bình dị, đơn sơ- tôn trọng khuôn phép từ đầu đến cuối, nói lên cái đứng đắn, mực thước của tính tình, của tâm hồn, không phóng túng bất chấp qui củ. Nhưng không phải như thế mà dễ làm đâu nếu không sống thực với lòng mình, nếu không đã từng hòa mình vào cuộc sống thôn dã, đậm nét, đậm màu của tình quê chan chứa. Đúng như Nguyễn Văn Ba đã viết:'Trong bản thân mỗi người chúng ta có một "người nhà quê", "người nhà quê" tưởng đã mất đi, thật ra nó vẫn tiềm ẩn chờ cơ hội bộc lộ. Đọc thơ chị Dư Thị Diễm Buồn, "người nhà quê" trong chúng ta sống lại, hiển hiện ra' . Hồ Trường An nhận xét thơ Diễm Buồn khá độc đáo, khá đúng với tâm hồn, tính nết nàng, khá sâu sắc khi bảo 'đây là những áng thơ đẹp lành mạnh như lúa nếp Miền Nam, đẹp hồn nhiên như rau sam, rau dền tươi xanh ngan ngát làm ngọt bát canh quê…Mọi cuộc xử dụng ngôn từ, âm điệu, thể điệu trong thi ca hiện đại đối với chị là những màu mè riêu cua, không phản ảnh trung thực được cái tâm hồn và quả tim của chị' (Lai Láng Dòng Phù Sa, trang 211) . Quả đúng thế, ngoại trừ khi cho rằng 'Dư Thị Diễm Buồn khi sáng tác thơ thường là vung vãi chữ nghĩa, vẫy tuôn tình ý lên trang bản thảo…' (sđd trang 210). Nàng không 'vung vãi chữ nghĩa, không vẫy tuôn tình ý'; nếu là 'vung vãi, vẫy tuôn' thì thơ nàng sẽ khó có thể mực thước, qui củ đều đặn từ đầu đến cuối như đã nói trên. Lời giản dị, ý minh nhiên, tình chân thật, đấy là sắc thái thơ của Dư Thị Diễm Buồn và là cái 'Đẹp' nơi thơ nàng. Mỗi bài thơ của nàng là một bức tranh quê, tranh cảnh, tranh tình, tranh ý cùng một lúc rộn ràng hoài niệm những 'Đẹp xưa', mênh mang trong những 'Buồn đẹp' nay và lung linh những 'Vui đẹp, Đẹp vui' ngày tới. Cuộc sống của Diễm Buồn nới đất Mỹ ra sao, tôi không rõ nhưng qua nhan đề cùng nội dung bốn thi tập nầy, tôi tin rằng tâm hồn và phong thái sống của nàng lúc nào cũng đơn sơ, giản dị, thuần nhiên, không trưởng giả, kiêu sa, không màu mè, son phấn, bao giờ và bao giờ cũng thấm đượm cái 'tình quê' chân thật, đôn hậu, hiền hòa, thơ mộng, luôn luôn phảng phất hương đồng gió nội trong lời nói, trong cử chỉ, trong việc làm, trong giao tiếp với mọi người. Diễm Buồn đã tạo cho mình một sắc thái thơ riêng biệt: 'thơ của ruộng đồng, thơ của Quê Hương'. Nàng là 'người bạn tình', là kẻ 'bằng gia' của Quê Hương Việt Nam, phỏng theo thuật ngữ 'l'Ami de la maison' của nhà thi sĩ Đức Johann Peter Hebel. Và cũng phỏng theo nhà thơ Đức Goethe và nhà Tư tưởng Đức M. Heidegger khi giảng luận về thơ của J.P.Hebel, ta có thể nói: 'Diễm Buồn đã cải tân thế giới (nơi đây, nơi thơ Hebel, xin hiểu là cái 'thiên nhiên kỹ thuật hóa' -techno-nature-) thành miềân Quê thân thương' (1) ; nàng đã cư ngụ và đưa ta cư ngụ ấm êm nơi miền quê dân giả thân thương bất kỳ nơi đâu trên mặt đất nầy' (2) qua lời thơ hiền hòa, đơn giản. Tôi không cố ý đề cao, tán tụng thơ Diễm Buồn nhưng qua tâm hồn và sắc thái thơ nàng, ta sẽ thấy tất cả cái 'tính quê và tình quê' , cái 'chất sống' thơ mộng, thuần nhiên cuả dân tộc mênh mang, tha thiết, dậy dàng . Dĩ nhiên, nhà thơ Việt Nam nào cũng nói về Quê Hương nhưng qua đó thường đưa dẫn ta đến những chủ đề nào khác , hướng người đọc đếùn những uẩn khúc nào xa, những sắc màu triết lý mênh mang, những tư lự, trầm tư về lịch sử, về thân phận làm người, về lẽ sống, về 'cuộc đời bể khổ'. Luôn luôn trung thực với tâm hồn bẫm sinh 'điền dã', luôn luôn giới hạn thơ mình trong nếp sống tình cảm dung dị, hồn nhiên đó, không để bị 'lạc' sang những chủ đề nào khác, Diễm Buồn sẽ luôn luôn là 'kẻ bằng gia của Quê Hương'' và luôn luôn 'cư ngụ ấm êm nơi Quê Hương mình' dù nơi quê nhà hay nơi một xứ sở nào mà văn minh kỹ thuật đã 'kỹ thuật hóa thiên nhiên' vô cùng tráng lệ, tân kỳ. Và như thế, bất kỳ thơ văn nào của nàng cũng chứa chan cái 'sắc thái Diễm Buồn' độc sáng riêng biệt, không lẫn lộn với thơ văn nào khác cùng nói về Quê Hương. Và, như thế, Diễm Buồn sẽ cho ta luôn sống những nét màu dung dị, thanh tân, đơn thuần của 'con đường điền dã' (3) ngay giữa nếp sống với bao kiến trúc nguy nga, với những xa lộ thênh thang dập dìu xe cộ, với bao tiện nghi kỹ thuật văn minh nơi phương Tây nầy hay nơi quốc nội dù đã qua (đẹp xưa), bây giờ (buồn đẹp nay) hay mai nầy (vui đẹp, đẹp vui ngày tới) theo đà văn minh nhân loại.
Nguyễn Thùy Grenoble (France) tháng 10/2002
________________ Chú thích: 1) Johann Wolfgang Goethe (1749-1832) khi bình luận về thơ Johann Peter Hebel đã viết : 'Tác giả đã biến đổi những hiện tượng thiên nhiên thành cảnh sắc điền dã và, bằng cách hết sức ngây thơ và duyên dáng, ông (Hebel) đã cải đổi cả thế giới thành vùng quê mộc mạc: đến nỗi rằng vùng quê, nơi luôn luôn hiện diện người dân quê, trở thành như 'một' với mình trong niềm tưởng tượng phấn khích và hân hoan của chúng ta' (L'auteur transforme les phénomènes naturels en campagnards et, de la facon la plus naive et la plus gracieuse, il travestit le monde entier à la paysanne: de sorte que la campagne, dans laquelle on apercoit pourtant toujours le campagnard, semble ne plus faire qu'un avec lui dans notre imagination exaltée et ravie). 2)…..Ngược lại, những nhà kiến trúc chân chính, đúng nghĩa (được hiểu là những nhà khoa học, kỹ thuật, triết lý, chính trị, nghệ sĩ,…) nghĩ rằng cuộc sống thường ngày đang diễn ra còn xa cách với chốn 'cư ngụ đích thực bằng an, thoải mái' của con người. Vì rằng mỗi khi 'cư ngụ', nói theo lời Holderlin (thi sĩ Đức : 1770-1843), con người 'cư ngụ một cách thơ mộng' trên mặt đất nầy (…Tout au contraire, les véritables constructeurs considèrent que la simple vie qui va son train est encore loin d'un authentique habitat humain. Car, lorsqu' il lui arrive d'habiter, l'homme 'habite', selon le mot de Holderlin, 'poétiquement…sur cette terre' – M. Heidegger) (Cả hai trích dẫn trên rút ra từ Tiểu luận ' Hebel- l'ami de la maison' (Hebel – Der Hauspreund = Hebel – kẻ bằng gia) của M. Heidegger, bản dịch Pháp ngữ của Julien Hervier nơi 'Questions III', nrf, Gall. Paris, in lại năm 1966. Không rõ từ 'habiter' và 'habitat' (tiếng Pháp) vừa có tính cách thi ca vừa mang chở tính cách triết lý, dịch từ tiếng nào của Đức ngữ; người viết chưa tìm được từ Việt ngữ tương đương, nên tạm dịch là 'cư ngụ bằng an, thoải mái, ấm êm'…) 3) 'Le Chemin de Campagne' (Der Feldweg), thuật ngữ của M. Heidegger dùng chỉ về 'Con đường Tư tưởng' (le chemin de la Pensée). |