|
|
|
Thơ Phương Triều
NHỮNG
DÒNG THƠ ĐAU LẠNH
NHỮNG CẢNH ĐỜI LẠNH ĐAU
Nguyễn Thùy
trang 1
'Quỉ mối
mai cho người cưới ma' , câu thơ đưa ta sống bầu không khí rờn rợn,
ghê ghê một chiều nghĩa địa âm u chập chờn bóng quỉ, hình ma vây bủa con
người thất thểu, không hồn. Suốt các tập thơ của PhươngTriều, ta luôn sống
trong bầu không khí ghê ghê, rờn rợn đó.
Ba tập
‘Trăm Bài Thơ Xuân, Xóm Mộ, Giọt Sữa Đất’ của anh do nhà thơ Đỗ Bình
trao cho ; đọc thoáng qua mỗi lần nhận được, tôi vừa thấy ‘khó chịu, hiu hắt
lạnh buồn’ vừa ‘tức tưởi, nghẹn ngào’ lại vừa như bị kích thích đọc thêm.
Cái ‘cảm giác’ kỳ lạ nầy đã ‘bắt’ tôi phải viết về ‘thơ PhươngTriều', một
người chưa quen, chưa gặp cũng chẳng được yêu cầu ‘vui lòng cho
đôi ý kiến’. Tôi viết để ‘trả lời’ cho tôi, để ‘giải tỏa’ cái tâm trạng
đìu hiu xa vắng , ưa thích trong nghẹn ngào, tơi tả cứ gờn gợn dâng dâng :
-Niên
kỷ bao nhiêu mà tóc bạc
Chưa chồng nhan sắc đã phôi
pha
Thế gian sao có đời vô lý
Quỉ mối mai cho người cưới ma !
(Hóa già - 100 bài thơ Xuân)
Nhìn ảnh Phương Triều nơi bìa sau mỗi tập thơ, tôi thấy anh là người chững
chạc, nghiêm trang ; một ông giáo đạo mạo, hiền hòa ; một nghệ sĩ mực thước,
đạm nhiên ; có đâu ngờ lại là tác giả của những ‘dòng thơ lạnh’ theo
một lối ‘biện chứng nghịch thường’ :
-Đắng
đời nếm mãi lại chua
Đêm sôi bụng gió lửa lùa sau lưng
Hóa ra đèn đóm tưng bừng
Là xương cốt lạnh vui mừng gặp nhau!
(Đèn đóm - Xóm Mộ)
-Khởi đi từ nếu, bắt đầu từ nhưng
Nên vấp lại chân rêu đầu đá
Những gai nhọn đâm đời tá hỏa
Cuộc rượu diễn ra, được cái tưng bừng !...
(Lom lom - 100 BTX)
Tôi đọc thơ ai thường để ‘sống với tôi’ qua thơ người đó. Thơ là chất
sống một người. Qua ba tập thơ Pbương Triều, tôi thấy về hình thức, giữa thơ
anh và thơ tôi không mấy gì 'đồng điệu’. Do cái không 'đồng điệu nầy, tôi
nhận ra Phương Triều là ‘nhà thơ lạ’ của Miền Nam và có thể cả
những nhà thơ trước đây nơi nhiều miền khác. Và thơ anh quả là những
‘dòng thơ lạnh’ khiến người đọc vừa tái tê, u uất, vừa bỡ ngỡ, băn
khoăn, mênh mang trong những ‘tự hỏi đáp’ mông lung với chính mình.
Phương Triề là người Miền Nam (Đông và Tây Nam phần), nơi Cửu Long chín cửa
tuôn vào bể Đông ; nơi Thất Sơn bảy ngọn nhìn ra biển cả. Nơi ruộng đồng
mượt mà bát ngát, phì nhiêu ; nơi ‘vườn xanh có áo trắng em phơi’ ; nơi cây
trái, cá tôm sum suê, bề bộn. Nơi người Miền Nam xuề xòa, chất phác, hồn
nhiên, bộc bạch ; nơi cảnh sắc đơn sơ, bình dị không mấy lôi cuốn bước du
lịch đường xa ; nơi một số địa danh do phiên âm tiếng Miên đến với người
Việt không chuyên chở một ý nghĩa nào : Cai Lậy, Cái Mơn, Cái Bè, Cái Sắn,
Cái Dầu, Thốt Nốt, Chắc-cà-đao,...Nơi cõi miền trù phú đó, nơâi cảnh sắc
bình dị, đạm nhiên, nơi những con người hiền hòa, cởi mở như thế, cuộc sống
hẳn nhiên thoải mái, an vui ; sao qua thơ Phương Triều lại chất chứa
tăm tối, ủ ê ; sao tâm trạng hầu như lúc nào cũng lẩn quẩn giăng mắc ‘trái
ngang’ để phải bàng hoàng, sửng sốt, hoang mang vì cảnh đời, vì lẽ sống ?
Đấy là ‘cái lạ’ nơi thơ Phương Triều đã khiến người thơ viết
nên những ‘dòng thơ lạnh’.
-CÁI
LẠ NGAY NƠI HÌNH THỨC LỜI THƠ :
1) Hầu hết nhan đề các bài thơ thuần là tiếng Nôm : Con về chưa, Mưa
trong mắt, Con bướm, Chân cầu,...’
(100 bài thơ Xuân) ;
‘Nước mắt đen, lăn
tròn, Khoảng trống, Thèm, Mặt người,...’
(Xóm Mộ) ;’Tìm
nhau, Cho nhau, Cửa cái, Góc chiều, Cơn ngứa,...’
(Giọt sữa đất).
Nhiều bài thơ, nhan đề rất bình dị, rất sát với mọi hoạt động, cử động, việc
làm hằng ngày của từng người : ‘Mọc tóc, Rảnh việc, Ngáp, No, Ngắt
véo,...’
(100 bài thơ Xuân) ;
‘Lăn tròn, Gặm, Thèm
mưa, Nhăn răng, Chịu đau,...’
(Xóm Mộ) ;
‘Hóa già, Bạc tóc, Già cốc, Tần ngần, Nhởn nhơ,...’
(Giọt sữa đất).
Thêm nữa, nhiều nhan
đề rặt tiếng Miền Nam : ‘Ví dầu, Lom lom, Già dưa, Thèo lèo,...’
(100 btx) ;
‘Manh mún, Kẹt giỏ, Tĩnh rụi, He vàng,...’
(Xóm Mộ) ; ‘Ở
trỏng, Đối đế, Hổng chừng, Đơm đặt,...’
(Giọt sữa đất).
Nhiều
nhan đề chỉ một chữ
thôi : ‘Ngắt, Ớ, Còn, Với, Ngáp, Chùm, Bẫy, Đốm, Vá,...’
(100 btx) ;
‘Gặm, Sống, Ma, Mỏng,
No, Móng, Cõng, Khùng,...’
(Xóm Mộ) ;
‘Tóc, Ré, Qua, Ghé, Chạy, Bấu, Lẻ,...’
(Giọt sữa đất).
Chừng nầy thôi đủ để
thấy Phương Triều thân thuộc với Miền Nam, ‘sống’ với ngôn ngữ Miền
Nam, thân cận với mọi sinh hoạt hằng ngày của người Miền Nam dân dả nơi
mình. Chừng ấy thôi đủ cho thấy thơ Phương Triều khác lạ với nhiều nhà
thơ trước nay. Hầu như chưa một ai đặt nhan đề thơ bằng những từ ‘chẳng thơ
‘ chút nào. Phương Triều muốn ‘tung’ ra một ‘mốt mới’, phải
chăng? Hay có dụng ý muốn ‘trả đủa’ điều gì, ai đó hoặc
cả một thời thế đảo điên?
2) Từ và Tiếng trong thơ Phương Triều không văn hoa, bóng bẩy mà rất gần
gũi, rất chân thực với cuộc sống thường ngày, với cuộc sống đồng quê, gắn
chặt với cảnh tình thôn dã. Hầu như bao bộ phận của thân thể : mặt, môi,
răng, tóc, mắt mũi, tay chân, môi tim, da thịt,... ; bao
nhiêu con vật đồng quê : chàng hiu, cóc nhái, quạ vạc, bướm, ruồi, nhạn,
tép tôm, dơi chuột, cò ma,... ; bao nhiêu thức ăn miền quê : cá kho,
dưa giá, gừng,... ; bao nhiêu địa danh gần gũi với tác giả :
Sa giang, Mỹ thuận, Nha mân,... ; tất cả đều được ‘gọi về', được
gợi lại, được nhắc đến , được đem vào thơ để từ đó trở thành ‘hình
ảnh, hình tượng’. Gọi về, gợi lại không phải để nhớ, để thương, để luyến
lưu, gắn bó, để ôn lại kỷ niệm thân thương, đẹp đẽ mà để đau, để khóc, để
cay đắng, ngậm ngùi, để bàng hoàng trước nghịch cảnh, dể ê chề, u uất vì lẽ
đời oan trái, oái oăm. ‘
-Gió
vô tình bỏ đêm bứt rứt
Em thèm bánh mứt sực nức giao
thừa
Chợ chiều mẹ bán về chưa ?
Thịt kho, dưa giá, em vừa chiêm bao !
Ống chân ghẻ nghe thèm thuốc bột
Em ngồi quên gãi ngứa da quen
Đêm đêm nghe vọng tiếng kèn
Ông già lãng tử hát bên mộ buồn....
(Nhận hết...- 100 Bài thơ Xuân)
-..Lon muối hột chia đều ăn nhín nhút
Củ khoai sùn không đắng kịp tri hô
Bé nuốt trộng miếng đời luôn cả vỏ
Bụng già đau, tim thắt nghẹn mơ hồ...
Tuổi cháu lên ba, tuổi bà tám chục
Miếng ăn thành mơ ước cõi hư vô
Bầy cá ròng ròng lội trên nước cạn
Nắng hạn bùn non thành chốn mã mồ...
(Ròng ròng - Xóm Mộ)
Từ ngữ nơi Thơ
Phương Triều đơn sơ, bình dị đến mức độ không thể ngờ : ‘ống chân ghẽ,
gãi ngứa, ăn nhín nhút, gấu ó hơn thua, nhảy điệu cà lăm, cầm tay
thọt lét ...’ và biết bao từ tương tự trong cả ba tập thơ, những từ quá
nôm na, bình dị, nghĩ rằng khó ‘thành thơ’, thế mà lại ‘nên thơ’, khiến
người đọc vừa lạ, vừa khó chịu,vừa thích lại vừa tò mò. Một ‘xảo thuật’ ?
Không. Phương Triều không dụng tâm tạo nên một điều gì mới lạ, khác người.
Phương Triều thừa khả năng dùng từ văn hoa, bay bướm ; thừa kiến thức
và tài hoa tô điểm lời thơ óng ả, mượt mà; thừa hiểu biết để ‘triết lý một
cách cao xa, mạch lạc. Nhưng Phương Triều lại không để rơi vào những kiểu
cách đó. Phương Triều ‘nói’ như người Miền Nam nói, ‘nhìn’ như mọi người
Miền Nam nhìn, miêu tả những gì người Miền Nam đã sống trong một giai đoạn
lịch sử lạ lùng đảo lộn hết nếp sống, nếp nghĩ, nếp tình trước nay :
-...
Cô giáo dương cầm... bưng rổ ổi
Ông nhà văn bán...đậu phụng
rang !
(ông già hiệp sĩ - Xóm Mộ)
-.. .. ..
Thưa già, thiên hạ giờ đâu ?
-Thưa em, thiên hạ dãi dầu ở đây !
Nước non còn phải hao gầy
Thì thiên hạ cũng lất lây khác gì !
.. .. ... ..
-Thưa em, chẳng thấy em cười ?
-Thưa già, em đã hết hơi lâu rồi!...
(Hết
hơi - Xóm Mộ)
-...
Thì lại Tết, đếm người chưa chết
Đêm giao thừa được miếng xương khô
Chút lễ mời tiên nhơn mồ tổ
Về đây chơi, ăn miếng giả đò !
.......
Em bắp cải tưởng mình hoa cúc
Anh cò ma tưởng cánh chim bằng
Thì cứ mặc mưa bùn, nắng lửa
Khóc hay cười cũng được nhăn răng!
(Hồi xuân - 100 bài thơ xuân)
Đôi đoạn trích trên đủ cho thấy tài năng Phương Triều, sử dụng từ nôm na,
bộc trực thành từ ngữ thơ, biến những sự việc chẳng ‘thơ’ chút nào thành
‘hình ảnh thơ’. Ta ít gặp những trường hợp như thế, ngoại trừ nơi những câu
đối mang tính hài hước hoặc nơi đôi bài có tính cách trào phúng hay châm
chọc, mỉa mai , bỡn cợt như bài ‘Đèo Ba Dội’ của Hồ Xuân Hương hoặc
vì tức khí, chán chường như Cao Bá Quát :’Ba hồi trống giục đù cha kiếp,
Một nhát gươm đưa đéo mẹ đời’. Chính điều nầy tiêu biểu cho ‘chất
thơ’ của Phương Triều vừa hiện thực vừa chứa chất những gì khiến người đọc
‘tá hỏa’ theo sự việc được mô tả. Đọc thơ anh, ta nghe những gì nghèn nghẹn,
ấm ức, tức tưởi, xót đau, hờn tủi dâng dâng, thấm nhập vào người mà
không th‹ nào phân tích, đuổi xua. ‘Quỉ mối mai cho người lấy ma; là
xương cốt lạnh tưng bừng gặp nhau, khóc hay cười cũng được nhăn răng, mời
tiên nhơn mồ tổ về đây chơi ăn miếng giả đò, ống chân ghẻ nghe thèm thuốc
bột,..’, nghe sao như bỡn cợt mà ai oán, lành lạnh cả người. ‘Ở đây
sương khói mờ nhân ảnh’ (Hàn
Mặc Tử - Đây thôn Vỹ Dạ),
không, nơi đây, nơi
Miền Nam trù phú tài nguyên, mặn nồng tình nghĩa, ‘sương khói không
làm mờ nhân ảnh’ mà giờ đây, oái oăm thay, lại như bóc trần cái ‘nhân
ảnh’ đó ra, lột phơi trần truồng cái ‘nhân ảnh’ đó trước mắt nhà thơ,
trước mắt mọi người để ‘khóc hay cười cũng được nhăn răng’, để người
đọc phải ‘tá hỏa tam tinh’ trước những điều quá phũ phàng, phi lý nhưng lại
là thực tại, than ôi!
3) Hình
ảnh trong thơ Phương Triều đến rất tự nhiên do từ những sự việc
hằng ngày đó, không cần chọn lựa, không cần tìm kiếm đâu xa: 'lót lá làm
mâm, gãi ngứa da quen, máu bỏ đời da thịt, đêm sôi bụng gió, Nắng xưa hong
bắp, Thuyền nan cỡi gió, đời đói từng viên kẹo,
đường mây chạy, xương vô ảnh, thịt vô thường,, nhan sắc xanh xao ốm, tắm ở
sông quên,...'. Nhưng thường hình ảnh ở cả câu thơ, cả đoạn thơ:
- Cổ ngước càng cao
càng ngứa mặt
Chờ em dội xuống một hôn đầy
Cớ sao lòng nguội lên mùi mốc
Cơn ngứa tuồng như ghẻ mới lây!
(Nóng hổi - Xóm Mộ)
-Cứ thậm thụt lui
ngày tháng Chạp
Thế kỷ buồn già háp mươi năm
Mèn ơi, ai nói đẻ lầm
Trẻ chưa kịp lớn đã lăm le già!
(Miệng mo - 100 btx)
- Tay ai với hụt vào mơ tưởng
Cười chộ nhau chơi, hả dế mèn?
Ta cá thia lia già răng cỏ rụng
Hôn nhằm rong lạnh tưởng môi quen!...
(Nhỏ em - Giọt sữa đất)
-Cây giạt gió co đầøu rát cổ
Nắng chiếu yêu mưa nổi gian tà
Những cành lá không còn có thật
Đêm chập chùng gốc rễ kêu la
Sông cuộn sóng theo quành sinh lộ
Những tan lìa cuốn tận bãi xa
Em vuốt tóc mây đầy tay nhỏ
Thấy vệt bầm lăn mãi trên da...
Vệt bầm (Giọt sữa đất)
Một số bài, một số đoạn phải căn cứ nơi nhan đề bài thơ mới nhìn ra ý
tác giả. Có lẽ vì thế nên Phương Triều đã lấy những sự việc ngẫu
nhiên, vô nghĩa làm nhan đề cho thơ
(Ngáp, Gãi, Quào, Lắc, , Ớ, Cái, Bẫy, No, Đóm, Gỏ, Ho'i,.Nhăn răng,.).
Sự việc ngẫu
nhiên, sự việc vô nghĩa, sự việc bình thường nhưng lại hàm chứa bao uẩn
khúc, bao ngược ngạo, trái ngang của cảnh đời ngang trái.
- Anh vợ con nghèo đi mót... .của
Bươi từng sân rác kiếm ‘bao bì’
Thấy trong vương vãi đời tan vỡ
Thấy cạnh mình thêm ma biết đi!
(Mãy
khi - 100 BTX)
-Ông lão gập mình
cơn ho khúc khắc...
Con phố đèn
vàng ngủ trong thất lạc
Ông lão chợt
cười không thấy hàm răng
Vũ khí sinh
tồn lại đành mất mát!...
(Mất mát - Giọt sữa đất)
-Người, phút lâm
chung vẫn còn tức ngực
Đè xuống một
lần bao nỗi âu lo
Nhìn cháu,
nhìn con sống đời lau sậy
Bỗng dưng hết
thèm, bụng ứ hơi, no!
Người, phút
lâm chung thều thào trăn trối
Cúng giỗ sau
nầy không cần phải lo!
Bao năm tuổi già quen nhai không khí
Thì sá kể gì thân xác xanh tro!...
(No
- Xóm Mộ)
Người thực, việc thực, những cảnh đời rất thực dẫn đến những ý nghĩ, những
việc làm rất thực mà vô nghĩa trong những hoàn cảnh rất thực, rất trớ trêu.
Những sự việc hằng ngày không mấy ai chú ý được diễn tả không bằng miêu tả
mà chỉ là 'kể ra', 'nói ra', nói một cách tự nhiên, không văn hoa, màu mè,
không thêu dệt, thêm thắt, hầu như 'thấy sao nói vậy', để nhận lấy một 'chân
lý' trần truồng, thô lỗ từ cuộc đời, cuộc sống 'ném trả' lại cho mình:
-Ông lão cạy hoài viên ghẻ
Hình như không phải ghẻ ruồi
Viên ghẻ mọc từ oan trái
Gặm ngon máu mủ bao đời!...
(Buổichiều, gốc cây - Xóm Mộ)
-Nhớ xưa ba bốn ngày đau đẻ
Chừng được con tươi rói mặt
mày
Nuôi con bằng sữa từ tim mẹ
Đâu biết rằng con kiếp lạc loài!
(Tận đâu - Giọt sữa đất)
_Nghĩa
địa góc quen chiều chợt Tết
Ông già mở lại gói đời quên
Bên kia chân mộ còn
vuông đất
Lót lá làm mâm đón tổ tiên!
(Tết,Xóm Mộ - 100 BTX)
Tôi nghĩ không cần đem kiến thức văn chương, thi phú vào đây. Phương Triều
không như bao nhà thơ khác thường mượn một hình ảnh có thực để qua ẩn dụ,
nhân hóa hoặc một biện pháp tu từ nào khác đưa người đọc đến những liên
tưởng xa xôi, hình dung ra những gì kín đáo, ẩn nhiệm. Hình ảnh nơi thơ
Phương Triều ở nơi chính sự vật, sự việc rất thông thường :'viên
ghẻ mọc, lót lá làm mâm, ăn miếng giả đò, bụng ứ hơi no, thêm ma biết
đi,...' và cảm giác, cảm xúc, cảm nghĩ bật ra từ đãy. Phương
Triều không cần tạo ra hình ảnh, văn ảnh, không cần đi tìm đâu xa;
nhìn sự việc là đủ thấy ngay ;
'bản thân sự việc đã nói lên rồi'
(les faits parlent d'eux-mêmes).
Phương Triều chẳng cần dụng tâm 'trang trí' và 'kiến trúc' thơ
mình (1). 'Cô giáo bưng rổ ổi, nhà văn bán đău phụng rang, quên gãi ghẻ,
thấy mất hàm răng,...'', nào có gì là 'trang trí, tô điểm, hoa hòe' . Sự
việc thế nào nói lên thế ấy và những sự việc đó tự chúng kết thành cái 'toàn
bộ' của bài thơ. Phương Triều không đề cập gì đến Luân lý, Đạo đức, đến
Chân, Thiện, Mỹ', không hướng người đọc đến những ý nghĩ nào cao xa, trừu
tượng, cũng không rên rỉ, đau thương, không bày tỏ nỗi niềm riêng tư nào cả.
Phương Triều không đem lý luận, nhận xét của mình để phẫm bình, đánh
giá. Phương Triều 'trốn mình' qua sựviệc, để sự kiện, sự việc nói thay cho
mình, nói thay cho người đọc. Nghệ thuật nơi thơ Phương Triều nằm ở
đãy. Phần 'triết lý nơi thơ Phương Triều cũng từ đãy toát ra. Nhưng không
phải nêu ra những cái 'thực tại' thô lỗ, trần truồng mà lời thơ vụng về,
sống sượng. Từ
'ông lão chợt cười không thấy hàm răng' đến 'vũ khí sinh tồn cũng
đành mất mát' ; từ 'Xòe thêm ngón cụt vào kim chỉ' đến 'vá đời
chung rách rưới riêng'
(Ngón cụt – Giọt õa đất);
từ 'Tàn tro
xới lại đời xương cũ' đến 'Xương của người hay cốt của ta'
(Nườm nượp - 100 BTX);
từ 'Dế lâng bang
và bạn bè ếch nhái' đến 'Ta vẫn người hay lạc cõi ma vương'
(
Vẫn người - 100 BTX) ;
từ 'ông lão cạy
hoài viên ghẻ' đến 'Viên ghẻ mọc từ oan trái gặm mòn máu mủ bao đời'
(Buổi chiều, gốc cây - Xóm Mộ);
lời thơ Phương TriŠu
không hẳn không mang chứa tính cách 'bác học', nhưng không do dụng tâm,
không do từ kiến thức mà do từ sự việc phát sinh. Sự việc, sự vật đi
thẳng vào óc, vào tim rồi dội ngược trở ra như khiến thịt, da, xương
xẩu người đọc rờn rợn trong những cảm giác ghê ghê, lành lạnh, âm ỉ, nhức
nhói, quặn siết không nguôi .
Thơ Phương Triều không văn hoa, bóng bẩy, không nâng dìu cảm xúc, cảm hứng,
không đua vào mộng tưởng, suy tư. Thơ Phương Triều không mang chở nét
màu tươi sáng cũng khôngrũ liệt, buồn đau, ủy mị. Thơ Phương Triều là thứ
thơ hiện thực, thơ tả chân, thơ nói lên cảm giác, đưa cảm giác lên cao để từ
cảm giác, người đọc ray rứt, băn khoăn, khắc khoải, sầu đau với chính mình.
Cái khác lạ của thơ Phương Triều so với những nhà thơ khác là ở đãy.
Phương Triều đã tạo cho mình một 'nghệ thuật thơ' riêng biệt không dễ gì ai
có được mà dù có mô phỏng theo sẽ lại là 'thậm xưng' quá đáng, 'bi
thảm hóa' quá nhiều', 'hài hước' quá độ, 'triết lý' quá xa . Phương Triều để
cảm giác tự lên lời, để từ ngữ tự phơi bày ý nghĩa; 'sức
mạnh' của từ ngữ nói lên nội dung sâu sắc của thơ, phần nào như Stéphane
Mallarmé
(thi sĩ Pháp :1842-1898):
'Người ta không làm
thơ bằng ý mà bằng từ ngữ'
(2). Tuy nhiên, thơ
Phương Triều không chỉ dừng lại nơi số hình ảnh hiện thực đơn thuần mà cũng
lắm lúc mang tính 'bác học' không phải do lựa chữ, lựa lời mà do giọng thơ
mênh mang trải dài ý tình ta trong bần thần, tê tái, trong bứt rứt không
nguôi, trong bơ thờ, hiu hắt, lạnh buồn, bơ vơ như thuyền đêm chơi vơi không
biết về đâu bến đậu:
-...Đêm ngước mặt thấy hoa cười giữa tối
Đàn nguyên dây sao đứt rụng âm thừa
Lại thức dậy cho một đời chưa ngủ
Mắt xoe tròn soi mộng giấc say sưa!
Niên học mới (Giọt sữa đất)
-...Như
cõi sơ hoang hồn mọc cỏ
Dãu tay đời ngắt giọt khai nguyên?
Nên xanh ngát một trời hy vọng
Sao ngứa
cuồng trên dấu
tật nguyền?
-...Đưa tay đón hụt đường mây chạy
Lại hốt nhằm lông ác điểu rơi
Bàn tay cháy vụn thành sương khói
Nên tật nguyền thêm chỗ đứt rời!
Nghĩ ra hình tượng không là thật
Sao cứ trần gian kiếm chỗ chơi
Tiếng hú là đêm vừa thảng thốt
Hay ngàn mưa gió gỏ xương người ?
Gỏ (Xóm Mộ)
-...Đưa tay đón hụt trăng vừa tới
Trăng cháy dòn trên những nóc
nhà
Tàn tro xới lại đời xương cũ
Xương của người sao cốt của ta?
Nườm
nượp (100 BTX)
-Thuở đó tình Xuân chưa có tuổi
Ngày ươm vàng rực nắng xanh men
Bình mây vẽ tưới nguyên màu tóc
Má dậy thì hương nụ búp sen
Ngày giở từng trang tuổi mới nguyên
Hồ Thu bàng bạc mắt em hiền
Nghiêng môi con gái hôn đời mới
Đâu biết đời đang lửa dấy lên!
Ta lạc vòng tay tuổi dấu yêu
Vòng tay lầm lỡ mấy nuông chiều
Đường xa vời vợi hồn Thu nhớ
Mút chỉ trời quên...một cánh diều!
Cánh diều (100 BTX)
Đọc thơ Phương Triều là 'sống' với cảm giác, những cảm giác lạnh tê, buôn
buốt thấm nhập vào người rồi lan ra, rờn rợn toàn thân vừa đau nhức
vừa rêm rêm như ta đang lần mò gãi từng mụn ghẻ, để sau đôi chút râng
râng đả ngứa lại càng nhức nhói da xương vì mụn ghẻ lở loét thêm lên,
bong đầy máu mủ. Mụn ghẽ loang dần , khắp cùng thân xác do từ cuộc đổi
đời thê thảm, do từ 'thế kỷ vô duyên' sống bằng những
'hình tượng không là thật' mà
'cứ trần gian kiếm chỗ chơi' để tất cả những gì 'thực sự là thực'
lại biến thành những thứ 'dơ dáng dại hình', cả tấm hình hài chỉ là thứ
'ma biết đi' với 'xương vô ảnh, thịt vô thường' !
xem tiếp trang 2
|
|
|