|
Tho Phương Triều
NHỮNG
DÒNG THƠ ĐAU LẠNH
NHỮNG CẢNH ĐỜI LẠNH ĐAU
Nguyễn Thùy
trang 2
B.- NHỮNG
CẢNH ĐỜI GHẼ LẠNH, ĐƠN CÔI :
Qua ba thi tập , chủ đề nơi Thơ Phương Triều chỉ
một :
những cảnh đời ghẻ lạnh, đơn côi của nhân dân Miền Nam qua một
cuộc 'Đổi Đời' bi thảm. Phương Triều không bỏ sót
một cảnh đời nào, không bỏ quên một thành phần xã hội nào, một lứa tuổi nào
trong giai doạn lịch sử đó. Cảnh sống đầm ấm, tươi vui, sung túc của nhân
dân Miền Nam trước đây bị đẩy đưa vào cùng độ đau thương, tăm tối,
ê chề. Có lần nào, môt chiều lạnh căm, trời ngoài mưa lâm râm, trong căn nhà
tiều tụy, ngồi khơi bếp tro tàn, hình dung như có nồi cơm đang sôi trên đầu
ba ông táo đá, tưởng nghe hương vị gạo mùa nồng ấm ôm ấp cả thớ thịt, làn
da, thoang thoảng xông vào mắt mũi, lá phổi, buồng tim, ta mới 'sống' trọn
vẹn cái u uất, thê lương của kiếp sống, giờ nầy:
... Buổi chiều nhúm lửa hâm cơm nguội
Để cạy nồi thêm những cháy đen
Miếng nhai nào đắng từ trong miệng
Mà tưởng chừng như đắng tuổi tên!
Thương
tích (100 BTX)
Vét chén cơm chiều em mút miệng
Thò tay khều hột rớt trên chân
Ít ra còn được nhai lần nữa
Nỗi sống buồn như nỗi chết gần!
Miếng ngọc (Xóm Mộ)
Xin theo thơ Phương Triều, hình dung những cảnh đời thê thảm đó. Em bé sơ
sinh ôm bầu sữa cạn, mắt trong xanh đã phải trợn trừng nghe như cả chuổi đời
trăm tuổi đè nặng, ném phôi pha tràn ngập đổ lên người:
-..Con
nít cứ ôm bầu sữa hết
Chào đời chưa kịp khóc tu...oa..
Trợn trừng ngó mỏi người lui tới
Chưa kịp hài nhi đã hóa già?
Hóa già (100 BTX)
Em bé thơ ngây vất vả chạy sau mẹ già gánh xôi tất tả ''miệng rao
bụng lại đói gào' nhưng 'miếng xôi lót dạ lọt vào hư không' ,
miếng xôi, miếng xôi thương nhật tầm thường đã trở thành một món xa hoa
không người dám tưởng, và em bé theo sau, nghẹn nuốt tủi hờn, nghe đọa
đày rợn buốt ôm trùm xác mẹ thân con:
-...Con
chạy cho buồn không đuổi kịp
Chạy cho vùi dập dấu thương đau!
Bé thơ mở mắt đà sôi ruột
Từng miếng trầm luân nuốt nghẹn ngào!...
Chạy (Giôt sữa đất)
Biết bao mẹ già thui thủi khóc trong đêm; biết bao mẹ già lịm mình trong úa
lạnh, nhìn cháu, nhìn con xương xẩu, gầy gò cố vét đáy nồi tìm đôi miếng
cháy, cố liếm sạch trơn tru đáy chén nhóp nhép chút hương thừa nơi đầu
lưỡi rách tươm . Biết bao thiếu phụ tần tảo đêm ngày buôn gánh bán
bưng, mót từng củ khoai, củ sắn, vá từng manh áo rách bươm cho đứa con gầy
gò có được hạt cơm bỏ bụng, có được mảnh vải che thân trong lúc thân mình èo
ụt, hồn mình đớn đau , nghe từng sợi tóc úa thêm da đầu, đón từng cơn lạnh
xát điêu tàn lên môi má, cài thêm từng lằn nhăn lên nếp trán ưu
tư :
-..Nỗi già trên mặt trẻ măng
Mạ non mới mọc đã bằng tuổi rơm!
Tuổi rơm (Giọt sữa đất)
-...Còn đếm làm chi
trần lụy mới?
Người xưa giờ đã hóa ra...ai!
Nhìn nhau ràn rụa từng cơn bụi
Mùa phấn son loang rổ mặt mày!...
Người xưa (Xóm Mộ)
-...Nhớ
nhau đôi đủa nằm câm nín
Dọn
miếng ăn lên chén dĩa sầu
Tóc trắng thêm sương đời thiếu phụ
Em lần em lữa đợi bao lâu?
Chùm
(100 BTX)
Những ông già tong teo, 'gập mình cơn ho khúc khắc' , bàn tay khô đày
những lằn thẹo đen', bao nhiêu năm rồi đếm tuổi cuộc đời bằng 'nhai không khí'
bỗng nhiên chợt cười 'răng cỏ đã đi hoang'. Những bà bán ve chai, những
ông thầy đòn, những chú sơn đông bán cù là, thuốc dán, những người phu thổ
mộ, những xà ích, những trẻ bán cà rem, những ông nhạc sĩ, những ông giáo
dương cầm, cả những thầy bùa, thầy pháp, ...bao bao nữa cũng chỉ lây lất
thân mòn, tất cả giờ đây :
...Sợi tóc trời cho nay rớt rụng
Sọ dừa phơi lạnh dấu lầm than
Nhìn nhau hốc
hác đen sào huyệt
Cửa chớp rèm mi mộng ẩn tàng!
Gặp người (Giọt sữa đất)
Bao thiếu nữ xuân xanh, thơm hồng đất sữa phù sa, lời tình chưa kịp một âm
vang đã phải ngơ ngác, bàng hoàng, nghẹn ngào, cay đắng:
...Em như đời đã già trăm tuổi
Mà một lòng riêng không thể hai!
Hay như trăm nhánh sông
về
biển
Mà nhánh đời riêng bỗng mọc dài?
Ly
đời (Giọt sữa đất)
...Tay thác lác trượt dài lên quạnh quẽ
Bọt bèo qua tan vỡ mặt sông buồn
Em xỏa tóc gỡ mây sầu
vương vãi
Cuộc tình xưa rêu lạnh nẻo trăng suông!
Em đỏ mắt nỗi mưa dầu nắng dãi
Ta vật vờ áo bạc cõi phong sương
Nghe từng vệt thời gian cày nám mặt
Mộng hồn ơi, chăn chiếu ngẩn ngơ buồn!...
Ổ
mộng (Xóm Mộ)
Bao nhiêu chàng trai, phơi phới tuổi đời đã trở thành ma đói đi mót từng
'bao bì' nơi những đống rác bẩn dơ, cố tìm một chút sống èo ụt cho thân xác
tong teo, thấy mình chỉ là 'ma biết đi', xác héo, hồn tàn vất
vưởng.
Bao thầy cô giáo 'mất dạy', 'phải mất dạy' vì 'sách vở ích gì cho buổi
ấy'
(Nguyễn Khuyến).
Đã không ích gì mà còn có hại, còn là hệ lụy cho thân. Bao nhiêu sách báo dù
là lời Phật, lời Chúa, lời hiền triết, thánh nhân, cả khoa học, kỹ thuật, cả
dạy nấu nướng, thêu đan, cả dạyvệ sinh, thể dục,...; tất cả đều là ' phản
động, đồi trụy' phải mau nộp cho Nhà nước, phải đốt,, phải 'cân bán ve chai'
đổi lấy cộng rau, trái mướp, hột gạo, củ khoai,...Cô giáo tay bưng rổ ổi,
nách kẹp thúng bông, bần thần 'bên đời ngán ngẫm cơn no, đói, đứa
học trò xưa mếu máo: "Cô"' :
...Đôi mắt học trò rơm rớmlệ
Nhìn cô áo mỏng thân hao gầy
Phải chăng máu bỏ đời da thịt
Hay máu khô từng giọt đắng cay?
Cô
(Giọt sữa đất)
Vị giáo sư già ho không thành tiếng, không còn chiếc kính trên mắt mù lòa,
che dù bơm mực mướn, suốt cả ngày không kiếm đủ ăn, ' miệng buồn tình ăn
luôn vỏ khoai' , chữ nghĩa ngày qua, thân phận bây giờ cùng chung
thảm cảnh:
...Buổi sáng che dù ngồi bơm mực mướn
Bơm mực cho người sao ngứa hai tay?
Tập giấy học trò thênh thang bãi vắng
Chữ nghĩa ngày xưa tăm tích lưu đày!
Tay
(Giọt sữa đất)
Biết bao người thuộc đủ mọi thành phần, già trẻ, lớn bé, gái trai; đủ
mọi ngành nghŠ, có học hay thất học, đã quen biết hay chưa từng gặp mặt,
cùng lén lút trốn vùng 'lưu đày' Kinh tế mới,về lại nơi quê cũ, không
giấy tờ 'hộ khẩu', nhìn mái nhà xưa nay thuộc quyền 'chủ mới' , tập trung
nơi nghĩa địa âm u, dưới những túp lều trống gió, sống lần lữa, hắt hiu, âm
thầm thấy cái chết bao quanh, nghe cuộc sống mỗi lúc một lịm dần vàotê liệt.
Cả tập 'Xóm Mộ' phơi bày thực trạng điêu linh nầy. Từng cái
chết, từng cái chết âm thầm, lặng câm, thân xác trợn trừng im lìm nơi hố cạn
được bao kẻ 'người dưng' do cùng 'bất hạnh đã trở nên họ hàng' tiếp tay tẩm
lịm tấm thân tàn:
...Nè em, đào giúp anh phần mộ
Ta dẫu người dưng cũng họ hàng
Nếu chẳng con Hồng thì cháu Lạc
Lều rách cùng nhau xóm nghĩa trang
Ông già vé số, cô chè đậu
Chia chút tình
riêng chung lễ tang!...
Xóm Nghĩa trang (Xóm Mộ)
Bao nhiêu người 'tù cải tạo' còm cõi, hao gầy, chẳng biết ngày về hay phải
chết u uất, lạnh hờn nơi thâm sơn cùng cốc, để lại vợ góa, con côi, để
mẹ già thâu đêm thức trắng mõi mòn :
...Mặt cúi gầm soi từng vệt đất
Mã mồ như nấm chẳng so hàng
Người chết đôi khi còn quyến thuộc
Mà
không kịp xé một khăn tang!
Người tù (Xóm Mộ)
....Ở
đó, con thơ nhằn vú mẹ
Nghe thêm mặn đắng giọt lầm than
Cha con từ buổi thân tù tội
Mẹ trả bao lần nợ trái oan!
Mẹ ngồi tính nhẫm bao ngày tháng
Vừa chẵn mười năm, con về chưa?
Con về
chưa? (100 BTX)
Và bao kẻ khác - cả những em bé lên bảy, lên mười được mẹ nuốt lệ tiễn theo
cha- đi tìm tự do nơi xứ lạ, đi tìm lẽ sống tận phương xa, không rõ thuyền
xuôi hay ngược gió, không rõ có phải làm mồi cho biển sóng, kình ngư
hay cho bầy hải tặc vô luân để nơi quê nhà, ngưòi vợ thân thương , người mẹ
hiền yêu dấu héo úa, rũ tàn trong bương chãi gạo, cơm, trông chờ hiu
hắt một tin vui rồi lòng riêng tự nhủ hay bà con lối xóm ái ngại hỏi han
'em lần em lữa đến bao lâu?'. :
...Tay em chai cứng ngày bương chải
Gương lược từ lâu đã ích gì
Câu thơ tái ngộ thành mai mỉa
Người tận trời xa buồn...mấy khi?
Mãy khi (100 BTX)
Và mẹ già đợi con, rồi người bà trông cháu đã phải ra đi ngút ngàn trùng
dương hay ngút ngàn núi thẳm:
Một góc trời thơ đầy tưởng nhớ
Xin dành chiêu niệm những oan khiên
Người cong queo chết bên đời lạnh
Kẻ sống tàn u uất tật nguyền!
Một
góc (Xóm Mộ)
Bao nhiêu kẻ ra khỏi 'tù cải tạo', giờ nầy mắt mù, chân gảy, lê lết nạng
cong
quây quần với
bao lớp người ốm đói, tả tơi nơi Xóm Mộ
, nơi nghĩa
trang đen nầy, làm bạn với người chết, lất lây chờ chết:
..Miệng đã lâu rồi không thấy lại
Nụ cười chết lạnh giữa môi khô
Người tù một buổi về quê cũ
Nhìn nắng đìu hiu cỏ lấn mồ!
Vợ con còn mất nào tăm tích
Không một thân quen tựa cửa chờ
Rêu buồn mọc kín trên thềm cũ
Bao hướng đời vách dựng đổ xô!
Người
tù (Xóm Mộ)
Những chàng 'hiệp sĩ' ngày nao đó, đãu tranh cho chân lý 'tình người', gặp
phải thời ưng ó 'lên ngôi', giờ đây 'kiếm gảy thân tàn' 'thẹn thân già
nổi đau mòn mỏi, đâu một đời trai thuở dọc ngang?' để đêm từng đêm
tủi nhục:
...Ta còn nhau lại bơ vơ
Ta còn nhau để thiếu giờ gặp nhau
Chợ trời lanh lảnh bán rao
Thịt xương quê mẹ máu đào quê cha!...
Còn
nhau (Giọt sữa đất)
Không chỉ con người, cả trời đất, cỏ cây, chim chóc, cá tôm, sông núi cũng
chìm trong tăm tối, hao gầy, cũng mày nhăn, mặt ủ trong nghiệp chướng
thương đau:
...Núi nghe được những loài voi với vượn
Gọi tìm nhau than thở mất bình yên
Cây bật gốc,rể nhăn đùn nghiệp chướng
Người đi qua vấp lại nợ tiền duyên!
Sông già (Giọt sữa đất)
Cả Quê hương, Đất nước Miền Nam giờ đây biến thành những 'Xóm Mộ', những
nghĩa trang đen âm thầm, lạnh giá, chập chờn, lãng đãng bóng kên kên.
Do đâu? Không cần
nói rõ, ai cũng hiểu 'do từ cuộc đổi đời, đổi chủ' hài hước, bi thương
mà Đảng Cộng sản cùng chế độ của họ đã phủ trùm lên khắp mọi miền đất nước
quê hương kể từ sau ngày ba mươi tháng Tư bảy lăm. Kể từ ngày đó,Miền
Nam là 'Xóm Mộ', là nghĩa trang; người Miền Nam hồn nhiên, chất phác, sung
túc, đủ đầy, nhìn nhau nụ cười luôn nở trên môi, bây giờ:
...Dây oan thắt buộc kiếp nầy
Chỉ còn xương cốt phơi bày nắng nôi!
Thưa bà, bà như con thôi
Đêm đêm đói lạnh, ngày côi cút buồn!...
Lăn tròn (Xóm Mộ)
...Thưa em, chẳng thấy em cười?
Thưa già, em đã hết hơi lâu rồi!
H‰t hơi (Xóm Mộ)
Phương Triều không nêu đích danh Cộng sản, không một lời chỉ trích, lên án,
không kể lại những gì Cộng sản đã làm. Ai sống qua giai đoạn lịch sửđó đều
biết rõ. Hình ảnh người Cộng sản và chủ trương của họ bàng bạc nơi thơ
Phương Triều , kín đáo ẩn hiện qua những cảnh đời đen tối đó :
...Quán cũ giờ đây thay chủ mới
Mặt mày bậm trợn như thiên lôi
Đọc thơ nào biết thơ hay dở
Cứ ngoặc mồm ra giả bộ cười!
Quán cũ (100 BTX)
Thơ xưa hay thơ nay?
Ai ngoặc mồm giả bộ cười? Cán bộ hay người dân?
...Ngày cứ vang vang
lời phủ dụ
Giọng kèn, tiếng quyển lại vang xa
Ngoài kia thiên hạ thay quần áo
Đào lão lăng xăng cạnh kép già!
Hóa già (100 BTX)
Đào lão, kép già, ai
đây? Giữa kịch vui, tưng bừng nhộn nhịp ấy, sao :
Con nít cứ ôm bầu sữa hết
Chào đời chưa kịp khóc tu-oa...
Trợn trừng ngó mãi người lui tới
Chưa kịp hài nhi đã hóa già?
Hóa già (100
BTX)
Những lời 'phủ dụ', những đào kép lăng xăng 'làm trò' đó sao chẳng đem lại
được chút vui nào mà bé thơ đã phải già trước tuổi?
Vâng, thì thôi, xin dẹp ưu phiền, nghe theo lời 'phủ dụ' :
...Thì hẹn cùng mây đi gọi nắng
Hong tàn Đông lạnh đón Xuân hiền
Gạo ngon nấu lại nồi cơm nóng
Miếng vợ chồng thơm phút mới nguyên
Nuôi lại đàn con như báu vật
Cổng trường mở lại thuở bình yên
Tháng ngày không có cha tù tội
và mẹ gầy khô trong ngửa nghiêng!
Hẹn
mây (100 BTX)
Nhưng sao buốt lạnh cả người:
Nhiều khi tự hỏi đời hư thực?
Một góc trời chung, sao khổ riêng?
Trẻ thơ bừng mắt thành con nợ
Đòi trả ba đời nợ tổ tiên (?)
Khoảng
nào thế kỷ vô duyên?
Hẹn mây (100 BTX)
'Thế kỷ vô duyên', lời than, tiếng trách, giọng hờn hay chỉ một nhẹ nhàng
mai mỉa ?
...Thế kỷ tân kỳ mơ rồng phun nước
Cho ướt mặt mày đóng vảy thương đau!
Đóng vảy (100 BTX)
'Thế kỷ vô duyên' vì ai kia:
...Nghe người rộng họng rêu rao
Theo ông dóc tổ chỗ nào cũng Xuân!
Gậy phép (100 BTX)
Mà thật ra, oái oăm thay:
...Người toan diệt hết mùa Xuân cũ
Để dựng toàn Đông
ngập giá băng
Sanh linh một thuở
thành ma đói
Thì nhớ gì Xuân để nói năng!
Cử
động ( BTX)
'Người' nơi đây là ai? Đâu cần vạch mặt, chỉ tên. Có ai không nhận diện ra
tầng lớp tà ma quỉ quái đã đày đọa triệu triệu dân lành thuần nhiên, chơn
chất vào cùng độ điêu linh? Có ai không nhìn ra được giai đoạn lịch sử
đau thương nầy? Cho mãi đên bây giờ! Hai mươi bảy năm qua, và kể
từ 1986 trở đi, kể từ nhập nhằng 'nhập cảng' Kinh tế thị trường, kể từ được
đầu tư, viện trợ, kể từ được vay mượn ngoại quốc; kể từ đo,ù chén cơm không
còn phải độn bo bo, điện đóm có đến đôi vùng thôn quê, nhà cửa bớt đi phần
lụp xụp, khách sạn, sân chơi, bin-đing, biệt thự mọc lên cùng quán ăn, tiệm
nhảy, bia ôm; đường sá nhiều nơi mở rộng; dân có xe hơi, ti vi, tủ lạnh,
điện thoại cầm tay,...nhưng cũng chỉ cho bọn người quyền thế, ngồi trước ăn
trên cùng lũ khuyển ưng gian thương, móc ngoặc ung dung 'đôc đảng lãnh đạo,
độc quyền trị nước, độc tài trị dân, độc chuyên hưởng lợi', còn tuyệt
đại đa số nhân dân , đầu quê cuối chợ vẫn hốc hác mặt mày 'hư không cào cấu
chai tay vô hồn', vẫn 'ngày phơi xác rủ đêm treo hồn tàn', 'vô thường nẻo
đến, u minhdặm về'
....Bé năm tuổi học lời ca tán tỉnh
Bé lên mười uốn lưỡi nói khôn lanh
Những từ ngữ lọt từ khuôn đúc sẵn
Bỡi hoài công tìm kiếm nghĩa chân thành
Vỗ
đá (Giọt sữa đát)
...Có ai tự cắt vào
da thịt
Mà máu tình thân chảy tự nhiên
Trời đông lạnh cóng ngày Nguyên Đán
Thì đóa mai nào nở tự nhiên?
Ai đã cắt da thịt nhân dân Miền Nam? Ai đã khiến ngày Tết, ngày Xuân trở
thành băng giá? Ai? Chính 'họ', chính bàn tay 'họ', số người điêu
ngoa, giả hình trân tráo:
Tay người đổi được đen thành trắng
Thì kẻ hàm oan chết mặc nhiên
Đứa gian tà nói lời nhân nghĩa
Thì oái oăm đời đã mặc nhiên!..
Có...?
(100 BTX)
Hai câu thơ
'Nghĩ ra hình tượng không là thật, sao cứ trần gian kiếm chỗ chơi'
thoạt nghe như lời bỡn cợt, thật ra hàm chứ một thứ triết lý mông lung, một
cái nhìn đau xót trước một hiện thực hài hước, bi đát. Hình tượng nào, không
cần thiết nêu tên. Những 'hình tượng không là thật' đó đã tạo
nên cái 'Thế kỷ vô duyên' nầy khiến những gì có thật , những thịt
da, thân xác con người trở nên 'teo tóp để vô hình' (Xóm
Mộ)
C.- TRIẾT LÝ
TRONG THƠ PHƯƠNG TRIỀU :
Phương Triều không nóiTriết lý. Phương Triều không đem triết lý vào
thơ. Triết lý nơi thơ Phương Triều do từ sự việc toát ra. Triết lý nơi
đây 'mọc' ra từ cảm giác. Người đọc nghe ra triết lý đến với mình do từ
những cảm giác qua những cảnh đời được mô tả. Đấy là thứ triết lý nơi kẻ lâm
chung 'nhìn cháu nhìn con sống đời lau sậy' bỗng dưng 'hết thèm
bụng ứ hơi, no' ; đãy là thứ triết lý của ông lão 'cạy hoài viên ghẻ'
đ‹ nhận ra 'viên ghẻ mọc từ oan trái, gặm mòn máu mủ bao đời' ; đãy
là thứ triết lý của ông già hiệp sĩ 'nhát kiếm bình sinh như tức tưởi,
không còn chém nổi một dây oan '
(ông già hiệp sĩ - 100 BTX);
thứ triết lý 'Nắng
ai rũ rượi bênthềm, nhà ta sao lại vô duyên nắng người'
(Vô duyên - 100 BTX);
cái Triết lý 'Thoảng nghe luân chuyển đời sinh diệt, hay tiếng nghìn
năm gió thở dài'
(Ngậm
nắng - 100 BTX);
cái triết lý 'Từ đất nặn ra những người, những tượng, còn thịt da teo tóp
để vô hình'
(Vô hình-Xóm Mộ);
cái triết lý
''Ta lại quay về chơi với bóng, ta một mình nên bóng mồ côi, người nhìn
không biếtt ta là bóng, nên tưởng riêng mình ngươi lẻ đôi'
(sương sa - Xóm Mộ)
; cái
triết lý'Cùng đường đâu chắc đi chung, chung đường cũng chắc đâu cùng
bước đi'
(Gặp - Giọt sữa đất)
; cái triết lý' Có phải đời sông chẳng bao giờ biết thức, để một lần cuộn
chảy hết oan khiên?'
(ông già - Giọt sữa đất), ...Còn
bao bao nữa. Triết lý nơi đây không là những phán đoán, suy luận,
những giải thích, phân tích; cũng chẳng là triết lý của nòi tình buông theo
cảm xúc, hồn thơ. Triết lý nơi đây khởi từ sự việc, từ thực tại đời sống, từ
cái 'nói', cái 'kể', từ cái nhìn, cái thấy thường ngày, gần gũi cạnh mình,
quanh mình. Người đọc sẽ 'cảm nhận' ra cái 'triết lý' chập chờn, ẩn hiện về
cuộc sống, về cảnh đời ,về thân phận bèo bọt của kiếp người đến thê thảm,
lợm nôn trong một giai đoạn lịch sử chất ngất đắng cay, chua chát do
từ một số người tim óc hôn mê vì chủ nghĩa, tay chân bạo cuồng vì cuồng si
bạo lực và con tim cạn tắt tình người; số người chẳng khác những âm
binh dậy lên từ bóng tối, lũ lượt thúc hối nhau đi theo điệu kèn phù thủy
dưới lá huyết kỳ ngờm ngợp màu tang, được võ trang bằng những lưỡi liềm thần
chết.
Tri‰t lš qua thơ Phương Triều chính là thứ 'triết lý hiện sinh bi đát,
phi lý, nhụa nhầy' toát ra từ cái 'cảm giác sống thực'
(le vécu, xin mượn một từ của khoa Hiện tượng luận)
của tác giả, của
người dân bị đẩy đưa vào hố thẳm, bị vong thân, tha hóa đến cùng độ tang
thương. Qua những cảnh đời thê thảm đó, qua cái 'cảm giác sống thực' lạnh
người đó, qua cái triết lý bi đát phi lý đó, có thể nói Phương Triều
thuộc trường phái 'Hiện thực phê phán' và các thi tập của anh là 'bản cáo
trạng' hùng hồn
(3) về một giai
đoạn lịch sử cực kỳ đớn đau của dân tộc do một thứ chế độ cực kỳ phong kiến,
bạo tàn mà người Cộng sản đã phủ trùm lên đất nước, nhân dân'
.
Thêm một phần Triết lý khác:
Đến bao giờ, đến bao giờ, chấm dứt những cảnh đời tang tóc nói trên? Người
dân Miền Nam, người dân cả nước và Phương Triều có thấy một tia sáng nào leo
lét nơi cuối đường hầm ngun ngút bóng đen? Có ai đau mà không nghĩ đến giờ
lành bịnh, có ai buồn mà chẳng ước một tin vui, có ai khổ mà không mong một
ngày thoát khổ? Người dân Miền Nam cũng thế, Phương Triều cũng thế. Ước mong
dù bé nhỏ, hy vọng dù mong manh nhưng vẫn là ước mong, hy vọng.
Đêm cạnh nấm mồ hay ngủ trên đống rơm, nghe cộng rơm còn dư thừa hương lúa,
như nghe lời thơ xưa vọng về nhắc nhở: 'ánh sáng sẽ lóe lên từ tận cùng
tăm tối' :
...Cứ
đêm còn góc ngủ nhờ
Còn hiên sương lạnh, còn thơ vọng hồn...
Chữ nào mọc nhánh tinh khôn
Để vươn tới nỗi tận buồn thành vui?
Cộng
rơm (100 BTX)
Có quại quằn trong buốt giá Đông thiên hay sinh ra, lớn lên trong những Đông
hàn gió bão thì hãy cứ vui tin, niềm vui, niềm tin bé nhỏ như cộng rơm
kia, sẽ lại
'rót Xuân vào mộng tiễn Đông tàn' :
Ôi Hạ, thắm đâu mùa nát phượng?
Ôi Thu, mùa rụng lá thiên ngôn!
Chưa dầm thân thế vào cay cực
Sao vội vàng phai một ngõ hồn?
Xin lại đông vui
ngày mới lớn
Rót Xuân vào mộng tiễn Đông buồn
Hay xin ấm chỗ lòng chưa lạnh
Cho miệng đời thôi lạnh ngữ ngôn!...(4)
Cọng
rơm
(100 BTX)
Lời thơ mang chở niềm tin đến những 'thân tàn ma dại' hôm nay nơi quê nhà -cả
nơi hải ngoại-, đến tầng lớp còn non choẹt tuổi đời nhưng đã thấm niềm đau
ông bà, cha mẹ và của cả chính mình . Những dao to búa lớn, những tay vung,
miệng hét đang bầm giập quê hương, rồi ra chỉ là 'hoa giấy', trong lúc chúng
ta, những kẻ đang bị dồn thúc vào ngỏ cụt đường cùng luôn luôn là những kẻ
lươngthiện , thật thà ; 'ngay thẳng dù có phải lao lung đến mấy cũng không
bao giờ tàn lụi bỡi gian tà' . 'Em áo trắng khăn sô ngày chập chững, côi
cút buồn không biết thọ tang ai' hay 'Em mười tám như hạ
huyền trăng tái, chưa một lần thơm ngọt miếng hôn ai' và 'Anh
sương gió lạc loài thân áo bạc' , chúng ta gặp nhau trong cảnh đời bi
thảm đó để:
Như ráp được những đường bươm rách cũ
Hạnh phúc đầy như hốt được hai tay.
Nên cứ mặc tiếng trai khờ gái dại
Lời thị phi đâu để vướng vào tai
Khỉ cứ nhăn răng lắc đầu chửi ớt
Ta mặn nồng tình nghĩa dễ gì phai!
Thêm rực rỡ vẫn cứ là hoa giấy
Trong lạc loài em vẫn cứ hoa mai
Ta chỉ sợ đất không còn lẽ phải
Người thật thà vay một trả bằng hai! (5)
Mặn nồng (100 BTX)
Ta thật thà, ngay thẳng. Hồn thiêng sông núi tự bao đời đã ướp vào ta cái
tình người chân thật, cái tính người tinh anh 'chữ nhân viết đứng đàng
hoàng, chữ tâm vui vẻ rộn ràng khắp nơi'
(Chữ Cô, chữ Thầy - 100 BTX)
thì:
..Vỗ vai động chủ bần thần
Phong bao chín chín chào
lân hai ngàn!
Nhủ nhau ăn ở đàng hoàng
Lục lâm thảo khấu xếp hàng nghỉ hưu!...
Hai
ngàn (100 BTX)
Tạ từ thế kỷ hai mươi
(phong bao chín chín)
để đón chào mùa lân hiền lành, thanh khiếtt thời điểm hai ngàn hay hai ngàn
lẻ một, hai ngàn lẻ hai hoặc hơn chút nữa nhưng chắc chắn không lâu. Đoàn
Lân đang từ từ bước đến, mỗi lúc một mau, một mạnh hùng, trở nên một
phong trào náo nức xua đuổi bóng đêm, mở ra khung trời thánh khiết, cõi đất
bình yên cho dân tộc nầy, cho đát nước chúng ta, cho Miền Nam của anh sau cả
chuổi ngày tàn tạ, héo hon, lịm mình trong tê liệt qua một giai đoạn lịch sử
cộc cằn, thô bạo do từ một lớp người hung hãn 'quỉ mối mai cho người cưới
ma'. Lịch sử có những bước đi của nó, ra ngoài dự liệu của con người.
'Giờ tĩnh thức lớn đã báo biểu rồi, kết quả của bao trầm luân, oannghiệt.
Phút giờ tăm tối nhất chính là ngay trước lúc bình minhhiển hiện'. (6)
Nhà thơ nào, dù có mô tả, đẩy đưa thân phận mình hay một cảnh tình nào đó
đến tận cùng đáy thẳm của hư vô cũng luôn luôn hướng đến tạo lập một cảnh
đời sáng sủa, tươi vui. Nhà thơ Việt Nam nào cũng ít nhiều thấm nhuần giáo
lý Như Lai và gương của Chúa 'đem đau khổ độ vô thường'
như một Nguyễn Du 'Tiếng thơ bi thảm độ người trầm luân'; thơ Phương
Triều cũng hầu như mặc nhiên trong hướng đó.
Như ráp được những đường bươm rách cũ
Hạnh phúc nầy như hốt được hai tay!
Ta như nghe thần chết
Đạm Tiên báo biểu cho Kiều vào giờ phút cùng cực cuối cùng của đoạn trường
nàng ' còn nhiều hưởng thụ về sau, duyên xưa đầy đặn phúc sau dồi dào',
phải chăng Phương Triều cũng cùng một tiên cảm như Nguyễn Du? Những
'hình tượng không là thật' kia nay mai sẽ lăn lóc đổ nhào, sẽ không còn
phĩnh gạt được ai để cả Miền Nam của Phương Triều, cả đất nước, dân tộc
chúng ta 'sống lại', hồi sinh với 'duyên xưa đầøy đặn, phúc sau dồi dào'
trong ngày Hội vui tưng bừng non nước nở hoa.
Nguyễn
Thùy
Grenoble (France), 26/09/2002
_____________________
Chú thích:
1) "Le poète peut donc construire avec de l'air ou des métaux, avec de la
lumière ou des sons, avec du fer ou du marbre, avec de la brique ou même de
l'argile: il fera toujours un bon ouvrage s'il sait être décorateur dans les
détails et architecte dans l'ensemble" : Joubert (1754-1824), trích
da^'n bỡi Pierre Seghers trong 'Le Livre d'or de la Poésie francaise-des
a(~rigines à 1940', No 1184 (C) édts. Marabout (M/9) imprimé en
France, 1997, trang 158.
2) "Ce n'est pas avec des idées qu' on fait des vers, c'est avec des mots" :
Mallarmé (trích da^'n bỡi Paul Désalmand và Philippe Forest trong '100
grandes citations expliquées', édt. Marabout, No 3963, (M/7), imprimé en
France, 1991, trang 232).
3) Xin mượn lối nói của các nhà biên khảo Cộng sản khi nói về Truyẽn Kiều
của Nguyễn Du.
4) Người viết không rõ qua bài thơ nầy, Phương Triều muốn ngỏ với người Việt
hải ngoại hay không.
5) Câu thơ hơi khó
hiểu. Người viết nghĩ 'Phương Triều không nói đến việc trả oán (gây
oán một, bắt phải trả oán gấp hai lần) mà là 'người thật thà chịu đau khổ
một sẽ được đền bù ân phước gấp hai lần số lượng đau khổ đã phải trải chịu'.
6) "Un grand réveil
s'annonce, fruit de beaucoup de souffrances. Toutes les solutions
officiellement proposées sont encore dérisoires, mais l'heure la plus sombre
est juste avant l'aurore" - Arnaud Desjardins : 'Regards sages
sur un Monde fou', édts. La Table Ronde, Paris 1997, trang 280, câu
cuối cùng của sách).
trở lại trang 1
|