3. Thái độ cần thiết để làm
Linh Thao
ĐIỀU KIỆN NỘI TÂM ĐỂ LÀM LINH THAO
a. Thiếu ḷng khao khát sống tốt hơn,
không thể làm Linh Thao
b. Ao ước khao khát nên trọn lành hơn
nữa
a. Dâng trót con người ḿnh cho Chúa
b. Để tùy Chúa làm tất cả những ǵ
Ngài muốn
c. Ḷng quảng đại được
cụ thể hóa
i. Giữ thinh lặng bên ngoài qua việc
kiềm chế ngũ quan
iii. Ư thức ḿnh sống trước nhan Chúa
i. Nh́n, nghe, quan sát, suy nghĩ để rút ích
lợi
ii. Để nên đồng h́nh đồng
dạng với Chúa Giêsu hơn
i. Ư thức Chúa hiện diện và chào Chúa
a. Ư thức Thiên Chúa hiện diện
b. Ở với Chúa: lắng nghe, tâm sự, và
yên lặng bên Chúa
3. Cầu nguyện để trở nên một với
Thiên Chúa
a. Khao khát ước mong kết hiệp
với Thiên Chúa
c. Đồng h́nh đồng dạng với Ngài
trong tư tưởng lời nói và hành động
4. Cầu nguyện chính yếu là tâm sự
5. Điểm gợi ư và tư thế khi cầu nguyện
XÉT GẪM NHƯ PHÂN ĐỊNH THIÊNG LIÊNG
a. Thiên Chúa muốn tôi sống hạnh phúc
b. Các thần lành giúp tôi sống như Thiên
Chúa muốn
c. Thần dữ không muốn tôi sống
hạnh phúc với Thiên Chúa
i. Người thường sống trong t́nh
trạng tội
ii. Người đang tiến trên
đường thiêng liêng
iii. An ủi không qua trung gian
3. Những câu hỏi gợi ư giúp xét gẫm
a. Tôi được ǵ trong giờ cầu
nguyện này?
b. Tôi có hài ḷng với giờ cầu nguyện
này không?
c. Nếu tôi không hài ḷng lắm th́ đâu là
nguyên do?
d. Thân thưa nói chuyện với Chúa về
t́nh trạng tâm hồn ḿnh
4. Cầu nguyện không được tốt hay
bị sa sút
b. Do c̣n bám víu vào tạo vật (t́nh cảm
lệch lạc)
e. Trúng bẫy thần dữ giả dạng
thần lành
5. Tại sao tôi bị cám dỗ nhiều về
điều này
b. Tôi chưa dứt khoát chống trả
c. Cũng là dịp để lập công,
để nên thánh hơn
d. T́nh yêu với Chúa đă bị suy giảm
ii. Quảng đại trong từng chọn
lựa thường ngày
1. Các bước gợi ư giúp hồi tâm xét
ḿnh
2. Cảm tạ Thiên Chúa v́ những hồng ân
kỳ diệu
3. Bắt đầu lại khi thấy rơ ḿnh
hơn
4. Cầu nguyện ngắn dựa vào chính
đời sống
VIỆC CẦN LÀM KHI LINH THAO TRONG CUỘC SỐNG
a. Trí (biết đúng để sống
đúng)
3. Các bài cầu nguyện dẫn nhập
b. Hăy cởi dép khỏi chân (Xh 3:1-12)
c. Ḷng người như thửa đất
(Mt 13:1-8.18-23)
e. Muốn sao th́ được vậy (Mt
15:21-28)
4. Bài cầu nguyện về Nguyên Lư Nền Tảng:
a. Con người, h́nh ảnh Thiên Chúa (St
1:1-2:4a)
b. Con người được Chúa chăm
nom (Tv 8)
c. Thiên Chúa yêu tôi vô cùng (Ga 3:16; 1Ga 4:9-16)
d. Thiên Chúa quan pḥng (Mt 6:25-34)
e. Trong Đức Giêsu Kitô (Ep 1:3-14)
f. Thiên Chúa pḥ tôi (Rm 8:28-39)
g. Thái độ đối với của
cải (Lc 12:13-15.16-21.22-34)
h. Nguyên lư và Nền Tảng (LT 23)
i. Chỉ một điều cần (Lc
10:38-42)
j. Yêu Chúa yêu người (Mc 12:28-34)
Nhận biết sự xấu xa và ác hại
của tội
Cảm nhận Thiên Chúa yêu thương tha
thứ
Khao khát trở về với Thiên Chúa
c. Con cái ác quỷ (Ga 8:31-51)
g. Do thái thờ ḅ vàng (Xh 32)
h. Vô ơn và thử thách Thiên Chúa (Xh 15:22-17:7)
i. Lời nguyện thống hối (Br 1:15-3:8)
l. Israel bất trung (Gr 3:1-4:4)
n. Dửng dưng trước nỗi khổ
(Mt 25:31-46)
o. Những người mù thiêng liêng (Ga 9:1tt)
p. Phạm đến Thánh Thần (Mc 3:20-30)
q. Tôi là tội nhân (1Ga 1:8-2:11)
r. Lời nguyện thống hối (Tv 51/50)
s. Thiên Chúa- người cha nhân từ (Lc
15:11-24)
t. Chị phụ nữ ngoại t́nh (Ga 8:1-11)
u. Chị phụ nữ thống hối (Lc
7:36-50)
3. Bài cầu nguyện về Tiếng Gọi
Vua Hằng Sống
a. Từ nay ngươi sẽ là kẻ
lưới người (Lc 5:1-11)
d. Đáp trả trong vâng phục đức
tin (St 22:1-10)
f. Ơn gọi tiền định (Is 42:1-9)
g. Người tôi tớ Yavê (Is 49.50.52)
h. Ơn gọi tiên tri Giêrêmia (Gr 1:4-10.17-19)
i. Ơn gọi Kitô hữu (Mc 8:34-9:1)
j. Ơn gọi tông đồ (Mc 3:13-19)
k. Tiếng gọi Vua Hằng Sống (LT 91-98)
LỜI THIÊN CHÚA THỰC HIỆN SỨ MẠNG CHA TRAO
PHÓ
a. Hiểu Chúa hơn, yêu Chúa và theo Chúa hơn
b. Đồng h́nh đồng dạng với
Chúa hơn
b. Đời b́nh thường “phi
thường”
b. Lời đă thành xác thịt (Ga 1:14; 1:1-18)
c. Nhập thể là tự hủy (Pl 2:6-11)
d. Sinh bởi ngươi nữ (Gl 4:4-6)
f. Ngôi Lời nhập thể để thi hành
Ư Thiên Chúa
h. Cắt b́ và đặt tên (Lc 2:21)
i. Được dâng trong đền thờ
(Lc 2:22-40)
j. Trốn sang Aicập (Mt 2:13-23)
k. Con phải lo việc Cha con (Lc 2:41-50)
l. Đức Giêsu sống rất lâu ở
Nadarét (Lc 2:51-52)
4. Đức Giêsu thuộc trọn về Cha
a. Đức Giêsu chịu phép rửa (Mc 1:1-13)
b. Đức Giêsu chịu cám dỗ (Mt 4:1-11)
c. Trọn ngày sống cho Thiên Chúa (Mc 1:21-39)
d. Của ăn của Ta là làm theo ư
Đấng đă sai Ta (Ga 4:34)
e. Cách sống được chúc phúc (Mt 5:1-12)
f. Sống phó thác tất cả nơi Thiên Chúa
(Mt 6:25-34)
g. Hăy nên thánh v́ Ta là thánh (Lv 19:1-2)
5. Đức Maria thuộc trọn về Thiên Chúa
a. Lời vâng tuyệt hảo (Lc 1:26-38)
b. Mẹ âm thầm thuộc về Thiên Chúa
c. Mẹ t́m lại được hài nhi Giêsu
(Lc 2:41-52)
d. Niềm tin của Mẹ vào Con (Ga 2:1-11)
e. Ai là mẹ tôi và ai là anh em tôi (Mt 12:46-50)
f. Mẹ dưới chân thập giá (Ga 19:25-27)
a. Thái độ của dân chúng (Mc 1-3)
b. Thái độ của người thân và kư
lục, biệt phái
c. Ơn gọi tông đồ (Mc 3:13-19)
d. Khủng hoảng sứ vụ tại Galilê
(Mc 4)
e. Hạt giống âm thầm mọc (Mc 4:26-29)
f. Quyền trên thiên nhiên (Mc 4:35-41)
g. Loan báo Tin Mừng bằng trừ quỷ (Mc
5-6)
h. Không hiểu đường lối của
Đức Giêsu (Mc 4;6)
i. Đức Giêsu là Kitô (Mc 8:27-30)
j. Con đường thập giá (Mc 8:31-33)
k. Phải vác thập giá ḿnh (Mc 8:34-9:1)
l. Cầu nguyện và ăn chay (Mc 9:14-29)
m. Con đường Đức Giêsu đi:
Phục vụ (Mc 9:33-37)
n. Ngăn cản nhân danh Đức Giêsu (Mc
9:38-41)
o. Vẫn không hiểu bài học thập giá
(Mc 10:32-45)
p. Thương cảm người mù (Mc
10:46-52)
q. Không chấp nhận con đường
Đức Giêsu
r. Giới răn yêu thương (Mc 12:38-34)
t. Đời sống trinh khiết của
Đức Mẹ và thánh cả Giuse
a. Nhận thức, chọn và được
chọn
b. Để hiểu rơ hơn về con
người ḿnh
3. Những gợi ư cầu nguyện về
ngày Inhă
c. Giá trị của tiền bạc (Mc 10:23-31)
d. Sự Sống và Sự Chết (LT 136-147)
f. Ba bậc khiêm nhường (LT 165-168)
g. Số phận của Đức Giêsu (Mc
10:32-34)
h. Nếu thế gian ghét các ngươi (Ga
15:18-25)
i. Ai muốn theo Ta (Mt 16:21-28)
b. Thái độ của tôi đối với
nghèo và sỉ nhục
c. Dứt khoát với quyến luyến
lệch lạc
d. Mức độ t́nh yêu của tôi
đối với Thiên Chúa
1. Lựa chọn theo thánh Inhaxiô
2. Điều kiện để làm việc
lựa chọn tốt
a. Nhận thức đúng đắn về
mục đích đời người
4. Dấu chỉ việc lựa chọn
được làm đúng
a. Tâm t́nh tạ ơn (Lc 17:11-19)
3. Gợi ư cầu nguyện về t́nh yêu Thiên
Chúa
a. Làm sao Ta có thể quên được
ngươi (Hs 11:1-9)
b. Yêu đến độ đă ban Con Một
Người (Ga 3:16-21)
c. Thánh Thần- bằng chứng t́nh yêu (1Ga
4:8-16)
d. Tự hiến mạng sống (Ga 10:17-31)
e. Bí tích T́nh Yêu (Lc 22:14-20)
f. Hăy ở lại trong t́nh yêu Thầy (Ga
15:9-17)
g. Điều tốt nhất cho người
yêu (Ga 17:1tt)
h. T́nh yêu qua phục vụ (Ga 13:1-17)
i. Hăy yêu nhau như Thầy yêu (Ga 13:31-35)
j. Hăy tin vào tôi, hăy yêu tôi (Ga 14:1tt)
k. Hăy kết hiệp làm một với
Thầy (Ga 15:1-8)
l. Ta đă thắng thế gian (Ga 16:16-33)
4. Đức Giêsu chấp nhận thập giá v́ yêu
a. Âm mưu giết Đức Giêsu (Mc
14:1-2.10-11)
b. Báo biến cố Phêrô chối Thầy (Mc
14:26-31)
c. Đức Giêsu ở vườn dầu (Mc
14:32-42)
e. Yuđa nộp thầy bằng nụ hôn (Mc
14:43-52)
f. Phêrô chối Chúa (Mc 14:66-72)
g. Đức Giêsu trước ṭa Do thái (Mc
14:53-65)
h. Đức Giêsu trước ṭa Philatô (Lc
23:1-7)
i. Đức Giêsu trước ṭa Hêrôdê (Lc
23:8-12)
j. Trước ṭa Philatô lần II (Lc 23:13-25; Ga
18:33-19:16)
k. Đức Giêsu bị đánh đ̣n (Mc
15:15)
l. Đức Giêsu đội măo gai (Mc 15:16-20)
m. Đức Giêsu vác thập giá (Mc 15:21)
n. Đức Giêsu bị đóng đinh (Mc
15:22-32)
o. Đức Giêsu trên thập giá (Mc 15:33-41)
p. Sinh th́ và táng xác (Mc 15:37-47)
q. Tâm t́nh của người yêu thương
Chúa
p. Người tôi tớ chết thay nhiều
người (Is 52:13-53:12)
q. Chu toàn sứ mạng dù phải chết (Pl
2:6-11)
r. Dân Ta ơi, Ta đă làm ǵ cho ngươi
s. Đức Maria dưới chân thập
tự (Ga 19:25-27)
t. Chứng nhân thinh lặng: Chúa Cha
u. Chiêm ngắm toàn bộ cuộc khổ
nạn (LT 208 tt)
3. Thiên Chúa phục sinh Đức Giêsu Nadarét
a. Chúa Phục Sinh hiện ra cho Mẹ (LT
218-225)
b. Niềm vui của chị Maria Magdala (Ga
20:11-18)
c. Hai môn đệ Emmau (Lc 24:13-35)
d. Chúa Phục Sinh trao sứ mạng (Ga
20:19-23)
e. Củng cố đức tin của Thomas
(Ga 20:24-29)
f. Chăm sóc các tông đồ (Ga 21:1-14)
g. Cứng ḷng trước biến cố
Phục Sinh (Mt 28:11-15)
h. Chúa Phục Sinh luôn ở với chúng ta (Mt
28:16-20)
i. Chúa Phục Sinh được siêu thăng
(Cv 1:6-11)
THÁNH THẦN LUÔN HOẠT ĐỘNG TRONG HỘI THÁNH
a. Chúa Giêsu hứa ban Thánh Thần (Ga 14:15-26)
c. Thánh Thần làm chứng về Đức
Giêsu (Ga 15:26-16:15)
c. Thánh Thần tỏ hiện dịp lễ
Ngũ Tuần (Cv 2:1-17)
d. Đức tin vào Chúa Giêsu Phục Sinh (Cv
2:14-41)
e. Nhân danh Đức Giêsu Nadaret (Cv 3:1-26)
f. Phêrô làm chứng cho Chúa Giêsu Phục Sinh
trước chính quyền (Cv 4:1-22)
g. Từ khi biết Đức Giêsu Kitô,
tất cả như phân bón (Pl 3:1-16)
2. Xin Chúa làm cho con yêu Chúa
a. Chiêm niệm để được t́nh
yêu (LT 230-237)
b. Thiên Chúa là T́nh yêu (1Ga)
ĐỂ DUY TR̀ VÀ PHÁT TRIỂN ƠN LINH THAO
1. Luôn sống đời sống
thường ngày với ư thức Thiên Chúa luôn hiện
diện và yêu thương ḿnh
SÁCH LINH THAO CỦA THÁNH INHAXIÔ
GHI CHÚ VỀ BẢN DỊCH SÁCH LINH THAO
24. VIỆC XÉT M̀NH RIÊNG HÀNG NGÀY
55. Cuộc Linh Thao Thứ Hai Suy Gẫm Về
Các Tội
91. Tiếng Gọi Vua Đời Tạm Giúp Chiêm
Ngắm Cuộc Đời Vua Hằng Sống.
Cuộc Chiêm Niệm Thứ Nhất Về
Mầu Nhiệm Nhập Thể
110. Cuộc Chiêm Niệm Thứ Hai Chúa Sinh Ra
Đời
135. Lời Phi Lộ Về Sự Suy Xét Các
Bậc Sống
136. Ngày Thứ Bốn Suy Gẫm Về Hai
Cờ Hiệu
149. Cũng Ngày Thứ Bốn Suy Ngắm
Về Ba Mẫu Người
169. Lời Phi Lộ Để Làm Việc Lựa
Chọn
Cách Thứ Nhất Để Làm Việc Lựa
Chọn Tốt Lành
184. Cách Thứ Hai Để Làm Việc Lựa
Chọn Tốt Lành
189. Để Tu Chỉnh Và Cải Thiện
Đời Sống Và Bậc Ḿnh
200. Cuộc Chiêm Niệm Thứ Hai Vào Buổi
Sáng, Từ Bữa Tiệc Ly
210. Quy Tắc Để Tự Chỉnh Đốn
Trong Việc Ăn Uống Từ Này Về Sau
218. Cuộc Chiêm Niệm Thứ Nhất
Đức Kitô Chúa Chúng Ta Hiện Ra Cùng Đức Bà [299]
230. Chiêm Niệm Để Được T́nh Yêu
258. Cách Cầu Nguyện Thứ Ba: Theo
Nhịp.
261 CÁC MẦU NHIỆM TRONG CUỘC ĐỜI
ĐỨC KITÔ CHÚA CHÚNG TA.
313. QUY TẮC ĐỂ CẢM BIẾT VÀ
NHẬN RA PHẦN NÀO NHỮNG THÚC ĐẨY KHÁC NHAU TRONG LINH
HỒN
328. QUY TẮC VỀ CÙNG MỘT VẤN ĐỀ
ĐỂ PHÂN BIỆT CÁC THẦN RƠ HƠN
337. QUY TẮC PHẢI THEO KHI CÓ NHIỆM
VỤ BỐ THÍ CỦA CẢI
345. NHỮNG GHI CHÚ GIÚP NHẬN THẤY VÀ PHÁN
ĐOÁN
352. QUY TẮC PHẢI THEO ĐỂ ĐƯỢC
CẢM NGHĨ CHÂN CHÍNH TRONG GIÁO HỘI CHIẾN ĐẤU
Tên sách Kinh Thánh được viết tắt theo
bản dịch của Các Giờ Kinh Phụng Vụ.
Tên văn kiện Công Đồng Vaticanô II
được viết tắt theo bản gốc tiếng
Latin.
LT Sách Linh Thao
của thánh Inhaxiô Loyola.
TT Tự Thuật
của thánh Inhă.
Một số trích đoạn Kinh Thánh khi th́
được lấy từ bản dịch của Các
Giờ Kinh Phụng Vụ khi th́ được lấy
từ bản dịch của cha Nguyễn Thế Thuấn,
CSsR.
Từ 23.10.1984 tôi đă
giúp một bạn làm linh thao trong cuộc sống. V́
bạn đó dạy học cách chỗ tôi sống gần
100 cây số, nên tôi đă ghi nhanh một số điểm
gợi ư giúp bạn đó cầu nguyện. Tôi không nhớ
đă đưa cho bạn linh thao trong cuộc sống
đó tờ soạn điểm cuối cùng vào ngày nào,
nhưng dựa vào ngày bạn đó ghi ở tờ cuối
cùng là 25.06.85, tôi nghĩ bạn ấy đă linh thao trong
cuộc sống ít là tám tháng trời.
Tôi đă khuyên bạn
đó, mỗi ngày cầu nguyện ít là một tiếng
đồng hồ, và nếu ngày nào được nghỉ
dạy th́ nên dùng cả ngày để tĩnh tâm cầu
nguyện. Mỗi đề tài được đề
nghị phải được cầu nguyện ít là
một lần. Gặp người hướng dẫn là
điều cần thiết, nhằm giúp người làm
linh thao có thể vượt qua những khó khăn và
gặp Chúa dễ dàng hơn. Người hướng
dẫn tuy dầu vẫn yếu đuối tầm
thường như thao viên, nhưng vẫn là dụng
cụ Thiên Chúa dùng để giúp đỡ người
đang linh thao với họ.
Những năm từ 1992-1999
tôi cũng giúp một số tu sĩ thuộc những ḍng
khác nhau làm Linh Thao Trong Cuộc Sống (LTTCS). Làm LTTCS
được rất nhiều ích lợi, v́ giúp
người làm Linh Thao đối diện với những
vấn đề hay xảy tới với họ trong
bầu khí Linh Thao, và người đó có kinh nghiệm
giải quyết hay sống điều đó trong bầu
khí cầu nguyện, theo thánh ư Thiên Chúa.
Việc làm LTTCS,
dưới một khía cạnh nào đó, khó hơn làm Linh
Thao tập trung v́ thời gian dài hơn, và đ̣i
người làm LTTCS quảng đại và trung thành hơn.
Thời gian vừa qua,
tôi được hân hạnh giúp một số bạn Linh Thao.
Sau khi kết khóa, có không ít người hỏi liệu có
thể dùng những bài đă gợi ư trong khoá linh thao
để tiếp tục cầu nguyện được
không? Đó là nguyên do tại sao các điểm giúp linh thao
trong cuộc sống hằng ngày được in dịp
này. Hy vọng điều này có thể giúp một số
bạn có đề tài cầu nguyện trong cuộc
sống thường ngày theo tiến tŕnh linh thao, và nếu
nó có thể giúp ai đó muốn linh thao trong cuộc
sống hằng ngày th́ càng tốt. Riêng với những
người này, tôi buộc phải nói thêm: người
hướng dẫn rất là cần thiết ngay cả khi
có đầy đủ tài liệu.
Quy luật
"Để có cùng cảm nghĩ với Giáo Hội"
(LT 352-370) rất quan trọng đối với linh
đạo Inhă. Chúng ta có thể đọc và suy nghĩ
những quy luật này trong tuần thứ ba Linh thao.
"Ta sẽ ở
với ngươi,” đó là một bảo chứng
để Môsê can đảm thi hành sứ vụ nơi
Pharaô. Trong cùng tâm t́nh này, cầu mong "Thiên Chúa ở
với bạn,” để đời bạn
được biến đổi khi tiếp xúc gần
gũi với Thiên Chúa.
Để quyển LTTCS
này có thể được dùng dễ dàng, tôi cũng xin in
Bạn Đồng Hành và sách Linh Thao của thánh Inhaxiô
ở đây.
Chúc bạn đọc
luôn được b́nh an, tươi vui, triển nở,
hạnh phúc trong t́nh yêu Thiên Chúa và con người.
Giuse Phạm Thanh Liêm, SJ
Trước khi
bắt đầu khóa Linh thao, chúng ta cũng nên biết
sơ qua Linh thao là ǵ, và thái độ cần thiết
để thu lượm được nhiều kết
quả trong khóa Linh thao.
Nói theo ngôn từ
của Thánh Inhaxiô Loyola: "Linh thao là mọi cách xét ḿnh, suy
gẫm, chiêm niệm, cầu nguyện bằng miệng
lưỡi hay bằng tâm trí, và các việc thiêng liêng khác ...
Gọi là Linh thao, tất cả những cách dọn và
chuẩn bị linh hồn nhằm xa bỏ những
quyến luyến lệch lạc, và rồi t́m kiếm Ư
Chúa trong cách xếp đặt đời ḿnh nhằm
mưu ích cho linh hồn " (LT 1).
Linh thao đúng
nghĩa và trọn vẹn theo phương pháp của Thánh Inhaxiô
gồm bốn tuần kéo dài khoảng 30 ngày. Tuần
thứ nhất suy gẫm và chiêm niệm về tội,
tuần thứ hai về cuộc đời Chúa Giêsu Kitô cho
đến biến cố vào thành Giêrusalem long trọng,
tuần thứ ba về cuộc khổ nạn của Chúa,
và tuần thứ tư về mầu nhiệm Phục Sinh
và Lên Trời của Chúa" (LT 4).
Linh thao là thời
gian đặc biệt giúp con người sống với
Thiên Chúa, và sống thân thiết với Ngài! Linh thao không
nhằm cung cấp những kiến thức mới lạ.
Linh thao là phương tiện của ân sủng nhằm
giúp đổi mới con tim, đổi mới cơi ḷng,
đổi mới tinh thần, đổi mới con
người. Nói theo ngôn từ của Thánh Inhaxiô “Linh Thao
để chiến thắng chính ḿnh và xếp đặt
đời ḿnh (cách đúng dắn chứ) không theo những
t́nh cảm lệch lạc” (LT 21). Cũng có thể nói: Linh
Thao giúp con người được b́nh tâm, nghĩa là
“chỉ ước muốn và lựa chọn cái ǵ dẫn
đưa chúng ta tới cứu cánh của ḿnh hơn
cả” (LT 23).
Để
đạt được điều trên, mỗi tuần
trong Linh Thao đều có đích nhắm mà thao viên phải
thành khẩn xin Thiên Chúa ban cho trong những bài suy ngắm
hay chiêm niệm, chẳng hạn trong tuần thứ
nhất, người làm linh thao xin Thiên Chúa ban cho ḿnh ḷng thống
hối chân thành, c̣n trong tuần thứ hai thao viên xin Chúa ban
cho ơn được “hiểu biết thâm sâu về Chúa,
Đấng đă làm người v́ tôi, để
được yêu mến và theo Ngài hơn và theo Ngài” (LT
104); c̣n ở tuần thứ ba và thứ tư, người
làm Linh Thao xin Chúa ban cho ơn được chia sẻ
đau khổ và hân hoan với Ngài. Những điều
người làm linh thao xin Chúa ban, đó không là điều
hoàn toàn nằm trong tầm tay của con người, đó
là một ơn, là hồng ân Thiên Chúa ban cho con người.
Linh Thao không nhằm
thêm cho người ta những kiến thức mới,
nhưng nhằm giúp con người cảm nghiệm t́nh yêu
của Thiên Chúa đối với con người qua
Đức Giêsu Kitô; Chỉ khi nào con người hiểu
biết thâm sâu và yêu mến Đức Giêsu, con người
mới được tự do nội tâm, và quyết
định về cuộc đời ḿnh theo Ư Chúa.
Người làm Linh
Thao cần phải có ḷng khao khát ao ước muốn
trở nên tốt hơn, muốn thành người hoàn toàn hơn,
thuộc trọn về Chúa hơn. Nếu không có ao
ước này, không thể làm Linh Thao được.
Nói theo ngôn từ
của Thánh Inhaxiô, “người luyện tập Linh Thao
sẽ được nhiều ích lợi nếu
bước vào với ḷng quảng đại và hào hiệp
với Đấng Tạo Hóa và Chúa ḿnh, bằng việc
dâng trót cả ư muốn và tự do của ḿnh cho Chúa Chí Tôn,
để mặc Ngài sử dụng chính ḿnh cũng như
mọi sự ḿnh có theo thánh ư Ngài” (LT 5).
Ḷng quảng
đại trên được biểu lộ cách cụ
thể qua việc giữ những điều phụ thêm
(LT 73-82), cầu nguyện trọn một giờ (LT 12),
không ṭ ṃ gây chia trí (LT 11.127), cởi mở với người
hướng dẫn (LT 17.22) v.v.
Ở một mức
độ nào đó chúng ta có thể khẳng định:
kết quả của cuộc Linh Thao tùy thuộc và tỷ
lệ thuận với ḷng quảng đại của
người làm Linh Thao. Thiếu ḷng quảng đại,
Linh Thao không mang lại kết quả mong muốn.
Trong những trang
tiếp theo, sẽ dựa vào cơ cấu Linh Thao
để gợi lên những chủ đề cầu
nguyện, như Nguyên Lư Nền Tảng, tuần I (tôi là
tội nhân), tuần II (Tiếng gọi Vua Hằng
Sống, Nhập thể đ̣i tự hủy, Đức Giêsu
thuộc trọn về Cha, Đức Maria thuộc
trọn về Thiên Chúa, Con đường Đức Giêsu đi,
Ngày Inhă, chọn lựa), tuần III và tuần IV.
Không phải tất cả mọi người
đều có thể làm Linh Thao được.
Không phải ai cũng làm Linh Thao được. Có
những người chỉ có thể làm được
tuần thứ nhất của Linh Thao: "Phải
đề ra cho mỗi người việc ǵ có thể giúp
họ và làm ích cho họ hơn, tùy theo mức độ
họ sẵn sàng đón nhận. Bởi vậy đối
với một người muốn cố gắng học
hỏi và thỏa măn linh hồn tới một mức
độ nào đó, th́ có thể đề nghị cho
họ việc xét ḿnh ... không nên dẫn đưa họ vào
việc chọn bậc sống và những việc Linh Thao
khác ngoài khuôn khổ tuần thứ nhất" (LT 18).
Để có thể làm trọn vẹn Linh Thao, cần
phải có thái độ nội tâm cần thiết: ḷng khao
khát thuộc trọn về Chúa, ao ước nên trọn
lành, ước mong nên thánh.
Ḷng quảng đại là thái độ duy nhất
cần thiết để chuẩn bị và làm Linh Thao.
Thánh Inhaxiô nói: "Người luyện tập Linh
Thao sẽ được nhiều ích lợi nếu
bước vào với ḷng quảng đại và hào hiệp
với Đấng Tạo Hóa và Chúa ḿnh, dâng trót cho Ngài cả ư
muốn và tự do của ḿnh cho Chúa Chí Tôn, để
mặc Ngài sử dụng chính ḿnh cũng như mọi
sự ḿnh có theo Thánh Ư Ngài" (LT 5).
Quảng đại, theo ngôn từ của thánh Inhaxiô,
là thái độ sẵn sàng để Chúa làm bất cứ
điều ǵ Ngài muốn về ḿnh; Ḿnh sẵn sàng mở
ḷng ra trước tác động của Thánh Thần,
để tùy Chúa lôi kéo ḿnh, và ḿnh sẵn sàng đáp trả
mọi đ̣i hỏi của thánh ư Chúa. Quảng
đại, hàm chứa tin tưởng và phó thác hoàn toàn cho
Thiên Chúa để Ngài định đoạt về
đời ḿnh, để Ngài làm cho ḿnh những ǵ Ngài
muốn; và chắc chắn đó là điều tốt
nhất đối với ḿnh.
Khao khát nên thánh, ḷng quảng đại sẵn sàng
thực hành tất cả những ǵ Chúa muốn về
ḿnh, là yếu tố cần thiết để làm Linh Thao.
Quảng đại, chính là t́nh yêu của ḿnh
đối với Thiên Chúa. Ḷng quảng đại
được biểu lộ một cách cụ thể
trong chính cuộc sống, trong từng hành vi cụ thể
của chúng ta, và trong trọn cả ngày sống.
Linh Thao là thời gian đặc biệt mà
người làm Linh Thao muốn dành trọn vẹn cho Thiên
Chúa. Thế nên, người làm Linh Thao sẽ cầm
giữ ngũ quan để không bị những tác động
bên ngoài chi phối: giữ con mắt, lỗ tai, miệng
lưỡi. Để nếu cần, nghe như không nghe, nh́n
nhưng như không nh́n, không nói khi không thực sự
cần phải nói.
Người làm Linh Thao gạt bỏ mọi
bận tâm thường ngày cũng như những ǵ không
phải suy nghĩ, để dành tất cả thời gian
và con người ḿnh cho Thiên Chúa trong những ngày này.
Người làm Linh Thao gạt bỏ những
tư tưởng "chia trí" và "không hợp"
không chỉ trong giờ cầu nguyện, mà c̣n cả trong
suốt ngày sống nữa. Tuy vậy, trong lúc xét gẫm và
xét ḿnh, người làm Linh Thao phải t́m hiểu nguyên do
tại sao ḿnh lại hay bị chia trí và thường
bị bận tâm về những điều đó,
để có thể nhận biết về ḿnh hơn.
Trong thời gian Linh Thao, người tĩnh tâm luôn
sống dưới con mắt Chúa, luôn ư thức Chúa đang
hiện diện với ḿnh và đang yêu thương ḿnh, và
luôn sống trong tâm t́nh của mầu nhiệm ḿnh đang
cầu nguyện suốt cả ngày.
Để con
người được cứu độ, Ngôi Lời
Thiên Chúa đă nhập thể làm chứng cho t́nh yêu, hầu
con người nhận biết Thiên Chúa yêu thương ḿnh
vô cùng, để rồi yêu lại Thiên Chúa.
Con người khi
tin nhận Đức Giêsu là Thiên Chúa, th́ nhận ra t́nh yêu
thương vô bờ của Thiên Chúa đối với
ḿnh. Rồi khi con người tin nhận rằng Thiên Chúa
yêu thương ḿnh vô cùng, con người có thể phó thác
đời ḿnh trong tay Thiên Chúa T́nh Yêu.
Cầu nguyện là ư thức Chúa đang hiện
diện, lắng nghe Chúa mời gọi, nói với Chúa (dâng
lên Chúa lời cảm tạ tri ân, lời khẩn cầu
khi ư thức ḿnh bất lực, lời tán dương), và
ở lặng bên Chúa.
Có nhiều cách cầu nguyện, chẳng hạn
như đọc kinh, xét ḿnh, suy gẫm, chiêm niệm;
nhưng dù dùng cách thức nào, nó cũng phải giúp chúng ta
gặp gỡ và tâm sự với Thiên Chúa.
Đứng trước một biến cố hay
một lời nào đó, chúng ta có thể suy nghĩ, và
nhờ đó nói chuyện với Thiên Chúa.
Chúng ta có thể dùng những đoạn Kinh Thánh,
để suy gẫm như cầu nguyện:
·
Trước hết, xem
Thiên Chúa hay Đức Giêsu, qua tác giả Kinh Thánh, muốn
dạy ǵ trong đoạn Kinh Thánh đó;
·
Sau đó, xem chúng ta
đă sống điều được dạy đó
như thế nào;
·
Và cuối cùng chúng ta tâm
sự thân thưa với Thiên Chúa.
Trong những bài cầu nguyện về mầu
nhiệm nhập thể, giáng sinh, thánh Inhaxiô đều
chỉ cách chiêm niệm.
Nh́n Đức Giêsu, suy nghĩ để rút ích
lợi; Nghe Đức Giêsu, suy nghĩ để rút ích
lợi; Quan sát cung cách hành xử của Đức Giêsu, suy
nghĩ để rút ích lợi: đó là cách cầu
nguyện "chiêm niệm.”
Có những đề tài cầu nguyện không
thể chiêm niệm được, nhưng nếu
đề tài cầu nguyện là về Chúa Giêsu, th́ có
thể áp dụng cách cầu nguyện chiêm niệm.
Chúng ta nh́n, nghe, quan sát, để thấy Chúa đă
nh́n nghe hành xử như thế nào trong những
trường hợp và t́nh huống khác nhau, để ḿnh
trở nên giống Thiên Chúa hơn, giống Đức Giêsu
hơn.
Trở nên giống Đức Giêsu hơn, nên
đồng h́nh đồng dạng với Ngài, không
phải trên b́nh diện thể lư, nhưng trên b́nh diện
thiêng liêng: có con tim "nhân từ, bao dung, thương
yêu" như Chúa, có ánh mắt "nhân từ, trong sáng,
cảm thông" như Chúa, có cung cách hành xử
"độ lượng, kiên nhẫn, cương quyết
dứt khoát" như Chúa.
Chúa Giêsu luôn là mẫu để chúng ta noi theo và
bắt chước: quan điểm lập trường
của Ngài, cách sống của Ngài. "Để yêu Chúa
hơn và theo Ngài hơn,” đó là mục đích của
những bài cầu nguyện tuần thứ hai này.
Cầu nguyện là gặp gỡ Thiên Chúa, là nói
chuyện thân thưa với Ngài như một người
bạn với một người bạn, như tṛ
đối với thầy, như tôi tớ đối
với chủ, như người con đối với cha
ḿnh, và như một tạo vật đối với Thiên
Chúa.
Những bước cầu nguyện[1] được tŕnh
bày dưới đây, nhằm giúp người ta dễ dàng
cầu nguyện hơn; nhưng một khi gặp gỡ
được Thiên Chúa rồi, th́ những bước
cầu nguyện không c̣n cần thiết nữa.
Để nói chuyện với ai, cần họ
hiện diện với ḿnh một cách nào đó; cũng
vậy, để nói chuyện với Thiên Chúa, cần ư
thức Thiên Chúa hiện diện với ḿnh.
Thiên Chúa ở khắp mọi nơi, Ngài luôn nh́n xem,
yêu thương và chăm sóc chúng ta, Ngài luôn hiện diện
với chúng ta dù chúng ta ư thức hay không; tuy vậy về
phương diện con người, chúng ta vẫn cần
ư thức Ngài hiện diện để có thể nói
chuyện với Ngài.
Khó có thể nói chuyện thân t́nh với ai, nếu
người đó đang thù hận với họ. Cũng
tương tự như vậy, chúng ta không thể gặp
gỡ nói chuyện với Thiên Chúa, nếu chúng ta đang
ở trong t́nh trạng thù nghịch với Ngài.
Trước khi cầu nguyện, chúng ta hăy xin Thánh
Thần tẩy luyện thánh hóa con người chúng ta,
để chúng ta có thể gặp gỡ thân t́nh với
Ngài.
Đôi khi chúng ta thấy ḷng ḿnh dửng dưng
trước Chúa. Thiếu t́nh yêu, thiếu ḷng khao khát Chúa.
Xin Chúa Thánh Thần đốt nóng ḷng ḿnh.
Nếu chúng ta c̣n nhiều bận tâm, và không chú ư
tới lời nói của người đang nói chuyện
với ḿnh, th́ không thể nói chuyện thân mật với
người đó được. Cũng tương
tự như vậy, nếu chúng ta không đặt Thiên Chúa
lên trên hết, nếu chúng ta không gạt bỏ mọi
vướng bận, th́ chúng ta cũng không thể nói
chuyện thân mật với Ngài được.
Cùng với tâm t́nh này, chúng ta gạt bỏ mọi
chia trí đến trong đầu chúng ta, và để
hết tâm trí vào đề tài cầu nguyện.
Để gặp một nhân vật quan trọng, chúng
ta phải xin gặp, và nếu được ưng
thuận chúng ta sẽ được hẹn giờ. Không
phải bất cứ lúc nào ḿnh muốn, đều có
thể gặp được họ.
Cũng tương tự như vậy, gặp
gỡ Thiên Chúa là một hồng ân lớn lao mà chúng ta
cần ư thức để trân trọng. Chỉ có
điều Thiên Chúa rất muốn gặp gỡ ḿnh v́ Ngài
yêu thương ḿnh; tuy vậy, được gặp
gỡ Thiên Chúa vẫn luôn luôn là một hồng ân
đặc biệt.
Trí tưởng tượng rất quan trọng
đối với con người. Phần lớn hành vi
phạm tội của chúng ta đều có sự đóng
góp của trí tưởng tượng. Tương tự
như vậy, để nên thánh, chúng ta cũng dùng trí
tưởng tượng. Thân xác cũng góp phần giúp chúng
ta nên thánh, như nó đă góp phần trong hành vi tội
của chúng ta.
H́nh dung khung cảnh câu chuyện, và đặt ḿnh
trong bối cảnh và trường hợp đó, giúp chúng
ta dễ cầu nguyện hơn.
Mỗi bài cầu nguyện đều có một yêu
cầu cần đạt được, đó
thường là "ơn xin" của bài cầu
nguyện.
Ở tuần thứ nhất, chúng ta xin Thiên Chúa cho
chúng ta hiểu biết sâu xa về tội và những tác
hại của tội, cho chúng ta nhận biết ḿnh là
tội nhân và ơn được trở về với
Người.
Ở tuần thứ hai, chúng ta xin Thiên Chúa cho chúng
ta được hiểu Ngôi Lời Nhập Thể
hơn, để yêu mến Ngài hơn và theo Ngài hơn.
Ở tuần thứ ba và thứ tư, chúng ta xin
Thiên Chúa cho chúng ta được đồng h́nh
đồng dạng với Ngài; cụ thể trong tuần
ba xin Thiên Chúa cho chúng ta được chia sẻ với
Ngài trong đau khổ và sỉ nhục, được
thông phần với Ngài trong cuộc thống khổ; và
trong tuần thứ tư, chúng ta xin cho được chia
sẻ niềm
Mỗi bài cầu nguyện có một hay nhiều
điểm cầu nguyện. Điểm cầu nguyện là
những gợi ư, nhằm giúp ḿnh có chất liệu
để suy nghĩ và cầu nguyện với Thiên Chúa. Tuy
mỗi bài có thể có nhiều điểm cầu
nguyện, nhưng mỗi người chỉ dùng một
số điểm ḿnh thấy ích lợi, trừ phi
người hướng dẫn nói khác trong trường
hợp cụ thể.
Tâm sự là nói chuyện thân thưa với Thiên
Chúa, khi đối diện với Thiên Chúa và biết rơ
về ḿnh hơn.
Tâm sự là phần chính của bài cầu
nguyện, dù người hướng dẫn chỉ
nhắc một vài câu về điều này.
Cầu nguyện là một cách để thông hiệp với Thiên
Chúa T́nh Yêu trong cuộc sống thường ngày của con
người, để con người sống hạnh phúc
với Thiên Chúa.
Thiên Chúa luôn yêu thương tôi dù tôi có biết và có
ư thức về điều đó hay không. Thiên Chúa luôn nh́n
xem tôi và can thiệp vào đời tôi một cách kịp
thời, v́ Ngài luôn yêu thương tôi. "Ngài chặn tôi
trước, Ngài ngừa tôi sau... bàn tay của Ngài
đặt trên tôi" (Tv 139:5).
Khi cầu nguyện người ta cần ư
thức Thiên Chúa đang hiện diện và yêu thương
ḿnh. Như vậy trong suốt ngày, nếu tôi làm việc mà
vẫn luôn ư thức Thiên Chúa đang sống với tôi, th́
tôi cũng đang cầu nguyện và đang kết
hiệp với Thiên Chúa một cách nào đó.
Ư thức Thiên Chúa đang sống với ḿnh trong
đời sống thường ngày, không đ̣i chúng ta
phải ngừng công việc ḿnh đang làm. Trong cả ngày,
chúng ta vẫn làm việc b́nh thường trong tâm trạng
"Thiên Chúa ở bên ḿnh và làm việc với ḿnh.”
Thiên Chúa nói với mỗi người chúng ta qua
lương tâm mỗi người, qua những biến
cố xảy tới với ḿnh trong đời, qua Lời
Chúa trong Kinh Thánh, v.v.
Chúa nói với tôi, tôi có lắng nghe?
Thái độ đáp trả của tôi với
Lời Ngài như thế nào? Tôi vâng phục, hay từ
chối, hay lẩn tránh? Tôi có sống theo Lời Chúa nói
với tôi không?
Khi tôi thấy con người của tôi
dưới ánh sáng Lời Chúa, tôi hăy nói với Ngài những
ǵ Thánh Thần soi sáng và thúc đẩy trong ḷng tôi. Nếu
tôi có những bận tâm và ao ước, tôi hăy nói với
Chúa, để Lời Chúa như gươm hai lưỡi
phân tách (Hr 4:12), để tôi được tinh sạch
hơn (Ga 17:17) và tự do hơn (Ga 8:32).
Như hai người bạn thân, chỉ cần
ở bên nhau; cũng vậy, chỉ cần ư thức ḿnh
đang ở với Chúa.
Có nhiều người mong ước kết
hiệp với Thiên Chúa trong giờ cầu nguyện. Đây là
ao ước chính đáng và tốt lành thánh thiện.
Nhưng làm sao có thể kết hiệp với Thiên Chúa trong
cầu nguyện?
Để hiệp nhất với Thiên Chúa trong giờ
cầu nguyện, đ̣i người đó luôn khao khát mong
ước kết hiệp với Thiên Chúa. Chính ḷng khao khát
ước mong, sẽ giúp người đó luôn kết
hiệp với Thiên Chúa trong cuộc sống thường
ngày bằng việc chấp nhận thánh ư Chúa ngay cả khi
điều đó trái ư ḿnh, và nếu được như
vậy, sẽ giúp người đó kết hiệp
với Thiên Chúa trong giờ cầu nguyện.
Có người cho rằng họ đă đạt
đến mức kết hiệp với Thiên Chúa cách
rất đặc biệt trong cầu nguyện, nhưng
trong cuộc sống thực tế cho thấy người
đó rất khó sống với người khác, và họ
thường "khá kiêu ngạo!” Thánh Inhaxiô lưu ư
một số anh em Ḍng Tên: "cầu nguyện lâu giờ
mà không có tinh thần hy sinh từ bỏ, th́ chỉ làm cho
người ta thêm cứng đầu.”
Để có thể kết hợp với Thiên Chúa trong
giờ cầu nguyện, người ta cần phải liên
lỉ kết hiệp với Thiên Chúa trong suốt ngày
sống. Họ phải luôn từ bỏ ư riêng để
vâng phục Thánh Ư Thiên Chúa, để yêu thương và
chấp nhận anh em, để thông cảm với
những giới hạn của anh em và những trái ư
từ bên ngoài đưa tới. Một người cho
rằng ḿnh đă có thể kết hiệp dễ dàng
với Thiên Chúa trong cầu nguyện mà không có đời
sống từ bỏ và yêu thương, e rằng đó là
người "ảo tưởng,” và chưa biết ḿnh
cách sâu xa và đích thực.
Để kết hiệp với Thiên Chúa trong giờ
cầu nguyện, cần kết hiệp với Thiên Chúa
trong suốt ngày sống. Sống đời sống
"từ bỏ" qua yêu mến đức khó nghèo và
sẵn sàng chịu sỉ nhục và khinh chê v́ Chúa Giêsu Kitô,
chấp nhận Thánh Ư Chúa trong suốt ngày sống. Nói cách
khác, cuộc sống "đồng h́nh đồng
dạng" với Đức Giêsu trong tư tưởng,
lời nói và hành động, sẽ giúp người đó
kết hiệp với Thiên Chúa sâu xa hơn trong giờ
cầu nguyện.
Có thể nói, cầu nguyện chủ yếu là tâm
sự. Đă đành trong suy gẫm, suy nghĩ cũng quan
trọng; trong chiêm niệm, nh́n ngắm cũng quan
trọng; nhưng có thể nói, tâm sự là phần quan
trọng nhất.
Suy nghĩ, và ngay cả suy nghĩ về những
sự thiêng liêng và thần học, cũng chưa là cầu
nguyện.
Cầu nguyện là nói chuyện, thân thưa
hoặc tâm sự với Thiên Chúa. Nếu một suy nghĩ
giúp ḿnh tâm sự thân thưa với Thiên Chúa, th́ suy nghĩ
đó cũng thuộc về cầu nguyện; chẳng
hạn, sau một suy nghĩ, một người có thể
thấy một ánh sáng nào đó, và điều này giúp họ
tạ ơn Thiên Chúa hay nói chuyện với Thiên Chúa hay nài
xin Thiên Chúa điều ǵ đó, th́ suy nghĩ đó cũng
là cầu nguyện.
Điểm chính yếu của cầu nguyện không là
có nhiều ư tưởng phong phú, nhưng là tâm t́nh và thái
độ của ḿnh đối với Thiên Chúa.
Để hướng dẫn người giúp Linh Thao,
thánh Inhaxiô khuyên họ nên gợi ư cầu nguyện ngắn
gọn và trung thực, để giúp người tập
Linh Thao dễ cầu nguyện hơn, v́ "không phải
sự hiểu biết nhiều làm thỏa măn linh hồn,
nhưng chính sự cảm nếm bên trong mới làm
thỏa măn linh hồn" (LT 2).
Trong cầu nguyện và đặc biệt trong tâm
sự, chúng ta có thời gian để sống với Thiên
Chúa và cảm nghiệm t́nh yêu của Ngài dành cho chúng ta. Trong
ư nghĩa này, chúng ta có thể nói cầu nguyện là giờ
phút cảm nghiệm hạnh phúc với Thiên Chúa.
Tâm sự là nói chuyện thân thưa với Chúa
như một người bạn với một
người bạn, như một người tôi tớ
với chủ ḿnh.
Được coi là tâm sự,
khi thân thưa với Thiên Chúa về chính con người và
nhu cầu của ḿnh,
khi dâng lời cảm tạ tôn vinh Thiên Chúa,
khi xin một ơn,
khi xin tha thứ lỗi lầm,
khi phó thác công việc hay trọn cả con người cho
Thiên Chúa,
khi xin dạy bảo hay hướng dẫn (LT
54.61.109.199.224).
Nếu xét gẫm mà chúng ta thấy giờ cầu
nguyện khô khan và không có tâm t́nh, phải xem xem ḿnh có dùng
giờ để tâm sự thân thưa với Thiên Chúa không.
Tâm sự là lắng nghe và nói chuyện với Chúa
bằng cả con người với tất cả tâm t́nh,
là ở lặng bên Chúa mà cảm nghiệm hạnh phúc.
Suy nghĩ, chưa phải là cầu nguyện; suy
nghĩ và tâm sự với Chúa, mới là cầu nguyện.
Những gợi ư cầu nguyện, là những gợi ư
để giúp chúng ta hiểu biết hơn về ḿnh và
về Thiên Chúa, để rồi chúng ta có thể tâm sự
với Thiên Chúa dựa vào những điều chúng ta đă
thấy hoặc được soi sáng.
Những điểm gợi ư cầu nguyện,
chỉ là những gợi ư, là phương tiện giúp chúng
ta cầu nguyện; nó chỉ có giá trị tương
đối và "rất là tương đối.” Chính v́
thế, chúng ta chỉ dùng những điểm gợi ư
trong mức độ nó giúp chúng ta cầu nguyện, và
chỉ dùng số điểm nào đó như chúng ta
thấy cần và có ích, chứ không dùng tất cả
mọi điểm đă được gợi ư (LT
2.76.228).[2] Về tư thế
khi cầu nguyện, tư thế nào (ngồi, đứng,
qùy, phủ phục, v.v.) giúp ḿnh dễ dàng gặp Chúa, th́
ḿnh dùng tư thế đó; Và một khi dùng tư thế
đó mà gặp được Chúa, th́ không nên thay
đổi (LT 76).
Mười lăm phút xét gẫm, là 15 phút phân
định thiêng liêng và cầu nguyện, là những phút
phản tỉnh để biết ḿnh hơn và biết
Thiên Chúa hơn. Việc xét gẫm rất quan trọng
để giúp ḿnh tiến bộ hơn, chính v́ thế
phải làm rất nghiêm túc.
Thiên Chúa tạo dựng con người để
con người được sống hạnh phúc với
Thiên Chúa. Thiên Chúa không bao giờ muốn sự dữ cho con
người, Ngài không bao giờ muốn con người
phạm tội[3] dù Ngài ban cho con
người được tự do. Thiên Chúa muốn con
người hạnh phúc không chỉ ở đời sau
nhưng ngay cả ở đời này nữa; Ngài không chỉ
muốn con người hạnh phúc trong cầu nguyện mà
c̣n cả trong cuộc sống thường ngày nữa.
Thiên Chúa muốn con người cảm nghiệm
hạnh phúc khi sống đặc biệt với Ngài.
Cụ thể trong cầu nguyện, Ngài muốn con
người được b́nh an thư thái,
được thêm ḷng tin cậy yêu mến Ngài.
Các thần lành là các vị sống trong t́nh yêu
của Thiên Chúa, các ngài sống hạnh phúc trong t́nh yêu và các
ngài cũng muốn con người sống trong t́nh yêu và
hạnh phúc như các ngài.
Thần dữ là các thiên thần kiêu ngạo
chống đối Thiên Chúa, và không muốn chúng ta sống
hạnh phúc trong t́nh yêu của Thiên Chúa. Hơn nữa,
thần dữ c̣n t́m mọi cách để tôi xa ĺa và
chống đối Thiên Chúa.
Thiên Chúa muốn tôi sống hạnh phúc, trong
cuộc sống thường ngày và đặc biệt trong
giờ cầu nguyện; cụ thể, ít nhất, tôi
được b́nh an thư thái trong cuộc sống và trong
giờ cầu nguyện.
An ủi là t́nh trạng b́nh thường trong
giờ cầu nguyện nếu chúng ta sống tương
quan tốt với Thiên Chúa.
Thánh Inhaxiô viết: "Gọi là an ủi khi trong
tâm hồn có một thúc đẩy nội tâm, làm linh
hồn cảm thấy bùng cháy lửa yêu mến Tạo Hóa
và Chúa ḿnh, và rồi linh hồn cảm thấy không c̣n có
thể yêu mến bất cứ tạo vật nào trên
mặt đất này v́ chính nó, nhưng chỉ yêu trong
Đấng Tạo Hóa mà thôi.
Tương tự, khi linh hồn chảy
nước mắt trước t́nh yêu Thiên Chúa, do cảm
nghiệm tội lỗi của ḿnh hay do cảm nghiệm
cuộc thương khó của Chúa, hay do cảm nghiệm
những sự khác hướng về việc phụng
sự và ngợi khen Thiên Chúa.
Sau cùng, gọi là an ủi khi linh hồn cảm
nghiệm sự gia tăng đức cậy đức tin
và đức mến, và niềm thanh thản thâm sâu mời
gọi và lôi kéo đến những sự trên trời và
phần rỗi của linh hồn, làm linh hồn cảm
thấy thư thái và b́nh an trong Tạo Hóa và Chúa ḿnh" (LT
316).
Phần lớn khi được an ủi là do
thần lành hướng dẫn[4] (LT 318), và nếu khi
xét gẫm ḿnh đă nhận ra đó là ơn Chúa th́ hăy
tạ ơn Chúa.
Sầu khổ là do tác động của thần
dữ (LT 318).
Thánh Inhaxiô viết:
"Gọi là sầu khổ tất cả
những ǵ trái ngược với quy tắc thứ ba.
Chẳng hạn, sự tối tăm trong tâm hồn, xao
xuyến bên trong, thúc đẩy về những ǵ thấp
hèn và phàm tục, bất an trước những xáo
động và cám dỗ xúi ta mất tin tưởng, trông
cậy và t́nh yêu; linh hồn cảm thấy lười
biếng, khô nhạt, buồn rầu và như bị ĺa xa
Đấng Tạo Hóa và Chúa ḿnh" (LT 317).
V́ sầu khổ là do tác động của
thần dữ, mà nếu chúng ta theo nó th́ không thể
đến với Thiên Chúa được; thế nên
"chúng ta luôn luôn làm ngược lại điều thần
dữ hay thần dữ muốn" (LT 351).
Nếu thần dữ muốn chúng ta bỏ
cuộc, th́ chúng ta sẽ không thay đổi quyết
định (LT 318), mà hơn nữa c̣n phải làm
ngược lại điều thần dữ muốn,
nghĩa là, chúng ta sẽ chăm chỉ cầu nguyện
hơn, xét ḿnh kỹ hơn, hy sinh hăm ḿnh hơn (LT 319), thái
độ dứt khoát với thần dữ (LT 325), từ
bỏ ḿnh hơn bằng việc hy sinh hăm ḿnh và cởi
mở lương tâm với những người
đạo đức (LT 326).
Nếu nguyên do làm chúng ta cầu nguyện không
được tốt, là bởi chúng ta c̣n chia trí về
những vướng bận hay lệch lạc nào đó,
hay bởi chúng ta c̣n có một ngăn trở nào đó
với Thiên Chúa và với con người, th́ ḿnh phải lo
thống hối và hoán cải (LT 321bc).
Một vài ghi chú để dễ dàng giúp nhận
định
Thiên Chúa muốn
người đang ở trong t́nh trạng tội trở
về với Ngài, Ngài luôn hành động trong thâm sâu tâm
hồn mỗi người để làm họ trở
về với Ngài, qua tiếng nói của lương tâm và
qua những dấu chỉ hữu h́nh.
Thần dữ hành
động ngược lại. Nó t́m mọi cách để
người đó ở lại trong tội, chẳng
hạn bằng gợi lên những h́nh ảnh gây
Thiên Chúa vẫn
tiếp tục lôi kéo mỗi người, để họ
tiến tới hơn trên đường phụng sự
Chúa. Các thần lành cũng trợ giúp, để con người
cảm nhận b́nh an và hạnh phúc, để họ
Thần dữ t́m
mọi cách và mọi lư do "ngụy biện"
để ngăn cản con người tiến tới,
gây bất an và xáo động nơi tâm hồn con
người.
Thiên Chúa muốn con
người được sống trong t́nh yêu và hạnh
phúc với Ngài; các thần lành cũng muốn chúng ta
sống trong hạnh phúc với Thiên Chúa như các ngài; c̣n
các thần dữ th́ luôn chống đối Thiên Chúa và t́m
mọi cách để làm con người sống xa Thiên Chúa.
Khi có nguyên do, cả
thần lành lẫn thần dữ đều có thể
"an ủi,” nhưng nhằm mục đích trái
ngược (LT 331). Chỉ có Thiên Chúa mới có thể tác
động trực tiếp trên con người không cần
trung gian; Điểm đặc
biệt của Thiên Chúa là có thể lôi kéo con người
đến với Ngài không qua trung gian, mà con người
hoàn toàn tự do (LT 330).
Chỉ có Thiên Chúa có thể can thiệp trên tự
do con người; đó là lư do tại sao chúng ta cầu nguyện
xin Thiên Chúa biến đổi một người, xin cho
người nào đó trở lại. Làm một
người trở lại, đó là khả năng chỉ
có một Thiên Chúa mới có thể làm được (mà
người đó vẫn hoàn toàn tự do).
Thiên Chúa có thể dùng trung gian để biến
đổi một người, và Ngài cũng có thể
biến đổi một người không cần dùng trung
gian, mà con người vẫn hoàn toàn tự do.[5]
Theo thánh Inhaxiô, để việc cầu nguyện
được tiến bộ, chúng ta cần lượng
giá giờ cầu nguyện; việc lượng giá này
được gọi là xét gẫm (LT 77).
Tôi có được b́nh an thư thái không?
Tôi có được thêm ḷng tin cậy yêu mến
Thiên Chúa không? Có cảm nghiệm Thiên Chúa gần gũi
với ḿnh không?
Tôi có nhận được "ơn xin"
của bài cầu nguyện không?[6]
Tôi có được đánh động hay
được một ánh sáng ǵ đặc biệt không?
Câu hỏi này giúp tôi có nhận định tổng
quát về giờ cầu nguyện. Nếu không
được hài ḷng lắm, th́ phải t́m nguyên do và
cải thiện, để giờ cầu nguyện
tiếp sau được tốt hơn.
Tại tôi thiếu cố gắng tập trung
cầm trí cầu nguyện?
Tôi không mau mắn xua đuổi chia trí ngay khi tôi ư
thức?
Phải chăng tại tôi chưa cố gắng
giữ ngũ quan và tâm trí, và tôi chưa luôn sống với ư
thức Thiên Chúa đang hiện diện với tôi và yêu
thương tôi trong suốt cả ngày sống?
Tôi c̣n một vướng bận hay bất ḥa nào
đó với tha nhân mà chưa được giải
quyết không?
Có một quyến luyến lệch lạc nào
đó mà tôi chưa dứt khoát bỏ không?
Hay tại tôi chưa thật sự mong ước
khao khát t́m gặp Chúa, và sống với Ngài?
Hay tại tôi không sẵn sàng làm tất cả
những ǵ Thiên Chúa muốn?
Nếu c̣n giờ, tôi sẽ nói chuyện thân
thưa với Chúa về thái độ cầu nguyện
của ḿnh, về những ơn Chúa đă ban cho trong
giờ cầu nguyện, và về những trễ nải
thiếu quảng đại với Chúa trong giờ cầu
nguyện hay trong suốt ngày sống.
Sau khi cầu nguyện, người cầu
nguyện dùng một thời gian ngắn để xét
gẫm, xem giờ cầu nguyện của ḿnh thế nào!
Nếu không tốt[7] hoặc không tốt
lắm, th́ đâu là nguyên do? Và một khi đă nhận ra
th́ cố gắng sửa đổi (chính ḿnh), để
giờ cầu nguyện tiếp sau được tốt
đẹp hơn.
Nếu t́m đúng nguyên do và được
chỉnh đốn, th́ giờ cầu nguyện tiếp sau
sẽ tốt đẹp hơn. Có thể nhờ
người có kinh nghiệm thiêng liêng cùng nhận
định với ḿnh, bằng cách chia sẻ kinh nghiệm
xét gẫm cho họ nghe, để họ giúp ḿnh t́m
được nguyên do đă làm ḿnh cầu nguyện không
được, cách chính xác và chắc chắn hơn.
Có thể do ḿnh thiếu quảng đại
với Chúa trong giờ cầu nguyện hay trong cả ngày
sống, mà ḿnh cầu nguyện không được
tốt.
Nếu ḿnh không cố gắng tập trung
để cầu nguyện, hoặc nếu không xua
đuổi ngay các chia trí đến trong giờ cầu nguyện,
không đặt Thiên Chúa lên trên hết, th́ cũng khó cầu
nguyện "tốt.”
Nếu trong ngày ḿnh không hy sinh và kết hiệp
với Thiên Chúa liên lỉ, th́ cũng khó cầu nguyện.
Để dễ dàng cầu nguyện, con người cần
luôn kết hiệp với Thiên Chúa trong suốt ngày
sống.
Có thể do c̣n bám víu vào một tạo vật nào
đó, mà ḿnh cầu nguyện không được
"tốt.”
Khi ta c̣n đặt một tạo vật nào trên
hoặc bằng Thiên Chúa, dù ư thức hay không ư thức, th́
cũng khó cầu nguyện. Như vậy nếu ḿnh
cầu nguyện không được, hăy xem ḿnh có cố
gắng quảng đại hết sức để
cầu nguyện chưa; nếu đă cố gắng
"hết sức" rồi mà vẫn cầu nguyện
không được, th́ xem ḿnh c̣n quyến luyến
điều ǵ cách lệch lạc không, và khi nhận ra th́
hăy quảng đại để chỉnh đốn
lại.
Một người có thể không cầu nguyện
được, v́ họ nhận thức sai lầm: họ
tưởng rằng cầu nguyện được hay
không là do sức con người. V́ vậy, Thiên Chúa có
thể để họ cầu nguyện không
được, nhằm giúp họ nhận ra một sự
thật: "cầu nguyện được, là một
ơn Thiên Chúa ban cho con người.”
Một người
có thể bị sầu khổ thiêng liêng mà không phải do
lỗi của họ (LT 322b).
Nếu ḿnh cầu
nguyện không được, bị sầu khổ thiêng
liêng, mà không tại lỗi ḿnh, th́ hăy kiên tŕ và quảng
đại. Lúc đó chủ quan ḿnh thấy ḿnh cầu
nguyện không được tốt lắm, nhưng khách
quan th́ vẫn tốt, v́ lúc đó Thiên Chúa đang tôi
luyện ḿnh, Ngài tập cho ḿnh đến với Ngài v́
chính Ngài chứ không phải v́ ḿnh được an ủi;
tuy chủ quan ḿnh thấy ḿnh cầu nguyện không được
sốt mến, nhưng khách quan th́ ḿnh vẫn trưởng
thành hơn về đức tin đức cậy và
đức mến.
Đối với một người đang tiến
tới trên đàng thiêng liêng, nếu người đó
biết điều ǵ đó là do thần dữ th́ chắc
chắn người đó sẽ không theo; như vậy,
để làm con người đi theo đường
lối tà vạy của ḿnh, thần dữ thường
hay giả dạng thần lành để dẫn đưa
người đó theo lối đồi tệ của nó
(LT 332).
Nếu một ư tưởng hay một điều
nào đó lúc đầu có vẻ tốt lành thánh thiện,
nhưng sau đó lại làm chúng ta cầu nguyện không
được: như làm chúng ta chia trí phân tâm trong cầu
nguyện, làm việc cầu nguyện bị giảm sút,
chúng ta thấy bối rối, không được b́nh an
như trước, th́ đó là dấu chỉ cho thấy ư
tưởng hay điều đó là do thần dữ (LT
333); chúng ta hăy duyệt xét lại để rút kinh
nghiệm cho lần tới, để không trúng bẫy thần
dữ nữa (LT 334).
Có thể có những
lúc trong đời, chúng ta cảm thấy ḿnh bị cám
dỗ nhiều, và cảm thấy bị cám dỗ nhiều
về điều này hơn điều kia. Tại sao
vậy?
Có thể đó là
điểm yếu của tôi.
Thánh Inhaxiô viết: "Thần
dữ xử sự như một tướng quân
để thắng và cướp những ǵ nó muốn.
Bởi v́, một vị chỉ huy hoặc thủ lănh
của một đạo quân, sau khi đặt doanh
trại và quan sát lực lượng hay cách bố trí
của một thành tŕ, sẽ tấn công vào điểm
yếu nhất.
Cũng vậy,
kẻ thù của bản tính loài người cũng
lượn quanh để quan sát các nhân đức
đối thần, các nhân đức trụ và luân lư, và
nơi nào nó nhận thấy ta yếu nhất và dễ nguy
hiểm nhất cho phần rỗi đời đời
của ta, nó sẽ tấn công vào đó để cố
hạ ta" (LT 327).
Nếu tôi bị
tấn công nhiều ở điểm nào, có thể đó là
điểm yếu (nhược điểm) nhất
của tôi chăng?
Nếu tôi bị
tấn công hay bị cám dỗ dữ dội ở
điểm nào đó, có thể tại v́ tôi chưa dứt
khoát thái độ ở điểm này, tại tôi chưa dứt
khoát chống trả thần dữ và những chước
cám dỗ của nó chăng?
Thánh Inhaxiô viết: "
Kẻ thù xử sự như đàn bà, v́ nó yếu khi ta
chống trả, và nó mạnh khi ta buông xuôi. Thực
vậy, đặc điểm của đàn bà khi gây
gỗ với đàn ông, là mất can đảm và chạy
trốn khi đàn ông thẳng tay chống trả. C̣n
ngược lại nếu người đàn ông bắt
đầu chạy trốn và mất can đảm, th́
cơn giận sự trả thù và sự hung dữ của
đàn bà thật lớn và không sao lường
được.
Cũng vậy,
đặc điểm của kẻ thù là yếu
nhược và mất can đảm cùng chạy trốn
với những cám dỗ của nó, khi người tập
tành trong đường thiêng liêng thẳng tay chống
trả các chước cám dỗ của kẻ thù và làm
ngược lại với các cám dỗ. Nhưng trái
lại nếu kẻ bắt đầu tập tành trên
đường nhân đức lại sợ hăi và mất
can đảm trước cuộc tấn công của cám
dỗ, th́ trên mặt đất này không có con vật nào hung
dữ cho bằng kẻ thù của bản tính loài
người nhằm theo đuổi ư hướng xấu
xa và vô cùng đồi tệ của nó" (LT 325).
Có thể bởi v́
ḿnh thiếu dứt khoát trong việc chống trả
với chước cám dỗ, và như vậy t́nh yêu
của ḿnh đối với Thiên Chúa đă bị giảm
sút.
Trong trường
hợp này hăy xin lỗi Chúa, và bắt đầu sống
quảng đại hơn với Chúa trong từng giây phút
sống.
Khi c̣n sống trong
thân xác, chúng ta c̣n bị cám dỗ và thử thách; những
cám dỗ đó có thể là những dịp để chúng
ta diễn tả t́nh yêu của ḿnh với Thiên Chúa cách cụ
thể hơn.
Không ai
được miễn trừ khỏi bị cám dỗ và
thử thách:
Đức Giêsu không
chỉ bị cám dỗ trong hoang địa (Mt 4:1-11), Ngài
c̣n bị thách thức để làm những phép lạ
từ trời, bị cám dỗ và thử thách trong
vườn dầu (Mc 14:32tt), bị thử thách cả
về đức tin ngay trên thập giá (Mc 15:34);
Đức Maria không
chỉ thưa tiếng xin vâng trong biến cố truyền
tin (Lc 1:26tt), nhưng c̣n thưa tiếng xin vâng trong suốt
cuộc đời, đặc biệt trong biến cố
Mẹ đứng dưới chân thập giá;
Thánh Phaolô đă ba
lần xin Chúa cất cái dằm ra khỏi xác thịt Ngài,
nhưng Ngài được trả lời "ơn Ta
đủ cho con" (2Cr 12:7-9).
Thử thách và cám
dỗ trong cuộc sống tại thế, là thuộc thân
phận làm người của chúng ta; chúng ta hăy chấp
nhận, và can đảm đương đầu để
vượt qua. Chúa không miễn trừ cho chúng ta khỏi
bị cám dỗ, nhưng Chúa bảo đảm rằng
nếu chúng ta tin tưởng và cậy dựa vào Ngài, th́
chúng ta sẽ chiến thắng: "Các con hăy tin
tưởng, Ta đă thắng thế gian" (Ga 16:33).
Khi tôi bị cám
dỗ nhiều hoặc mạnh, cũng có thể Thiên Chúa
để tôi bị cám dỗ nhiều, để tôi có
nhiều dịp lập công và trưởng thành cùng cứng
cáp hơn chăng (LT 33-34.322b); nhưng có thể đó là
dấu chỉ cho thấy ḷng mến của tôi đối
với Thiên Chúa đă bị giảm sút chăng?
T́nh
yêu được biểu lộ qua khát vọng nên thánh và
những hành động cụ thể.
Yêu là hành vi tự do.
Sống theo bản năng, không được lư trí
hướng dẫn, th́ không phải là hành vi tự do, và
như vậy không là yêu thương.
Khao khát nên thánh,[8] ao ước thuộc trọn về Thiên Chúa, là
hành vi t́nh yêu.
Cứ xem chúng ta khao
khát thuộc về Chúa, khao khát nên thánh đến mức
độ nào, để chúng ta biết chúng ta yêu Chúa như
thế nào. Nếu khi xét gẫm mà chúng ta nhận thấy
chúng ta c̣n thiếu t́nh yêu đối với Thiên Chúa hay
thiếu ḷng khao khát Thiên Chúa, th́ hăy khiêm tốn xin Thiên Chúa
ban t́nh yêu của Ngài cho chúng ta.
Xin được
yêu Chúa, đó là điều chúng ta cần khiêm tốn nài xin
liên lỉ (Xem LT 234).
Từ ngữ "t́nh
yêu" là từ ngữ trừu tượng. Dù là từ
ngữ trừu tượng, nó vẫn diễn tả
một thực tại vô cùng phong phú được
biểu lộ bằng nhiều hành vi cụ thể.
Yêu Thiên Chúa, là
sẵn sàng để tùy Ngài muốn xếp đặt
như thế nào về con người và cuộc
đời của ḿnh cũng được. Sẵn sàng
dâng tất cả cho Chúa, để Chúa hoàn toàn tự do
quyết định.
Yêu Thiên Chúa, là chọn
Thiên Chúa và những ǵ thuộc về Thiên Chúa trên hết.
Chẳng hạn trong thời gian Linh Thao, dành tất cả
thời giờ cho Thiên Chúa và cụ thể là cầu
nguyện; luôn sống với ư thức Thiên Chúa hiện
diện với ḿnh và yêu thương ḿnh, luôn sống trong
tâm t́nh của chủ đề ḿnh đang cầu
nguyện; luôn giữ ǵn ngũ quan để dễ dàng
tập trung cầu nguyện và không làm người khác
bị phân tâm chia trí; hy sinh hăm ḿnh như dấu chỉ
muốn thuộc về Thiên Chúa hơn nữa.
Xét ḿnh để nhận ra những hồng ân Thiên Chúa
đă ban cho ḿnh, cũng như những lỗi lầm ḿnh
đă phạm, để tạ ơn và xin lỗi Thiên Chúa,
để sống tốt hơn.
Xét ḿnh là việc
thiêng liêng rất quan trọng, nếu muốn tiến
bộ không ngừng trong đời sống thiêng liêng và thân
thiết với Thiên Chúa mỗi ngày hơn.
i. Ư thức ḿnh
hiện diện trước nhan Chúa và kính cẩn chào Chúa
ii. Xin Thiên Chúa ban
Thánh Thần để Ngài giúp ḿnh ...
iii. Ơn lành
·
Xin ơn nhận ra
những ơn lành ḿnh đă nhận lănh từ lần xét
ḿnh lần trước cho tới bây giờ
·
Xét ḿnh để
nhận ra những ơn lành đă lănh nhận
·
Tạ ơn Chúa
iv. Lỗi lầm
·
Xin ơn để
nhận ra những lỗi lầm khuyết điểm
·
Xét ḿnh để
nhận ra lỗi lầm của ḿnh từ lần xét ḿnh
lần trước cho tới bây giờ
·
Ăn năn thống
hối xin lỗi Chúa
v. Tâm sự thân
thưa với Chúa dựa vào những ơn lành ḿnh đă
nhận và những lỗi lầm khuyết điểm ḿnh
đă phạm.
Theo thói quen
người ta vẫn cho rằng hồi tâm xét ḿnh chỉ
nhằm nhận ra những lỗi lầm khuyết
điểm của ḿnh để ăn năn sám hối;
tuy nhiên việc nhận ra những ơn lành Thiên Chúa ban cho
ḿnh trong đời sống thường ngày rất quan
trọng, để luôn sống trong ư thức và tâm t́nh Thiên
Chúa luôn yêu thương và hiện diện với ḿnh.
Nhận ra những
hồng ân Thiên Chúa ban cho ḿnh, là dấu chỉ của
một đời sống thiết thân với Thiên Chúa. Càng
nhận biết hồng ân Thiên Chúa, càng thuộc về Thiên
Chúa hơn.
Nhận ra những
lỗi lầm của ḿnh để sửa đổi, là
điều chính yếu của việc hồi tâm xét ḿnh.
Trong hồi tâm xét
ḿnh, chúng ta không chỉ nhằm nhận ra những lỗi
lầm khuyết điểm của ḿnh, nhưng c̣n
nhận ra những khuynh chiều tàng ẩn của ḿnh,
để có thể tránh được những lỗi
phạm nghiêm trọng hơn! Tại sao tôi làm điều
này chứ không phải điều kia, ngay cả khi
điều tôi làm chưa phải là tội? Cái tàng ẩn
hay khuynh chiều đằng sau hành động đó là ǵ?
Tại sao tôi hay
bị cám dỗ về điều này? Tại sao tôi bị
cám dỗ về điều này dai dẳng và mănh liệt
như vậy? Phải chăng v́ tôi chưa có thái
độ hay lập trường dứt khoát với
điều này (với khuynh chiều này, với tội
này)? Hay tại v́ t́nh yêu của tôi với Thiên Chúa đă
bị phai lạt và giảm sút? Tôi cần nhận ra
những điều đó, để có quyết
định và thái độ cụ thể nhằm tiến
bộ hơn nữa trong đời sống thiêng liêng.
Nếu có nhiều
giờ cho việc xét ḿnh, th́ sau khi đă nhận ra
những hồng ân Thiên Chúa ban và những lỗi lầm
ḿnh đă phạm mất ḷng Thiên Chúa, chúng ta nên dùng thời
gian c̣n lại để nói chuyện thân thưa với
Thiên Chúa dựa vào những hồng ân và những lỗi
lầm của ḿnh. Đây là những phút cầu nguyện
dựa vào đời sống ngày qua của ḿnh.
Theo thánh Inhaxiô, Linh
Thao gồm bốn tuần. Tuần thứ nhất cầu
nguyện về tội, tuần thứ hai về cuộc
đời Chúa Giêsu cho tới ngày Ngài được
rước vào Giêrusalem, tuần thứ ba về cuộc
tử nạn của Chúa Giêsu, và tuần thứ tư
về Chúa Giêsu Phục Sinh. Tuy vậy, vẫn c̣n một
số bài cầu nguyện khác, như:
· Lời mời của Vua Hằng Sống;
· Các bài cầu nguyện, tạm gọi là ngày Inhă;
· Chiêm niệm để được t́nh yêu;
· Ngoài ra c̣n có những điểm phải suy nghĩ
được gọi là “Nguyên Lư và Nền Tảng” ở
khởi đầu của Linh Thao, và các chỉ dẫn
để làm việc lựa chọn ở cuối tuần
thứ hai.
Tiến
tŕnh Linh Thao được tŕnh bày dưới đây theo
thứ tự sau:
nếu không tính Nguyên Lư và Nền Tảng,
các bài cầu nguyện về tội và ḷng nhân từ tha
thứ của Thiên Chúa, thuộc tuần nhất;
các bài cầu nguyện về Lời Mời của Vua
Hằng Sống, về cuộc đời ẩn dật,
về cuộc đời công khai của Chúa, các bài cầu
nguyện của ngày Inhă, việc lựa chọn,
được coi thuộc tuần hai;
các bài cầu nguyện về cuộc khổ nạn và
phục sinh của Đức Giêsu, thuộc tuần ba và
bốn;
bài “Chiêm niệm để được t́nh yêu”
thường là bài cầu nguyện cuối cùng của Linh
Thao.
Dùng khoảng 15 phút dọn điểm cầu
nguyện;
Cố gắng cầu nguyện 60 phút liên tục;
Xét gẫm 15 phút (nên ghi lại các bước 1, 2 và
3);
Cố gắng hồi tâm xét ḿnh hai lần một
ngày:
Ban trưa (nếu có giờ: 15’; nếu không có
giờ: tùy);
Ban tối 15’
Ghi lại nhận định ngày sống;
Quảng đại với Chúa hết sức ḿnh.
Suốt cả ngày cố gắng sống với ư thức
Chúa hiện diện, đồng hành với ḿnh. Ngài luôn luôn
bao bọc, thương yêu cưng chiều ḿnh.
Nên hồi niệm sau mỗi hai ngày;
Mỗi tuần dùng 60’ lượng giá tuần và
cầu nguyện dựa vào lượng giá đó, cố
gắng t́m ra nguyên do để cải thiện và tiến
bộ hơn:
Tôi có sống thân thiết với Chúa hơn không?
Tôi cầu nguyện tốt hơn hay dở hơn
so với tuần trước?
Đâu là nguyên do chính làm tôi cầu nguyện tốt
hơn hoặc dở hơn?
Tôi sống tốt hơn hoặc tệ hơn
tuần trước? Nguyên do?
Về đời sống cộng đoàn
Về đời sống tông đồ
Hết một chủ đề, phải
lượng giá toàn chủ đề. Nếu thấy
đạt yêu cầu th́ sang chủ đề tiếp;
nếu thấy chưa đạt th́ nên cầu nguyện
lại chủ đề đó. Nên trao đổi với
người hướng dẫn trước khi qua chủ
đề khác.
Nếu là chủ đề về tội, nên
xưng tội chung cả đời trước khi qua
chủ đề khác.
Theo nhận
định của các nhà nghiên cứu về Linh Thao, “Nguyên
Lư và Nền Tảng” không có nguồn gốc tại Manresa,
nó h́nh thành sau, khi thánh Inhaxiô học tại Paris. Tuy vậy
“Nguyên Lư và Nền Tảng” vẫn thuộc Linh Thao, v́ nó là
cái nh́n tổng quát về vũ trụ, con người và
Thiên Chúa, và v́ nó là cái nh́n nền tảng để làm Linh
Thao.
Mỗi tuần
của Linh Thao, và cụ thể là mỗi bài cầu
nguyện trong Linh Thao đều có mục đích và yêu
cầu cần đạt được. Chính v́ vậy,
một người khi làm Linh Thao, cần cố gắng
cầu nguyện hết sức để “đạt yêu
cầu của từng bài,” như thể không hy vọng
đạt được ǵ khác ở những bài tiếp
sau (LT 11).
Vậy đâu là
mục đích và yêu cầu khi suy nghĩ và cầu
nguyện về “Nguyên Lư và Nền Tảng?”
Những bài cầu
nguyện trong phần này nhằm giúp cho thao viên có cái nh́n
đúng đắn về Thiên Chúa, con người và vũ
trụ.
Thiên Chúa là nguyên lư và
nền tảng của tất cả, Ngài yêu thương
con người, Ngài tạo dựng vũ trụ vật
chất để phục vụ con người,
để con người dùng chúng như phương
tiện đến với Thiên Chúa.
Làm sao để sau
những bài cầu nguyện này, thao viên cảm thấy b́nh
tâm trước mọi tạo vật.
B́nh tâm không
đơn thuần là dửng dưng trước mọi
sự, nhưng chủ yếu là chọn
Thiên Chúa trên tất cả. Bất
cứ điều nào làm vinh danh Thiên Chúa hơn th́ ḿnh
chọn; c̣n những ǵ làm vinh danh Chúa ngang nhau, th́ ḿnh
không ham muốn điều này hơn điều kia;
chẳng hạn, nếu làm vinh danh Chúa ngang nhau, th́ tôi không
chọn giầu có hơn nghèo hèn, danh vọng hơn sỉ
nhục, sống lâu hơn chết yểu, v.v.
Chọn Thiên Chúa trên tất cả, chọn làm vinh
danh Thiên Chúa hơn những ǵ khác, đó là điểm chính
yếu của b́nh tâm. Làm sao sau khi
cầu nguyện những bài về Nguyên Lư và Nền Tảng,
thao viên cảm thấy ḿnh sẵn sàng chọn Thiên Chúa và
những ǵ thuộc về Ngài trên tất cả những ǵ
khác trong cuộc sống của ḿnh.
Con người
giống h́nh ảnh Thiên Chúa (St 1:1-2:4a);
Con người là ai
(Tv 8);
Thiên Chúa thấu
suốt mọi sự (Tv 139/138);
Các ngươi t́m ǵ (Ga
1:35-51);
Này Ta đứng
ngoài cửa Ta gơ (Kh 3:14-22);
Thiên Chúa yêu tôi vô cùng
(Ga 17:23.20; 3:16; Ga 13:1; 15:9.13; Ga 14:16; 15:26; Ga 14:23);
Chương tŕnh “Giêsu
Kitô” (Ep 1:3-14);
Thiên Chúa phù trợ
tôi (Rm 8:31-39);
Thiên Chúa Quan Pḥng (Mt 6:25-34);
Yêu Chúa yêu
người (Mc 12:28-34);
B́nh Tâm (LT 23).
Để làm Linh Thao tốt, chúng ta phải
đến với Thiên Chúa bằng cả con người
với tâm t́nh kính mến, tin tưởng và phó thác tất
cả con người hiện tại và tương lai
của chúng ta trong tay Thiên Chúa là Đấng yêu thương
chúng ta. Những bài cầu nguyện sau nhằm mục
đích đó.
Khung cảnh: Như ḿnh đang hiện diện
trước tôn nhan Thiên Chúa với tất cả triều
đ́nh thần thánh trên trời.
Ơn xin: Cảm nghiệm được t́nh yêu
Chúa đối với ḿnh, Ngài luôn nh́n ḿnh bằng con
mắt yêu thương, luôn luôn can thiệp, bao bọc và
dẫn dắt ḿnh trên mọi nẻo đường.
Điểm gợi ư: Đọc chậm chậm
bản văn và dừng lại suy nghĩ, cầu
nguyện với tâm t́nh ḿnh có. Cũng có thể xem các Điểm
gợi ư:
i. Bàn tay Chúa đặt trên con
Ngài chặn con trước, Ngài ngừa con sau
(bản dịch của cha Nguyễn Thế Thuấn)
ii. Đi đâu cho thoát thần trí Ngài
Tác giả thánh vịnh muốn trốn Chúa.
Nhiều lúc trong cuộc sống tôi cũng muốn
trốn Chúa.
iii. Dệt tấm h́nh hài trong dạ mẫu thân con
Chúa là Thiên Chúa của con. Chúa tạo dựng nên con.
Chúa yêu thương con.
Tâm sự: Nói chuyện với Đấng yêu
thương ḿnh vô cùng.
Khung cảnh: Môsê[9] đứng
trước bụi gai bốc cháy nhưng không tàn.
Ơn xin: Cởi bỏ tất cả và đến
với Thiên Chúa trong tâm t́nh thành kính.
Điểm gợi ư:
i. Thiên Chúa siêu vượt: bụi gai bốc cháy
nhưng không tàn!
ii. Cởi dép để đến với Thiên Chúa.
Nếu không cởi bỏ chính ḿnh, không thể
đến với Thiên Chúa.
iii. Thiên Chúa luôn nghe và lưu tâm đến những
nỗi khổ và lời kêu cầu của dân Ngài
Chúa biết hoàn cảnh Dân Chúa. Chúa thương Dân
Chúa, v.v.
Tâm sự: Thân thưa với Thiên Chúa là Đấng
luôn luôn yêu thương và can thiệp vào đời sống
chúng ta.
Khung cảnh: Đức Giêsu rong ruổi khắp
đất nước Do Thái để rao giảng
nước Thiên Chúa.
Ơn xin: Quảng đại lắng nghe và
sống Lời Chúa.
Điểm gợi ư:
i. Hiện tại ḿnh khao khát ǵ?
Quá khứ tôi khao khát ǵ?
Hiện tại tôi mong ước ǵ?
ii. Xét xem ḿnh thuộc loại người nào?
Hạt rơi dọc đường,
Hạt rơi trên đất đá,
Hạt rơi vào bụi gai,
Hạt rơi vào đất tốt.
Tâm sự: Xin Chúa làm ḿnh thành mảnh đất màu
mỡ để có thể đón nhận Lời Chúa.
Khung cảnh: Như ḿnh đang hiện diện
nơi Đức Giêsu gặp gỡ hai môn đệ: trong
một hốc đá dưới một ṿm cây, tùy mỗi
người.
Ơn xin: Xin cho ḿnh khao khát gặp gỡ Chúa, và xin
Chúa biến đổi con người ḿnh.
Điểm gợi ư:
i. Hai môn đệ này t́m kiếm và khao khát ǵ?
Họ t́m và thấy ǵ nơi Gioan tẩy giả?
ii. Họ t́m và gặp được ǵ nơi
Đức Giêsu?
iii. Gặp gỡ Thiên Chúa th́ được
biến đổi
Abraham, Isaac, Giacóp, Môsê, các tiên tri, đă gặp Chúa
và được biến đổi.
Anrê, Simon, Nathanael, đă gặp Chúa và
được biến đổi.
iv. Trong suốt đời tôi, tôi đă t́m ǵ và đang
t́m ǵ?
Thiên Chúa có là Đấng tôi t́m kiếm không?
Tâm sự: Với Đức Giêsu, Đấng
vẫn luôn mời gọi tôi gặp gỡ Ngài: “đến
mà xem.”
Khung cảnh: Đức Giêsu muốn sống
biệt riêng với các tông đồ nên Ngài dẫn các tông
đồ tới vùng Tia và Xiđôn.
Ơn xin: Tin tưởng, hy vọng, phó thác vào Chúa
như chị phụ nữ Canaan.
Điểm gợi ư:
i. Thái độ của các chị phụ nữ
Cái ǵ đă làm chị phụ nữ không bỏ
cuộc?
ii. Thái độ của các tông đồ
Không biết có phải v́ thương chị
phụ nữ không mà các tông đồ xin Đức Giêsu
“bảo chị đó về đi.” Có bảo chị ta
cũng không về nếu chị ta không được
điều chị ta ao ước và xin. Hay các tông
đồ cảm thấy bị phiền nhiều v́
chị ta cứ đi theo?
iii. Thái độ của Đức Giêsu
Không được vứt bánh của con cho chó!
Nhưng chó con cũng được ăn miếng bánh
vụn rơi từ bàn của chủ.
Đức tin của chị rất mạnh.
Đức Giêsu có vẻ thua chị phụ nữ
trong việc này. Không phải vậy. Việc để
thấy t́nh yêu của Thiên Chúa cho dân ngoại.
T́nh yêu của người mẹ có thể cứu
con ḿnh. T́nh yêu của chúng ta cũng có thể cứu
người khác.
Tâm sự: Với Đức Giêsu, Đấng
sẵn sàng bỏ ư ḿnh để theo ư Chúa Cha, khi Ngài
nhận ra Thiên Chúa đă can thiệp ban đức tin cho
chị phụ nữ.
Thiên Chúa là ai?
Con người là ai? Con người
được sinh ra để làm ǵ?
Vũ trụ là ǵ? Đâu là giá trị của
thực tại trần gian?
Đâu là tương quan giữa Thiên Chúa, con
người và vũ trụ?
Những bài cầu nguyện trong chủ đề
này giúp chúng ta có cái nh́n đúng đắn về Thiên Chúa,
vũ trụ và con người.
Khung cảnh: Đức Giêsu ở Nadarét.
Ơn xin: Nhận biết con người là tạo
vật, được Thiên Chúa yêu thương. Nhận
biết giá trị đích thực của con người. Tâm
t́nh tùy thuộc Thiên Chúa.
Điểm gợi ư:
i. Chúa tạo dựng tất cả bằng Lời
Ngài
Tŕnh thuật văn chương tư tế
diễn tả Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ qua
lời (Ngài phán). Tŕnh thuật văn chương b́nh dân
diễn tả Thiên Chúa tạo dựng bằng nắn, v.v.
ii. Thiên Chúa tạo dựng con người giống
h́nh ảnh Thiên Chúa, và là chóp đỉnh công tŕnh sáng tạo
Chúa tạo dựng mọi sự đều
tốt đẹp; sau khi tạo dựng con người
Ngài thấy rất tốt đẹp.
H́nh ảnh Thiên Chúa: Thiên Chúa là Đấng thiêng
liêng không có thân xác như con người; Ngài là Đấng
khôn ngoan, yêu thương, thống trị tất cả,
v.v.
iii. Chúa trao tất cả vào tay con người
Bá chủ cá biển chim tṛi.
Tâm sự: Với Cha, với Thánh Thần sáng
tạo, và với Chúa Con như Lời Thiên Chúa.
Khung cảnh: H́nh dung con người chỉ là một
tạo vật bé nhỏ giữa một vũ trụ bao la.
Ơn xin: Cảm nghiệm Thiên Chúa yêu thương
con người, đặt con người trên tất
cả.
Điểm gợi ư:
i. Con người là ai, tôi là ai khi tôi nh́n bầu
trời trong một đêm đầy tinh tú?
Con người thật bé nhỏ trong vũ trụ
nhưng là tạo vật được Thiên Chúa yêu
thương hết mực.
ii. Thiên Chúa tạo dựng con người giống
h́nh ảnh Ngài
Giống h́nh ảnh Thiên Chúa nghĩa là ǵ?
Tại sao Ngài yêu thương con người
như vậy?
Tâm sự: Ca tụng Thiên Chúa như tác giả Thánh
vịnh. Tâm t́nh tạ ơn.
Khung cảnh: Đức Giêsu chết thê thảm
trên thập giá.
Ơn xin: Cảm nghiệm thẳm sâu t́nh Chúa yêu
tôi.
Điểm gợi ư:
i. Điều tôi cho là quan trọng nhất trong
đời là ǵ?
Được kính trọng, hay tiền bạc
lợi lộc?
Thiên Chúa yêu tôi vô cùng (Ga 3:16), đó là điều vô
cùng quan trọng mà tôi cần biết!
ii. Bằng chứng t́nh yêu?
Ngài ban Con Một Ngài cho tôi.
Ngài ban Thánh Thần cho tôi.
Chúa Giêsu chết cho tôi, Ngài thành lương thực
nuôi sống tôi.
Tâm sự: Với Ba Ngôi Thiên Chúa, Đấng yêu
thương tôi vô cùng.
Khung cảnh: Đức Giêsu giảng dạy các
tông đồ và dân chúng; như tôi đang hiện diện
ở đó giữa các tông đồ.
Ơn xin: Cảm nghiệm t́nh Chúa yêu tôi qua việc
Ngài luôn can thiệp, quan pḥng chăm sóc tôi.
Điểm gợi ư:
i. Chớ quá lo ăn ǵ mặc ǵ
Trong cuộc sống, tôi đă bận tâm về
điều ǵ?
Điều ǵ làm tôi lo lắng nhất? Tại sao
vậy?
ii. Tiên vàn hăy t́m kiếm Nước trước
đă
T́m kiếm Nước Thiên Chúa, là ǵ?
Tôi có mong ước t́m kiếm nên thánh, cho tôi và cho
những người tôi yêu thương?
iii. Tôi có tin rằng Thiên Chúa yêu tôi không? Và tôi có dám
phó thác đời tôi cho Ngài không?
Tôi có chấp nhận cha mẹ, anh chị em,
họ hàng của tôi không?
Tôi có chấp nhận hoàn cảnh hiện tại
của tôi không?
Tôi có cằm ràm oán trách Thiên Chúa bao giờ không?
Tôi có chấp nhận những ǵ xảy đến
cho tôi trong quá khứ không?
Thiên Chúa là ai đối với tôi? Người tôi
yêu nhất, năng nhớ đến nhất, luôn cần
Ngài nhất (tỏ hiện bằng việc cầu xin
với Ngài), đặt Ngài trên mọi chuyện và trên
mọi ưu tiên khác?
Nếu tôi không dám phó thác đời tôi cho Chúa, e
rằng tôi chưa tin Chúa yêu tôi vô cùng. Nếu tôi chưa
chấp nhận những người thân yêu, hoàn cảnh,
v.v., th́ e rằng tôi chưa tin Thiên Chúa yêu thương tôi vô
cùng.
Tâm sự: với Thiên Chúa là Đấng luôn yêu tôi,
Ngài luôn nh́n xem, để ư và chăm sóc tôi!
Khung cảnh: Đức Giêsu trên thập giá.
Ơn xin: Thấy và cảm nghiệm t́nh yêu của
Thiên Chúa đối với tôi.
Điểm gợi ư:
Có thể đọc chậm chậm thánh thi, suy nghĩ,
và cầu nguyện.
i. Thiên Chúa yêu thương tạo dựng tôi trong Đức
Kitô
Tôi không t́nh cờ hiện hữu, nhưng có trong
chương tŕnh của Thiên Chúa.
ii. Thiên Chúa yêu thương cứu chuộc tôi trong
và nhờ Đức Giêsu Kitô
Nhờ Đức Giêsu Kitô tôi được
cứu: được tha tội và sống trong ân nghĩa
với Thiên Chúa.
iii. Thiên Chúa ban tất cả cho tôi trong và nhờ Đức
Kitô
Tôi được tất cả, triển nở và
hạnh phúc, nhờ và trong Đức Kitô.
Tâm sự: với Chúa Cha, Chúa Con và Thánh Thần.
Khung cảnh: Đặt ḿnh hiện diện trong
khung cảnh một người con được cha
mẹ thương yêu nhiều.
Ơn xin: Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh
được cảm nghiệm rơ Thiên Chúa yêu thương
ḿnh, và Ngài sẵn sàng làm tất cả để ḿnh
thuộc về Ngài.
Điểm gợi ư:
i. Thiên Chúa muốn cho tất cả mọi
người được cứu độ (1Tm 2:4)
Con người vẫn tự do, có thể làm trái
thánh ư Thiên Chúa! Thiên Chúa biết con người phạm
tội chống lại Ngài, dù Ngài không muốn điều
đó.
ii. Nếu Thiên Chúa pḥ ta, ai có thể chống
lại được ta?
iii. Không ai, không ǵ có thể tách tôi khỏi tay Thiên
Chúa
Không phải v́ tôi yêu Chúa đến độ
đó, nhưng bởi v́ Thiên Chúa giữ tôi.
Thiên Chúa yêu thương tôi như vậy, tôi c̣n
sợ ǵ? Không ai có thể làm được ǵ tôi, kể
cả thiên thần thiên phủ, hiện tại tương
lai. Chấp hết.
Tâm sự với Chúa, xin Chúa cho ḿnh quảng
đại đáp trả t́nh yêu Thiên Chúa đối với
ḿnh.
Khung cảnh: hiện diện trong biến cố
người ta xin Đức Giêsu can thiệp để chia
tài sản.
Ơn xin: thấy rơ giá trị của thực
tại trần thế và ơn chọn Thiên Chúa trên hết.
Điểm gợi ư:
i. Của cải đối với người
đ̣i chia gia tài
Thái độ của nhiều người
đối với của cải: ngay cả người
thân trong gia đ́nh cũng kiện tụng nhau, thậm chí
từ bỏ nhau, đánh nhau, giết nhau!
ii. Thái độ của người phú hộ
đối với của cải?
Cái chết phá hủy mọi toan tính suy nghĩ
của người phú hộ.
Cái chết giúp người ta biết suy nghĩ
toan tính của ḿnh có đúng không!
Tôi lo lắng toan tính nhiều điều, nhưng
đêm nay tôi chết, th́ những toan tính bận tâm có ích ǵ?
iii. Phản ứng của Đức Giêsu hàm
chứa ǵ?
Thiên Chúa yêu thương tôi vô cùng. Đây mới là
điều quan trọng. Tôi có biết điều đó
không?
iv. Tôi đă coi tiền của như thế nào?
Tâm sự: với Chúa Giêsu, với Chúa Cha, và với
Chúa Thánh Thần.
Khung cảnh: Đức Giêsu chết thê thảm
trên thập giá.
Ơn xin: chọn Thiên Chúa trên tất cả, và b́nh
tâm với mọi tạo vật: “sao cũng
được.”
Điểm gợi ư:
i. Thiên Chúa là cứu cánh của tôi
Con người được sinh ra để làm
ǵ? Con người đi về đâu? Đâu là ư nghĩa
của đời người?
ii. Vũ trụ là phương tiện cho tôi
đến với Thiên Chúa
Đâu là chỗ đứng của vũ trụ
vạn vật trong chương tŕnh của Thiên Chúa?
Trong cách sống của tôi, vũ trụ vạn
vật là điểm đến hay là phương tiện?
Thái độ của tôi đối với tiền
bạc, danh vọng, địa vị?
iii. Thái độ của con người phải có
đối với Thiên Chúa và tạo vật: b́nh tâm
Tôi có t́m Chúa trong đời sống của tôi không?
Thiên Chúa có là nhất? Ư Thiên Chúa có là nhất
đối với tôi không? Tôi có chọn Thiên Chúa và thánh ư
Ngài trên tất cả không?
Tâm sự: với Đức Giêsu, Đấng
đặt Thiên Chúa trên tất cả dù rằng Ngài phải
chết.
Khung cảnh: Chị Maria ngồi dưới chân
Chúa nghe Chúa giảng dạy.
Ơn xin: Chọn Thiên Chúa: chọn sống với
Ngài và gặp gỡ Ngài trên tất cả.
Điểm gợi ư:
Cách cầu nguyện là nh́n nghe quan sát, suy nghĩ rút
ích lợi.
i. Chọn lựa và cách sống của chị
Maria.
Thiên Chúa, Đức Giêsu, và lắng nghe lời Ngài.
ii. Cách sống phản ánh quan điểm của
chị Martha
Chị muốn phục vụ Chúa và các môn
đệ Ngài một cách cụ thể qua việc chuẩn
bị đồ ăn cho các ngài.
Chị có giới hạn: đ̣i Maria phải
chọn lựa và làm giống chị.
iii. Quan điểm chọn lựa nào
được phản ảnh qua cách sống của tôi?
Tôi có chọn Chúa và thánh ư Ngài cho tôi không?
Tôi có đ̣i người khác phải theo ư riêng
của tôi không?
Chúa mời gọi tôi điều ǵ?
Tâm sự: với Chúa, Đấng phê chuẩn
chọn lựa của chị Maria.
Khung cảnh: hiện diện trong cuộc gặp
gỡ và trao đổi giữa Đức Giêsu và
người biệt phái.
Ơn xin: Sống yêu thương chân thực
như Chúa yêu thương chúng ta.
Điểm gợi ư:
i. Yêu Chúa hết trái tim, hết linh hồn, hết
trí khôn, hết sức lực
Thiên Chúa là nhất, là trên hết.
ii. Yêu anh em như yêu ḿnh, như Chúa yêu thương
con người
Ai nói yêu Chúa mà ghét anh em ḿnh, th́ đó là kẻ nói
dối (1Ga 4:20).
Yêu mến tha nhân, là dấu chỉ cho biết ḿnh
yêu mến Thiên Chúa.
Tâm sự: với Đấng chết v́ yêu.
Khung cảnh: Như hiện diện trong biến
cố người bị nạn được cứu
vớt.
Ơn xin: cho ḿnh biết thương cảm
người khác, và tận tâm giúp đỡ người ta.
Điểm gợi ư:
i. Thái độ của tư tế và biệt phái
Có khi nào tôi có thái độ giống như
người biệt phái đối với anh chị em
sống xung quanh tôi?
ii. Thái độ của người ngoại
Samaritanô nhân hậu
Động ḷng thương, là thái độ
của người Samaritanô nhân hậu.
Tôi có động ḷng thương những
người khốn khổ xung quanh tôi?
iii. Trong đời thường tôi đă sống
như thế nào?
Tôi có hay giúp đỡ tha nhân, hoặc những
người trong gia đ́nh tôi không?
Tôi có nhận ra nỗi khổ của những
người sống xung quanh không?
Tâm sự: với Thiên Chúa, Đấng luôn
thương cảm chúng ta khi chúng ta xúc phạm đến
Ngài.
Những ghi chú này được nhắc cho thao
viên ngay từ ngày đầu làm Linh thao, sau những lần
cho điểm cầu nguyện, nhưng sẽ nhắc làm
nhiều lần, để mỗi lần cho điểm
không quá 30 phút, nhằm bảo đảm giờ cầu
nguyện.
Mỗi lần cầu nguyện kéo dài một
tiếng đồng hồ (LT 12.13), và sau đó xét ngắm
15 phút (LT 77).
Trong ngày luôn nhớ đến Chúa và tâm t́nh cầu
nguyện (LT 78.130.206.229).
Nhớ xét ḿnh riêng (LT 90.24-31) về ḷng quảng
đại đối với Chúa trong thời gian Linh thao
(LT 5), dựa vào các điều phụ thêm (LT 73-82).
Nên cho người hướng dẫn biết
những dao động thao viên cảm thấy (LT 17),
để có thể được giúp đỡ hiệu
qủa hơn.
Xét gẫm để biết ḿnh cầu nguyện
có tốt không! Cầu nguyện được hay không,
không chỉ là do chúng ta cố gắng, nhưng chính yếu
là nhờ ơn của Chúa.
Cứ b́nh thường th́ Chúa cho cầu nguyện
được (nghĩa là được an ủi thiêng
liêng), nhưng nhiều ít khác nhau, chẳng hạn thấy
yêu Chúa hơn, không thể yêu tạo vật nào v́ chính nó
nhưng chỉ yêu nó trong Chúa, hoặc thấy ḿnh thêm ḷng
tin cậy b́nh an và hạnh phúc, v.v. Nếu thấy
được điều này (LT 316) th́ hăy tạ ơn
Chúa, c̣n nếu cầu nguyện không được (LT 317),
hăy xét xem có phải tại ḿnh mà cầu nguyện không
được không, hay tại Chúa muốn tôi luyện ḿnh,
hoặc muốn dạy ḿnh một bài học nào đó (LT
322)? Nếu thấy tại lỗi ḿnh mà cầu nguyện
không được, th́ hăy xin lỗi Chúa, và cố gắng
quảng đại hơn nữa với Chúa qua việc
giữ các điều phụ thêm.
Về việc đọc sách nên thận trọng
để tránh chia trí, ngay cả những sách đạo
đức không hợp với ơn xin của bài linh thao
(LT 11.127). Những sách, hoặc đúng hơn, những
đoạn sách hợp với chủ đề cầu
nguyện có thể được dùng (LT 100).
Những bài cầu
nguyện được chỉ dẫn kỹ lưỡng
đầu tiên trong sách Linh Thao của thánh Inhaxiô, là
những bài về tội: về ba tội, về tội
tôi, và về hỏa ngục.
Vào thời gian
khởi đầu giúp đỡ các linh hồn, thánh Inhaxiô
giúp Linh Thao cho riêng từng người một, và tùy
người tập Linh Thao đạt yêu cầu của
tuần thứ nhất mau hay chậm mà người đó
sẽ qua tuần thứ hai.
Tôi là ai? Tôi là ai
đối với Thiên Chúa và tha nhân? Mục đích và yêu
cầu của những bài cầu nguyện về tội
là ǵ? Như thế nào th́ được coi là đạt
yêu cầu của tuần thứ nhất này?
Tôi là một tội
nhân nhưng được Thiên Chúa yêu thương vô cùng!
Chúng ta sẽ xét về hai phương diện: trí và tâm.
Làm sao để
mỗi người thấy sự xấu xa ác hại
của tội và nhận biết thực sự rằng
ḿnh là tội nhân.
Nhận biết rơ
về chính ḿnh và thân phận hèn yếu của ḿnh không
phải là chuyện dễ dàng. Có người cho rằng
ḿnh không có tội, ḿnh chẳng phạm tội ǵ! Có người
cũng cho rằng ḿnh là một tội nhân, nhưng ai mà
không phạm tội, bản tính[10] con người mà?!
Nếu người
nào suy nghĩ như vậy, th́ họ sai lầm! Tội là
hành vi tự do của con người, tôi cố t́nh làm điều tôi thấy tôi không nên làm và không
được phép làm.
Chính hành vi tự do
“cố t́nh làm điều tôi không được phép làm,”
đă làm biến dạng con người tôi, khiến tôi
không c̣n đẹp như trước nữa, khiến tôi
không c̣n dễ thương và đáng yêu như trước
nữa. Do phạm tội, tôi đă làm mất phẩm giá
con người ḿnh, và làm tôi “xấu như qủy.”
Tội không phải
là thực tại ngoài ḿnh, nhưng do ḿnh mà ra, là chọn
lựa tự do của ḿnh. T́nh trạng tội là hậu
qủa chọn lựa cố
t́nh của ḿnh, do chính hành vi tự do của ḿnh làm thành.
Thiên Chúa muốn con
người luôn sống yêu thương, để mỗi
ngày một đẹp hơn, dễ thương hơn và
tự do hạnh phúc hơn. Không làm theo ư Thiên Chúa là tội.
Không làm theo những ǵ lương tâm thấy là đúng là
tốt cho ḿnh, là không làm theo ư Thiên Chúa.
Tội là không vâng
lời Thiên Chúa, nhưng không phải chỉ là không vâng
lời Thiên Chúa, mà c̣n là xúc phạm đến Thiên Chúa, không tin rằng Thiên Chúa yêu
thương ḿnh và muốn làm những điều tốt
lành cho ḿnh.
Thiên Chúa yêu
thương chúng ta trong lúc chúng ta c̣n là tội nhân (Rm 5:8).
Cảm nghiệm t́nh yêu Thiên Chúa đối với ḿnh và ao
ước trở về với Ngài, là yêu cầu mà mỗi
người làm Linh Thao phải đạt được
trong tuần thứ nhất.
Tội là hành vi
từ chối Thiên Chúa, không c̣n yêu thương thuận
phục Thiên Chúa nữa.
Hai người yêu
nhau luôn muốn làm hài ḷng nhau, họ không muốn làm trái ư
nhau; chỉ một hành vi làm người kia buồn, là
họ đă lo lắng và muốn chuộc lại lỗi
lầm, cho dù đó chỉ là xúc phạm nhỏ. Cũng
vậy người ta chỉ cảm thấy tội ḿnh
thực nặng nề và muốn trở về với Thiên
Chúa khi cảm nhận Thiên Chúa yêu thương ḿnh vô cùng.
Thiên Chúa yêu
thương chúng ta vô cùng. Chính v́ yêu thương nên Ngài luôn
trông chờ chúng ta trở lại với Người, và
Người sẵn sàng tha thứ cho chúng ta khi chúng ta
thống hối.
Những bài cầu
nguyện về tội không nhằm làm chúng ta bị tê liệt
hay bị dằn vặt hoặc mặc cảm, nhưng
để giúp chúng ta thấy được t́nh yêu vô
bờ của Thiên Chúa khi Ngài tha thứ tội lỗi cho
chúng ta.
Đứng
trước t́nh yêu vô bờ của Thiên Chúa và thấy ḿnh
tội lỗi thấp hèn như vậy, bây giờ tôi phải làm ǵ?
Thái độ
của chúng ta là sám hối xin Thiên Chúa thứ tha, và ao
ước khao khát bắt đầu một đời
sống mới với Thiên Chúa.
Khao khát yêu mến
Thiên Chúa, xin Thiên Chúa thứ tha tội lỗi, ao ước
bắt đầu một đời sống mới
với Thiên Chúa, là tâm t́nh của một người
thống hối thật sự.
Có nhiều
đoạn Kinh Thánh có thể dùng để cầu
nguyện trong tuần thứ nhất này, ở đây
chỉ xin liệt kê một vài bản văn:
Tội Adam và Eva (St 3:1tt);
Tội Cain (St 4:1-16);
Dân Do Thái thờ ḅ
vàng (Xh 32);
Dân Do Thái vô ơn và
thử thách Thiên Chúa (Xh 15:22-17:7);
Bất công (Am 8:4-10);
Israel bất trung (Gr 3:1-4:4);
Tội dân Do Thái (Br 1:15-3:8);
Tội dân ngoại
(Rm 1:18-32);
Dửng dưng
trước người nghèo khổ (Mt 25:31-46);
Những
người mù thiêng liêng (Ga 9:1tt);
Phạm đến
Thánh Thần (Mc 3:20-30);
Tôi là tội nhân (1Ga 1:8-2:11);
Chị phụ
nữ ngoại t́nh (Ga 8:1-11);
Chị phụ
nữ thống hối (Lời Chúa.7:36-50);
Lời nguyện
thống hối (Tv 51/50);
Thiên Chúa là cha nhân
từ (Lc 15:11-24).
Thiên Chúa đă tạo dựng con người
giống h́nh ảnh Thiên Chúa, và Ngài thấy rất là
tốt đẹp! Thế nhưng con người đă
dùng tự do Thiên Chúa ban cho con người để
phạm tội phản lại Thiên Chúa.
Con người không là tội nhân theo bản tính,
thế nhưng thực tế con người là tội
nhân. Mục đích của tuần thứ nhất Linh Thao
nhằm giúp chúng ta nhận rơ thực sự chúng ta là
một tội nhân, và nhận rơ hậu quả thê thảm
đáng lẽ chúng ta phải gánh chịu do tội gây nên là
cái chết vĩnh cửu, sự bất hạnh
đời đời (nếu không được Thiên Chúa
nhập thể chết thế cho).
Mục đích của tuần thứ nhất Linh
thao được diễn tả trong ơn xin “cho ḿnh
nhận biết rơ về thực trạng con người
của ḿnh (tội nhân), và ơn sám hối trở về
với Thiên Chúa.” Mục đích của tuần thứ
nhất Linh Thao không chỉ là biết ḿnh là tội nhân,
nhưng chính yếu làm sao có ḷng ao ước khao khát
trở lại với Thiên Chúa, và cảm nghiệm
được t́nh yêu tha thứ của Thiên Chúa đối
với ḿnh.
Khung cảnh: Đức Giêsu bị hành hạ
bởi những người ác.
Ơn xin: Hiểu biết tội và sự ác
hại của tội (muốn độc lập với
Thiên Chúa, nghĩ không tốt về Thiên Chúa, không tin
tưởng phó thác nơi Thiên Chúa).
Điểm gợi ư:
i. Nguyên tổ trước khi phạm tội
Tương quan tốt đẹp với nhau và
với Thiên Chúa.
ii. Tội
Không tin vào Thiên Chúa, tin vào ma quỷ, muốn
độc lập với Thiên Chúa.
Không tin Thiên Chúa yêu thương ḿnh.
iii. Hậu quả
Không tin vào nhau, đổ lỗi cho nhau.
Lời hứa cứu độ.
Tâm sự với Chúa trên thập giá.
Khung cảnh: hiện diện khi Đức Giêsu bị
hành hạ và chết thê thảm.
Ơn xin: cảm nhận rơ giận hờn, thù oán
và giết anh em ḿnh là sống như thần dữ và
chống lại Thiên Chúa.
Điểm gợi ư:
i. Cung cách sống của Cain và Abel
Abel dâng những điều tốt nhất như
lễ vật dâng lên Thiên Chúa.
Cain cũng dâng lễ vật nhưng không phải
những điều tốt nhất.
ii. Cain giết Abel
Âm mưu và thi hành chương tŕnh giết em Abel.
Tại sao Cain giết em? Phải chăng v́ không
muốn ai hơn ḿnh? Muốn ḿnh phải là nhất?
Có toan tính xếp đặt!
iii. Em ngươi đâu?
Cain nói dối khi Thiên Chúa tra vấn.
Như một người vô trách nhiệm: tôi
đâu phải là người canh giữ em tôi.
iv. Hậu quả tội
Tội làm con người phải chết và làm con
người đau khổ.
Tâm sự: với Đức Giêsu, Đấng
chết thế cho tôi.
Khung cảnh: người Do Thái chống
đối Đức Giêsu.
Ơn xin: nhận biết rơ phạm tội là hành
xử như ma quỷ, phạm tội chống lại
Thiên Chúa là đứng về phe ma quỷ và làm nô lệ ma
quỷ.
Điểm gợi ư:
i. Người Do thái t́m giết Đức Giêsu
Câu 40 và 59! Tại sao?
Cung cách hành xử của người Do Thái
phản ảnh họ giống ai: “Các ngươi bởi
cha tức là quỷ mà ra” (c. 44).
ii. Thái độ của Đức Giêsu
Nói sự thật: Ngài đến từ Thiên Chúa (c.
40).
Ngài mặc khải chân tướng của Ngài
nhưng chẳng ai tin.
Tâm sự với Chúa Giêsu chết treo thập giá.
Khung cảnh: Như ḿnh hiện diện trước
biến cố Đức Giêsu bị hành hạ.
Ơn xin: Cảm nhận ḿnh là tội nhân; ghê
tởm tội lỗi ḿnh; thấy rơ những lệch
lạc trong tư tưởng, lời nói, hành động
của ḿnh; thấy rơ sự phù phiếm của thế gian
và những cám dỗ của nó.
Điểm gợi ư:
Xem lại suy nghĩ của ḿnh, tiêu chuẩn b́nh
thường dựa vào để đánh giá.
Lời nói: ư hướng khi nói ...
Hành động: động lực thúc đẩy
hành xử ...
Tâm sự: Nói chuyện thân thưa với
Đức Giêsu chịu khổ h́nh v́ tội tôi.
Khung cảnh: H́nh ảnh dân Do Thái ăn tiệc và
“đú đởn” sau khi lễ tế thờ ḅ vàng.
Ơn xin: tội là muốn điều khiển
Thiên Chúa theo ư ḿnh.
Điểm gợi ư:
i. Con người muốn làm Thiên Chúa theo ư ḿnh!
Đồng nhất Thiên Chúa và tạo vật là
tội, muốn tạo h́nh Thiên Chúa để điều
khiển Thiên Chúa theo ư ḿnh cũng là tội.
Xem trong đời tôi, tôi có muốn điều
khiển Thiên Chúa theo ư ḿnh không?
ii. Thiên Chúa nhân từ tha thứ
Thiên Chúa làm cho Môsê yêu dân, cầu khẩn cho dân,
để Thiên Chúa tha thứ cho dân.
Tâm sự:
Thân thưa với Thiên Chúa nhân từ và hay tha
thứ.
Khung cảnh: H́nh dung quang cảnh dân Do Thái phản
kháng Môsê.
Ơn xin: Nhận biết ḿnh là tội nhân, đă
có những lần ḿnh có thái độ vô ơn đối
với Thiên Chúa dù Thiên Chúa rất mực yêu thương
ḿnh, đă có nhiều lần ḿnh muốn làm áp lực
với Thiên Chúa, muốn bắt Thiên Chúa làm theo ư ḿnh.
Điểm gợi ư:
i. Nước đắng ở Mara
Không có nước: thay v́ van xin Thiên Chúa
thương ban nước th́ càm ràm than trách Thiên Chúa.
ii. Manna và chim cút
Không có bánh ăn, thay v́ xin Thiên Chúa th́ than trách,
đ̣i ném đá Môsê …
Chúa vẫn nhân từ ban Manna cho dân ăn.
iii. Nước từ tảng đá.
Cũng tương tự vậy khi không có
nước uống …
Tâm sự:
Xin ơn ban cho ḿnh ơn hoán cải đổi
đời, biết luôn khiêm tốn nài xin, và ḷng biết
ơn.
Khung cảnh: H́nh dung đời sống vất
vả lam lũ cực khổ của những người
lưu đày.
Ơn xin: Xin cho ḿnh ơn khiêm tốn, nhận
biết những lỗi lầm trong đời ḿnh như
dân Do Thái đă nhận ra lỗi lầm của họ khi
lưu đày.
Điểm và Tâm sự: đọc chậm
chậm và dừng lại cầu nguyện như
được thúc đẩy.
Nh́n lại những hồng ân và lầm lỗi, ghi
lại những điều này;
Cầu nguyện dựa trên hồng ân và những
lỗi lầm này.
Khung cảnh: Đặt ḿnh hiện diện khi
người giầu hà hiếp bóc lột người nghèo.
Ơn xin: Xin cho ḿnh được nhận
biết: bất công, làm hại người nghèo là chống
lại Thiên Chúa.
Điểm gợi ư:
i. Người giàu đặt của cải trên
Thiên Chúa và anh em
Chỗ đứng của Thiên Chúa và con
người đối với người giầu?
Tiền bạc là quan trọng đối với họ
Tôi có coi điều ǵ quan trọng hơn con
người, anh chị em, sống xung quanh tôi?
ii. H́nh phạt xảy tới cho con người,
đặc biệt cho người giầu
H́nh phạt không là điều ác thực. Không
phải Thiên Chúa phạt cho bằng nó giúp con người
nhận biết sự thật về chính ḿnh và trở
lại với Thiên Chúa và anh em.
Tâm sự: Nói chuyện với Chúa, xin Chúa cho ḿnh
biết thương cảm người nghèo, và trở nên
người nghèo của Thiên Chúa, nghĩa là chỉ
đặt niềm cậy trông hy vọng nơi Thiên Chúa
chứ không nơi người đời hoặc tiền
của.
Khung cảnh: Đặt ḿnh hiện diện trong bầu
khí dân Do Thái thờ thần ngoại.
Ơn xin: Xin Chúa cho ḿnh được nhận ra
ḿnh đă nhiều lần trong đời từ chối và
phản bội t́nh yêu Thiên Chúa đối với ḿnh, cho
ḿnh cảm nghiệm Thiên Chúa là Đấng trung thành.
Điểm gợi ư:
i. Bỏ chồng làm đĩ, liệu c̣n có
thể trở về với chồng không?
Thờ thần ngoại, cũng giống như
một người làm đĩ. Dân Israel đă thờ
thần ngoại.
ii. Dầu vậy, Thiên Chúa vẫn mời gọi và
chờ mong Israel trở về với Người
Thái độ của tôi đối với Thiên Chúa
như thế nào? Tôi có coi điều ǵ quan trọng hơn
Thiên Chúa không? Nếu có, th́ chẳng khác nào tôi thờ
thần ngoại.
Tâm sự: Nói chuyện với Chúa, xin Chúa cho ḿnh
hiểu biết Thiên Chúa t́nh yêu hơn, Đấng đă yêu
thương dân Israel và tôi với một t́nh yêu "điên.”
Xin cho ḿnh ơn trở lại với Thiên Chúa t́nh yêu.
Khung cảnh: Đặt ḿnh hiện diện trong
khung cảnh con người tội lỗi chiều theo
dục vọng của ḿnh, làm trái với những ǵ tự
nhiên Thiên Chúa tạo dựng.
Ơn xin: Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh
được hiểu biết tội là phản lại chống
lại ơn gọi làm người (tốt, thánh thiện).
Điểm gợi ư:
i. Cố t́nh không muốn biết Thiên Chúa, không t́m
kiếm Thiên Chúa, tự kiêu tự măn cho ḿnh là đủ
Ngoan cố, dừng lại nơi khoái lạc xác
thịt, không vươn lên như được mời
gọi.
Chiều theo xác thịt, thỏa măn dục tính thú
tính nơi ḿnh, không vươn lên.
ii. Đi ngược với ơn gọi con
người
Không yêu thương, không động ḷng
trước nỗi khổ nỗi khốn cùng của anh
chị em đồng loại.
Không vâng lời Thiên Chúa qua các giới răn …
Đặt ḿnh là nhất.
iii. Độc dữ, bất công
Hăm hại người khác. Dùng người khác
thỏa măn dục vọng của ḿnh, v.v.
Tâm sự: Nói chuyện thân thưa với Chúa, xin
Chúa cho ḿnh thấy rơ tội là hành vi làm mất phẩm giá
con người.
Khung cảnh: Đặt ḿnh hiện diện trong
ngày Chúa đến trong vinh quang.
Ơn xin: Xin Chúa cho ḿnh được ơn cảm
nhận rơ: không yêu thương th́ không thể là con Thiên
Chúa.
Điểm gợi ư:
i. Thiên Chúa là T́nh Yêu, ai ở trong T́nh Yêu th́ ở
trong Thiên Chúa (1Ga 4:8.16)
Thiên Chúa là ai? Đấng yêu thương.
Thiên Chúa yêu thương nên ban cho chúng ta hết
điều này đến điều khác: sự sống,
được làm người, biết Thiên Chúa, biết
Đức Giêsu, v.v.
ii. Saolô Saolô, sao người bắt bớ ta (Cv 9:4)
Bắt bớ Kitô hữu là bắt bớ
Đức Giêsu Kitô. Đức Giêsu Kitô đồng hóa ḿnh
với các Kitô hữu.
iii. Khi các ngươi làm cho một trong những
người bị bắt bớ tù đầy, là các
ngươi làm cho chính Ta
Không làm cho những người nghèo hèn, là không làm
cho Chúa (c. 45). Đức Giêsu Kitô đồng hóa ḿnh với
người nghèo hèn, bất kể là Kitô hữu hay không.
Tâm sự: Nói chuyện thân thưa với Chúa, xin
Chúa cho ḿnh có con tim của Chúa, chỉ biết yêu mà thôi.
Khung cảnh: Đặt ḿnh hiện diện khi Giêsu
chữa lành người mù từ thuở mới sinh này.
Ơn xin: Xin Chúa cho ḿnh được ơn
nhận ra ḿnh cũng là những người mù, và xin Chúa
mở mắt và giải phóng ḿnh.
Điểm gợi ư:
i. Biến cố Chúa chữa lành người mù
Nhổ nước miếng, làm bùn, trét vào mắt
người mù. Anh ta để cho Đức Giêsu làm; ở
vào trường hợp tôi, tôi có để Chúa làm như
vậy không?
Đức Giêsu nói anh ta đi rửa ở hồ
Siloác, anh ta đă đi. Ở vào trường hợp tôi,
tôi có sẵn sàng làm không?
ii. Thái độ cha mẹ người mù: "khôn
ngoan"
Cha mẹ người mù bị hỏi tại sao
con của họ sáng mắt, họ nói hăy hỏi nó; Cha
mẹ người mù tránh trả lời v́ sợ bị
trục xuất khỏi hội đường. Cha mẹ
người mù khôn.
Tôi có hay “khôn” như cha mẹ người mù không?
Không dám nói sự thật.
iii. Thái độ người biệt phái
Ác ư, muốn kết tội Đức Giêsu v́ không
giữ ngày sabbát.
Họ nô lệ việc giữ ngày sabbát, họ
không biết ngày sabbát được lập ra v́ con
người.
iv. Thái độ của người mù
Ngoan ngoăn, can đảm: để cho Đức
Giêsu làm điều Ngài muốn làm, làm điều
Đức Giêsu dạy, dám nói nói lên sự thật chứ không
sợ hăi, v.v.
Tâm sự: Nói chuyện với Chúa, xin Chúa cho ḿnh
nhận ra những tật mù của ḿnh, và xin Ngài chữa
lành ḿnh.
Khung cảnh: Như ḿnh hiện diện khi dân Do
Thái ngoan cố trước những hành động
Đức Giêsu làm.
Ơn xin: Xin Chúa cho ḿnh được ơn nhận
rơ: ngoan cố và thành kiến, là không vâng phục Thánh
Thần.
Điểm gợi ư:
i. Vi phạm thập giới
Lỗi thập giới, là làm tổn thương
tha nhân và chính ḿnh.
ii. Không nghe tiếng lương tâm, không vâng
phục Thánh Thần Thiên Chúa nói với ḿnh trong tâm hồn
Ngoan cố, thành kiến, ác tâm.
Đặt ḿnh là nhất, đặt ḿnh trên Thiên
Chúa, tha nhân chỉ là phương tiện.
Tâm sự: Thân thưa với Chúa Giêsu chết treo
trên thập giá, xin cho ḿnh ơn trở lại với Chúa,
để ngoan ngoăn dễ dạy với Thánh Thần.
Khung cảnh: Đặt ḿnh hiện diện trong tâm
t́nh một tử tù chờ ngày hành quyết.
Ơn xin: Xin Chúa cho ḿnh được ơn cảm
nghiệm (chứ không phải chỉ biết bằng lư
trí) ḿnh là tội nhân, và được ơn sám hối cách
trọn.
Điểm gợi ư:
i. Không yêu
Không động ḷng trước nỗi khổ
của tha nhân, không giúp đỡ, không tha thứ, v.v.
ii. Không yêu hết ḿnh, không sống tất cả
cho t́nh yêu
Không tự hủy để yêu thương giúp
đỡ tha nhân như Đức Giêsu mời gọi.
Tâm sự: Nói chuyện với Chúa Giêsu trên thập
giá, xin Chúa cho ḿnh nên giống Chúa, sống cho T́nh Yêu và
chết cho T́nh Yêu!
Khung cảnh: Như thấy vua David mặc áo thô
ngồi trên tro ăn năn sám hối tội lỗi ḿnh.
Ơn xin: Xin Chúa cho ḿnh được ḷng thống
hối chân thành như Đavid xưa.
Điểm gợi ư:
i. Đọc II Sam.11-12 để thấy tội
của David
Đoạt vợ của bề tôi; không dám
nhận tội cướp vợ người ta nên xếp
đặt để Urigia về ngủ với vợ; âm
mưu không thành nên quyết định giết Urigia;
để làm được điều này bao quân sĩ
phải chết theo, v.v.
ii. Tội tôi
Nhớ lại tội ḿnh đă phạm trong
suốt đời (mà ḿnh đă cầu nguyện trong bài
tội tôi).
iii. Đọc chậm chậm Thánh Vịnh 50, và
dừng lại cầu nguyện như ḿnh muốn hoặc
được thúc đẩy.
Tâm sự: Thân thưa với Chúa, xin Chúa cho ḿnh
đổi đời, trở về với Chúa thực
sự.
Khung cảnh: Đặt ḿnh hiện diện trong
khung cảnh người cha tựa cửa chờ mong
người con trở về.
Ơn xin: Xin Chúa cho ḿnh được ơn nhận
biết ḿnh là tội nhân tận xương tủy cơi ḷng,
và xin ơn trở về với Chúa thực sự.
Điểm gợi ư:
i. Tội của người con thứ
Dứt nghĩa đoạn t́nh ra đi không thèm
để ư đến nỗi khổ của người
cha; hoang phí tiền của với mồ hôi vất vả
của người cha; hoang đàng, v.v.
ii. Thái độ của người con
trưởng
Như người làm thuê; không triển nở
hạnh phúc; đặt tiền bạc trên người em
ḿnh; không coi t́nh cha và người em là quan trọng, v.v.
iii. Tâm t́nh của người cha
Luôn luôn chờ mong con quay đầu trở về
(người con phung phá, đói, khổ, hối hận,
quyết định trở về, trở về, v.v.).
Người cha tiếp đón, không để ư đến
quá khứ và lỗi lầm của người con.
Người cha chạy tới với người con hoang
đàng, không chờ nó nói lời sám hối và xin tha thứ.
Năn nỉ người con trưởng, v.v.
Con là quan trọng, người con thứ lẫn
người con trưởng. Không nghĩ tới
địa vị của ḿnh, không cần giữ sĩ
diện, v.v.
Tâm sự: Nói chuyện thân thưa với Chúa, xin
Chúa cho ḿnh tin tưởng Thiên Chúa yêu thương ḿnh, xin
cho ḿnh ơn trở lại thực sự.
Khung cảnh: Như ḿnh hiện diện khi
người ta dẫn chị phụ nữ ngoại t́nh
đến với Đức Giêsu.
Ơn xin: Xin Chúa cho ḿnh được ơn cảm
nghiệm t́nh yêu Thiên Chúa qua Đức Giêsu.
Điểm gợi ư:
i. Thái độ của chị phụ nữ
ngoại t́nh
Sợ sệt, hổ thẹn, tuyệt vọng …
Đi vào ḷng chị, chị có hối hận không,
chị nói ǵ với Thiên Chúa?
ii. Thái độ của biệt phái và kư lục
Nghiêm khắc, tàn nhẫn không thương xót, và
đắc thắng.
Âm mưu gài bẫy hăm hại Đức Giêsu!
iii. Cung cách cư xử của Đức Giêsu
Kiên nhẫn và nhân hậu! Ai trong các ông vô tội ...
Tôi không kết án chị, hăy đi và đừng
phạm tội nữa.
Đi vào ḷng Đức Giêsu, để hiểu Ngài
hơn.
Tâm sự: Thân thưa với Chúa, xin Chúa cho ḿnh
cảm biết t́nh yêu của Ngài qua những lần Ngài tha
thứ cho ḿnh.
Khung cảnh: Như ḿnh hiện diện trong bữa
tiệc khi chị phụ nữ thống hối khóc
dưới chân Đức Giêsu khi Ngài đang dùng bữa.
Ơn xin: Xin Chúa cho ḿnh được ơn
nhận biết ḿnh là tội nhân, ơn thống hối
chân thành v́ Thiên Chúa yêu ḿnh vô cùng.
Điểm gợi ư:
i. Thái độ và tâm t́nh của chị phụ
nữ
Dám vào nhà người biệt phái (có thể bị
đuổi, v.v.)
Thống hối tột cùng nên không ngại
điều ǵ nữa, muốn trở lại, cần
được xác chuẩn.
ii. Thái độ của người biệt phái
đối với chị phụ nữ “nổi tiếng
thành phố” này
Khinh thường.
Xét đoán dựa vào quá khứ của chị
iii. Thái độ và cung cách hành xử của Đức
Giêsu
Để cho chị làm những ǵ chị muốn
làm để diễn tả ḷng sám hối; Biết từng
hành vi cử chỉ của chị, và thông cảm cùng
hiểu được từng cử chỉ hành vi của
chị; nói lời tha thứ như chị cần, v.v
Tâm sự: Thân thưa với Chúa, xin Chúa cho ḿnh có
ḷng thống hối như chị phụ nữ này.
Ao ước nên thánh, khát mong trở nên trọn lành
như Thiên Chúa là Đấng trọn lành (Lv 19:2 Mt 5:48), là
một ơn rất lớn, là chính sức sống Thiên Chúa
đặt vào ḷng ta, là chính T́nh Yêu và lửa Thánh Thần
hiện diện tác động nơi tâm hồn chúng ta.
Hăy thành khẩn xin Chúa ơn khao khát nên thánh và
thuộc trọn về Chúa. Ḷng khao khát này sẽ giúp chúng ta
sống quảng đại với Chúa trong suốt
thời gian Linh Thao và cụ thể trong ngày sống hôm nay.
Ḷng quảng đại với Chúa, ao ước
thuộc trọn về Chúa được thể hiện
trong suốt ngày: ngay từ khi thức dậy đă nhớ
đến tâm t́nh và điểm cầu nguyện (LT 74), cố
gắng cầu nguyện hết sức, và cả khi không là
giờ cầu nguyện th́ cũng luôn nhớ đến
Chúa, và xua đuổi những ǵ không hợp với
đề tài đang cầu nguyện ra khỏi tâm trí. Nói
cách khác, như thể chúng ta chỉ có một bài cầu
nguyện, và lần cầu nguyện này kéo dài suốt ngày,
từ khi thức dậy cho tới khi lên giường
ngủ.
Phải kiểm điểm giờ cầu
nguyện rất cẩn thận, xem ḿnh có đặt
tương quan sống động giữa ḿnh và Chúa
hơn là kiến thức không (LT 2), xem ḿnh có cung kính với
Chúa đủ không (LT 3), xem ḿnh có cố gắng để
gặp gỡ Thiên Chúa trong cung cách thái độ khi cầu
nguyện không (LT 76), xem ḿnh có quảng đại với
Chúa trọn vẹn không (LT 78), xem ḿnh có hy sinh tất cả
cho Chúa không (LT 79-82)? Nếu ḿnh đă chưa cố gắng
sống quảng đại với Chúa (LT 90), th́ ḿnh
phải cố gắng hơn.
Có thể đọc sách Gương Phúc
(Gương Chúa Giêsu), quyển I, chương XXI-XXV,
hoặc đọc bản dịch tác phẩm của Jean
Laplace "Một kinh nghiệm sống trong Chúa Thánh
Thần" từ trang 49-69.
Đọc LT 313-327 để nhận ra
đường lối và mưu mô của ma quỷ.
Cũng có thể đọc Jean Laplace về cùng chủ
đề trong những trang 65-69.
Nếu là linh thao trong cuộc sống hằng ngày,
th́ nên so sánh tuần này với tuần trước xem ḿnh
tiến bộ hay thụt lùi? Nếu thấy ḿnh không
tiến bộ, hăy thành khẩn xin lỗi Chúa và cố gắng
quảng đại với Ngài hơn nữa trong việc
xét ḿnh, dọn điểm, cầu nguyện, xét ngắm,
cùng giữ các điều phụ thêm, v.v.
“Tiếng gọi Vua
Đời Tạm giúp chiêm ngắm đời sống Vua
Vĩnh Cửu,” là bài cầu nguyện nằm giữa
tuần nhất và tuần hai. Bài cầu nguyện này xác
định thái độ cần thiết để có
thể cầu nguyện tốt những bài cầu
nguyện tiếp theo sau.
Ơn xin của bài
cầu nguyện này: “xin ơn đừng giả
điếc trước lời mời gọi của Chúa
nhưng mau mắn thi thành thánh ư Ngài.”
Dù chúng ta tội
lỗi, nhưng Thiên Chúa đă yêu thương tha thứ
tội lỗi và mời gọi chúng ta cộng tác với
Ngài để chinh phục thế gian, để làm cho con
người nhận biết t́nh yêu vô cùng của Thiên Chúa
đối với con người. Chúng ta có sẵn sàng
đáp trả lời mời gọi của Thiên Chúa không?
Chọn Thiên Chúa và
đặt thánh ư Ngài trên tất cả, kết hiệp
với thánh ư Thiên Chúa,[11] sẵn sàng đáp trả lời mời gọi
của Ngài dù thế nào chăng nữa, ngay cả trong khó
nghèo khổ nhục, là yêu cầu của bài cầu
nguyện này.[12]
Yêu cầu của bài
Tiếng Gọi Vua Hằng Sống, được hàm
chứa trong nhiều đoạn Kinh Thánh. Có thể dùng
những đoạn Kinh Thánh sau để cầu
nguyện:
Lời mời (Lc 5:1-11);
Hăy là thánh (Lv 19:2);
Sứ mạng (Ga 20:21);
Ơn gọi Abraham (St
12:1-9);
Đáp trả trong
vâng phục đức tin (St 22:1-10);
Ơn gọi Môsê (Xh 3:1-12);
Ơn gọi Samuel (1Sm
3:1-21);
Ơn gọi Isaia (Is
6:1-13);
Ơn gọi Giêrêmia
(Gr 1:4-19 hoặc Gr 20:7tt);
Người tôi
tớ Yahweh (Is 42:1-9; 49;50;52);
Ơn gọi Phaolô
(Cv 9:1-30); v.v.
Sám hối để
sống ơn gọi trọn vẹn hơn, đó là nỗ
lực của tất cả Kitô hữu, cả một
đời người cũng như từng ngày.
Bài linh thao này sẽ
chi phối tất cả những bài sau, nên chúng ta hăy
cố gắng để đạt được mục
tiêu của bài linh thao này với sự trợ giúp của
Chúa Thánh Thần.
Ơn xin của bài
cầu nguyện này là: xin cho chúng ta đừng giả
điếc làm ngơ trước lời mời gọi
của Đức Giêsu, nhưng mau mắn và quảng
đại thi hành ư định của Ngài. Thiên Chúa mời
gọi chúng ta trở nên con Thiên Chúa. Đức Giêsu mời
gọi chúng ta cộng tác với Ngài làm cho nhiều
người nhận biết t́nh yêu của Thiên Chúa Cha
đối với con người, để mọi
người được hạnh phúc nhờ sống tin
yêu phó thác cho Thiên Chúa là Đấng yêu ḿnh.
Được coi
như đạt yêu cầu bài cầu nguyện, nếu
chúng ta có tâm t́nh của người muốn trổi
vượt trong việc phục vụ Vua Hằng Sống
(LT 97-98). Nếu không hoàn toàn có tâm t́nh của lời tâm
sự trên, th́ hăy thành khẩn cầu xin Chúa ban cho ḿnh có tâm
t́nh đó, ít nữa là ḷng ao ước được có
ḷng ao ước đó.
Khung cảnh: Như
ḿnh hiện diện khi Đức Giêsu giảng dạy ven
bờ hồ Galilê.
Ơn xin: Xin Chúa cho
được ơn nhận ra tiếng Chúa gọi ḿnh lúc
này, và ơn mau mắn thi hành Ư Ngài.
Điểm gợi
ư:
i. Đức Giêsu rao
giảng, dân chúng lắng nghe
Nh́n, nghe, quan sát
Đức Giêsu sáng sớm ra bờ hồ Galilê và có đám
đông tới để nghe Ngài rao giảng.
Đi vào ḷng của
đám đông để hiểu ao ước của dân
Chúa.
ii. Đức Giêsu dùng
con thuyền của Phêrô làm phương tiện
Nh́n nghe quan sát
Đức Giêsu: Ngài lên thuyền của Phêrô, nhờ Phêrô,
Phêrô quảng đại dù ông có đủ lư do để
từ chối (mệt v́ đă lao động cả
đêm, cần ngủ để tối đi lưới
tiếp, v.v.
Mẻ lưới
lạ. Nh́n nghe quan sát Phêrô và các bạn, v.v.
iii. Ơn nhận
biết chính ḿnh và lời mời gọi
Lạy Thầy xin xa
tôi ra v́ tôi là kẻ tội lỗi. Đừng sợ,
từ nay ngươi sẽ là kẻ chài lưới
bắt người.
Chính khi Phêrô nhận
biết ḿnh là tội nhân th́ được Chúa gọi
cộng tác với Ngài! Ơn gọi là một ơn
nhưng không, chứ không phải v́ chúng ta tốt lành
hoặc đáng được kêu gọi hơn những
người khác!
Tâm sự: Thân
thưa với Chúa, xin Chúa cho ḿnh quảng đại đáp
trả lời mời gọi của Ngài như Phêrô.
Khung cảnh: Như
ḿnh tháp từng Đức Giêsu rong ruổi khắp các làng
mạc đất nước Do Thái để rao giảng
Tin Mừng cứu độ.
Ơn xin: Xin Chúa cho ḿnh đừng giả
điếc làm ngơ nhưng mau mắn thi hành thánh ư Chúa.
Điểm gợi
ư:
i. Sứ mạng
Đức Giêsu
Làm chứng cho t́nh
yêu, làm cho con người biết và cảm nhận rằng
Thiên Chúa yêu thương con người vô cùng.
Khi con người
biết Ngài là Thiên Chúa, th́ con người biết rằng
Thiên Chúa yêu thương con người vô cùng: “Thiên Chúa
đă yêu thế gian đến độ ban Con Một Ngài
cho thế gian ....” (Ga 3:16).
ii. Cách thế
Đức Giêsu thực hiện sứ mạng
Yêu thương tự
hủy, nhập thể để cứu độ con
người.
Chấp nhận thân
phận con người, đến độ chết trên thập
giá.
iii. Sứ mạng
của chúng ta và cách thế chúng ta thực hiện sứ
mạng
Ga 20:21: Như Cha
đă sai thầy, thầy cũng sai anh em.
Sứ mạng
của chúng ta cũng là làm chứng cho t́nh yêu, qua việc
hiểu, thông cảm, giúp đỡ, v.v.
iv. Con
đường thập giá là con đường tuyệt
vời minh chứng t́nh yêu
Đức Giêsu
đă đi con đường thập giá; cũng vậy
với cac Kitô hữu.
Tâm sự: Thân
thưa với Chúa, xin Chúa cho ḿnh yêu Chúa đến
độ muốn nên giống Ngài trong mọi sự. Dùng
lời nguyện của kẻ muốn trổi trang
việc phụng sự Chúa (LT 97-98).
Khung cảnh: H́nh dung
ḿnh hiện diện khi Abraham được Thiên Chúa
mời gọi bỏ quê cha đất tổ để
đi tới một nơi mà ḿnh chưa biết.
Ơn xin: Xin Chúa cho ḿnh
được cảm nhận lời mời gọi
của Chúa, và ơn can đảm từ bỏ tất
cả, kể cả chính ḿnh, để đáp trả
tiếng Chúa.
Điểm gợi
ư:
i. Thiên Chúa mời
gọi và hứa cho Abraham...
Lời hứa,
nghĩa là điều được hứa chưa
xảy ra, đ̣i người được hứa
phải tin vào Người hứa.
Chúa mời gọi
tôi điều ǵ?
ii. Abraham đă đáp
trả bằng tin
Abraham đă bỏ
quê cha đất tổ, bỏ họ hàng và những ǵ thân
yêu, để dấn bước đi theo Đấng
đă hứa mà không có bảo đảm ǵ ngoài ḷng tin vào
Đấng đó.
Tôi đă đáp
trả tiếng Chúa mời gọi như thế nào? Tôi có
dám bỏ tất cả để ra đi không?
Tâm sự: Nói
chuyện với Chúa, Đấng đă gọi Abraham, và xin
Chúa ban cho ḿnh có ḷng tin như Abraham, cũng như có thái
độ dũng cảm từ bỏ như Abraham.
Khung cảnh: Đặt
ḿnh hiện diện khi Abraham ra đi theo như lời Chúa mời
gọi hiến tế Isaac.
Ơn xin: Xin Chúa cho
ḿnh ơn dám hy sinh tất cả, ngay cả cái ḿnh quư
nhất, để đáp trả tiếng Chúa gọi.
Điểm gợi
ư:
i. Chúa tôi luyện[15] đức tin của Abraham bằng cách ra lệnh
hiến tế Isaac
Chúa hiện ra và
mời gọi Abraham hiến tế Isaac.
Abraham vâng phục
thánh ư Thiên Chúa, không nói điều này cho Sara, cho Isaac.
Điều ǵ khó
nhất đối với tôi mà Thiên Chúa mời gọi?
ii. Nh́n nghe quan sát
Abraham thi hành lệnh Chúa
Dù trong ḷng dậy
sóng nhưng Abraham vẫn dậy sớm, chẻ củi,
đường xa, lời con trẻ, v.v.
Trong đời tôi,
có điều ǵ mà tôi nghĩ rằng Chúa đ̣i hỏi quá
đáng không?
Thái độ
của tôi đối với Thiên Chúa như thế nào?
iii. Lời Thiên Chúa
can thiệp
Chỉ là thử
thách. Thiên Chúa không đ̣i chúng ta phải giết
người.
Tôi có dám tin
tưởng phó thác tất cả và tuyệt đối cho
Thiên Chúa?
Tâm sự: Thân
thưa với Thiên Chúa, Đấng luôn trôi luyện
những người Chúa yêu.
Khung cảnh: Như
ḿnh hiện diện khi Chúa gọi Isaia.
Ơn xin: Xin Chúa cho
ḿnh được ơn nhận biết ḿnh tội
lỗi bất xứng trước lời mời gọi
của Chúa, và xin cho ḿnh ơn quảng đại đáp
trả tiếng Chúa mời gọi.
Điểm gợi
ư:
i. Thiên Chúa là
Đấng Chí Thánh
Thánh, chí thánh, ngàn
trùng chí thánh.
ii. Tôi là ai?
Tội nhân, môi
nhơ uế không đáng nói lời Chúa.
Chúa thánh hóa qua than
hồng mà sứ thần gắp đụng vào môi. Chúa làm
chúng ta nên thánh, tinh sạch, v.v.
iii. Sai ai?
Này tôi đây, xin hăy
sai tôi!
Tôi có sẵn sàng
thưa tiếng xin vâng với Thiên Chúa?
Tâm sự: Thân
thưa với Thiên Chúa là Đấng Thánh, và xin Ngài thánh hóa ḿnh.
Khung cảnh: Như
thể Thánh Thần bao phủ ḿnh như bao phủ trên
Mẹ dịp truyền tin.
Ơn xin: Xin Chúa cho
ḿnh được cảm nghiệm t́nh yêu của Thiên Chúa
đối với ḿnh, khi Ngài gọi và chọn ḿnh.
Điểm gợi
ư:
i. Cung cách cư
xử của người tôi tớ Yavê
Trung tín, âm thầm,
hiền lành, v.v.; Thiên Chúa gọi, cầm tay, v.v.
ii. Sứ mạng
của người tôi tớ Thiên Chúa
Làm sáng tỏ công lư:
không dập tắt tim đèn c̣n khói, cho người mù
được thấy, giải phóng con người
khỏi nô lệ tù tội, v.v.
Tâm sự: xin Chúa cho
ḿnh nhận biết Chúa yêu ḿnh đến mức nào, và
ơn đáp trả tiếng Chúa kêu mời.
Khung cảnh: H́nh
ảnh người mẹ yêu thương ấp ủ con
ḿnh.
Ơn xin: Xin ơn
cảm nghiệm được Thiên Chúa yêu ḿnh ngay từ
hồi ḿnh c̣n trong bụng mẹ, Ngài bảo vệ ḿnh
trong mọi hoàn cảnh, ẩn dấu ḿnh trong cánh tay
người, làm cho ḿnh như mũi tên sắc bén, và bảo
vệ ḿnh như con ngươi mắt Chúa.
Điểm gợi
ư:
i. T́nh yêu và ơn
gọi (Is 49:1-6)
Thiên Chúa yêu tôi ngay
từ khi tôi c̣n trong dạ mẹ.
Người yêu tôi
nên Ngài trao sứ mạng: “đem ơn cứu độ
của Ta đến tận cùng cơi đất” (Is 49:6).
Tôi có thấy Thiên
Chúa yêu tôi qua lịch sử đời tôi không? Chúa trao
sứ mạng ǵ cho tôi?
ii. Cung cách hành xử
của người tôi tớ Yavê:
Thất bại, hy
sinh từ bỏ, chết, là "phần số"
của người tôi
tớ Thiên Chúa.
Tâm sự: Thân
thưa với Chúa, xin Chúa cho ḿnh ơn can đảm đáp
lại lời mời gọi của Thiên Chúa, và ơn nên
giống Chúa Giêsu vác thập giá.
Khung cảnh: Như
ḿnh hiện diện khi Chúa gọi Giêrêmia.
Ơn xin: Xin ơn
nhận biết t́nh yêu Chúa đối với ḿnh, và ơn
mau mắn đáp trả lời mời gọi, chứ
đừng t́m cách thoái thác.
Điểm gợi
ư:
i. Thiên Chúa yêu và
chọn Giêrêmia làm ngôn sứ ngay từ khi c̣n trong dạ
mẹ
Chúa cũng có
chương tŕnh về tôi, Ngài cũng yêu và chọn tôi ngay
từ khi tôi c̣n trong dạ mẹ.
ii. Lời thoái thác
của Yeremia, lời trấn an của Thiên Chúa!
Con không biết
ăn nói!
Đừng sợ.
Ta sẽ ở với ngươi.
iii. Sứ mạng
nặng nề!
Sứ mạng
nặng nề nhưng Chúa cần, Chúa sẽ giúp.
Tôi có sẵn sàng và
cậy dựa vào Thiên Chúa không? Chúa sẽ ở với và
giúp tôi.
Tâm sự: Thân
thưa với Chúa, xin Chúa cho ḿnh quảng đại và can
đảm nhận lănh sứ mạng Chúa trao phó.
Khung cảnh: H́nh dung
Đức Giêsu vác thập giá lên đồi Canvê.
Ơn xin: Xin ơn
nhận ra giá trị ơn gọi Kitô, và ơn đáp
trả bằng hành vi từ bỏ ḿnh liên lỉ.
Điểm gợi
ư:
i. Thập giá luôn luôn
là điều trái ư
Thập giá của
Chúa Giêsu không chỉ là cây thập giá, nhưng c̣n là những
trái ư trong cuộc sống thường ngày, những
cản trở Ngài thực thi thánh ư Thiên Chúa Cha.
Thái độ
của Đức Giêsu đối với thập giá
của Ngài như thế nào?
ii. Thập giá
của tôi, hôm qua và hôm nay
Đâu là thập giá
của tôi? Đâu là thập giá lớn nhất đối
với tôi, hôm qua và hôm nay?
Thái độ
của tôi đối với thập giá của tôi như
thế nào trong quá khứ?
iii. Từ bỏ ḿnh
và vác thập giá ḿnh mà theo Ta
Chúa mời gọi
tôi bỏ ḿnh và vác thập giá ḿnh mà theo Chúa. Tôi làm ǵ bây
giờ? Tôi có sẵn sàng đáp trả tiếng Chúa mời
gọi không?
Tâm sự: Thân
thưa với Chúa Giêsu vác thập giá. Nói với Chúa về
thập giá của ḿnh, và xin Chúa giúp ḿnh sống điều
Chúa mời gọi.
Khung cảnh: Như
ḿnh hiện diện khi Đức Giêsu gọi các tông
đồ sau một đêm cầu nguyện.
Ơn xin: Xin Chúa cho
ḿnh được hạnh phúc của những
người được Thiên Chúa tuyển chọn.
Điểm gợi
ư:
i. Để họ
ở với Ngài
Chúa gọi các tông
đồ để họ ở với Ngài. Không ở
với Chúa, không thể được sai đi.
Mỗi ngày, tôi có
thời gian để ở với Chúa không?
ii. Để
được Ngài sai đi rao giảng
Sứ mạng
của các tông đồ là rao giảng và trừ quỷ.
Nói về Chúa,
những điều kỳ diệu Chúa làm, và giúp
người ta tin vào Chúa (đó là trừ quỷ rồi).
iii. Chúa gọi tên
từng người một!
Chúa không gọi chung
chung, nhưng gọi tên từng người một. Cũng
vậy, Chúa gọi tên tôi, và mời gọi tôi đáp
trả.
Tâm sự: Thân
thưa với Chúa, Đấng yêu thương ḿnh.
Khung cảnh: Chúa
gọi tôi, mời tôi cộng tác với Ngài trong sứ
mạng chinh phục thế gian, giúp thế gian nhận
biết t́nh yêu của Thiên Chúa đối với họ.
Ơn xin: Xin ơn
được khao khát, ao ước nên giống Chúa Giêsu trong
khó nghèo khổ nhục!
Điểm gợi ư
và tâm sự như thánh Inhaxiô hướng dẫn trong sách
Linh Thao.
Khi cầu nguyện
xong một chủ đề, như Nguyên Lư Nền
Tảng, Tội, Tiếng Gọi, th́ sẽ dùng một
giờ để kiểm điểm tổng quát. Cố
gắng nhận ra những ơn Thiên Chúa ban cho ḿnh, cũng
như những lỗi lầm khuyết điểm ḿnh c̣n
mắc phải, và nỗ lực sửa đổi
để được kết hiệp với Thiên Chúa
hơn nữa.
Xin lưu ư một
lần nữa: b́nh thường chúng ta cầu nguyện
được, nghĩa là được an ủi, ít là
hiểu như thêm ḷng tin cậy kính mến Thiên Chúa (LT 316).
Nếu xét gẫm thấy ḿnh cầu nguyện không được,
th́ cố t́m nguyên do, và phải t́m được mới
thôi!
B́nh thường th́
tại ḿnh ươn lười hoặc không quảng
đại với Chúa nên không cầu nguyện tốt,
chẳng hạn tại ḿnh cầu nguyện không đủ
giờ, không cố gắng cầm trí cầu nguyện,
không dứt khoát đuổi các chia trí và cám dỗ liền,
không đặt Thiên Chúa lên trên hết, không đặt
tương quan với Thiên Chúa trên mọi tương quan
khác, không xét gẫm nghiêm chỉnh, không luôn nhớ
đến Chúa và đuổi những tư tưởng
chia trí ngay cả lúc không phải là giờ cầu nguyện
chính thức, không giữ con mắt, không giữ thinh
lặng và bầu khí thinh lặng, làm chia trí người
khác bằng nụ cười, không giữ thinh lặng
nội tâm, v.v.
Nếu không có khát
vọng muốn tốt hơn nữa, không muốn
được thuộc về Chúa hơn nữa, th́
những điều chỉ dẫn trên không có giá trị ǵ!
Nhớ xét ḿnh riêng (LT
24-31) về việc giữ các điều phụ thêm (LT
90). Đây là xét ḿnh để giúp ḿnh quảng đại
với Chúa hơn nữa.
Các quy luật giúp
phân biệt các thần của tuần nhất rất quan
trọng, giúp người tập linh thao biết ḿnh hơn
(LT 325-327), biết đường lối của thần
lành thần dữ (LT 314.315), và như vậy dễ
tiến bước trên đường thiêng liêng hơn.
Nếu có quá nhiều
dự phóng để phụng sự Chúa, và nếu bị
chia trí bởi những dự phóng "tốt
đẹp" này, th́ những quy tắc của tuần II
(LT 328-336) sẽ giúp thao viên tránh sa bẫy của ma quỷ.
Với những bài
cầu nguyện có Đức Giêsu, th́ có thể áp dụng
cách thức cầu nguyện chiêm niệm, tức là: nh́n
nghe quan sát, suy nghĩ và rút ích lợi.
Cảm nghiệm an
ủi (LT 316), cảm nếm (LT 2), nghỉ ngơi (LT 76), là
những từ ngữ đáng lưu ư khi làm Linh Thao.
Chúng ta đang ở
trong tuần thứ hai của Linh Thao: cầu nguyện
về Ngôi Lời nhập thể, từ mầu nhiệm
nhập thể cho đến ngày Đức Giêsu
được rước vào thành Giêrusalem cách long
trọng.
“Xin hiểu biết
thâm sâu về Chúa, Đấng đă làm người v́ tôi,
để yêu Ngài hơn và theo Ngài” (LT 104).
Vô tri bất mộ.
Nếu càng hiểu biết về Chúa, th́ sẽ càng yêu
mến Chúa hơn. Cái biết ở đây không chỉ là cái
biết do nghe nói, nhưng chủ yếu là cái biết thâm
sâu do được cảm nghiệm.
Thiên Chúa là ai? Là
Đấng yêu tôi đến độ nhập thể làm
người v́ tôi. Nếu Thiên Chúa yêu tôi như vậy, tôi
phải làm ǵ để đáp lại t́nh yêu của Thiên
Chúa đây? Chỉ có t́nh yêu mới đáp trả
được t́nh yêu.
T́nh yêu
được diễn tả cách cụ thể, chính Thiên
Chúa đă nhập thể để phục vụ con
người: “con người đến không phải
để được phục vụ, nhưng
để phục vụ và hiến mạng sống làm giá
chuộc cho nhiều người” (Mc 10:45); c̣n tôi, tôi
phải làm ǵ để yêu Thiên Chúa đây? Tôi phải nên
giống Ngài, phải theo Ngài.
Hiểu Chúa hơn,
để yêu Ngài hơn và theo Ngài hơn. Đó là cách nói khác
của cùng nội dung “để trở nên đồng h́nh
đồng dạng với Đức Giêsu Kitô” (Pl 3:10),
“nếu ta cùng chết với Người, ta sẽ cùng
sống với Người, nếu ta kiên tâm chịu
đựng, ta sẽ cùng thống trị với
Người” (2Tm 2:11-12; Rm 6:8), “tôi sống nhưng không c̣n
phải tôi sống, nhưng là chính Đức Kitô Ngài
sống trong tôi” (Gl 2:20).
Nên giống Chúa Giêsu
hơn, v́ Chúa Giêsu là người mẫu của chúng ta, Ngài
là thần tượng, là Đấng mà chúng ta phải
bắt chước và quy chiếu về. Yêu thương là
trở nên một với nhau, nếu chúng ta yêu thương
Thiên Chúa, nghĩa là, chúng ta nên giống Chúa Giêsu hơn.
· Lời đă thành xác phàm (Ga 1:1-18);
· Nhập thể là tự hủy (Pl 2:6-11);
· Sinh bởi người nữ (Gl 4:4-6);
· LT 101-109
· Lời nhập thể được giáng sinh (Lc 2:1-20);
· Cắt b́ và đặt tên (Lc 2:21);
· Đức Giêsu được dâng trong đền
thờ (Lc 2:22-40);
· Trốn sang Ai-cập (Mt 2:13-23);
· Đức Giêsu thời thơ ấu (Lc 2:39-40);
· Đức Giêsu ở lại đền thờ (Lc 2:41-50);
· Đức Giêsu sống một thời gian rất
dài ở Nadarét (Lc 2:51-52).
· Đức Giêsu chịu phép rửa (Mc 1:1-13);
· Đức Giêsu chịu cám dỗ (Mt 4:1-11);
· Trọn ngày sống cho Thiên Chúa (Mc 1:21-39);
· Đức Giêsu luôn t́m và thực hiện Thánh Ư Cha
(Ga 4:34);
· Mối phúc thật (Mt 5:1-12);
· Thái độ của dân chúng đối với Đức
Giêsu (Mc 1:32-3:12);
· Thái độ của người thân, kư lục và
biệt phái đối với Đức Giêsu (Mc3:20-30);
· Khủng hoảng sứ vụ tại Galilê (Mc 4);
· Hạt giống âm thầm mọc (Mc 4:26-29);
· Loan báo tin mừng bằng trừ qủy (Mc 5-6);
· Các tông đồ không hiểu đường
lối của Đức Giêsu (Mc 4;6);
· Đức Giêsu là Kitô (Mc 8:27-30);
· Con đường Đức Giêsu đi là con
đường thập giá (Mc 8:31-33);
· Ai muốn theo tôi phải vác thập giá ḿnh (Mc 8:34-9:1);
· Con đường Đức Giêsu đi: cầu
nguyện và ăn chay (Mc 9:14-29);
· Con đường Đức Giêsu đi: phục
vụ (Mc 9:33-37);
· Con đường Đức Giêsu đi: yêu
thương (Mc 12:28-34);
· Tinh thần của Đức Giêsu (Mc 9:38-41);
· Không muốn hiểu bài học thập giá (Mc 10:32-45);
· Người mù được sáng (Mc 10:46-52);
· Những người không chấp nhận con
đường Đức Giêsu đi (Mc 11:15-19; 12:1-12; 12:13tt);
· Đức Giêsu, con người tự do (với
bạc tiền, danh vọng, t́nh duyên).
Yêu ai, đ̣i phải hiểu người đó. Trong
ư hướng này Thiên Chúa đă mặc khải cho con
người biết Thiên Chúa đă yêu con người vô cùng
trong suốt ḍng lịch sử. Đây là một
điều chúng ta phải xin, v́ hiểu biết Thiên Chúa
không là chuyện chỉ nằm trong khả năng con
người!
Xin ơn yêu Chúa hơn! V́ t́nh yêu không đơn
thuần là biết hoặc là muốn, nhưng c̣n là cái ǵ
khác nữa, là chính sự sống của con người.
T́nh yêu, và t́nh yêu Thiên chúa là một ơn vô cùng lớn mà ḿnh
phải thành khẩn nài xin.
Cách cầu nguyện của tuần II này
thường là chiêm niệm: nh́n, nghe, quan sát Đức Giêsu
đă sống như thế nào, nói năng suy nghĩ cư
xử như thế nào, để ḿnh nên giống Chúa
hơn.
Khung cảnh: H́nh dung thế giới ở trong t́nh
trạng tội lỗi cần được cứu
độ, và thiên thần truyền tin cho Đức
Mẹ.
Ơn xin: Xin Chúa cho ḿnh được ơn thấy
rơ Chúa yêu tôi nên nhập thể v́ tôi, xin Chúa giúp tôi cảm
nghiệm t́nh yêu của Ngài đối với tôi.
Điểm gợi ư:
i. Con người ở trong t́nh trạng tội
lỗi
Con người đặt ḿnh trên tất cả,
làm tất cả v́ lợi ích của họ, họ có
thể hăm hại giết người, v.v. Bị đe
dọa, lo lắng, sợ hăi, v.v. Bất hạnh.
ii. Thiên Chúa muốn và quyết định cứu
độ con người
Thiên Chúa muốn con người sống b́nh an,
tươi vui, hạnh phúc. Ngài quyết định cứu
độ con người.
iii. Thiên Chúa hỏi ư kiến con người
để thực hiện chương tŕnh cứu
độ con người
Lời xin vâng của mẹ Maria đă thay
đổi vận mạng của tạo thành.
Để thưa tiếng xin vâng, mẹ đă
đặt Thiên Chúa và thánh ư Ngài trên t́nh yêu riêng của
mẹ với Giuse, trên mạng sống ḿnh (nếu Giuse nói
thai đó không do ḿnh th́ mẹ sẽ bị xử tội
ngoại t́nh), trên danh dự của gia đ́nh, v.v.
Tâm sự: Thân thưa với Ba Ngôi Thiên Chúa và
với cả mẹ Maria nữa về những
điều kỳ diệu các Ngài đă thực hiện
để cứu độ con người.
Khung cảnh: H́nh dung thai nhi “Lời nhập
thể” nằm trong dạ mẹ.
Ơn xin: Xin ơn được hiểu mầu
nhiệm Thiên Chúa nhập thể, để yêu Chúa hơn và
theo Ngài hơn.
Điểm gợi ư:
i. Lời thành xác thịt (Ga 1:14)
Lời Thiên Chúa đă thành thịt, đă thành
người.
ii. Vô hạn thành hữu hạn, tuyệt
đối thành tương đối
Không thể hiểu mầu nhiệm nhập
thể. Điều vô cùng kỳ diệu, vượt quá
sức hiểu biết của con người.
iii. Ân sủng và sự thật được ban
nhờ Đức Giêsu
Chúng ta được tất cả nhờ
Đức Giêsu, Ngôi Lời nhập thể.
Tâm sự: Thân thưa với Lời Nhập
Thể về điều kỳ diệu Ngài đă làm v́ yêu,
để cứu độ con người.
Khung cảnh: H́nh dung thai nhi “Lời nhập
thể” trong dạ mẹ.
Ơn xin: Xin được ơn hiểu biết
t́nh yêu của Thiên Chúa qua hành vi nhập thể, tự
hủy, để yêu Chúa hơn và theo Ngài hơn.
Điểm gợi ư:
i. Phận Thiên Chúa, đồng hàng cùng Thiên Chúa
Ngôi Lời là Thiên Chúa.
ii. Hủy ḿnh ra không, vâng phục đến
bằng ḷng chịu chết, và là cái chết thập giá
Ngài không chỉ làm người, mà c̣n đi
đến tận thân phận con người: chết, và
chết ô nhục trên thập giá (trở nên người
thấp hèn nhất).
iii. T́nh yêu được thấy qua mầu
nhiệm tự hủy, thập giá
Từ tận cùng của mầu nhiệm nhập
thể, chúng ta biết Thiên Chúa yêu thương con
người đến độ nào.
Tâm sự: Thân thưa với Lời nhập
thể, và Thiên Chúa Cha, Đấng là Nguồn của
mọi sáng kiến và chương tŕnh.
Khung cảnh: H́nh dung em bé mong manh mỏng ḍn
được sinh hạ trong hang chiên cừu.
Ơn xin: Xin Chúa cho ḿnh được hiểu Chúa
hơn, để yêu Ngài hơn và theo Ngài. Tại sao Ngài
lại chấp nhận trở nên mong manh như vậy?
Tại sao Ngài phải chấp nhận nhờ con
người Ngài mới có thể sống?
Điểm gợi ư:
i. Tại sao Thiên Chúa “phải”[16] làm người?
Không ǵ bó buộc Ngài, không ǵ bó buộc
được Ngài. Ngài tự ư v́ … yêu.
ii. Tại sao phải sinh ra (nằm trong dạ)
một người nữ?
Để nên giống con người trong mọi
sự, để giúp con người, v.v.
Tâm sự: Nói chuyện thân thưa với Chúa, xin
Chúa cho ḿnh hiểu t́nh yêu của Ngài đối với con
người đến độ như thế nào!
Theo như sách Linh Thao chỉ, cố gắng
để thấy Ba Ngôi thực hiện chương tŕnh
cứu độ nhân loại, và cố gắng để
thấy t́nh yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa đối với con
người.
Khung cảnh: Như ḿnh hiện diện và thấy
Lời nhập thể được sinh hạ trong
chuồng chiên cừu.
Ơn xin: Xin cho ḿnh ơn hiểu biết T́nh Yêu
Thiên Chúa đối với ḿnh, để yêu Ngài hơn và
theo Ngài hơn. Tại sao lại phải sinh trong chuồng
chiên cừu, tại sao phải sinh trong cảnh cơ hàn
như vậy?
Điểm gợi ư:
i. Suy nghĩ lại để hiểu thêm Nhập
Thể
Làm người, phải đói phải khát, có
thể bị hành hạ, và có thể bị giết, v.v.
ii. Đo lường cân nhắc để biết
và cảm nghiệm t́nh yêu của Thiên Chúa đối
với tôi qua việc Ngài vĩnh viễn làm người
Người nghèo nhất cũng được an
ủi khi nh́n Lời nhập thể sinh trong chuồng chiên
cừu. Ngài nghèo như người nghèo nhất.
Ai mặc cảm v́ nghèo, hăy nh́n em bé mong manh trong máng
cỏ nơi chuồng chiên cừu.
iii. T́nh yêu của từng ngôi vị đối
với tôi qua hành vi Ngôi Lời nhập thể
Tại sao Thiên Chúa phải nhập thể? T́nh yêu
của Thiên Chúa đối với con người thật
vô cùng, không thể diễn tả!
Tâm sự: Thân thưa với Chúa Cha, Lời
Nhập Thể, và Thánh Thần.
Khung cảnh: Như ḿnh hiện diện, nh́n
Lời Thiên Chúa được sinh hạ trong chuồng
chiên cừu.
Ơn xin: Xin ơn hiểu biết Chúa hơn,
để yêu Chúa hơn và theo Ngài hơn.
Điểm gợi ư:
i. Cuộc hành tŕnh từ Nadarét tới Bêlem
Nh́n nghe quan sát mẹ Maria, thánh Giuse, lên
đường đi Bêlem. Tại sao vào thời
điểm này phải đi Bêlem? Tại sao không sáu tháng
trước? Tại sao không một năm sau? Mẹ
vẫn xin vâng.
ii. Không ai cho trọ qua đêm v́ họ là những
người nghèo
Cặp vợ chồng nghèo. Có thể mang xui
xẻo tới nhà th́ sao!
Không có chỗ cho ba Đấng!
iii. Lời nhập thể được sinh ra
trong cảnh nghèo hèn nhất
Nghèo hơn cả người nghèo: trong hang súc
vật.
Không được đón tiếp, bị coi
thường, v.v. Thái độ của Mẹ và của
thánh Giuse?
Khi bị coi thường, tôi thường hành
xử như thế nào?
iv. Niềm vui của thiên thần và của mục
đồng
Thiên Chúa giáng sinh như một quà tặng cho con
người.
Tâm sự: Nói chuyện với Hài Nhi mới
được sinh ra, với Chúa Cha, với Thánh Thần.
Khung cảnh: H́nh dung cảnh hài nhi được
cắt b́, đau đớn dẫy dụa.
Ơn xin: Xin Chúa cho ḿnh được hiểu
tại sao Thiên Chúa lại nhập thể để rồi
phải đau đớn như vậy, để ḿnh
hiểu Chúa hơn và theo Ngài hơn.
Điểm gợi ư:
i. Thân phận con người của Đức Giêsu
được biểu lộ qua việc được
đặt tên, cũng như qua việc được
cắt b́
Chu toàn lề luật cắt b́. Ngài không đ̣i
sống luật trừ, ưu tiên.
Khiêm nhường để như bao người
khác, giống con người trong tất cả.
ii. Đặt tên cho ai là có quyền trên
người đó
Đức Giêsu, theo ư định của Thiên Chúa,
vâng phục Mẹ và thánh cả Giuse. Giêsu là tên do Thiên Chúa,
nhưng Đức Maria và thánh Giuse là những người
gọi tên đó đầu tiên.
Tâm sự: Thân thưa với Chúa, xin Chúa cho ḿnh
chấp nhận thân phận con người, v́ chính Ngài
cũng chấp nhận thân phận con người.
Đặt ḿnh hiện diện trong khung cảnh
Đức Giêsu được bồng ẵm và dâng cho Thiên
Chúa trong đền thờ.
Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh
được hiểu Chúa hơn, yêu Chúa hơn và theo Ngài
hơn.
Điểm gợi ư: nh́n nghe quan sát, suy nghĩ và
rút ích lợi.
i. Cuộc hành tŕnh tới đền thờ
Đức Giêsu được Đức Mẹ
hay thánh Giuse bồng ẵm tới Đền Thờ
Giêrusalem để dâng cho Thiên Chúa theo luật Môsê.
Các ngài chu toàn lề luật.
ii. Đức Maria và thánh Giuse đại diện
con người xin Thiên Chúa ở với con người
Mọi con vật đực phải dâng cho Chúa,
riêng con người th́ phải được chuộc
lại.
Mẹ và thánh Giuse đại diện con
người xin Thiên Chúa cho Đức Giêsu được
ở với con người.
iii. Cuộc hạnh kiến của Simeon và Anna
với Đức Giêsu
Tiên tri Simeon gặp gỡ hài nhi …
Bà Anna bồng ẵm hài nhi …
Tâm sự với Chúa, xin Chúa cho ḿnh được
thuộc trọn về Thiên Chúa, bằng việc vâng
phục những ǵ Thiên Chúa muốn qua lề luật.
Đặt ḿnh hiện diện trong khung cảnh
thánh Giuse đưa hai mẹ con hài nhi trốn sang
Ai-cập.
Xin ơn được hiểu Chúa hơn, yêu Ngài
hơn và theo Ngài.
Điểm gợi ư:
i. Vất vả trốn sang Ai-cập
Hài nhi Giêsu bị Hêrôđê truy sát. Mới nhỏ
đă bị ghen ghét hăm hại!
Tại sao Thiên Chúa phải khổ cực như
vậy? Và tại sao Đức Mẹ và thánh Giuse cũng
phải khổ cực như vậy?
ii. Thiên Chúa nhập thể bị đe dọa
đến tính mạng!
Hài nhi Giêsu bị bách hại!
Ai bị bách hại khi c̣n trẻ, hăy nh́n hài nhi Giêsu
và cha mẹ Ngài.
Tâm sự với Chúa, xin Chúa cho ḿnh sống khiêm
tốn như Chúa nhập thể.
Đặt ḿnh hiện diện trong khung cảnh
Đức Giêsu ngồi giữa các thầy thông luật ...
Xin ơn hiểu biết tại sao Đức Giêsu
cư xử như vậy, để bắt chước
và sống như Chúa vậy.
Điểm gợi ư:
i. Những chuẩn bị và cuộc hành tŕnh đi
Giêrusalem
Tâm t́nh thái độ của thánh Giuse, Đức
Mẹ và Đức Giêsu.
Lời nói với nhau và với Thiên Chúa.
ii. Quang cảnh măn lễ, người người
tấp nập ra về
Đức Giêsu ở lại chứ không bị
lạc như vẫn thường được nói.
Đức Mẹ và thánh Giuse cực khổ t́m Chúa. Lời
đáp của Đức Giêsu.
Tại sao Đức Giêsu lại hành xử như
vậy? Đức Giêsu có bất hiếu không? Đức
Giêsu cũng như mẹ: thấy ư Thiên Chúa th́ thi hành.
Tâm sự với Chúa, xin Chúa cho ḿnh hiểu tại
sao Ngài làm như vậy, để rồi cho ḿnh
được chọn lựa giống Ngài: đặt
Thiên Chúa trên hết mọi sự, trên hết mọi
tương quan.
Đặt ḿnh hiện diện trong khung cảnh gia
đ́nh thánh tại Nadarét, với những công việc b́nh
thường.
Xin ơn hiểu những suy nghĩ, lời nói,
thái độ, cách sống của Đức Giêsu trong
suốt thời gian này, để yêu Ngài hơn và nên
giống Ngài hơn.
Điểm gợi ư:
i. Những ǵ Đức Giêsu đă làm trong suốt
thời gian trước khi đi rao giảng?
Ngài sống vâng phục cha mẹ. Ngài làm
được ǵ? Giúp ǵ cho Mẹ và thánh Giuse?
Ngài có được đi học không? Ăn
mặc như thế nào?
ii. Hăy nh́n nghe quan sát Đức Giêsu: thái độ
sống, cung cách cư xử, tư tưởng, lời nói
và hành động của Ngài
Với người nhỏ tuổi hơn; với
người bằng tuổi; với người lớn
tuổi hơn; với người già cả.
Nh́n Đức Giêsu khi Ngài 15 tuổi, khi 18 tuổi,
khi 21 tuổi, khi 25 tuổi, khi 29 tuổi, v.v.
Tâm sự với Chúa, Đấng đă sống
hơn 30 năm âm thầm v́ yêu tôi.
Những ghi chú này có mục đích để giúp
làm linh thao trong cuộc sống hằng ngày, nên không tránh
khỏi những lập đi lập lại!
Nếu cầu nguyện không được
hoặc cầu nguyện không đạt yêu cầu, th́
phải xem có ǵ trục trặc cần sửa đổi
nơi ḿnh không?
Hoặc ḿnh c̣n có quyến luyến lệch lạc
nào đó?
Hoặc c̣n thiếu quảng đại với Chúa?
Ḿnh có luôn nhớ đến Chúa và những tâm t́nh
cầu nguyện trong suốt ngày, cũng như có xua đuổi
ngay những ǵ không hợp với tâm t́nh cầu nguyện
đến trong đầu không? Có luôn giữ ngũ quan
không?
Nếu cầu nguyện không đạt yêu cầu
- chúng ta biết ḿnh cầu nguyện có đạt hay không
là nhờ ở xét gẫm dựa vào các ơn xin- th́
phải cầu nguyện thêm hoặc cầu nguyện
lại bài đó.
Nhớ xét ḿnh riêng về ḷng quảng đại
đối với Chúa, trong việc giữ các điều
phụ thêm (LT 130).
Tuần thứ hai
được tiếp tục với những bài cầu
nguyện chiêm niệm Đức Giêsu trong cuộc sống
công khai rao giảng.
Cách thức cầu
nguyện của tuần hai là nh́n-nghe-quan sát
để nên giống Ngài hơn, để được
đồng h́nh đồng dạng với Ngài trong mọi
sự (Xem LT 106-108).
Khao khát nên trọn
lành, khao khát được ở sâu trong t́nh yêu của Chúa,
khao khát thuộc trọn về Chúa, khao khát được
nên giống Chúa, là thái độ tâm t́nh nền tảng
để tiến bộ trong đời sống thiêng liêng.
Nếu chúng ta có khao khát ước vọng này, đó đă
là ơn của Thánh Thần; chúng ta tiếp tục xin
ơn này, để ḷng khao khát được mănh liệt
hơn nữa nơi chúng ta.
Đặt ḿnh
hiện diện trong khung cảnh Đức Giêsu xếp
hàng chờ tới lượt ḿnh được thanh
tẩy.
Xin ơn
được hiểu nguyên nhân, cung cách hành xử và suy
nghĩ của Đức Giêsu khi Ngài đến chịu
phép rửa ở sông Jordan với Gioan, để yêu Ngài
hơn và theo Ngài.
i. Gioan tẩy
giả xuất hiện rao giảng và làm phép rửa
thống hối
Thái độ
của dân chúng, và thái độ của biệt phái kư
lục thượng tế trước lời rao giảng
này?
Tin về Gioan rao
giảng và làm phép rửa tới Nadarét, tới tai
Đức Giêsu.
ii. Đức Giêsu bỏ
mẹ Ngài ở lại Nadarét để ra đi
Đức Giêsu nói ǵ
với Đức Mẹ? (Có lẽ thánh Giuse đă qua
đời)
Thái độ và tâm
t́nh của mỗi người (của Mẹ và của Giêsu)?
iii. Nh́n nghe quan sát Đức
Giêsu trong biến cố Ngài chịu phép rửa
Thiên Chúa xác chuẩn hành
vi khiêm tốn tự hạ của Đức Giêsu. Ngài
ở giữa những người tội lỗi. Ngài không
giả h́nh, Ngài đại diện con người tội
lỗi sám hối trước Thiên Chúa Cha.
Tâm sự với Đức
Giêsu, Đấng là chiên gánh tội chúng ta.
Khung cảnh bầu
khí: Đức Giêsu ở nơi cô tịch[17] ăn chay cầu nguyện, có thể trong một
hốc đá dưới ṿm cây nào đó.
Trong bài cầu
nguyện này, xin Chúa cho ḿnh được hiểu suy
nghĩ, cung cách hành xử của Đức Giêsu,
để nên giống Ngài hơn.
i. Cám dỗ thỏa
măn xác thịt và nhu cầu thể xác (đói ăn khát
uống).
Những h́nh thức
của cám dỗ này trong thời đại ngày nay, và
với tôi?
ii. Cám dỗ thứ
hai: danh vọng, được kính trọng.
Những biểu
lộ của cám dỗ này trong giai đoạn hiện
tại đối với tôi? Cách Đức Giêsu đáp
trả. Tôi đáp trả trước cám dỗ này như
thế nào?
iii. Cám dỗ có
quyền lực, độc lập với tất cả
kể cả Thiên Chúa.
Độc lập
hay nô lệ, khi muốn không tùy thuộc Thiên Chúa?
Đâu là những
h́nh thức hiện đại của cám dỗ này? Thái
độ đặc biệt của Đức Giêsu? Tôi
đă hành xử như thế nào trước những cám
dỗ này?
Tâm sự với
Chúa, xin Chúa cho ḿnh ơn chọn Chúa trên hết qua việc
dứt khoát đối với cám dỗ của ma quỷ,
và cho ḿnh nhận ra những cám dỗ của ma quỷ dưới
mọi h́nh thức.
Đặt ḿnh
hiện diện trong khung cảnh thôn làng Capharnaum bên bờ
biển hồ.
Xin ơn hiểu tâm
t́nh, ư hướng, suy nghĩ và hành động của Đức
Giêsu, để được yêu và nên giống Ngài hơn.
i. Giảng dạy
Giảng dạy là
sứ vụ chính yếu của Đức Giêsu.
Ngài giảng về
điều ǵ? Về Thiên Chúa yêu thương, về cách
sống giúp người ta hạnh phúc, v.v.
ii. Chữa bệnh
như những dấu chứng cho thấy Nước Thiên
Chúa đă đến gần
Đức Giêsu
chữa nhiều bệnh tật: cảm sốt, bại
tay, bại liệt, câm nói được, điếc nghe
được, mù thấy được, kẻ chết sống
lại, v.v.
iv. Trừ quỷ
Giải thoát con
người khỏi ách ràng buộc của tội, của
ma quỷ. Tội con đă được tha, v.v.
v. Ngài đến
nơi thanh vắng cầu nguyện với Cha dù suốt
ngày Ngài đă làm việc vất vả.
Phải chăng
việc cầu nguyện với Cha của Đức Giêsu là
quan trọng và không thể thiếu?
Tâm sự với Đức
Giêsu, xin Ngài ban cho ḿnh được nên giống Ngài trong
mọi sự, nhất là trung thành với Thiên Chúa trong
cầu nguyện.
Đặt ḿnh
hiện diện trong khung cảnh ở với Đức Giêsu
bên giếng Giacóp tại Samaria, và thái độ của
người Do Thái đối với người Samaria.
Trong bài cầu
nguyện này, xin Chúa cho ḿnh được hiểu và
cảm nghiệm Đức Giêsu khao khát làm theo ư Thiên Chúa
đến độ nào, và xin cho ḿnh cũng có khao khát
đó.
i. Đức Giêsu mệt
v́ đường xa, đói, khát ...
Nh́n nghe quan sát
Đức Giêsu “ngồi phệt xuống bờ giếng …”
ii. Đức Giêsu xin
nước
Phản ứng
của chị phụ nữ. Cách Đức Giêsu nói
chuyện với chị phụ nữ.
Đây cũng là
dịp để Ngài nói về Thiên Chúa và t́nh yêu của
Thiên Chúa đối với chị phụ nữ.
iii. Ngài quên
"đói và khát”
Cuộc nói chuyện
với chị phụ nữ làm cho Ngài như không c̣n
mệt nữa. Làm theo Ư Cha, cứu độ con
người, làm cho Đức Giêsu có sức sống
mới.
Phản ứng và thái
độ của chị phụ nữ?
Thái độ
của các tông đồ?
Tâm sự với Chúa
Giêsu, người đă sống nghèo và rao giảng
đến quên ăn quên uống. Cố gắng đi vào
tâm t́nh của Đức Giêsu và trở nên giống Ngài
hơn.
Đặt ḿnh
hiện diện trong khung cảnh Đức Giêsu sống nghèo
tại Nadarét.
Xin ơn hiểu và
cảm nghiệm rơ Chúa Giêsu đă sống các mối phúc
như thế nào, và ơn để sống các mối phúc
đó.
Điểm gợi
ư:
Mỗi mối phúc[18] là một điểm cầu nguyện.
Trong mỗi điểm
gợi ư:
·
xem ư nghĩa của
mối phúc đó?
·
xem Đức Giêsu sống
mối phúc này như thế nào?
·
xem tôi có chấp
nhận quan diểm của Đức Giêsu không, tôi đă
sống mối phúc này thế nào?
·
và cuối là tâm sự
với Chúa khi biết Chúa và biết ḿnh!
Tâm sự với Chúa
Giêsu, Đấng đă dạy và sống các mối phúc này,
xin cho ḿnh nên giống Chúa: biết đặt niềm
cậy trông duy chỉ vào Thiên Chúa mà thôi, không đặt hy
vọng ǵ nơi tạo vật.
Đặt ḿnh
hiện diện trong khung cảnh người nghèo của
thời đại Đức Giêsu sống, họ lo
lắng t́m kiếm cơm ăn áo mặc.
Trong bài cầu
nguyện này, xin Chúa cho ḿnh được sống phó thác
tuyệt đối vào Thiên Chúa như Đức Giêsu đă
sống “xin đừng theo ư con, nhưng là ư Cha.”
Điểm[19]:
i. Chớ lo cho
mạng sống ḿnh
Lấy ǵ ăn,
lấy ǵ mặc?
Lo cho ḿnh? Lo cho
những người thân yêu ḿnh?
Tôi có những lo
lắng này không?
ii. Hăy t́m kiếm
Nước trước đă!
Chúa mời gọi
tôi lo t́m kiếm Nước Chúa, t́m kiếm nên thánh cho ḿnh
và cho những người thân yêu của ḿnh. Tôi có lo t́m
điều này không?
iii. Tôi đă sống
phó thác tất cả trong tay Thiên Chúa t́nh yêu chưa?
Khi tôi c̣n càm ràm Thiên
Chúa, chưa chấp nhận những người thân yêu,
hoàn cảnh của ḿnh, th́ e rằng tôi chưa tin vào Thiên
Chúa yêu thương tôi, và e rằng tôi chưa dám phó thác tất
cả cho Thiên Chúa.
Tâm sự với Đức
Giêsu, Đấng đă sống phó thác tất cả cho Thiên
Chúa.
Đặt ḿnh
hiện diện trong khung cảnh Đức Giêsu -với-những-ao-ước-và-thao-thức
đối với con người thời đại.
Xin ơn ao
ước khao khát nên thánh, thuộc trọn về Chúa.
i. Hăy là thánh v́ Ta là
thánh
Thánh là vượt
lên trên tạo thành.
Nên thánh, là lời
mời và cũng là một mệnh lệnh.
ii. Thân phận con
người.
C̣n là
người-tại-thế, th́ c̣n bị cám dỗ và c̣n
phải chiến đấu. Đức Giêsu và Đức Mẹ
cũng không được miễn trừ khỏi cám
dỗ.
iii. Giới răn
yêu thương, yêu kẻ thù!
Không chỉ là không
thù oán, không dửng dưng, nhưng chính yếu là quan tâm
săn sóc giúp đỡ. Đức Giêsu đă sống
giới răn yêu thương cách tuyệt vời ...
Tâm sự với
Chúa, xin Chúa cho ḿnh được ơn thuộc trọn
về Chúa trong ư hướng, suy nghĩ, hành động.
Đọc lại
các ghi chú nơi những trang trước.
Quảng đại
là một yếu tố rất quan trọng để
dễ dàng cầu nguyện, tạo điều kiện giúp
con người gặp gỡ Thiên Chúa, và rồi cảm
nghiệm hạnh phúc ngay trong giờ cầu nguyện. Ḷng
quảng đại đối với Chúa được
biểu lộ cách cụ thể qua việc giữ các
điều phụ thêm, đặc biệt sống tâm t́nh
Chúa luôn hiện diện và đồng hành với ḿnh trong
mọi giây phút của cuộc đời. Năng nhớ
những điểm và tâm t́nh của bài cầu nguyện
trong ngày. Để làm được điều này,
phải hy sinh và giữ ngũ quan.
Nhờ con của
Ngài là Đức Giêsu, mà Đức Maria được
như hiện tại: Mẹ là Đấng vô nhiễm
nguyên tội, là Mẹ Thiên Chúa, Mẹ lên trời cả
hồn lẫn xác.
Đức Maria là
người thuộc trọn về Chúa trong tất cả:
trong ư hướng, trong tư tưởng suy nghĩ, trong
lời nói, hành động. Trong những bài cầu nguyện
sau, chúng ta chiêm ngắm Mẹ, xem Mẹ đă phản
ứng và xử sự ra sao trong từng biến cố
của cuộc sống, để chúng ta được
nên giống Mẹ hơn, nghĩa là, yêu Chúa Giêsu như
Mẹ đă yêu, hiểu biết thâm sâu về Chúa Giêsu như
Mẹ, bước theo Chúa Giêsu như Mẹ đă
bước theo.
Như thể ḿnh
đang hiện diện trong khung cảnh thiên thần gặp
gỡ và hỏi ư kiến xem cô Maria có đồng ư
để Thiên Chúa can thiệp vào đời ḿnh ...
Trong bài cầu
nguyện này, xin Chúa cho ḿnh được nên giống
Mẹ trong việc t́m hiểu và vâng phục thánh ư Thiên Chúa
trong mọi trường hợp, được sống
phó thác
như Mẹ đă phó
thác tương lai Mẹ trong tay Thiên Chúa.
Điểm gợi
ư:
i. Cuộc sống
của cô thôn nữ Maria
Thôn làng Mẹ
sống. Cung cách cư xử của Mẹ với những
người lối xóm. Đời sống đạo
đức của Mẹ ....
Trước biến
cố truyền tin, Đức Maria cũng đă thuộc
trọn về Thiên Chúa v́ Ngài yêu thương Mẹ cách
đặc biệt, và đă dành riêng Mẹ cho Ngài.
ii. Thiên Chúa hỏi ư
kiến Đức Mẹ trong biến cố truyền tin
"để cứu độ con người”
Maria đă đính hôn
với Giuse (Lc 1:27) trước khi sứ thần tới,
nghĩa là Mẹ đă có ư định lập gia đ́nh,
đă muốn lập gia đ́nh với Giuse. Giuse là
người tốt.
Maria có yêu Giuse không?
Nếu có, không dễ dàng thưa tiếng xin vâng.
iii. Mẹ thưa
tiếng xin vâng: “Xin hăy xảy ra cho tôi theo lời Ngài!”
Khi thưa tiếng
xin vâng, hàm chứa Mẹ chọn Thiên Chúa trên hết, trên
t́nh yêu riêng với Giuse, trên danh dự gia đ́nh, và trên
cả mạng sống ḿnh.
Tâm sự với
Mẹ, và với Đấng yêu Mẹ, cũng như
với Đấng nhờ Ngài mà Mẹ được yêu
cách đặc biệt!
Như thể ḿnh
đang hiện diện trong khung cảnh Đức Maria
sống âm thầm khiêm hạ giữa bao thiếu nữ
khác ở Nadarét.
Trong bài cầu
nguyện này, xin Chúa cho ḿnh nên giống Mẹ trong niềm
tin tưởng vào Thiên Chúa dù không thấy rơ những ǵ
sẽ xảy ra.
Điểm gợi
ư:
i. Phúc cho em là kẻ
đă tin rằng lời Chúa phán cùng em sẽ
được thực hiện (Lc 1:45)
Sẽ
được thực hiện, nghĩa là, chưa
được thực hiện. Mẹ tin rằng những
ǵ sứ thần nói, Thiên Chúa sẽ thực hiện. Mẹ
có phúc v́ tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa.
ii. Mẹ tạ
ơn khi được người ta tôn trọng, khi
được người ta yêu (Lc 1:46-56)
Linh hồn tôi
ngợi khen Thiên Chúa … muôn đời sẽ khen rằng tôi
diễm phúc.
Mẹ hạnh phúc
ngay cả khi điều đó chưa xảy ra v́ Mẹ
tin vào Thiên Chúa.
iii. Mẹ vâng
phục mọi điều lề luật dạy (tẩy
uế sau khi sinh con).
Mẹ
được tẩy uế dù vô tội vô t́ uế,
Mẹ dâng Chúa trong đền thờ dù Chúa luôn thuộc
về Cha, v.v.
iii. Giữ kỹ
những điều tiên tri nói khi dâng hài nhi Giêsu vào
đền thờ
Mẹ luôn suy đi
nghĩ lại trong ḷng những ǵ sứ thần nói, các tiên
tri Simeon và Anna nói.
Tâm sự với
Mẹ và với Đấng Mẹ đă bồng ẵm trên
tay và dạy dỗ, cũng như với Đấng là
Thiên Chúa của Mẹ.
Như thể ḿnh
đang hiện diện trong cảnh Mẹ tất bật
lo lắng t́m con "bị lạc.”
Xin ơn
được như Mẹ, chấp nhận những
"đêm tối" lo âu và đau buồn trong cuộc
sống nhưng vẫn luôn tin tưởng vào Thiên Chúa và yêu
mến Đức Giêsu.
Điểm gợi
ư:
i. Đức Giêsu cố
t́nh ở lại đền thờ, chứ không bị
lạc
Tại sao Ngài làm
như vậy?
Sau một ngày
đàng, Đức Maria và thánh Giuse nhận ra không có hài nhi Giêsu
đi theo, và hài nhi cũng không có trong đoàn lữ hành.
Đi vào tâm trạng
của các ngài lúc này!
ii. Niềm vui
của Đức Mẹ khi gặp lại Đức Giêsu
Câu trách nhẹ nhàng!
Lời nói khó hiểu của Đức Giêsu như thể
"bất hiếu" (Lc 2:49).
Tâm sự với Đức
Mẹ, thánh Giuse, và Đức Giêsu. Xin cho ḿnh hiểu
những điều Chúa muốn dạy ḿnh khi Ngài cư
xử với Mẹ như vậy.
Khung cảnh: H́nh dung
Đức Maria, Đức Giêsu, và các tông đồ đều
được mời dự tiệc cưới.
Ơn xin:
Được như Mẹ, yêu Đức Giêsu nên nhờ
cậy Đức Giêsu và tin Người sẽ làm theo ư ḿnh
xin.
Điểm gợi
ư:
i. Sự thông cảm
và tế nhị của Đức mẹ với chủ nhà
cưới
Hết rượu,
và hậu quả có thể xảy ra: mang tiếng, danh
dự, xích mích giữa hai họ.
Mẹ hiểu con
của Mẹ. Mẹ không phiền với lời của
Đức Giêsu: chuyện liên quan ǵ đến bà và tôi.
ii. Đức Maria
vẫn bảo đầy tớ “Ngài nói sao cứ làm như
vậy”
Điều này cho
thấy Đức Maria tin và biết Đức Giêsu sẽ
làm.
iii. Đức Giêsu tỏ
ḿnh cho các tông đồ để họ tin vào Ngài hơn
Đức Giêsu có ư
mặc khải chính Ngài qua biến cố dấu lạ này.
Tâm sự với Đức
mẹ để Ngài dạy chúng ta yêu mến cậy
dựa vào Đức Giêsu như Mẹ, hiểu biết
Ngài và biết tŕnh bày những ao ước của ḿnh cho
Ngài với tất cả niềm tin tưởng như
Mẹ đă làm.
Khung cảnh: Như
ḿnh đang hiện diện khi Đức Giêsu đang
giảng dạy đám đông dân chúng, và Đức Mẹ
cùng anh em họ hàng đến muốn gặp Đức
Giêsu.
Ơn xin: Xin Chúa cho
ḿnh biết đặt Thiên Chúa và tương quan với
Ngài trên mọi tương quan nhân loại.
Điểm gợi
ư:
i. Đức Giêsu đang
rao giảng
Đức Mẹ và
anh em Ngài đến t́m Ngài. Tại sao đến t́m
Đức Giêsu? V́ Ngài đi lâu quá không về? Hay nghe tin ǵ
khác về Đức Giêsu?
Tương quan
của tôi đối với gia đ́nh như thế nào?
ii. Mẹ và anh em tôi
là những người nghe và giữ lời Thiên Chúa
Tương quan
với Thiên Chúa phải chi phối tất cả, và là
động lực chính của tất cả. Đây không
phải là lời coi thường tương quan xác
thịt. Hơn nữa, Mẹ Maria đă đang và sẽ
luôn luôn lắng nghe và giữ Lời Thiên Chúa trong suốt
đời Ngài.
Cách cư xử
của tôi với gia đ́nh, với những người
thân yêu có giống Đức Giêsu không?
Tâm sự, nói
chuyện thân thưa với Chúa, xin cho ḿnh được
sống chết với Lời Chúa, cho ḿnh được
như Mẹ: cưu mang Chúa trong ḷng cách thiêng liêng và ban Chúa
cho những người ḿnh tiếp xúc.
Khung cảnh: Như
ḿnh hiện diện cùng với Mẹ đứng
dưới chân thập giá.
Ơn xin: Xin Chúa cho
ḿnh tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa như
Mẹ, dù ở trong những giây phút tăm tối nhất.
i. Đức Maria
luôn dơi bước theo Con Ngài, cả những lúc vinh quang hay
tăm tối u ám của Con Ngài. Mẹ đi theo Con trên
đường vác thập giá, hiện diện dưới
chân thập giá khi tất cả hầu như đă bỏ
Ngài.
ii. Cố gắng
đi vào tâm t́nh của Đức Mẹ, đi vào nỗi
đau của Mẹ khi thấy Con bị khổ h́nh như
vậy. Đi vào ḷng Mẹ để thấy đức
tin của Mẹ đối với Thiên Chúa khi Đức Giêsu
sinh ra nghèo hèn, và nhất là khi Con Mẹ bị treo trên
thập giá.
Tâm sự với
Mẹ, xin Mẹ xin Chúa cho ḿnh được trở nên
giống Mẹ và giống Con Mẹ hơn: phó thác tất
cả trong tay Thiên Chúa dù bất cứ trong hoàn cảnh nào.
Nếu muốn
cầu nguyện về chủ đề này nhiều
hơn nữa, th́ có thể dùng J. Laplace, sđđ, bản
dịch trang 118-135.
Chú ư xem thần
dữ có giả dạng thần lành để làm ḿnh chia
trí không, xem LT 332-234.
Nhớ xét ḿnh riêng
về ḷng quảng đại đối với Chúa qua
việc giữ các điều phụ thêm, đặc
biệt cầu nguyện trọn một giờ, xét
ngắm, giữ tâm t́nh cầu nguyện cả ngày, giữ
ngũ quan và nhất là giữ thinh lặng nội tâm.
Ơn xin của
chủ đề này vẫn là xin được hiểu
biết về Đức Giêsu hơn, được yêu
mến Đức Giêsu hơn, và theo Ngài hơn.
T́nh yêu không có
giới hạn, không bao giờ chúng ta có thể nói chúng ta
đă đạt tới cùng điểm của t́nh yêu.
Như hai người nam nữ yêu nhau, họ muốn t́m hiểu
nhau để yêu và tin cậy nhau hơn, th́ cũng
tương tự như vậy giữa chúng ta và Thiên Chúa.
Sứ mạng Đức
Giêsu là làm chứng cho t́nh yêu của Thiên Chúa đối
với con người. Làm sao để con người
biết và chấp nhận t́nh yêu của Thiên Chúa
đối với con người? Làm sao để con
người rung cảm và rồi đáp lại t́nh Chúa
đối với con người?
Khung cảnh: Như
ḿnh hiện diện khi Đức Giêsu rao giảng trong các
hội đường.
Ơn xin: Hiểu
biết về Đức Giêsu hơn, để yêu và theo
Ngài hơn. Ngài kiên nhẫn chịu đựng con
người, Ngài yêu thương con người nên phải
nói sự thật, và ngay cả khi t́nh yêu bị từ
chối Ngài vẫn yêu thương con người.
Điểm gợi
ư:
i. Người ta nô
nức đón nghe Đức Giêsu
Sau khi Đức
Giêsu làm phép lạ (Mc 1:21-22.27-28.32-33.37-45); chữa
người bại liệt (Mc 2:12); trừ quỷ (Mc 3:7-12).
ii. Người ta
bắt đầu x́ xầm chống đối Ngài
Đặc biệt
là các kư lục, biệt phái khi Đức Giêsu ăn
uống với người tội lỗi (Mc 2:16-18); khi
Đức Giêsu đánh đuổi người buôn bán
khỏi đền thờ (Mc 11:15-18.27-33); khi Đức
Giêsu chữa bệnh ngày sabbat (Mc 3:2-4).
Tâm sự với Đức
Giêsu, Đấng đă sống mầu nhiệm tự
hủy Thiên-Chúa-làm-người, nghĩa là chấp nhận
bị người ta chống đối. Tại sao Chúa
lại nói cho người ta điều mà người ta
không muốn tiếp nhận, tại sao Ngài lại nói
điều mà v́ điều đó Ngài bị người ta
từ chối và ghét bỏ?
Khung cảnh: Như
ḿnh hiện diện khi Đức Giêsu giảng dạy trong
các hội đường.
Ơn xin: Hiểu
biết thâm sâu về Đức Giêsu hơn, để yêu
và theo Ngài hơn.
Điểm gợi
ư:
i. Người thân
nói Đức Giêsu bị điên (Mc 3:20-21)
ii. Kư lục,
biệt phái và dân chúng
Nói Đức Giêsu nhờ
tướng quỷ mà trừ quỷ (Mc 3:22-26).
Nói Đức Giêsu
bị quỷ ám, phạm thượng và ném đá
Đức Giêsu (Ga 8:48-59).
Tâm sự: Thân
thưa với Đức Giêsu, Người "thất
bại" trong "sự nghiệp.”
Như ḿnh hiện
diện trong khung cảnh Chúa lên núi và cầu nguyện
suốt đêm, sau đó chọn mười hai
người đặc biệt, gọi là tông đồ.
Trong bài cầu
nguyện này, xin Chúa cho ḿnh ơn hiểu biết thâm sâu
về Chúa, về ư định cứu độ của
Ngài, về việc “dùng con người” trong chương
tŕnh cứu độ, và xin cho ḿnh được mau
mắn đáp trả lời mời gọi của Chúa.
i. Ngài lên núi, cầu
nguyện, gọi những kẻ Ngài muốn, và họ
đến với Ngài
Nh́n nghe quan sát
Đức Giêsu cầu nguyện suốt đêm (Lc 6:12).
Điều này cho thấy việc tuyển chọn nhóm 12
quan trọng như thế nào!
ii. Ngài chọn nhóm 12
để họ ở với Ngài, và để Ngài sai
đi rao giảng
Ngài tuyển
chọn, gọi tên từng người!
Sứ mạng
của nhóm 12: ở với Ngài, để Ngài sai đi rao
giảng với quyền trừ quỷ.
Tâm sự, nói
chuyện thân thưa với Chúa, xin Chúa chọn ḿnh, cho ḿnh
sống đặc biệt thân thiết với Chúa, cho ḿnh
quảng đại đáp trả lời mời gọi
của chúa.
Như ḿnh hiện
diện với Đức Giêsu rong ruổi giảng dạy
trong các hội đường Do Thái ngày này qua ngày nọ,
nơi này tới nơi kia.
Trong bài cầu
nguyện này, xin Chúa cho ḿnh hiểu biết Chúa hơn,
để yêu Chúa hơn và theo Ngài hơn.
Điểm gợi
ư:
i. Các tông đồ
và các môn đồ thắc mắc tại sao dần dần
người ta lại bỏ Đức Giêsu, không nghe Ngài
giảng dạy nữa, thậm chí cả những môn
đồ cũng bỏ đi (Ga 6:60-65)!
ii. Đức Giêsu giải
thích trả lời bằng dụ ngôn gieo giống (Mc 4:1-20)
Đón nhận
Lời Ngài hay không, là tự do của
mỗi người.
V́ Đức Giêsu
mặc khải điều vượt sức hiểu
biết của con người: Ngài có quyền tha tội
(Mc 2:5-7), có trước Abraham (Ga 8:57-58), là một với
Thiên Chúa (Ga 10:30).
iii. Không
được che dấu ánh sáng, v́ sứ mạng của
chúng ta là thành men và ánh sáng để làm chứng cho Chúa Giêsu (Mc
4:21-25).
Tâm sự: Nói
chuyện thân thưa với Đức Giêsu "thất
bại.”
Khung cảnh: Như ḿnh
đang hiện diện trong vườn ươm cây, cây
non phát triển mỗi ngày.
Xin ơn hiểu
biết Đức Giêsu, thái độ lập trường
của Ngài, ḷng nhân ái của Ngài đối với con
người dù t́nh yêu của Ngài bị từ chối.
i. Lời Chúa một
khi được con người tiếp nhận, cũng
tương tự như hạt giống âm thầm mọc
dù người gieo biết hay không biết. Lời Chúa có
sức mạnh không ǵ có thể ngăn cản nổi,
miễn là người ta đón nhận.
ii. Khi
được tiếp nhận và phát triển, tương
tự như hạt cải trước bé nhưng sau thành
cây lớn, Lời Chúa sẽ thành tiêu chuẩn sống và
thành cột trụ nâng đỡ cuộc sống của
chúng ta.
iii. Một
người sống theo Lời Chúa, sẽ thành nơi
nương tựa của nhiều người.
Tâm sự: Thân
thưa với Chúa Giêsu, xin cho ḿnh mềm mại và dễ
dạy đối với Lời Chúa.
Như thể ḿnh
đang hiện diện cùng Đức Giêsu trên thuyền
ở giữa biển hồ Galilê.
Trong bài cầu
nguyện này, xin Chúa cho ḿnh ơn hiểu Chúa hơn
để yêu và theo Ngài hơn.
i. Đức Giêsu ngủ
v́ mệt phía đằng sau lái thuyền.
Nh́n, nghe, quan sát
Đức Giêsu ngủ v́ mệt.
ii. Biển
động thuyền ḥng ch́m
Các tông đồ
sợ. Đánh thức Đức Giêsu.
iii. Đức Giêsu can
thiệp, và quở mắng làm biển yên
“Sao hèn tin thế?”
Phản ứng của các tông đồ.
Tâm sự, thân
thưa với Chúa, xin cho ḿnh được tín thác hoàn toàn
vào Chúa.
Như ḿnh đang
hiện diện với Chúa và các tông đồ, khi
Đức Giêsu làm phép lạ để chữa lành dân chúng.
Trong bài cầu
nguyện này, xin Chúa cho ḿnh ơn hiểu biết
Đức Giêsu hơn, để yêu Ngài hơn và yêu Ngài
hơn.
Điểm cầu
nguyện: Mỗi điểm có thể là một bài cầu
nguyện. Nh́n nghe quan sát Đức Giêsu, suy nghĩ và rút ích
lợi.
i. Chữa
người quỷ ám (Mc 5:1-20).
ii. Chị phụ
nữ băng huyết và con gái ông Giai-rô (Mc 5:21-43).
iii. Chữa những
người ở Ghennêsaret (Mc 6:53-56).
Tâm sự, thân
thưa với Chúa, xin cho ḿnh được “khỏi
mọi sự dữ” và mang Tin Mừng giải phóng
đến cho nhiều người.
Như ḿnh đang
hiện diện với Đức Giêsu và các tông đồ
trong những giây phút khủng hoảng “người ta
bỏ Chúa, không chấp nhận Ngài khá nhiều.”
Xin ơn hiểu
biết về Chúa hơn, đừng quá u mê như các tông
đồ, để yêu và theo Chúa hơn.
Điểm gợi
ư:
i. Tại sao nhát
đảm thế? Các ông không có ḷng tin ư (Mc 4:40-41)?
Biển động,
Chúa ngủ, các tông đồ sợ hăi.
ii. Dân chúng cũng
chẳng hiểu Ngài và chẳng tin (Mc 6:1-6)
Đức Giêsu
về làng Nadarét, người ta cứng ḷng không tin, v.v.
iii. Lấy đâu ra
bánh cho bấy nhiêu người ăn (Mc 6:35-37)
Chúa làm phép lạ hóa
bánh ra nhiều nuôi dân.
iv. Cứ yên ḷng tôi
đây, đừng sợ (Mc 6:42-52.50)
Chúa đi trên
biển để tới với các tông đồ đang
ở trên thuyền.
v. Các ông chưa
hiểu chưa nhận ra sao? Các ông giữ ḷng trí
đần độn măi thế sao? Các ông có mắt mà không
thấy, có tai mà không nghe sao (Mc 8:14-21).
Tâm sự: Xin Chúa
mở ḷng trí con để con hiểu Chúa hơn, tin Chúa
hơn, yêu Chúa hơn và dâng hiến mạng sống
để theo Ngài hơn.
Khung cảnh:
Đức Giêsu đưa các tông đồ riêng ra một
nơi phía bắc Cêsarê Philip.
Ơn xin: Hiểu
thực sự về Đức Giêsu. Ngài là Đức Kitô,
là Con Thiên Chúa.
Điểm gợi
ư:
i. Người ta
bảo con người là ai?
Sau thời gian dài
Đức Giêsu rao giảng, người ta nói Đức
Giêsu là ai?
Người ta
bảo thầy là tiên tri. Người của Thiên Chúa,
được sai tới để nói với dân
đại diện Thiên Chúa. Tiên tri là dấu chỉ cho
thấy Thiên Chúa yêu thương và quan tâm tới dân Ngài.
ii. C̣n các anh, các anh
nói tôi là ai?
Thầy là
Đức Kitô. Kitô, Christos, Massiah, được xức
dầu. Được xức dầu, được Thiên
Chúa sai phái, được trao sứ mạng. Được
xức dầu để làm tư tế, hay làm vua, hay làm
tiên tri.
iii. Đức Giêsu
là ai đối với tôi?
Chỗ đứng
của Đức Giêsu trong đời tôi như thế nào?
Tâm sự với Đức
Giêsu Kitô, Đấng đă đến để giao ḥa con
người và Thiên Chúa.
Như ḿnh đang
hiện diện cùng với Đức Giêsu và các tông
đồ, khi Ngài muốn ở riêng với các tông
đồ để dạy dỗ họ.
Trong bài cầu
nguyện này, xin Chúa cho ḿnh hiểu biết thâm sâu về
Chúa, Đấng đă chấp nhận thập giá
để cứu độ con người, và xin cho ḿnh nên
giống Ngài hơn.
i. Thế nào là
thập giá?
Cây thập giá trên vai
Chúa Giêsu. Những trái ư trong đời Ngài. Những
đối xử gian ác đối với Đức Giêsu:
vu khống, muốn giết Ngài, v.v.
iii. Đức Giêsu chấp
nhận thập giá
Xem thái độ
của Đức Giêsu đối với thập giá như
thế nào?
Thái độ
của tôi đối với thập giá của tôi như
thế nào?
Tâm sự với
Đấng đă đi tới cùng mầu nhiệm nhập
thể, tự hủy.
Như ḿnh đang
hiện diện cùng đám đông và các tông đồ nghe
Đức Giêsu rao giảng.
Trong bài cầu
nguyện này, xin Chúa cho ḿnh hiểu biết giá trị
của thập giá, hiểu biết t́nh Ngài đối
với tôi, và cho ḿnh yêu Ngài hơn và theo Ngài.
i. Con đường
thập giá là con đường cứu độ
Thiên Chúa muốn Đức
Giêsu đi, chấp nhận thân phận con người,
để cứu độ con người.
Giới hạn
của mỗi người, cũng có thể là thập giá
đối với người đó.
ii. Thập giá
cũng là con đường mỗi người chúng ta
phải đi qua
Đâu là thập giá
của tôi?
So thập giá của
tôi với thập giá (trái ư, điều ác người ta
gây nên) của Đức Giêsu?
Thái độ
của tôi với thập giá của tôi như thế nào?
Tâm sự với Đức
Giêsu, Đấng đă tự hủy ḿnh v́ t́nh yêu và cho t́nh yêu.
Như ḿnh đang
hiện diện cùng Đức Giêsu và các tông đồ
trước sự kiện em bé bị bệnh và lời
thỉnh cầu của cha em bé.
Xin ơn hiểu
biết về Chúa hơn để yêu Ngài hơn và theo Ngài
hơn.
i. Các tông đồ
không thể trừ qủy
Các tông đồ
đă thử trừ quỷ nhưng không thành công. Tại
sao?
ii. "Nếu
Thầy có thể làm ǵ, xin Thầy thương xót chúng tôi”
Lời thỉnh
cầu thành khẩn của cha em bé. T́nh yêu của
người cha đối với con bệnh tật
của ḿnh.
Không ǵ là không thể
với một kẻ tin. Xin thầy cứu giúp niềm tin
yếu kém của tôi.
iii. Giống qủy
này không thể trừ nếu không cầu nguyện và ăn
chay
Ăn chay hy sinh hăm
ḿnh, diễn tả thái độ khiêm tốn bất
lực. Cầu nguyện, diễn tả thái độ tin
cậy nơi Thiên Chúa.
Tâm sự với
Chúa, xin cho con được tin vào Chúa, đừng cứng
ḷng tin như dân chúng và ngay cả như các tông đồ,
môn đệ.
Như ḿnh đang
hiện diện cùng Đức Giêsu và các tông đồ
với em bé đứng giữa họ.
Xin ơn hiểu Chúa
hơn, để yêu và nên giống Ngài hơn.
i. Tranh luận
giữa các tông đồ khi đi đường xem ai là
người làm lớn giữa họ
Tại sao các tông
đồ tranh luận? Các tông đồ ước mong ǵ?
ii. Dọc
đường các anh tranh luận ǵ thế?
Các ngài im lặng v́
biết ḿnh có lỗi, đă không sống theo gương thầy,
theo điều thầy dạy.
iii. Em bé đứng
giữa các tông đồ
H́nh ảnh một em
bé nói lên điều ǵ? Thái độ đơn sơ
của em bé.
Chúa dạy bài
học phục vụ. Ai muốn làm lớn phải là
người phục vụ.
Tâm sự: Xin Chúa tha
lỗi v́ nhiều lần và nhiều lúc trong cuộc
đời ḿnh cũng không muốn hiểu điều Chúa
dạy, và không làm theo điều Chúa dạy.
Như ḿnh đang
hiện diện khi Đức Giêsu dạy bảo Gioan.
Trong bài cầu
nguyện này, xin Chúa cho ḿnh hiểu về Đức Giêsu,
hiểu thái độ khoan dung của Chúa, để nên giống
Ngài hơn.
i. Lư do khiến Gioan
ngăn cản?
Phe phái? Độc
quyền?
ii. Những
người làm điều tốt đều thuộc
về Thiên Chúa
Làm điều
tốt cho người khác, ai làm cũng tốt cả. Không
phe phái, không độc quyền.
Càng nhiều
người làm điều tốt, giúp đỡ
người khác, càng tốt.
Tâm sự với
Chúa, xin cho con có tinh thần quảng đại, bao dung, yêu
mến, và nghĩ tốt cho mọi người.
Như ḿnh đang
hiện diện khi Đức Giêsu cho các tông đồ
biết rằng Ngài sẽ bị bắt bị giết. Báo
lần thứ ba.
Ơn xin: Xin hiểu
Chúa không chỉ bằng trí óc, nhưng bằng chính cuộc
sống.
i. Hai con ông Giêbêđê
xin được ngồi bên tả và bên hữu Chúa
Các tông đồ
hiểu Đức Giêsu là Kitô Vua, nên tranh căi với nhau
nếu Chúa chết th́ ai sẽ làm lớn. Hai tông đồ
Gioan và Giacôbê xin được ngồi bên tả bên
hữu, là hai chỗ tốt nhất, làm lớn nhất.
ii. Các tông đồ
khác phẫn uất tức giận (c.41)
Người nào trong
các tông đồ cũng đều muốn làm lớn
cả, nên tức giận khi thấy hai ông Gioan và Giacôbê khôn
quá! Các tông đồ cũng đều giống nhau.
iii. Đức Giêsu dạy
lần nữa: hăy làm tôi tớ mọi người
Ai muốn làm
lớn, phải là người phục vụ mọi
người.
Thái độ
của tôi như thế nào đối với việc
phục vụ anh em ḿnh?
Tâm sự với
Chúa, xin được hiểu với con tim, con
đường Đức Giêsu đi là con đường
tự hủy, con đường thập giá, con
đường phục vụ v́ t́nh yêu.
Như ḿnh đang
hiện diện khi Đức Giêsu và các tông đồ
gặp người mù ngồi ăn xin bên đường.
Xin ơn hiểu
rằng Chúa đến cứu chúng ta khỏi mù, để
chúng ta được biết Ngài và sống hạnh phúc.
i. Anh mù
Người mù ao
ước ǵ nhất? Lời cầu xin với tất
cả niềm hy vọng: "Lạy Con Vua Đavid, xin
thương xót tôi.”
Bị ngăn
cản nhưng anh ta vẫn kiên tŕ.
ii. Niềm vui
của anh ta khi Đức Giêsu gọi anh
Anh quăng áo, bỏ
tất cả, nhẩy chồm lên. Tràn đầy hy
vọng.
iii. Ḷng tin của anh
đă cứu anh
Không ǵ là không thể
với kẻ tin.
Tôi có ao ước ǵ
không? Tôi có cần Chúa giúp điều ǵ không?
Tâm sự: Xin cho con
tin tưởng và trông cậy vào Chúa hơn, như anh mù này
đă tin tưởng và trông cậy Chúa.
Như ḿnh đang
hiện diện trước đám đông chống
đối Đức Giêsu.
Ơn xin: Xin cho con
đi theo con đường Chúa đi.
i. Những
người đặt lợi trên Thiên Chúa (Mc 11:15-19)
Những
người dùng cả đền thờ để
trục lợi: người buôn bán lẫn người cho
phép.
Tiền bạc
với những người này là quan trọng nhất.
ii. Những kẻ vô
ơn và giết người (Mc 12:1-12)
Những tá
điền giết con ông chủ, người thừa
kế để chiếm đoạt tài sản.
iii. Những kẻ
không thực ḷng với Thiên Chúa (Mc 12:13tt)
Muốn thử Chúa,
muốn gài bẫy Chúa để hại Ngài.
Tôi có ở trong ba
loại người này không?
Tâm sự: Xin cho con
yêu mến Chúa với trọn cả tấm ḷng, và theo Chúa
với trọn cả con người.
Như ḿnh đang
hiện diện khi Chúa trả lời câu hỏi của
biệt phái và thông luật.
Ơn xin: Hiểu
biết về Đức Giêsu hơn, Đấng đă
sống tất cả cho t́nh yêu và v́ t́nh yêu. Xin cho con nên
giống Ngài.
i. Yêu Chúa hết linh
hồn, hết trí khôn, hết sức lực
Thiên Chúa là nhất.
Không ǵ trên Thiên Chúa. Chọn Thiên Chúa trên tất cả.
ii. Yêu tha nhân như
chính ḿnh
Ai nói ḿnh yêu Chúa mà
ghét anh em ḿnh, th́ đó là kẻ nói dối (1Ga 4:20).
Yêu nhau như
Thầy đă yêu thương anh em (Ga 13:34-35).
Tâm sự: Xin cho con
biết sống yêu thương trong mọi nơi mọi
lúc, với ánh mắt, tư tưởng, lời nói và hành
động.
Như ḿnh đang
hiện diện nh́n ngắm Đức Giêsu thanh thản
tự do với tất cả.
Trong bài cầu
nguyện này, xin Chúa cho ḿnh hiểu biết thâm sâu bằng
con tim về Chúa, để yêu Ngài hơn, và theo Ngài hơn.
i. Đức Giêsu tự
do với những t́nh cảm và cuộc t́nh
Ngài thuộc hoàn toàn
về Thiên Chúa, và như vậy không thuộc riêng về
bất cứ ai khác, nhưng thuộc về tất cả
mọi người.
ii. Đức Giêsu tự
do với bạc tiền
Ngài sinh ra nghèo,
sống hơn 30 năm trong cảnh nghèo, đi rao giảng
trong nghèo "chồn cáo có hang, chim trời có tổ, con
người không có chỗ tựa đầu.”
iii. Đức Giêsu tự
do với danh vọng quyền thế
Ngài suy nghĩ, nói và
sống không dựa vào dư luận hay ư kiến của
người ta, nhưng chỉ dựa vào thánh ư Thiên Chúa mà
thôi.
Tâm sự: Xin cho con
được tự do như Chúa, tự do với bạc
tiền, danh vọng, t́nh duyên.
Như ḿnh đang
hiện diện trong gia đ́nh thánh tại Nadarét.
Trong bài cầu
nguyện này, xin Chúa cho ḿnh được nên giống
Mẹ và thánh Giuse, thuộc trọn về Thiên Chúa, tôn
trọng những ǵ thuộc về Thiên Chúa.
i. Đức Maria
thuộc trọn về Thiên Chúa ngay từ khi
được sinh ra, và Mẹ không ngừng thuộc
về Thiên Chúa trong suốt đời.
Từ khi thụ thai
ngôi Lời nhập thể, Đức Maria thuộc về
Thiên Chúa hơn nữa.
ii. Thánh Giuse thuộc
trọn về Thiên Chúa, đặc biệt trong tương
quan với Mẹ
Thánh Giuse nhận
biết Đức Maria thuộc về Thiên Chúa, nên ngài luôn
luôn tôn trọng Mẹ, bởi Mẹ là của Thiên Chúa.
Tâm sự: Xin Mẹ
và thánh cả giúp ḿnh cũng được thuộc
trọn về Chúa trong mọi sự: trong ư hướng,
trong tư tưởng, lời nói và hành động.
Trường hợp
linh thao trong cuộc sống thường ngày, nếu
thấy ḿnh cầu nguyện bài nào không đạt, th́
cầu nguyện lại bài đó.
Cứ b́nh
thường th́ cầu nguyện “được,” nếu
cầu nguyện không được ắt phải có nguyên
nhân, cố gắng t́m ra cho được nguyên do làm ḿnh
cầu nguyện không được để sửa, có
vậy mới tiến bộ trong cầu nguyện.
Cố gắng
rước lễ mỗi ngày, nếu được.
Nếu có lầm
lỡ, hăy thống hối và bắt đầu lại. Hăy
xét kỹ ư hướng của ḿnh, xem ḿnh đă quyết
chí đủ chưa, ḿnh có đồng lơa với ma quỷ
trong điều ǵ đó không?
Đọc lại
ghi chú của những chủ đề trước.
Nhớ xét ḿnh chung,
và xét ḿnh riêng (LT 44.24-31).
Trong “ngày thứ
tư của tuần thứ hai” (LT 136) thánh Inhaxiô
đề nghị một số bài cầu nguyện (Hai
Hiệu Cờ, Ba Mẫu Người, Ba Bậc Khiêm
Nhường) và việc “chọn lựa bậc sống.”
Tuy không phải tất cả những điều trên
được làm trong một ngày, nhưng chúng ta cứ quy
ước gọi tạm là “ngày Inhă.”
Thánh Inhaxiô muốn ǵ
khi gợi ư những bài cầu nguyện nêu trên?
Trong tất cả
các bài cầu nguyện này, thánh Inhaxiô đều dạy
chúng ta làm ba cuộc tâm sự: một với Đức
Mẹ, một với Chúa Con và một với Chúa Cha, nài xin
cho ḿnh được đứng vào dưới cờ
của Chúa Giêsu bằng:
· ơn được nghèo khó trong ḷng tột
bậc, và ngay cả được ơn nghèo khó thực
sự nếu Chúa được tôn vinh hơn;
· ơn chịu sỉ nhục và khinh chê để
bắt chước Chúa hơn nếu điều này không
gây dịp tội cho ai và không làm mất ḷng Chúa.
Trong bài cầu
nguyện về Hai Cờ, thánh Inhaxiô dạy chúng ta xin
ơn nhận biết
mưu mô của kẻ thù và ơn
trợ giúp để tránh, cũng như ơn nhận biết đời
sống chân thực mà Chúa dạy cùng ơn để bắt chước (LT 139). Trong
bài Ba Mẫu Người, chúng ta xin ơn chọn điều nào làm vinh danh Chúa hơn (LT
152). Trong suy gẫm về Ba Bậc Khiêm Nhường, xin
Chúa chọn ḿnh để
ḿnh bắt chước và
phục vụ Chúa hơn (LT 168).
Như vậy chúng ta
thấy, tiến tŕnh ơn xin của các bài cầu
nguyện Inhaxiô đi từ xin cho ḿnh nhận thức,
đến xin cho ḿnh chọn, và sau đó xin Chúa chọn ḿnh
vào đời sống nghèo và sỉ nhục khinh chê.
Các bài cầu
nguyện Inhă cho chúng ta hiểu biết hơn về con
người của chúng ta: xem chúng ta đă nhận thức
về con đường của Đức Giêsu như
thế nào, và xem chúng ta có dám chọn theo Đức Giêsu
nghèo và bị sỉ nhục không, xem chúng ta có sẵn sàng
sống như Chúa Giêsu đă sống không?
Hai con
đường (Tv 1);
Tôi phải làm ǵ (Mc 10:17-31);
Định mạng Đức
Giêsu (Mc 10:32-34);
Nếu thế gian
ghét các ngươi (Ga 15:18-25);
Ai muốn theo Ta (Mt 16:21-28).
Sau các bài linh thao
về hai cờ hiệu, ba mẫu người và ba bậc
khiêm nhường, thao viên sẽ làm chọn lựa bậc
sống. Nếu không b́nh tâm th́ không thể làm chọn
lựa được. Những bài cầu nguyện trong
ngày Inhă giúp chúng ta tự đánh giá xem ḿnh đă đạt
được b́nh tâm chưa, và đạt được
đến mức độ nào.
Như ḿnh đang
đứng trước ngă ba đường, và phải
chọn theo con đường nào đó.
Xin ơn cảm
nghiệm được hạnh phúc khi theo Chúa ngay cả
những lúc có vẻ "khổ.”
i. Cuộc sống
của kẻ dữ: những dự định, mưu mô,
hành động.
Họ t́m ǵ? Họ
dùng phương tiện ǵ để đạt
điều đó? Họ có từ bỏ phương
tiện nào mà họ nghĩ rằng họ sẽ
đạt được điều họ muốn không?
ii. Cuộc sống
của người lành
Thiên Chúa làm tiêu
chuẩn sống của người lành.
T́m Chúa, nghĩ
rằng, được Chúa là được tất
cả.
Tâm sự với Chúa,
Đấng sống nghèo hèn và khổ nhục v́ yêu tôi. Xin
cho ḿnh ơn b́nh tâm: Thiên Chúa là nhất, c̣n những
điều khác th́ sao cũng được.
Khung cảnh:
Đức Giêsu đang chuẩn bị lên đường
cùng với các tông đồ th́ anh giầu có này tới, bái
lạy Ngài.
Trong bài cầu
nguyện này, xin Chúa cho ḿnh quảng đại và mau mắn
đáp lại tiếng Chúa mời gọi.
i. Cuộc sống
người thanh niên trước khi gặp gỡ Đức
Giêsu
Anh ta là người
tốt, đă giữ tất cả các giới răn.
Anh có khao khat mong
ước điều cao quư hơn: sư sống
đời đời.
ii. Gặp gỡ và
đối thoại giữa Đức Giêsu và anh nhà
giầu có muốn được sống đời
đời cách chắc chắn
Chúa nh́n anh ta đem
ḷng yêu mến.
iii. Thái độ
của anh thanh niên sau cuộc gặp gỡ với Đức
Giêsu
Buồn rầu
bỏ đi. Gặp gỡ Chúa mà không đáp trả, th́ c̣n
tệ hơn trước.
iv. Ngày nay Chúa mời
gọi ḿnh từ bỏ ǵ để theo Ngài?
Tâm sự với Chúa
Giêsu, xin Chúa gọi con, và làm con mau mắn đáp trả
lời mời gọi của Ngài.
Khung cảnh:
Đức Giêsu và các tông đồ sau biến cố anh
thanh niên giầu có bỏ đi không đáp lại lời
mời của Chúa.
Ơn xin: Xin ơn
hiểu giá trị của đồng tiền và những
ràng buộc của đồng tiền, xin ơn quảng
đại đáp trả tiếng Chúa và dứt bỏ
quyến luyến đối với tiền bạc.
i. Người
giầu khó vào được nước trời!
Tiền bạc trói
buộc con người.
ii. Lạc đà chui
qua lỗ kim c̣n dễ hơn người giầu vào
được nước Thiên Chúa
Giầu có mà vào
Nước Thiên Chúa, thật là khó.
iii. Không ǵ là không
thể đối với Thiên Chúa
Những
người giầu có mà quảng đại, khiêm
nhường, quả là công tŕnh kỳ diệu của Thiên
Chúa.
iv. Này chúng con đă
bỏ tất cả mà theo Thầy
Tuy các tông đồ
không giầu có tiền bạc, nhưng các ngài đă bỏ
tất cả để theo Chúa: gia đ́nh, cha mẹ,
những người thân yêu, v.v.
Tâm sự với Chúa
Giêsu, Đấng mời gọi các tông đồ và tôi, xin
cho tôi biết bỏ tất cả để đi theo Chúa Giêsu.
Làm như thánh Inhaxiô
chỉ trong sách linh thao!
Như ḿnh đang
hiện diện trước Thiên Chúa và triều đ́nh
thiên quốc.
Trong bài cầu
nguyện này, xin Chúa cho ḿnh được quảng
đại sẵn sàng bỏ tất cả để
được Chúa mà thôi.
i. Tôi quyến
luyến lệch lạc ǵ nhất?
Trong quá khứ?
Trong hiện tại?
ii. Trước
đây tôi thuộc mẫu người thứ mấy?
Mẫu người
thứ nhất: muốn được b́nh tâm làm theo ư Chúa
nhưng không làm ǵ cả cho tới lúc chết, không từ
bỏ những lệch lạc của ḿnh.
Mẫu người
thứ hai: muốn b́nh tâm làm theo ư Chúa nhưng muốn
giữ lại cái lệch lạc của ḿnh, muốn
được cả hai. Họ cũng không làm ǵ cả.
Mẫu người
thứ ba: sẵn sàng bỏ tất cả để
được b́nh tâm làm theo ư Chúa, trong khi chờ
đợi để biết ư Thiên Chúa về điều
lệch lạc th́ coi như bỏ cái lệch lạc
đó.
iii. Hiện tại
tôi có thuộc mẫu người thứ ba không?
Tâm sự, thân
thưa với Chúa, xin cho ḿnh được quảng
đại, bỏ tất cả để theo Chúa, và
chỉ theo Chúa mà thôi.
Như ḿnh đang
hiện diện trước ngai ṭa Thiên Chúa và thần thánh
trên trời.
Trong bài cầu
nguyện này, xin Chúa cho ḿnh được yêu Chúa
đến độ ao ước nên giống Chúa,
được đồng h́nh đồng dạng với
Ngài.
i. Trong quá khứ, tôi
yêu Chúa ở mức độ nào?
Mức độ
thứ nhất: thà chết không phạm tội trọng!
Mức độ
thứ hai: điều nào làm vinh danh Chúa hơn th́ ḿnh làm,
c̣n nếu tất cả đều làm vinh danh Chúa ngang nhau
th́ b́nh tâm, nghĩa là sao cũng được.
Mức độ
thứ ba: điều nào làm vinh danh Thiên Chúa hơn th́ ḿnh
làm, c̣n nếu tất cả làm vinh danh Chúa ngang nhau th́ v́ t́nh
yêu đối với Đức Giêsu, điều nào làm ḿnh
nên giống Chúa Giêsu hơn th́ ḿnh ao ước
được điều đó; nghĩa là nếu
phải chọn giữa giầu và nghèo, th́ ḿnh chọn nghèo
với Chúa nghèo, nếu phải chọn được danh
giá và bị sỉ nhục khinh chê, th́ ḿnh chọn bị sỉ
nhục với Đức Giêsu chịu sỉ nhục
hơn là được trọng vọng danh giá.
ii. Tôi có ao
ước được yêu Chúa ở mức độ
thứ ba không?
Tâm sự, thân
thưa với Chúa, xin cho ḿnh ơn yêu Chúa ở mức
độ thứ ba, yêu Chúa đến độ muốn
ḿnh đồng h́nh đồng dạng với Đức Giêsu:
nghèo và bị sỉ nhục khinh chê với Chúa sống nghèo
và bị sỉ nhục khinh chê hơn là giầu có và
được trọng vọng.
Tâm sự, thân
thưa với Chúa, xin cho ḿnh được nên giống
Chúa trong nghèo khó và sỉ nhục khinh chê.
Khung cảnh:
Đức Giêsu trên đường lên Giêrusalem cùng với
các tông đồ.
Xin ơn hiểu biết
nguyên động lực chi phối đời sống Đức
Giêsu, và ơn ao ước được nên giống Ngài.
i. Đức Giêsu,
cuộc đời “nghèo” ở quá khứ và hiện tại
Nh́n ngắm, nghe, quan
sát Đức Giêsu suốt đời sống tại
thế. Ngài đă sống nghèo như thế nào?
ii. Đức Giêsu cảm
thấy những ǵ sẽ xảy đến cho ḿnh!
Không bận tâm
về chuyện giầu nghèo. Điều Ngài bận tâm là
thánh ư Thiên Chúa, là làm sao cứu độ con người,
v.v.
iii. Thái độ
đón nhận những ǵ sẽ xảy ra cho ḿnh như
đến từ Thiên Chúa và như dấu chỉ t́nh yêu
đối với con người
Trong cuộc sống
của Đức Giêsu: Thiên Chúa là quan trọng, con
người là quan trọng.
Tâm sự với Chúa
Giêsu, Đấng sống cho t́nh yêu và chết cho t́nh yêu.
Như ḿnh đang
hiện diện trong bữa tiệc ly cùng với
Đức Giêsu và các tông đồ, và Đức Giêsu nói
những lời quan trọng.
Trong bài cầu
nguyện này, xin Chúa cho ḿnh ơn theo Chúa dù có bị thế
gian ghét bỏ.
i. Thế gian thù ghét Đức
Giêsu
Người
đến nhà người, nhưng người nhà không
đón tiếp Ngài (Ga 1:14).
Họ lượm
đá ném Ngài khi Ngài mặc khải chân tướng của
Ngài (Ga 8:59).
Nếu họ đă
bắt bớ Ta, ắt họ cũng bắt bớ các
ngươi (Ga 15:20).
ii. Những h́nh
thức thế gian bắt bớ môn đệ Đức Giêsu
Vu oan giá họ, vu
khống, hành hạ, giết.
Tâm sự, thân
thưa với Chúa, xin cho ḿnh được nên giống
Chúa, Đấng bị thế gian thù ghét và hăm hại.
Như ḿnh đang
hiện diện với Đức Giêsu và các tông đồ
sau biến cố Phêrô tuyên tín.
Ơn xin: Nên
giống Đức Giêsu, đồng h́nh đồng
dạng với Đức Giêsu v́ yêu Ngài.
i. Đức Giêsu bị
người ta bắt, bêu nhục, bị đánh đ̣n, và
bị giết ô nhục
Nh́n Đức Giêsu
trong suốt cuộc sống tại thế của Ngài.
ii. Muốn theo Chúa,
phải vác thập giá ḿnh
Chấp nhận
những giới hạn của ḿnh!
Hiến mạng
sống cho Chúa, sống cho t́nh yêu và chết cho t́nh yêu.
Tâm sự như trong
bài hai cờ, xin cho con được ơn sống nghèo
như Chúa và chịu sỉ nhục với Chúa, v́ t́nh yêu
với Chúa.
Xét gẫm cũng
giúp chúng ta biết ḿnh hơn, biết tương quan
của ḿnh với Chúa đang như thế nào, để
ḿnh không ảo tưởng về ḿnh, và để ḿnh
cải thiện t́nh trạng hiện tại.
Khi cầu nguyện
về Nguyên Lư và Nền Tảng trong ngày đầu tiên,
chúng ta đă xin ơn B́nh Tâm: chọn Thiên Chúa và ư
định của Thiên Chúa trên hết, c̣n những sự
khác th́ sao cũng được, dù là giữa nghèo và
giầu, danh vọng hay sỉ nhục, ...! Hôm nay khi cầu
nguyện về "ngày Inhă,” chúng ta đă biết giầu
có, danh vọng và kiêu ngạo là những cạm bẫy
của thần dữ; và nghèo khổ, sỉ nhục là con
đường đích thực mà Chúa Giêsu dạy chúng ta.
Chúng ta đă xin Chúa
cho chúng ta được yêu Chúa Giêsu đến độ
xin chọn nghèo và sỉ nhục với Ngài chưa?
Tinh thần nghèo khó, là
không bám víu vào tạo vật, dù là tiền bạc hay ai
đó; Xin ơn nghèo tinh thần, tức là xin Chúa ơn không
bám víu vào tiền bạc hay bất cứ một tạo
vật nào.
Con người có
bản năng được tôn trọng. Xin ơn
được sỉ nhục,[20] là tự hủy, là từ bỏ chính ḿnh với ư
riêng và tất cả con người của ḿnh.
Chúa Giêsu nói: "phúc
cho các ngươi là kẻ nghèo ... khốn cho các
ngươi là kẻ giầu" (Lc 6:20.24), "phúc cho các
ngươi khi người ta sỉ mạ, nói xấu các
người đủ điều v́ cớ Ta và v́ Tin
Mừng, hăy hân hoan v́ phần thưởng của các
ngươi lớn thật ở trên trời" (Mt 5:11-12;
Lc 6:22).
Chúng ta có tin lời Đức
Giêsu là chân lư, và chúng ta có muốn sống theo Lời Ngài
không? Nếu chúng ta tin thật, ắt chúng ta đă xin Chúa
cho chúng ta được ơn sỉ nhục và ơn nghèo
thực sự! Nếu chúng ta yêu Chúa Giêsu nhiều th́
chắc chúng ta đă dám xin cho được đồng
h́nh đồng dạng với Ngài, ngay cả trong nghèo và sỉ
nhục khinh chê.
Cái ǵ là mười
ngàn ducats của tôi?
Mười ngàn ducats
của tôi có thể không là tiền bạc, nhưng có
thể là tương quan với ai đó, hay một
địa sở, một nghề nghiệp, một công
việc, một tặng vật nào đó, v.v.
Trong qúa khứ tôi
ở mẫu người thứ mấy?
Và hiện tại tôi
ở mẫu người thứ ba không?
Không phạm tội
trọng, không muốn làm mất ḷng Chúa và b́nh tâm, yêu Chúa
đến độ muốn trở nên giống Chúa trong
khó nghèo khổ nhục: đó là ba cấp độ của
t́nh yêu (LT 165-167). Tôi có muốn được liệt vào
số những người muốn trổi trang trong
việc phụng sự Chúa, tức những người
yêu Chúa trong cấp độ khiêm nhường thứ ba
không? Tôi có chọn nên giống Chúa Giêsu hơn không, nghĩa
là chọn nghèo với Chúa nghèo hơn là được
giầu sang, chọn bị sỉ nhục và khinh chê với
Đức Giêsu bị sỉ nhục và khinh chê hơn là
được tôn trọng, chọn bị coi là ngu dại
với Chúa Kitô bị coi là ngu dại hơn là
được coi là khôn ngoan thông thái ở đời không?
Chọn lựa
bậc sống là việc rất quan trọng, nên cần có
nhiều giờ cầu nguyện và cần nhiều giờ
thinh lặng hơn trước; thế nên hăy thu xếp
để có những ngày tĩnh tâm trọn vẹn nếu
bạn đang làm linh thao trong cuộc sống thường
ngày.
Từ muôn thuở
Thiên Chúa đă yêu thương tôi, Ngài đă tạo dựng
tôi, và tôi có chỗ trong chương tŕnh cứu độ
của Thiên Chúa. Thiên Chúa không chỉ lưu tâm cách tổng
quát về tôi, nhưng Ngài c̣n để ư lưu tâm
đến từng cử chỉ hành vi biến cố
của tôi (Tv 139 Lc 12:6-7); chính v́ thế trong từng
biến cố chúng ta có thể hỏi "Thiên Chúa muốn
tôi làm ǵ?”
Nếu ngay cả
việc "đi đứng nghỉ ngơi" Chúa
đều biết, th́ huống hồ về bậc
sống của cuộc đời ḿnh: Thiên Chúa đă có
chương tŕnh về tôi. Nếu Thiên Chúa muốn gọi
và chọn tôi ở bậc sống nào, th́ Ngài đă tạo
dựng tôi thích hợp cho bậc sống đó.
Lời mời
gọi "sống đời sống nào đó" có
thể được biểu lộ nơi ḷng ao
ước sống đời sống đó, hoặc có
những dấu chỉ khách quan cho thấy Thiên Chúa
muốn. Nếu một người khao khát sống bậc
sống dâng hiến với ư hướng ngay lành[21], ḷng khao khát đó có thể là dấu chỉ cho
thấy Chúa gọi người đó. Nếu khát vọng
này đă có khá lâu và c̣n tồn tại cho tới ngày nay, th́
càng cho thấy "người đó được Chúa
gọi" cách chắc chắn hơn. Nếu trong
đời người đó có những biến cố
khách quan mà người đó xác tín rằng đó chính là Chúa
bảo vệ để gọi họ, th́ càng chắc
chắn hơn nữa rằng "Chúa gọi họ.”
Để làm
việc lựa chọn được đúng đắn
và chính xác, nghĩa là quyết định theo điều
Chúa muốn chứ không phải theo ư riêng xác thịt
của ḿnh, th́ ta phải b́nh tâm thực sự. Nếu không
b́nh tâm th́ không thể chọn lựa đúng
được. Như vậy không phải ai cũng làm
việc lựa chọn được, mà chỉ những
người đă đạt được sự b́nh tâm
thực sự, tức là những người chỉ
muốn làm theo ư Chúa để tôn vinh Ngài thôi, chứ không
t́m hoặc muốn làm theo ư ḿnh. Những người làm
việc lựa chọn mà không b́nh tâm, th́ cuộc chọn
lựa ấy không được coi là cuộc chọn
lựa có giá trị!
Nếu chúng ta
biết rơ ư định Chúa cho chúng ta, chúng ta không
được làm việc lựa chọn nữa, đây là
trường hợp đă xảy ra cho thánh Phêrô hoặc
Phaolô. C̣n nếu chúng ta không thấy rơ ràng đâu là ư
định của Thiên Chúa về bậc sống chúng ta
phải theo, th́ chúng ta sẽ dùng trí khôn Chúa ban để suy
xét và cân nhắc lợi và hại của từng bậc
sống mà chúng ta phải chọn lựa, theo khả
năng Chúa ban cho chúng ta. Nếu lư trí của chúng ta thấy
và nghiêng chiều về bậc sống nào, th́ ḿnh sẽ
chọn bậc sống đó để làm vinh danh Chúa
hơn.
Lựa chọn theo
thánh Inhaxiô, không phải là quyết định theo ư thích
của ḿnh, nhưng là chọn theo Ư của Thiên Chúa về
ḿnh.
Lựa chọn
bậc sống, không có nghĩa là ḿnh thích bậc sống
nào th́ ḿnh chọn bậc sống đó,[22] nhưng Thiên Chúa muốn ḿnh sống bậc
sống nào th́ ḿnh chọn bậc sống đó.
Trong sách Linh Thao, thánh
Inhaxiô đề cập đến ba thời để làm
việc lựa chọn; trong thời thứ ba, thánh Inhaxiô
nói tới hai cách làm việc lựa chọn. Tuy vậy chúng
ta nên cẩn thận, không phải ai cũng làm việc
lựa chọn "đúng đắn" được,
nhưng chỉ những người có cái nh́n đúng
đắn về Thiên Chúa con người và vũ trụ,
cũng như họ phải b́nh tâm thực sự, th́
họ mới có thể lựa chọn "đúng
đắn" được.[23]
Để làm việc
lựa chọn tốt, cần ư thức rơ mục đích
đời người: Thiên Chúa tạo dựng con
người để con người sống hạnh phúc
vĩnh cửu với Thiên Chúa, và muôn loài muôn sự
được tạo dựng như phương tiện
để giúp con người đi tới với Thiên Chúa.
B́nh tâm là một
điều kiện cần thiết để làm việc
lựa chọn đúng đắn và chính xác: chọn
lựa theo điều Chúa muốn chứ không phải theo
ư riêng ḿnh thích.
Nếu không b́nh tâm,
th́ không thể chọn lựa đúng đắn
được. Như vậy, chỉ nên cho những
người "b́nh tâm" được làm chọn
lựa, tức là những người chỉ muốn làm
theo ư Chúa để tôn vinh Ngài chứ không t́m hoặc
muốn làm theo ư ḿnh.[24]
Đă là người, sống th́ phải lựa
chọn. Lựa chọn là chính cuộc sống, là hành vi
nhân linh, là hành vi tự do. Lựa chọn, bao hàm con
người toàn diện, gồm cả hành vi lư trí lẫn ư
chí.
Con người có lư trí.
Để sống hạnh phúc, đối với chính
ḿnh con người cần nhận thấy hành vi, cách
sống, hay việc làm của ḿnh hợp lư, và trong
tương quan với Thiên Chúa con người cần
thấy việc ḿnh làm thuận theo Ư Chúa.
Nhận ra Ư Thiên Chúa về ḿnh và cảm nhận
ḿnh sống triển nở, thường hay đi đôi
với nhau; sở dĩ vậy v́ Thiên Chúa luôn yêu
thương và luôn muốn con người sống hạnh
phúc.
Tôi lựa chọn bậc sống này, v́ tôi thấy
bậc sống này giúp tôi sống triển nở và hạnh
phúc, v́ bậc sống này thoả măn khát vọng sâu xa con
người tôi mà bậc sống khác không thể đáp
ứng được, và như vậy tôi xác tín Chúa
gọi tôi.
Biết và làm, đôi
khi không trùng khít với nhau nơi nhiều người.
"Tri hành bất nhất,” làm cho con người không
được hạnh phúc.
Thiên Chúa muốn ai
làm điều ǵ, th́ Ngài ban cho họ có khả năng
thực hiện điều đó. Nếu Thiên Chúa muốn
ai thực hiện điều ǵ đó, th́ người
đó không thể nói "lực bất ṭng tâm.” Như
vậy, nếu một người thấy rơ ḿnh không
thể làm điều ǵ đó, hoặc không thể tin
rằng Thiên Chúa sẽ giúp ḿnh và cho ḿnh có khả năng làm
điều đó, th́ đó là dấu chỉ cho thấy
Thiên Chúa không muốn điều đó cho họ.
Khả năng
sống điều ḿnh xác tín, cho thấy điều xác tín
có thể là Ư Chúa đối với họ. Như vậy,
nếu ai tin rằng (hay thấy rằng) họ được
Thiên Chúa gọi sống đời sống dâng hiến, th́
trong cuộc sống cụ thể họ phải cảm
thấy sống thoải mái và hạnh phúc trong đời
sống dâng hiến. Không có khả năng sống
đời sống dâng hiến "một cách triển
nở và hạnh phúc,”[26] là dấu chỉ cho thấy Thiên Chúa không muốn
người đó sống đời dâng hiến.
Nếu chúng ta làm
việc lựa chọn đúng, nghĩa là nếu chúng ta
chọn điều Thiên Chúa muốn cho chúng ta, th́ chúng ta
sẽ b́nh an thư thái hạnh phúc hơn, phản ánh
tương quan tốt với Thiên Chúa.
Một cách cụ
thể, nếu chúng ta chọn lựa tốt, chúng ta
sẽ:
cầu nguyện
tốt, ít nhất là bằng thời gian trước khi
chọn lựa;[27]
vui hơn;
b́nh an, thư thái,
hạnh phúc hơn.
Dựa vào LT 175-188
để làm cuộc lựa chọn.
Lưu ư:
Không giới hạn
thời gian dành cho việc chọn lựa.
Hiện đang
ở bậc sống nào th́ giữ nguyên bậc sống
đó, nếu không thấy rơ Chúa muốn ḿnh sống trong
bậc sống khác. Nói cách khác, không thấy rơ th́ không
quyết định.
Ở một
nghĩa nào đó, không quyết định cũng là
một cách quyết định!
Thời gian sau
chọn lựa: phải chú ư xét ngắm cẩn thận xem
trong những lần cầu nguyện sau khi làm việc
lựa chọn, ḿnh cầu nguyện có tốt không? Nếu
thấy tốt bằng hoặc tốt hơn, th́ đó là
dấu chỉ ḿnh đă làm cuộc lựa chọn đúng
đắn, tốt lành. C̣n nếu không, hoặc cảm
thấy bất an, th́ e rằng ḿnh làm cuộc lựa
chọn không tốt chăng? (Xem LT 176). Dĩ nhiên nếu
cầu nguyện không được v́ một lư do nào khác,
th́ không thể khẳng định như trên.
Khung cảnh: Như
ḿnh đang hiện diện với Đức Giêsu khi
những người phong cùi được Chúa sai gởi
đi tŕnh diện thượng tế.
Ơn xin: Nhận
biết những hồng ân Chúa ban cho trong suốt
đời ḿnh, đặc biệt trong những ngày này và
trong cuộc lựa chọn này.
i. Thảm trạng
xă hội của người phong cùi: không tương quan,
đau khổ, v.v. Đức Giêsu sai họ đi tŕnh
diện, và họ đă vâng nghe (lúc này họ chưa thấy
họ được khỏi).
ii. Một người
thấy ḿnh được khỏi, lập tức trở
lại tạ ơn Đức Giêsu, tuyên xưng kỳ công
Chúa làm cho anh
Qua điều này,
anh ta c̣n được điều khác quư hơn cả
việc được khỏi bệnh: được tin
vào Đức Giêsu.
iii. Những
người khác không được khỏi ư?
Sau khi tŕnh diện
tư tế, 9 người kia có trở lại gặp
gỡ Đức Giêsu và tạ ơn Ngài không?
Nếu họ
trở lại, gặp gỡ Đức Giêsu, họ sẽ
c̣n được nhiều hơn họ đă
được.
Tâm sự: Thân
thưa với Chúa, xin cho con đừng vô ơn, hoặc
giả mù không nhận biết bao hồng ân Chúa đă ban cho
con, và những ơn này c̣n lớn hơn cả những
ơn "chữa lành bệnh cùi" nữa.
Như ḿnh đang
hiện diện trước ngai ṭa Thiên Chúa và triều
đ́nh thần thánh: Thiên Chúa yêu thương tôi, Ngài luôn
lưu tâm để ư đến tôi.
Trong bài cầu
nguyện này, xin Chúa cho ḿnh cảm nghiệm Thiên Chúa là ai? Là
Đấng vô cùng trung tín, Ngài luôn bảo vệ những
người Ngài yêu thương, Ngài luôn chăm sóc và ban
nhiều ân sủng.
i. Hoặc dựa vào
bài hát “T́nh Chúa trung kiên” hoặc dựa vào lịch sử dân
Israel và lịch sử đời ḿnh, để nhận ra
t́nh yêu Thiên Chúa đối với ḿnh.
ii. Người
mẹ nào đành bỏ con ḿnh, cạn t́nh cùng kẻ ḿnh
đă sinh, nhưng dù có ai giết chết t́nh yêu của
mẹ đối với con, th́ Ta vẫn ngàn đời
trung tín, không bao giờ quên kẻ Ta xót thương.
Tâm sự với
Thiên Chúa, Đấng đă yêu ḿnh nơi Đức Giêsu Kitô
vác thập giá. Xin cho con được b́nh an, hạnh phúc.
Tuần thứ ba
của Linh Thao cầu nguyện về Đức Giêsu
chịu khổ h́nh. Đức Giêsu đối diện
biến cố khổ nạn với tất cả sự
run en sợ sệt như chúng ta mọi đàng, nhưng
Ngài sẵn sàng vâng theo Ư Cha v́ yêu thương Cha và yêu
thương con người.
Cố gắng đi
vào tâm t́nh của Đức Giêsu trong những giờ phút
cuối cùng của cuộc đời tại thế này.
Ngài tê tái ḷng biết bao khi thấy một người thân
yêu sẽ phản bội và nộp Ngài: t́nh yêu của Ngài
bị từ khước, bị phản bội. Ngài đă
ghê sợ thập giá và cái chết, đặc biệt trong
vườn dầu, nhưng Ngài đă vâng lời cho
đến chết mà không một lời oán than. Hăy đi
vào tâm t́nh của Đức Giêsu, và ư thức rằng: chính
v́ tôi và cho tôi mà Đức Giêsu đă chấp nhận
tất cả những sự ấy.
T́nh yêu không hoàn toàn
được diễn tả bằng lời nói nhưng
chủ yếu bằng việc làm. Trong cuộc sống
tại thế này, dường như thập giá gắn
liền với t́nh yêu: thập giá là cách thế tuyệt
diệu diễn tả t́nh yêu. Không thể hiểu
được thập giá nếu không nh́n trong nhăn quan t́nh yêu.
Hiểu Chúa,
để yêu Chúa và theo Chúa hơn. Chúa đă chết v́ yêu
tôi, tôi phải làm ǵ và phải có thái độ nào
đối với Người yêu tôi dường ấy?
Xin cho ḿnh hiểu
nỗi đau buồn của Chúa (Ga 13; Mc 14); tại sao Chúa
phải chịu đau khổ cô đơn[28] như vậy? Phải chăng Chúa chịu tất
cả những điều đó v́ yêu thương tôi vô
cùng?
Xin cho ḿnh cảm
nghiệm được t́nh yêu của Chúa đối
với ḿnh; xin cho ḿnh yêu lại Chúa đến độ ao
ước được chia sẻ nỗi đau buồn
của Chúa, muốn được đồng h́nh
đồng dạng với Đấng yêu thương ḿnh
vô cùng như vậy.
Thánh Inhaxiô dạy:
“xin cho ḿnh được đau đớn, hối hận
và xấu hổ, v́ chính bởi tội tôi mà Chúa phải
bị khổ h́nh như vậy” (LT 193); “xin cho ḿnh
được đau đớn với Chúa Kitô thống
khổ, tan nát cơi ḷng với Chúa Kitô tan nát tâm hồn,
được ơn khóc lóc và đau đớn trong ḷng v́
bao đau đớn mà Chúa Kitô đă chịu v́ tôi” (LT 203).
Chúng ta có thể dùng
những đoạn Kinh Thánh sau, hoặc dùng những
đoạn nào theo như ḿnh thấy thích hợp:
· Âm mưu giết Đức Giêsu (Mc 14:1-2.10-11);
· Làm sao Ta có thể quên ngươi (Hs 11:1-9);
· Ta tự ḿnh hiến mạng sống Ta (Ga 10:17-31);
· Yêu thương là phục vụ (Ga 13:1-17);
· Yêu thương là hiến dâng (Lc 22:14-20);
· Hăy tin Thầy, hăy yêu Thầy (Ga 14:1; 15:9);
· Hăy ở lại trong t́nh yêu Thầy (Ga 15:9-17);
· Báo trước Phêrô chối Thầy (Mc 14:26-31);
· Đức Giêsu chiến đấu với chính ḿnh
ở vườn dầu (Mc 14:32tt);
· Yuđa nộp Thầy bằng “dấu chỉ t́nh
yêu” (Mc 14:43-52);
· Đức Giêsu bị xử trước ṭa Do Thái
(Mc 14:53-65);
· Phêrô chối Chúa (Mc 14:66-72);
· Đức Giêsu bị xử trước ṭa Roma (Ga
18:28-19:16);
· Đức Giêsu trước ṭa Hêrôđê (Lc 23:8-12);
· Con đường t́nh yêu (Mc 15:15-32);
· Đức Giêsu trên thập giá (Mc 15:33-41);
· Đức Mẹ dưới chân thập giá (Ga 19:25-27);
· Chứng nhân thinh lặng;
· Sinh th́ và táng xác (Mc 15:37-47);
· Tâm t́nh của những người yêu thương
Đức Giêsu trong những ngày khổ nạn;
· Tv 22;
· Đức Giêsu, người tôi tớ chết thay
nhiều người (Is 52:13-53:12);
· Đức Giêsu chu toàn sứ mạng dù phải
chết thập giá (Pl 2:6-11).
Yêu ai th́ quan tâm đến người đó,
săn sóc họ, có ǵ th́ chia sẻ với người
đó, có thể chia sẻ những ǵ là vật chất, và
cũng có thể chia sẻ cả những ǵ là tinh
thần.
Yêu là cho đi, là ban tặng, là hiến dâng. Có
thể tặng một bông hoa, cũng có thể tặng
một kỷ vật đắt giá, và cao đỉnh có
thể trao tặng chính bản thân ḿnh, mạng sống
của ḿnh, để người ḿnh yêu được
sống và sống hạnh phúc.
Yêu ai, th́ muốn ở gần người đó,
muốn chia sẻ tâm tư t́nh cảm để trở nên
một với người đó. T́nh yêu hướng
tới duy nhất!
Thiên Chúa yêu tôi vô cùng, Ngài đă ban Con Một Ngài cho
tôi qua mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể.
Đức Giêsu yêu tôi đến mức độ hiến
mạng sống để tôi được sống. Chúa
Cha và Chúa Giêsu Phục Sinh yêu tôi nên đă ban Thánh Thần cho
tôi, và hiện tại Ba Ngôi Thiên Chúa đang ở với
tôi!
Những bản văn trong Tin Mừng theo thánh Gioan
mà chúng ta dựa vào đó để cầu nguyện,
được xem như những lời trối trăn
của Đức Giêsu đối với những
người Ngài yêu thương nhất. Như vậy,
chúng ta phải đọc những đoạn văn đó
trong tâm t́nh "lời cuối" của người yêu.
Hăy cố gắng hiểu, đi vào tâm t́nh của Đức
Giêsu, hiểu t́nh yêu của Ngài đối với các tông
đồ đến thế nào. Tâm t́nh của Đức Giêsu
đối với các tông đồ, cũng chính là tâm t́nh
của Ngài đối với mỗi người chúng ta.
Chúng ta phải có thái độ tâm t́nh thế nào để
đáp ứng lại t́nh yêu đó?
Như ḿnh đang hiện diện trước Thiên
Chúa đang yêu thương và bao bọc ḿnh.
Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh cảm
nghiệm bằng con tim t́nh yêu của Thiên Chúa Yavê
đối với dân Israel, và cũng cảm nhận
rằng Thiên Chúa yêu tôi như yêu dân Israel vậy.
i. Hoặc đọc chậm chậm đoạn
Kinh Thánh và dừng lại suy nghĩ những câu nào thấy
muốn hoặc được đánh động,
chẳng hạn: làm sao Ta có thể quên được
ngươi (c.8), ruột gan Ta bồi hồi (c.8);
ii. Hoặc lược lại lịch sử dân
Israel: biến cố Chúa gọi Abraham, Môsê, Xuất hành,
đi trong sa mạc, ban các tiên tri, lưu đày, trở về,
v.v.
Tâm sự với Thiên Chúa, Đấng yêu tôi vô cùng.
Như ḿnh đang hiện diện trên đồi
Calvê, nh́n Chúa Cha ở bên Đức Giêsu bị treo thảm
thương trên thập gía.
Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh cảm
nghiệm được t́nh yêu của Thiên Chúa đối
với thế gian và cách riêng đối với tôi,
đến độ Đức Giêsu là quà tặng Thiên Chúa
ban cho tôi, và Ngài chết v́ tôi.
i. Làm sao để biết ḿnh được yêu?
Người yêu cho người được yêu
những ǵ họ có, cho tất cả.
ii. Thiên Chúa đă ban chính Ngài cho tôi: Con Một. Thiên
Chúa đă đánh đổi tất cả để
được tôi, để tôi nhận biết t́nh yêu
của Ngài đối với tôi, và để tôi đáp
trả t́nh Ngài.
Tâm sự với người vô cùng "si t́nh"
là Thiên Chúa.
Như ḿnh đang hiện diện trong biến
cố Thánh Thần tỏ hiện quyền năng trong ngày
lễ Ngũ Tuần.
Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh cảm
nghiệm t́nh Chúa với ḿnh.
i. Chúa Giêsu là bằng chứng t́nh yêu
Thiên Chúa ban Con của Ngài cho con người, cho tôi.
Chúa Giêsu ban chính ḿnh Ngài cho tôi qua bí tích Thánh Thể.
ii. Thánh Thần là bằng chứng t́nh yêu (1Ga 4:13)
Chúa Cha ban Thánh Thần cho tôi.
iii. Thiên Chúa Ba Ngôi ở nơi tôi (Ga 14:23.16; 1Cr 3:16)
Thiên Chúa Cha ở với tôi. Cả Ba Ngôi luôn ở
với tôi, ở trong tôi, v.v.
Tâm sự với Thiên Chúa là Cha, Con, và Thánh Thần.
Thiên Chúa yêu tôi vô cùng.
Như ḿnh đang hiện diện với
Đức Giêsu khi Ngài rao giảng cho dân chúng và các môn
đệ trong tuần lễ cuối cùng của
đời tại thế.
Xin ơn cảm nghiệm t́nh yêu của Đức
Giêsu đối với tôi đến độ Ngài sẵn
sàng hiến mạng sống v́ tôi.
i. Không ai có quyền trên mạng sống của
Đức Giêsu (Ga 10:18)
ii. Đức Giêsu yêu tôi vô cùng
Tôi có chỗ trong tim Ngài, Ngài muốn hy sinh mạng
sống để tôi được sống măi.
Cha yêu thầy thế nào, thầy cũng yêu mến
anh em như vậy. Hăy ở lại trong t́nh yêu của
thầy (Ga 15:9)
Tâm sự với Chúa Giêsu, Đấng muốn
hiến mạng sống Ngài cho tôi, để tôi
được sống.
Như ḿnh đang hiện diện trong bữa
tiệc ly.
Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh cảm
nghiệm được T́nh Yêu Đức Giêsu đối
với tôi qua bí tích ThánhThể.
i. Yêu là cho tất cả, ngay cả chính bản thân
và mạng sống ḿnh
Ḿnh Ta là thật của ăn, máu Ta thật là
của uống. Ai ăn thịt tôi và uống máu tôi th́
được sống đời đời.
ii. Thân xác Đức Giêsu trở nên của ăn,
của uống, để ta được sống,
được lớn lên, được sống hạnh
phúc
Này là ḿnh thầy, này là máu thầy!
Sáng kiến t́nh yêu, sáng kiến tuyệt vời.
iii. Đức Giêsu làm tất cả v́ t́nh yêu
T́nh yêu của Giêsu đối với Cha và
đối với từng người chúng ta: vô cùng.
Tâm sự với Đức Giêsu, Đấng đă
yêu chúng ta vô cùng, đến độ ban chính ḿnh
người cho ta.
Như ḿnh đang hiện diện cùng với các
tông đồ trong bữa tiệc ly.
Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh cảm
nhận t́nh yêu của Đức Giêsu đối với
tôi.
i. Như cha đă yêu mến Thầy, Thầy
cũng yêu anh em (Ga 15:9)
Cố gắng hiểu và đi vào tâm t́nh của Đức
Giêsu khi Ngài nói như vậy. Đức Giêsu nói những
lời này trước ngày chết.
T́nh yêu được diễn tả qua chính
cuộc sống, thái độ sống, v.v.
ii. Hăy ở lại trong t́nh yêu của Thầy
Chúa yêu tôi đến chết thay cho tôi. Ngài yêu tôi vô
cùng. Ngài muốn tôi yêu mến Ngài. Ngài năn nỉ tôi yêu
Ngài.
Tâm sự với Chúa Giêsu, Đấng đă yêu tôi
và chết v́ tôi, chết để tôi được
sống.
Như ḿnh đang hiện diện trong bữa
tiệc ly, khi Chúa nói những lời cuối cùng.
Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh hiểu
tâm t́nh và t́nh yêu của Đức Giêsu đối với
các tông đồ được thể hiện qua lời Đức
Giêsu cầu nguyện với Chúa Cha.
Điểm gợi ư:
Đọc chậm chậm bản văn, dừng
lại suy nghĩ và tâm sự với Chúa Giêsu và Chúa Cha.
Tất cả được xoáy quanh người ḿnh yêu
"các tông đồ.” Đức Giêsu luôn muốn
điều tốt cho các tông đồ, và muốn cho các
ngài tất cả. Ngài ở đâu, họ cũng
được ở đó. Điều Đức Giêsu muốn
cho các tông đồ, cũng chính là điều Ngài muốn
cho tôi.
Cố gắng đi vào tâm t́nh của Chúa Giêsu.
Tâm sự, thân thưa với Chúa Chúa Giêsu,
Đấng đă yêu mến các tông đồ và tôi vô cùng.
Như ḿnh đang hiện diện cùng với các
tông đồ và Đức Giêsu trong bữa tiệc ly.
Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh sống
t́nh yêu qua hành vi phục vụ người yêu.
i. Đức Giêsu biết đă đến giờ
Ngài phải qua khỏi thế gian mà về cùng Cha... Ngài
đă yêu thương họ đến cùng (Ga 13:1-2)
Nh́n nghe quan sát Đức Giêsu. Đi vào ḷng Ngài.
ii. Ngài rửa chân cho các tông đồ
Con người đến để phục
vụ và thí mạng làm giá chuộc cho nhiều
người, chứ không phải để được
phục vụ.
Tất cả để người yêu
được hạnh phúc.
Cả đời Đức Giêsu là phục vụ.
Tâm sự với Chúa, Đấng đă hủy ḿnh
ra không v́ t́nh yêu và phục vụ con.
Như ḿnh đang hiện diện trong bữa
tiệc ly với Đức Giêsu và các tông đồ, và nghe
những lời trăn trối của Đức Giêsu.
Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh cảm
được t́nh yêu Đức Giêsu với ḿnh, và cho ḿnh
biết yêu anh em như Chúa dạy.
i. Đă yêu những kẻ thuộc về
Người c̣n trong thế gian th́ Ngài yêu thương
họ đến cùng ... (Ga 13:1)
Cố gắng hiểu tâm t́nh Đức Giêsu lúc
này.
ii. Hăy yêu thương nhau
Những lời cuối cùng, là những lời
trối trăn, là những lời vô cùng quan trọng.
iii. Như Thầy đă yêu thương anh em
Đức Giêsu là tiêu chuẩn, là mẫu. Không
phải là yêu thương anh em như chính ḿnh.
Tâm sự, thân thưa với Chúa, xin cho ḿnh
được yêu Chúa yêu người như Chúa muốn.
Như ḿnh đang hiện diện trong bữa
tiệc ly với Đức Giêsu và các tông đồ, và nghe
những lời trăn trối của Đức Giêsu.
Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh cảm
được t́nh yêu Đức Giêsu với ḿnh, và cho ḿnh
yêu Chúa hết linh hồn hết trí khôn.
i. Hăy tin vào tôi (Ga 14:1tt)
Chúa xin ḿnh tin vào Chúa. Tin vào Chúa mới
được sống, mới hạnh phúc
được.
ii. Hăy ở lại trong t́nh yêu của Thầy (Ga 15:9)
Chúa xin ḿnh yêu Chúa, và ở lại trong t́nh yêu
của Ngài. Hăy để cho Ngài yêu tôi.
Thiên Chúa cần con người tin và yêu Ngài! Thiên
Chúa cần tôi yêu Ngài! Ngài yêu tôi vô cùng nên mới nói những
lời như vậy.
Tâm sự, thân thưa với Chúa, xin cho ḿnh
được tin và yêu Chúa với tất cả con
người.
Như ḿnh đang hiện diện trong bữa
tiệc ly với Đức Giêsu và các tông đồ, và nghe
những lời trăn trối của Đức Giêsu.
Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh cảm
được t́nh yêu Đức Giêsu với ḿnh, và cho ḿnh
được đồng h́nh đồng dạng với
Ngài, kết hiệp làm một với Ngài.
i. Đồng tâm nhất trí, một ḷng một ư
.... là dấu chỉ t́nh yêu
Là một với Đức Giêsu. Như cành kết
hợp với thân. Tách khỏi thân th́ không thể sinh trái,
và sẽ chết.
ii. Không có Thầy anh em không làm ǵ được
Không thể làm ǵ nếu không có Chúa, nếu không làm
trong Chúa.
iii. Hăy ở lại trong Thầy ... muốn ǵ
cứ xin, và sẽ thấy thành sự
Đức Giêsu muốn cho chúng ta tất cả,
tất cả những ǵ chúng ta muốn, tất cả
những ǵ tốt nhất đối với Thiên Chúa.
Tâm sự, thân thưa với Chúa, xin cho ḿnh
được kết hiệp là một với Chúa trong
mọi sự.
Như ḿnh đang hiện diện trong bữa
tiệc ly với Đức Giêsu và các tông đồ.
Xin ơn tin yêu phó thác tuyệt đối nơi
Đức Giêsu và Thiên Chúa.
i. Bây giờ các ngươi phải ưu phiền
Đức Giêsu lo cho những kẻ Ngài yêu. Ngài
chặn trước Ngài ngừa sau, Ngài lo để
những người Ngài yêu không tuyệt vọng.
ii. Điều ǵ các ngươi xin cùng Cha, sẽ
được ban nhân danh Ta
Muốn ǵ cũng được. Ngài sẽ ban cho.
Ngài không giữ lại ǵ cả.
iii. Hăy tin tưởng, Ta đă thắng thế gian
Đừng sợ. Ngài đă thắng thế gian.
Tâm sự, thân thưa với Chúa, xin cho ḿnh
được tin tưởng phó thác tuyệt đốt
vào Thiên Chúa, để được b́nh an trong mọi
biến cố.
Cố gắng xét ngắm sau mỗi lần cầu
nguyện thật cẩn thận, v́ chỉ khi nhận ra
những thiếu sót sai lầm th́ ḿnh mới có thể
sửa đổi, và như vậy mới có thể
cầu nguyện tốt hơn trong những lần cầu
nguyện kế tiếp.
Xét ngắm không chỉ là t́m xem ḿnh đă có
những lỗi nào khi cầu nguyện, nhưng chính
yếu là t́m nguyên do tại sao ḿnh cầu nguyện không
được?! Và sau đó để sửa.
Nên viết lại kinh nghiệm cầu nguyện,
và điều này sẽ giúp thấy rơ ḿnh hơn, cũng
như thấy rơ những hồng ân Chúa ban cho ḿnh.
Mỗi một giai đoạn, khi đă kết
thúc, phải được lượng giá. Và kết mỗi
ngày, cũng nên lượng giá, để nhận ra
những hồng ân và lầm lỗi của ḿnh, để
tạ ơn và xin lỗi Chúa.
Thập giá là điều trái ư, cái mà ta không
muốn.
Trong cuộc sống tại thế này,
dường như thập giá "gắn liền"
với t́nh yêu. Chúng ta không thể hiểu, không thể
chấp nhận tại sao Đức Giêsu phải chịu
đau khổ và chịu chết, nếu chúng ta không nh́n
thập giá trên quan điểm t́nh yêu. Chính v́ yêu chúng ta vô
cùng, mà Chúa Giêsu đă hiến mạng sống ḿnh cho chúng ta.
Cầu nguyện không được, phần lớn là do
tại ta, nhưng cũng có thể đó là thập giá Chúa
muốn chúng ta chấp nhận như dấu chứng t́nh
yêu đối với Thiên Chúa: chúng ta cầu nguyện v́ yêu
Ngài, chứ không phải để được "an
ủi" mà chúng ta cầu nguyện.
Cố gắng đi vào tâm t́nh của Đức Giêsu
trong những giờ phút cuối cùng của cuộc
đời tại thế của Ngài. Ngài tê tái cả ḷng
khi biết một kẻ thân yêu sẽ phản bội và
nộp Ngài, Ngài buồn v́ t́nh yêu bị từ khước,
Ngài ghê sợ thập giá và cái chết, đặc biệt
trong vườn dầu, nhưng Ngài đă vâng lời cho
đến chết mà không một lời oán than. Hăy đi
vào tâm t́nh của Đức Giêsu, và tâm niệm rằng chính
v́ tôi và cho tôi mà Ngài đă chịu tất cả những
sự ấy.
Chúng ta phải có thái độ như thế nào
đối với Người đă yêu ta và chết v́ ta
như vậy? Hăy có cùng tâm t́nh với Đức Giêsu,
Đấng đă yêu ta vô cùng và làm tất cả cho ta và v́
ta?!
Giữ các điều phụ thêm là cách biểu
lộ ḷng quảng đại đối với Chúa. Có
thể nhận biết ḿnh đă yêu Chúa thực sự
chưa, qua việc ḿnh có giữ các điều phụ thêm
trong Linh Thao không?
Như ḿnh đang hiện diện thấy những
người có quyền hành trong dân Do thái khi họ âm mưu
giết Đức Giêsu trong dịp lễ Vượt Qua.
Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh cảm
nhận tội là nguyên nhân của sự dữ. Ngay từ
khi Lời nhập thể giáng sinh, Ngài đă phải gánh
chịu hậu quả tội con người.
i. Mưu giết Đức Giêsu! Tại sao?
Ghen ghét, thấy Đức Giêsu hơn họ.
Họ thấy Đức Giêsu phạm
thượng, nhận ḿnh ngang hàng với Thiên Chúa, là Thiên
Chúa (tha tội, có trước Abraham, là một với Cha,
ngự bên hữu Thiên Chúa).
ii. Đức Giêsu, tâm t́nh thái độ và cung cách
hành xử, trước âm mưu này!
Con người tự do làm thiện hay làm ác.
Đức Giêsu đâu thể làm khác được!
Phải chịu, chấp nhận cách tự do.
Ngài vẫn yêu thương tất cả, và
từng người, kể cả người muốn
giết Ngài.
Tâm sự với Đức Giêsu, Đấng yêu con
người vô cùng, nhưng bị con người từ
chối.
Như ḿnh đang hiện diện trong bữa
tiệc ly, sau khi lập bí tích Thánh Thể, gần tàn
tiệc.
Xin ơn chia sẻ nỗi buồn đau của Đức
Giêsu khi biết ḿnh sẽ bị chối, bị phản
bội.
Điểm gợi ư:
Nh́n, nghe, quan sát những hành vi, lời nói và cung cách
hành xử của Phêrô và của Đức Giêsu trong bữa
tiệc ly, để suy nghĩ và rút ích lợi.
Dù những kẻ này bỏ Thầy, nhưng con
nhất định là không.
Dù phải chết con cũng không chối Thầy
…!
Tâm sự với Chúa Giêsu, Đấng bị từ
chối.
Như ḿnh đang hiện diện ở
vườn dầu, với Đức Giêsu và các tông
đồ.
Xin ơn được chia sẻ nỗi buồn
sợ với Chúa, xin cho ḿnh được nghèo và chịu sỉ
nhục v́ t́nh yêu đối với Chúa Giêsu.
i. Ngài kinh hoảng và âu sầu
Tâm hồn thầy buồn phiền qúa đỗi
muốn chết được (c.34).
Mồ hôi như máu nhỏ xuống đất (Lc
22:44).
ii. Đức Giêsu cầu nguyện, các tông
đồ ngủ vùi
Anh không thức với thầy được
một giờ sao? Tinh thần th́ nhanh nhẹn nhưng xác
thịt th́ yếu nhược.
Tâm sự với Đức Giêsu, xin cho con cũng
biết chiến đấu như Ngài, cam chịu thập
giá và những thất bại trong cuộc đời.
Cầu nguyện như trong sách Linh Thao
hướng dẫn.
Như ḿnh đang hiện diện trong vườn
dầu cùng với Đức Giêsu.
Xin ơn được hiểu, yêu, và theo
Đức Giêsu hơn; xin ơn nên giống Ngài
trước phản bội của những người
ḿnh yêu.
Điểm gợi ư:
Tự bây giờ trở đi không ghi điểm,
nhưng phải hiểu là sẽ cầu nguyện với
cùng cách thức như đă chỉ trong LT 194-197.
Tâm sự, thân thưa với Chúa, xin cho ḿnh
được nên giống Ngài mỗi ngày một hơn,
cụ thể chấp nhận thập giá trong đời
ḿnh.
Như ḿnh đang hiện diện với Chúa, khi
Ngài bị trói ở sân dinh Anna.
Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh biết
tha thứ và bao dung như Đức Giêsu đối xử
với Phêrô qua ánh mắt cái nh́n.
Điểm gợi ư:
Nh́n nghe quan sát Đức Giêsu, suy nghĩ và rút ích
lợi.
“Tôi không biết người đó.” Phêrô, đă
chối, đă nói như vậy ba lần.
Tâm sự với Chúa Giêsu, Đấng dù trong hoàn
cảnh như vậy, vẫn yêu thương và c̣n thời
gian và tâm t́nh để nh́n tha thứ cho Phêrô.
Như ḿnh đang hiện diện với
Đức Giêsu bị xét xử tại công nghị Do Thái.
Xin ơn cảm nghiệm được sự
nhục nhă theo nghĩa loài người mà Đức Giêsu phải
chịu, và xin có cùng thái độ và tâm t́nh như Đức
Giêsu trước mọi biến cố trong cuộc
đời ḿnh.
Điểm gợi ư:
i. Tội mà Đức Giêsu phải chết
đối với người Do Thái
Ông có phải là Đấng Kitô không? Rồi các ông
sẽ thấy con người đến trên đám mây
ngự bên hữu Đấng tối cao!
Với công nghị Do Thái, đây là tội vô cùng
lớn, phải xử tử v́ nhận ḿnh ngang hàng với
Thiên Chúa.
ii. Nh́n nghe quan sát Đức Giêsu, suy nghĩ và rút
ích lợi.
Tâm sự với Chúa bị xét xử, xin cho con
được chia sẻ với Chúa trong mọi sự.
Như ḿnh đang hiện diện với
Đức Giêsu trước ṭa Philatô (lần thứ
nhất).
Xin ơn được nên giống Chúa, b́nh
tĩnh và tự do nội tâm trước mọi nghịch
cảnh.
Điểm gợi ư:
Nh́n nghe quan sát Đức Giêsu trước ṭa
Philatô, suy nghĩ và rút ích lợi.
Tâm sự với Chúa Giêsu, Đấng bị sỉ
nhục v́ yêu tôi.
Như ḿnh đang hiện diện với
Đức Giêsu trước ṭa Herode, người muốn
bêu nhục Đức Giêsu.
Xin ơn chấp nhận nhục nhă trong cuộc
đời như Đức Giêsu là Thiên Chúa mà đă bị
con người hạ nhục như vậy.
i. Herode ṭ ṃ muốn biết về Đức Giêsu
Hêrôđê muốn Đức Giêsu làm phép lạ
như đă từng nghe. Đức Giêsu lặng yên
trước những câu hỏi của Herode. Tại sao?
ii. Hêrôđê chê Thiên Chúa nhập thể là dại
dột!
Đức Giêsu không cần lấy ḷng ai để
được lợi ích cho ḿnh. Điều Ngài bận tâm
là cứu độ con người, mặc khải chân
tướng của Ngài cho con người.
Tâm sự, thân thưa với Chúa, xin cho ḿnh
được nên giống Chúa trong khó nghèo sỉ nhục
v́ t́nh yêu đối với Chúa.
Như ḿnh đang hiện diện với
Đức Giêsu trước ṭa Philatô.
Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh
được nên giống Chúa trước những
thử thách, nhục nhă và vu oan.
Điểm gợi ư:
i. Những vu cáo của tư tế, biệt phái và
kư lục để kết tội Đức Giêsu
Ở ṭa công nghị Do Thái, Đức Giêsu bị
kết án tội phạm thượng (đ̣i ngang bằng
Thiên Chúa). Trước ṭa Philatô, người Do Thái tố
Đức Giêsu tội muốn làm vua (nổi loạn
chống hoàng đế Roma), v́ với tội này
Đức Giêsu sẽ bị xử tử.
ii. Tội thực của Đức Giêsu?
Đối với người Do Thái, Đức
Giêsu phạm tội vô cùng nặng, đó là nhận ḿnh ngang
hàng với Thiên Chúa. Nhưng đây là sự thật:
Đức Giêsu là Thiên Chúa nhập thể làm người.
Đây là mặc khải vô cùng lớn. Qua mặc khải
này, người ta mới biết Thiên Chúa yêu thương
con người đến độ nào. Có như vậy,
con người mới được b́nh an, và chắc ḿnh
được cứu độ.
Tâm sự với Chúa, Đấng đang ở
điển tận cùng của mầu nhiệm tự
hủy.
Như ḿnh đang hiện diện với
Đức Giêsu bị cột trói và bị đánh đ̣n.
Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh chấp
nhận đau khổ v́ yêu Chúa, xin cho ḿnh được
đồng h́nh đồng dạng với Chúa.
Điểm gợi ư:
Nh́n nghe quan sát Đức Giêsu, suy nghĩ và rút ích
lợi.
Tâm sự, thân thưa với Chúa, xin cho ḿnh
được yêu Chúa đến mức độ muốn
chia sẻ nỗi buồn đau ô nhục của Chúa,
để Chúa bớt đau khổ hơn.
Như ḿnh đang hiện diện với
Đức Giêsu bị đội ṿng gai và bị chế
giễu.
Xin ơn được chia sẻ nỗi buồn
đau với Chúa, được đồng h́nh
đồng dạng với Chúa.
Điểm gợi ư:
Nh́n nghe quan sát Đức Giêsu, suy nghĩ và rút ích
lợi.
Tâm sự, thân thưa với Chúa, xin cho ḿnh
được yêu Chúa và chia sẻ nỗi buồn đau
với Chúa.
Như ḿnh đang hiện diện cùng với
Đức Giêsu vác thập giá trên con đường
dẫn ra g̣ sọ.
Xin ơn được được hiểu
Chúa hơn và yêu Chúa hơn, để theo Ngài hơn.
Hiểu nỗi đau và mệt nhọc cùng sỉ nhục
Chúa chịu, để được đánh động bởi
t́nh yêu Ngài đối với tôi.
Điểm gợi ư:
Có thể dựa vào Mc 15:21tt để cầu
nguyện, hoặc dựa theo các chặng đàng thánh giá
để cầu nguyện.
Những lần ngă v́ kiệt sức. Gặp
Đức Mẹ. An ủi dân thành Giêrusalem, v.v.
Tâm sự, thân thưa với Chúa, xin cho ḿnh
được chia sẻ nỗi buồn đau và sỉ
nhục với Chúa v́ t́nh yêu Chúa dành cho tôi và cho mọi
người.
Như ḿnh đang hiện diện với
Đức Giêsu bị đóng đinh vào thập giá trên
đồi Calvê.
Xin ơn được chia sẻ nổi đau
buồn, tan nát cơi ḷng với Chúa tan nát tâm hồn.
Điểm gợi ư:
Nh́n nghe quan sát Đức Giêsu, suy nghĩ và rút ích
lợi.
Lột quần áo Chúa. Đóng đinh. Dựng thánh
giá lên, v.v.
Tâm sự với chúa, Đấng bị khổ h́nh
tan nát thịt da v́ tôi.
Khung cảnh: Hiện diện cùng với
Đức Giêsu trên thập giá ở g̣ Sọ vào buổi
chiều thứ sáu hôm ấy.
Xin ơn yêu như Chúa, và có suy nghĩ thái
độ cùng lời nói như Chúa.
Điểm gợi ư:
i. Nh́n Đức Giêsu trên thập giá, và nghe từng
lời của Ngài: Lạy Cha, xin tha cho chúng v́ chúng lầm
chẳng biết.
ii. Hôm nay Ta sẽ cho ngươi ở trên thiên
đàng với Ta.
iii. Này là con bà, này là Mẹ con.
iv. Ta khát.
v. Lạy Cha, sao Cha nỡ bỏ Con.
vi. Lạy Cha, Con phó linh hồn Con trong tay Cha.
vii. Đă hoàn tất.
Tâm sự, thân thưa với Chúa, xin cho ḿnh
được đồng h́nh đồng dạng với
Chúa, được có suy nghĩ tâm tư t́nh cảm thái
độ như Chúa trên thập giá.
Như ḿnh đang hiện diện khi Mẹ
bồng ẵm xác con.
Xin ơn biết bằng con tim mầu nhiệm
tự hủy khi Thiên Chúa nhập thể làm người,
để được đánh động trước
t́nh yêu Thiên Chúa đối với tôi.
Điểm gợi ư:
i. Những người đang ở với Chúa
giây phút cuối cùng trên đồi Golgotha
Tâm t́nh của họ! Họ có bị khủng
hoảng không?
Họ có bị thử thách về đức tin
không? Thiên Chúa ở đâu? Tại sao người công chính,
người tốt như vậy lại bị cư
xử bất công tàn nhẫn như vậy?
ii. Đức Giêsu tắt thở! Mai táng.
Đức Giêsu chết trần trụi ô nhục
trên thập giá, như người bị Thiên Chúa nguyền
rủa nhưng Ngài là Đấng thánh. Qua việc này,
những người chết ô nhục không có nghĩa
rằng bị Thiên Chúa nguyền rủa, bỏ rơi.
Tâm sự với Chúa, Đấng chết v́ tôi.
Khung cảnh: Chúa đă chết và đă
được chôn cất.
Ơn xin: Hiểu được tâm trạng,
nỗi buồn của các vị. Hiểu được
t́nh yêu của các vị với Đức Giêsu và với
Thiên Chúa.
Điểm gợi ư:
i. Các tông đồ gần như tuyệt vọng
Trèo cao ngă đau. Hy vọng nơi Đức Giêsu
càng lớn, thất vọng càng ê chề, như thể
tuyệt vọng.
ii. Các chị phụ nữ
Đức Giêsu là người vô cùng tốt,
người công chính, người của Thiên Chúa. Thế
mà sự việc đă xảy ra như vậy! Thiên Chúa
ở đâu?
iii. Đức Mẹ vẫn xin vâng
Đức Mẹ không hiểu chương tŕnh
của Thiên Chúa, nhưng vẫn tin tưởng phó thác
tất cả cho Thiên Chúa. Mẹ vẫn tin rằng lời Chúa
nói cùng Mẹ sẽ được thực hiện, dù lúc
này Mẹ chưa thấy.
Tâm sự với các vị, xin các vị cầu
nguyện cùng Chúa giúp. Xin cho ḿnh đừng bao giờ
mất tin tưởng vào Thiên Chúa.
Như ḿnh đang hiện diện trên đồi
Golgotha cùng với Đức Giêsu bị treo thập giá.
Ơn xin: Cảm nghiệm cùng một tâm t́nh
với Đức Giêsu trên thập giá với những
đau khổ, đắng cay.
Điểm gợi ư:
Đọc chậm chậm Thánh vịnh và cầu
nguyện với Đức Giêsu và với Thiên Chúa Cha.
Tâm sự, thân thưa với Chúa, xin cho ḿnh
được rung động trước t́nh yêu Thiên Chúa
đối với ḿnh, để ḿnh có thể yêu anh em theo
mẫu Chúa đă dạy và đă yêu.
Như ḿnh đang hiện diện với Chúa trên
thấp giá.
Ơn xin: Cảm nghiệm được t́nh yêu
của Ngài đối với tôi được biểu
lộ qua việc Ngài sẵn sàng chịu tất cả v́
tôi, để giao ḥa tôi với Thiên Chúa. Xin ơn sống
tất cả cho t́nh yêu và sẵn sàng chịu đau khổ
trên đời v́ t́nh yêu đối với Ngài và đối
với anh em tha nhân v́ Ngài.
Điểm gợi ư:
i. Cực h́nh đă làm người ta không c̣n
nhận ra dung mạo của Ngài nữa
Như kẻ phong cùi. Đức Giêsu bị
đánh, bị hành hạ, dung mạo Ngài bị biến
dạng!
ii. Ngài bị đối xử như kẻ bị
phong cùi, mọi người đều khinh bỉ Ngài
Khi làm phép lạ chữa bệnh th́ Ngài
được tung hô. Giờ đây, ai muốn nhận là
bạn hữu của Ngài?
iii. Ngài gánh tội cho nhiều người, chứ
thực sự Ngài vô tội
Đây chiên Thiên Chúa, đây Đấng gánh tội
trần gian. Ngài là chiên vô tội. Ngài gánh tội trần
gian, gánh tội tôi, Ngài chết thế cho tôi.
Tâm sự với Đức Giêsu treo trên thập
giá, và nói với Ngài những ǵ đến trong tâm hồn
ḿnh.
Như ḿnh đang hiện diện với
Đức Giêsu chết treo thập giá.
Ơn xin: Cảm nghiệm t́nh Chúa đối
với tôi, và xin ơn được chia sẻ với
Ngài, nên giống Ngài.
Điểm gợi ư:
i. Nguồn gốc đức Giêsu: phận Thiên
Chúa.
Ngài không đ̣i được cư xử như
là Thiên Chúa nhưng đă nhập thể làm người.
ii. Tự hủy ra không
Nhập thể làm người là tự hủy;
sinh nơi chuồng chiên cừu, sống nghèo ở Nadarét là
tự hủy; và đến tận cùng như người
nghèo hèn bị sỉ nhục nhất: chết trần
truồng trên thập giá.
iii. Chấp nhận tất cả v́ yêu
Đức Giêsu chấp nhận cái chết, dù là cái
chết nhục nhă trên thập giá, v́ yêu con người, v́
yêu Thiên Chúa. Chính v́ yêu mà Ngài nhập thể, mà đi
đến tận cùng kiếp người, là chết ô nhục
trên thập giá. Ai cùng khốn đến mức nào, cũng
không bằng Đức Giêsu. Đức Giêsu trên thập
giá, là an ủi cho những kẻ khốn cùng nhất.
Tâm sự với Chúa trên thập giá, xin cho con
biết vâng phục thánh ư Thiên Chúa theo gương Đức
Giêsu, trong cuộc sống thường ngày của con.
(câu than hôm thứ sáu
tuần thánh)
Như ḿnh đang hiện diện với Chúa
bị treo thập tự.
Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh ḷng
thống hối đau buồn v́ do ḿnh phạm tội mà
Chúa đă phải chịu khổ h́nh dường ấy.
Điểm gợi ư:
i. Sao ngươi dọn thập giá cho Đấng
đă cứu ngươi?
Nh́n lịch sử dân Israel trong toàn bộ: ơn
gọi Abraham, Xuất hành, định cư, ban tiên tri, các
vua, lưu đày trở về, v.v.
Thiên Chúa yêu thương con người vô cùng,
tại sao con người đối xử với Thiên Chúa
nhập thể như vậy?
ii. Thái độ vô ơn của dân Do thái và cũng
là thái độ của tôi
Dân Do Thái đối xử tệ bạc với
Thiên Chúa, tôi cũng đối xử với Thiên Chúa tệ
bạc như vậy.
Tâm sự với Chúa trên thập giá, xin cho con
được dứt khoát với tội, để không
bao giờ làm buồn ḷng Chúa nữa.
Như ḿnh đang hiện diện cùng với
Mẹ Maria dưới chân thập tự.
Xin ơn đổi đời, chỉ sống và
chết cho t́nh yêu.
Điểm gợi ư:
Nh́n, nghe (tiếng ḷng của Mẹ, tiếng
đức tin), quan sát Mẹ, để hiểu Mẹ và
nên giống Mẹ hơn.
Lời sứ thần truyền tin có đúng không?
Lời Chúa phán cùng Mẹ ở biến cố truyền tin
có được thực hiện không?
Đau khổ v́ Con Mẹ chết khổ nhục.
Bị cám dỗ cả về đức tin.
Tâm sự với Mẹ, với Chúa treo trên thập
tự. Xin cho con được trở nên giống Mẹ
trong mọi thử thách của cuộc đời.
Khung cảnh: Đồi sọ, một buổi
chiều buồn thứ sáu hôm đó.
Ơn xin: Cảm nhận t́nh yêu của Cha
đối với con người khi Ngài để
Đức Giêsu phải chết trên thập giá như
vậy.
Điểm gợi ư:
i. Thiên Chúa Cha đă theo dơi những biến cố
này ngay từ đầu (nói theo kiểu nhân loại); đi
vào tâm t́nh của Thiên Chúa Cha.
ii. Thiên Chúa chịu đựng, nhẫn nại
đối với con người, khi con người
đối với Đức Giêsu như vậy!
Con người quá hỗn láo, quá phạm
thượng!
Tội con người thật lớn vô cùng.
Tâm sự với Thiên Chúa Cha, xin cho ḿnh hiểu t́nh
yêu của Ngài đối với con người, và
đặc biệt đối với tôi qua biến cố
Đức Giêsu bị giết treo thập giá này.
Nếu có giờ, có thể đọc các tŕnh
thuật về khổ nạn trong cả bốn Tin
Mừng.
Nếu có thể được, nên làm những
hành vi hy sinh hăm ḿnh, trong thời gian cầu nguyện về
cuộc khổ nạn của Chúa. Có nhiều cách hy sinh,
nhưng ít là giữ điều độ trong bữa
ăn (LT 210-217).
Giữ tâm t́nh cầu nguyện trong suốt ngày:
Chúa chịu bao đau khổ và sĩ nhục v́ tôi, v́ yêu
tôi, v́ bao lần tôi đă phản bội Chúa! Cố
gắng quảng đại với Chúa trong việc giữ
các điều phụ thêm như dấu chứng t́nh yêu
đối với Chúa, Đấng đă chết v́ yêu tôi.
Làm lượng giá sau mỗi chủ đề, sau
mỗi giai đoạn. Nhớ ghi lại những kinh
nghiệm này: ghi lại những hồng ân đă nhận
được cũng như những lầm lỗi
khuyết điểm ḿnh đă phạm, để tiến
bộ hơn trong những ngày tới.
Chúng ta bước
sang tuần thứ tư của Linh Thao: cầu nguyện
về Đức Giêsu Phục Sinh.
Khi Đức Giêsu
c̣n tại thế và trước cuộc khổ nạn,
chưa có ai biết rơ Đức Giêsu là Thiên Chúa. Dù Ngài
đă ba lần loan báo rằng Ngài sẽ bị bắt,
bị đánh đ̣n, bị giết và ngày thứ ba Ngài
sẽ sống lại; nhưng khi Ngài bị bắt và chết,
không có ai tin Ngài sẽ sống lại; thậm chí khi Ngài
đă sống lại và hiện ra cho các phụ nữ, và
họ đi báo tin cho các tông đồ, thế mà các tông
đồ cũng không tin (Mc 16:9-11).
Để tin Đức
Giêsu đă sống lại, có lẽ không tuyệt
đối cần các tông đồ;[29] nhưng để tin Đức Giêsu là Thiên Chúa,
chắc chắn cần lời chứng của các tông
đồ.[30]
Chính nhờ tin vào Đức
Giêsu Phục Sinh mà các tông đồ nhận biết Thánh
Thần là Thiên Chúa: nhờ Thánh Thần Đức Giêsu trao
ban khi Ngài hiện ra cho các tông đồ (Ga 20:22) mà các tông
đồ nhận biết Đức Giêsu là Thiên Chúa, và
cũng nhờ Đức Giêsu Phục Sinh mà các tông
đồ nhận biết Thánh Thần là Thiên Chúa.
Thánh Inhaxiô viết
trong LT 221: “Xin điều tôi ao ước. Ở đây xin
ơn để cảm nghiệm sâu xa và mănh liệt
niềm hân hoan và
Niềm
Niềm hân hoan và
Dù Kinh Thánh không nói
Chúa Phục Sinh hiện ra cho Mẹ Maria, nhưng thánh Inhaxiô
đề nghị chiêm niệm “Chúa Phục Sinh hiện ra cho
Mẹ” (LT 218-225). Nếu ai chấp nhận quan điểm
của thánh Inhaxiô, th́ có thể cầu nguyện dựa vào
bài chiêm niệm trên và những đoạn Kinh Thánh sau, c̣n
nếu không chấp nhận th́ có thể chỉ dùng
những bản văn Kinh Thánh để cầu nguyện
mà thôi.
Các bản văn Kinh
Thánh được đề nghị:
· Chúa Phục Sinh hiện ra với chị Maria Magdala
(Ga 20:11-18);
· Chúa Phục Sinh hiện ra cho các tông đồ và
trao phó sứ mạng (Ga 20:19-23);
· Chúa Phục Sinh đổi đời hai môn
đệ Emmau (Lc 24:13-35);
· Chúa Phục Sinh củng cố đức tin
của Thomas (Ga 20:24-29);
· Chúa Phục Sinh chăm sóc các tông đồ bên
bờ hồ Galilê (Ga 21:1-14);
· Cứng ḷng và ngoan cố trước biến
cố Đức Giêsu Phục Sinh (Mt 28:11-15);
· Chúa Giêsu Phục Sinh lên trời (Cv 1:6-11);
· Chúa Giêsu Phục Sinh luôn ở với chúng ta (Mt 28:16-20);
· Chúa Phục Sinh hứa ban Thánh Thần (Ga 14:15-26);
· Thánh Thần sẽ làm chứng về Đức
Giêsu (Ga 15:26-16:15);
· Thánh Thần tỏ hiện trong ngày lễ Ngũ
Tuần (Cv 2:1-41);
· Nhân danh Đức Giêsu Nadarét, anh hăy đứng
dậy mà đi (Cv 3:1-26);
· Phêrô làm chứng cho Chúa Giêsu Phục Sinh
trước chính quyền (Cv 1-22);
· Từ khi biết Đức Giêsu Kitô, tôi coi tất
cả như phân bón (Pl 3:1-4:1).
Chúng ta bắt đầu bước vào tuần
thứ tư của Linh Thao, chiêm niệm biến cố
Đức Giêsu Phục Sinh. Ơn xin trong những bài
cầu nguyện này, là xác tín Thiên Chúa đă phục sinh
Đức Giêsu Nadaret từ cơi chết và ơn sống
niềm tin này. Điều này được biểu
lộ qua thái độ lạc quan và vui mừng hân hoan.
Đây là ơn mà chúng ta phải thành khẩn nài xin trong
mỗi lần cầu nguyện.
Cho đến lúc đứng dưới chân
thập giá, Mẹ vẫn chưa thấy Lời Chúa phán
với Mẹ qua sứ thần được thực
hiện, tuy vậy Mẹ vẫn tin rằng Lời Chúa
sẽ được thực hiện (Lc 1:45). Khi thấy
Chúa phục sinh, Mẹ mới thấy rơ lời Chúa phán cùng
Mẹ được thực hiện. Trong tâm t́nh này chúng
ta mới hiểu tại sao thánh Inhaxiô khẳng định
Chúa Phục Sinh đă hiện ra cho Mẹ.
Dùng những điểm như thánh Inhaxiô gợi ư
trong sách Linh Thao.
Khung cảnh: Như ḿnh hiện diện với
chị thánh vào sáng ngày thứ nhất trong tuần tại
nơi chôn táng Đức Giêsu.
Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh
được hân hoan vui mừng như chị thánh, v́ Chúa
đă phục sinh. Xin cho ḿnh yêu Chúa như chị.
Điểm gợi ư:
i. Nỗi buồn khi Chúa bị khổ nạn, và
khi không thấy xác Chúa trong mồ (Ga 20:1-10).
Chị yêu Chúa nên viếng xác từ sáng sớm.
Không thấy xác, chị buồn như thế nào? Báo tin cho
các tông đồ. Đứng ngoài mồ khóc. Đi vào ḷng
chị: chết ô nhục, và bây giờ xác cũng không c̣n!
ii. Đức Giêsu Phục Sinh hiện ra cho chị
Maria! Xem chị mừng như thế nào!
Hăy đi báo tin cho các anh em Thầy, v.v. Sứ
mạng được trao cho chị.
Tâm sự với Chúa Phục Sinh, Đấng an
ủi những tâm hồn buồn rầu chán nản.
Khung cảnh: Buổi chiều ảm đạm vào
ngày thứ nhất trên đường Emmau.
Ơn xin: xin cho con có cái nh́n mới về Đức
Giêsu v́ Ngài đă phục sinh, và cho con đổi mới
cuộc đời như hai môn đệ Emmau.
Điểm gợi ư:
i. Trên đường Emmau, hai môn đồ
buồn chán và thất vọng
Hai môn đệ đă nghe các chị phụ nữ
nói Đức Giêsu phục sinh. Làm sao tin được
Đức Giêsu đă phục sinh! Bao hy vọng, giờ tan
sụp cả. Về quê.
ii. Niềm tin, hy vọng, hân hoan vui mừng Đức
Giêsu phục Sinh đă mang lại cho hai ông
Chúa tới gần, bắt chuyện, giảng
dạy, bẻ bánh.
Ḷng chúng ta chẳng nóng lên khi Ngài giảng dạy
sao?
iii. Hai ông trở về Giêrusalem loan báo tin mừng
phục sinh
Trời tối nhưng không cản được
các ông trở về Giêrusalem ngay, niềm vui cần loan báo
không thể chờ được. Xem các ông
được biến đổi như thế nào?
Tâm sự với Chúa phục sinh. Xin Chúa biến
đổi con, cho con thành một con người mới,
mới cả tinh thần lẫn thân xác.
Khung cảnh: Hiện diện với các tông
đồ vào buổi chiều ngày thứ nhất trong
tuần.
Ơn xin: Có được niềm vui như các
tông đồ đă có khi nhận thấy Chúa đă sống
lại, xin cho con ơn b́nh an thật sự và sâu thẳm
trong tâm hồn, xin cho con nhiệt thành với sứ
mạng được trao.
i. Các tông đồ sợ hăi người Do thái, tâm
hồn dao động như thế nào?
Chiều tối ngày thứ sáu. Ngày thứ bảy
(sabbát).
Các chị phụ nữ báo tin. Làm sao tin
được chuyện kẻ chết sống lại.
Nếu thầy sống lại th́ thầy ở đâu?
Ladarô sống lại, và vẫn ở đó, ai muốn
gặp th́ có thể gặp.
ii. Chúa Phục Sinh hiện ra cho các ông, niềm vui
của các tông đồ lớn như thế nào?
Nghi ngờ. Niềm vui và hân hoan tột cùng.
iii. Như Cha đă sai Thầy, Thầy cũng sai
anh em
Sứ mạng của Đức Giêsu giờ
đây cũng là sứ mạng của các tông đồ.
Cũng là sứ mạng của tôi.
iv. Các tông đồ lănh nhận Thánh Thần (c.22)
Anh em hăy nhận lấy Thánh Thần (Ga 20:22). Thánh
Thần sẽ giúp các tông đồ nhớ lại những
ǵ Chúa Giêsu đă nói với các ông khi Ngài sống tại
thế, Thánh Thần sẽ giúp các ông nhận biết
Đức Giêsu là Thiên Chúa, v.v.
Tâm sự với Chúa Phục Sinh, Đấng yêu
thương các tông đồ dường bao! Xin cho con
thuộc trọn về Chúa, để hoàn toàn sống
cuộc đời phục vụ.
Như ḿnh đang hiện diện với 11 tông
đồ vào ngày thứ nhất trong tuần tám ngày sau! Tâm
trạng của Thomas vẫn hoài nghi do dự băn
khoăn.
Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh tin
thật Chúa đă phục sinh, và sống niềm tin này trong
cuộc sống cụ thể thường ngày.
i. Thomas không tin Đức Giêsu có thể sống
lại
Đức Giêsu đă phục sinh kẻ chết,
nhưng Ngài đă chết rồi, ai có thể phục sinh
kẻ chết, phục sinh Ngài? Nếu thầy phục
sinh, th́ ḿnh có thể gặp, thầy ở đâu? Không ai có
thể trả lời, vậy làm sao tin được?
ii. Chúa Phục Sinh kiên nhẫn, chấp nhận
lời thách đố của Thomas
Đem ngón tay đặt vào lỗ đanh nơi tay
Thầy, tra bàn tay vào cạnh sườn Thầy. Đừng
cứng ḷng nữa nhưng hăy tin. Những ǵ Thomas đ̣i
hỏi, Chúa sẵn sàng thỏa măn.
Thomas được biến đổi, niềm
hân hoan và hạnh phúc Thomas có khi được gặp
Đức Giêsu và tin Ngài đă sống lại.
iii. Phúc cho chúng ta là những kẻ không thấy mà
tin
Tin Đức Giêsu phục sinh, tin Đức Giêsu
Phục Sinh là Thiên Chúa vẫn là một ơn, và là một
ơn vô cùng lớn. Tạ ơn Chúa v́ các Kitô hữu chúng ta
được ơn này.
Tâm sự với Chúa Phục Sinh, v́ nhiều
lần trong cuộc sống ḿnh cũng cứng tin như
Thomas trước bao dấu chỉ t́nh yêu Chúa dành cho tôi.
Như ḿnh đang hiện diện với
Đức Giêsu bên bờ hồ sáng sớm hôm đó.
Xin ơn cảm nghiệm t́nh yêu của Chúa
đối với con qua từng biến cố trong ngày.
i. Các tông đồ trở về Galilê, Phêrô và các
bạn đi đánh cá
Các ông vất vả suốt đêm mà không
được ǵ!
Chúa hỏi. Các ông trả lời. Nhận ra Chúa.
Thái độ kính trọng của Phêrô đối với
Chúa, qua việc mặc đồ trước khi nhảy
xuống nước bơi vào bờ.
ii. T́nh yêu thể hiện qua việc Chúa dọn
bữa cho các tông đồ
Ngài cầm bánh trao cho các ông. H́nh ảnh chăm sóc
rất dễ thương.
iii. Trao sứ mạng
Con có yêu Thầy hơn các anh em này không?
Thầy biết con yêu mến Thầy. Hăy chăm
sóc chiên của Thầy, v.v.
Chỉ cần điều kiện “yêu Chúa”
để Chúa trao sứ mạng.
Tâm sự với Chúa Phục Sinh, Đấng yêu
thương và săn sóc các tông đồ.
Như ḿnh đang hiện diện để nghe
được âm mưu của những người lănh
đạo dân Do Thái vào sáng ngày thứ nhất trong tuần,
đối phó với biến cố Chúa phục sinh!
Xin ơn đừng cứng ḷng, nhưng biết
luôn sẵn sàng chấp nhận sự thật, dù sự
thật có là điều ḿnh không muốn. Xin ơn tin vào
Chúa Phục Sinh và sống niềm tin trong cuộc sống
hằng ngày.
i. Thái độ của binh lính
Sợ sệt. Báo tin cho các thượng tế, v.v.
ii. Thái độ của thượng tế, kư lục,
biệt phái
Không mở ḷng. Cứng ḷng trước biến
cố Chúa Phục Sinh. Muốn dập tắt Tin Mừng
này. Dàn xếp với quân linh, với những người
có chức quyền, để quân linh không bị khó dễ,
có vậy mới mong dập tắt Tin Mừng Phục Sinh.
iii. Thái độ của dân chúng trước
lời chứng của các tông đồ và của những
người cầm đầu người Do thái
Dân chúng có thể một số tin các người
lănh đạo, một số được nghe các tông
đồ rao giảng và sám hối.
Tâm sự, xin Chúa biến đổi ḷng con,
đừng để con cứng đầu như
những người lănh đạo dân Do thái xưa.
Khung cảnh: Như ḿnh đang hiện diện trên
một ngọn núi cùng với một số người tin
vào Đức Giêsu.
Ơn xin: Xin ơn xác tín Chúa vẫn ở bên ḿnh
trong mọi hoàn cảnh và trong mọi lúc. Xin ơn tin
tưởng và phó thác trọn vẹn cho Thiên Chúa.
i. Cuộc hẹn ḥ
Giây phút cuối cùng c̣n nh́n thấy mặt nhau. Tâm
t́nh và thái độ.
ii. Sứ mạng Chúa trao cho các tông đồ
Anh em hăy đi làm cho muôn dân thành môn đệ,
rửa tội cho họ, dạy họ tuân giữ những
ǵ thầy đă truyền cho các con.
iii. Thầy ở với anh em mọi ngày cho
đến tận thế
Ngài luôn ở với tôi. Ngài không lên trời sao? Lên
trời, là cách nói Đức Giêsu được siêu tôn,
Ngài là Thiên Chúa.
Tâm sự với Chúa, Đấng yêu tôi và có
quyền trên vạn sự vạn vật, Ngài sẽ làm
những điều tốt đẹp cho tôi.
Như ḿnh đang hiện diện ở núi cây
dầu gần Giêrusalem cùng với các tông đồ.
Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh
được vui và hạnh phúc tràn đầy v́ Chúa
Phục Sinh được vinh thăng và ngự bên hữu
Thiên Chúa Cha.
i. Lời hứa ban Thánh Thần
Anh em sẽ chịu phép rửa trong Thánh Thần
(c.5)
ii. Lên trời, nghĩa là siêu thăng, để
ở măi với chúng ta
Thiên Chúa ở khắp mọi nơi. Đức
Giêsu lên trời ngự bên hữu Thiên Chúa, là ngang hàng
với Thiên Chúa. Đó là niềm tin Đức Giêsu là Thiên
Chúa.
Đức Giêsu phục sinh là Thiên Chúa, Ngài đang
ở với tôi, không bao giờ Ngài xa tôi.
Tâm sự với Chúa Phục Sinh được
siêu tôn.
Cách cầu nguyện của tuần thứ hai,
thứ ba, và thứ tư, là chiêm niệm. Nghĩa là, nh́n
nghe quan sát Đức Giêsu, để nên giống Ngài
hơn. Thế nên, trong những điểm, dù không nói
nhưng chúng ta vẫn áp dụng phương pháp chiêm
niệm cho mỗi bài cầu nguyện.
Nhớ đặt ḿnh hiện diện trước
mặt Chúa trước khi cầu nguyện; và chỉ khi
nào ư thức rơ ḿnh đang hiện diện trước Chúa
mới bắt đầu cầu nguyện thôi.
Đọc các điều phụ thêm trong LT 226-229;
cố gắng giữ các điều phụ thêm để
cầu nguyện dễ dàng hơn. Một trong những lư
do làm ta cầu nguyện không được là v́ ta không
cố gắng kết hiệp với Chúa trong suốt ngày
(từ lúc thức dậy cho tới khi lên giường
ngủ), hay tại ta không giữ ngũ quan như con
mắt, lỗ tai, miệng lưỡi.
Nhớ xét ḿnh riêng về các điều phụ
thêm. Không giữ các điều phụ thêm, thường là
dấu chỉ biểu lộ ta thiếu quảng
đại với Chúa.
Lên trời, ngự bên hữu Thiên Chúa, là những
cách nói khác nhau để chỉ việc Đức Giêsu Phục
Sinh được tôn vinh. Có thể hiểu "lên
trời" là cách nói để chỉ t́nh trạng chúng ta
không thể thấy Chúa Phục Sinh bằng mắt trần
nữa, dù Ngài vẫn ở bên chúng ta như Ngài đă nói
trong Mt 28:20: “Này đây Thầy ở cùng các con mọi ngày
cho đến tận thế.”
Chính nhờ tin Đức Giêsu Phục Sinh là Thiên
Chúa, và v́ thế tin những ǵ Ngài nói là sự thật, nên
Kitô hữu chúng ta nhận biết Thánh Thần là Thiên Chúa,
là Ngôi Ba Thiên Chúa.
Thánh Thần được Chúa Cha gởi
đến cho các tông đồ nhờ lời cầu xin
của Đức Giêsu (Ga 14:16). Thánh Thần cũng là quà
tặng của Chúa Giêsu ban cho các tông đồ (Ga 15:26).
Thánh Thần được ban cho con người,
để ở măi với con người (Ga 14:16).
Ngày nay, tất cả những ǵ tốt đẹp
thiện hảo chúng ta làm, chúng ta đều làm dưới
tác động của Thánh Thần.
Khung cảnh: như ḿnh hiện diện trong
bữa tiệc ly, và Đức Giêsu nói những lời tâm
huyết.
Ơn xin: tin nhận Thánh Thần, và ơn tùy
thuộc và vâng phục Thánh Thần.
i. Thánh Thần Cha sẽ sai đến nhân danh Ta (Ga
14:26)
Để chuẩn bị cho việc Ngài ra đi,
Đức Giêsu nói về Thánh Thần.
ii. Ngài ở với các ngươi luôn măi (Ga 14:16)
Một nét đặc biệt của Chúa Thánh
Thần: ở với chúng ta luôn măi.
iii. Ngài sẽ dạy các ngươi mọi sự
(Ga 14:26)
Thánh Thần là Thầy, Ngài dạy chúng ta mọi
điều.
Tâm sự với Chúa Giêsu Phục Sinh và Chúa Thánh
Thần, Đấng làm mọi sự tốt đẹp
nơi tôi và cho tôi.
Khung cảnh: như ḿnh đang hiện diện
trong bữa tiệc ly cùng với Đức Giêsu và các tông
đồ.
Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh luôn
được sống dưới sự thúc đẩy
của Thánh Thần trong mọi nơi mọi lúc.
i. Đấng Bầu Chữa, Ta sẽ gởi
đến từ nơi Cha (Ga 15:26)
Thánh Thần là Đấng bầu chữa. Ngài là
Thiên Chúa v́ Ngài từ Thiên Chúa mà đến. Đấng
được Chúa Giêsu sai gởi, để ở với,
dạy dỗ và hướng dẫn các tín hữu trong
mọi việc.
ii. Ngài sẽ làm chứng về Ta, và các
ngươi cũng làm chứng (Ga 15:26.27)
Thánh Thần cũng là Đấng làm chứng cho
Đức Giêsu. Thánh Thần dùng các tông đồ, chúng ta,
làm chứng cho Đức Giêsu.
iii. V́ là Thần Khí Sự Thật, Ngài sẽ
đưa các ngươi vào tất cả sự thật
(Ga 16:13)
Thánh Thần làm tất cả cho chúng ta.
Tâm sự với Chúa Giêsu và Chúa Thánh Thần.
Khung cảnh: như ḿnh đang hiện diện cùng
với các tông đồ trong ngày lễ Ngũ Tuần.
Ơn xin: xin ơn được Thánh Thần
biến đổi để trở thành con người
mới, can đảm và khôn ngoan làm chứng cho Chúa Phục
Sinh.
i. Chúa Giêsu Phục Sinh ban Thánh Thần (Ga 20:22)
Anh em hăy nhận lấy Thánh Thần.
ii. Các tông đồ hiệp cùng Đức Mẹ
cầu nguyện (Cv 1:12-14)
Sau khi Chúa Phục Sinh lên trời, Đức Mẹ
cùng các tông đồ cầu nguyện. Tất cả
dưới tác động của Thánh Thần.
iii. Lễ Ngũ Tuần, quyền lực Thánh
Thần tỏ hiện
Thánh Thần được nhận biết qua h́nh
lưỡi lửa, tiếng gió, tiếng lạ, v.v.
Phêrô được biến đổi rơ nét: nhát
đảm thành dũng cảm, b́nh thường thành khôn
ngoan sáng suốt.
Tâm sự với Chúa Giêsu Phục Sinh, xin Chúa ban
Thánh Thần cho tôi, để tôi cũng được
biến đổi, thành chứng nhân của Chúa Phục
Sinh.
Khung cảnh: như ḿnh đang hiện diện cùng
với các tông đồ trong ngày lễ Ngũ Tuần.
Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh sống
niềm tin mănh liệt vào Chúa Giêsu Phục Sinh như các tông
đồ xưa.
i. Thiên Chúa ban Thánh Thần
không chỉ cho các tông đồ, nhưng c̣n cho
mọi xác phàm vào thời điểm cánh chung (Cv 2:17).
ii. Nhờ Thánh Thần, người ta có thể tin
vào Chúa Giêsu Phục Sinh (cc.22-28)
Đức Giêsu mà anh em đă đóng đinh, Thiên
Chúa đă siêu tôn Ngài làm Chúa (cc.29-36). Khi Đức Giêsu rao
giảng, bao nhiêu kẻ đă tin vào lời Ngài? Hôm nay, Thánh
Thần làm người ta tin vào Đức Giêsu qua lời
giảng của các tông đồ.
iii. Dân chúng tràn đầy ơn Thánh Thần
Thánh Thần quy tụ dân chúng, giúp các tông đồ
rao giảng, làm dân chúng tin vào các tông đồ, và sám
hối.
Ba ngàn người nhận phép rửa. Chỉ có
Thánh Thần mới làm được những điều
kỳ diệu này.
Tâm sự với Chúa Giêsu Phục Sinh và đặc
biệt với Thánh Thần, xin Ngài củng cố
đức tin của tôi.
Như ḿnh đang hiện diện cùng với Gioan
và Phêrô khi hai vị vào đền thờ và chữa lành
người bại.
Ơn xin: xin cho ḿnh ơn có được
đức tin mănh liệt và kiên cường như thánh
Phêrô.
i. Phêrô và Gioan chỉ có Đức Giêsu Phục Sinh
làm gia nghiệp
Phêrô và Gioan chỉ có Đức Giêsu phục sinh; và
hai ông sẵn sàng tặng ban, rao giảng Đức Giêsu Phục
Sinh cho bất cứ ai.
Nhân danh Đức Giêsu, anh hăy đứng dậy mà
đi.
ii. Bài giảng của Phêrô (cc.11-26)
Đi đâu Ngài cũng chỉ nói về Giêsu Phục
Sinh mà thôi.
Đức Giêsu là tất cả đối với Phêrô
và các tông đồ.
Tâm sự với Thánh Thần của Đức Giêsu
Phục Sinh. Xin cho con biết nhận rơ rằng:
đức tin là hồng ân vô cùng lớn Thiên Chúa ban cho
những người tin.
Như ḿnh đang hiện diện cùng với thánh
Phêrô trước những người cầm quyền
muốn ngăn cản sự thật.
Ơn xin: xin cho ḿnh có ḷng tin mănh liệt vào Chúa Giêsu
Phục Sinh, và ơn can đảm làm chứng cho Ngài
với bất cứ ai vào bất cứ hoàn cảnh nào.
i. Phêrô can đảm nói trước nhà cầm
quyền nhờ Thánh Thần (cc.8tt)
Với ơn Thánh Thần, Phêrô không sợ bắt
bớ (như khi Ngài chối Chúa).
ii. Không có một danh nào khác được ban cho
con người, để nhờ danh đó con người
được cứu độ (c.12)
Tất cả mọi người được
cứu độ, là được cứu độ
nhờ Đức Giêsu Kitô.
iii. Phải vâng lời các ông hay vâng lời Thiên Chúa
(cc.19-20)?
Chúng tôi không thể không nói những ǵ chúng tôi đă
thấy và đă nghe!
Tâm sự, thân thưa với Chúa. Xin Thánh Thần
cho con ḷng dũng cảm và khôn ngoan để làm chứng
cho Chúa Giêsu Phục Sinh.
Như ḿnh đang hiện diện trong biến
cố Saul té ngựa trên đường đi Damas.
Trong bài cầu nguyện này, xin Chúa cho ḿnh chọn
lựa dứt khoát và sống Đức Giêsu là tất
cả đối với ḿnh; nghĩa là, có Đức Giêsu là
có tất cả, và thiếu Ngài là thiếu tất cả.
i. Tôi có thể tự hào về điều ǵ?
Ngày xưa, và bây giờ?
ii. Đức Giêsu Kitô có chỗ đứng nào trong
đời tôi?
Ngày xưa và bây giờ?
Bây giờ, tôi có coi tất cả là không giá trị
so với Đức Kitô? Tôi có coi Đức Giêsu là mối
lợi tuyệt vời không?
iii. Quên phía sau và lao ḿnh tới trước: phó thác
tất cả cho Thiên Chúa
Chỉ cần có Đức Giêsu, những
điều khác không quan trọng. Chỉ cậy dựa vào
Thiên Chúa.
Tâm sự, thân thưa với Chúa. Xin Thánh Thần
Chúa Giêsu Phục Sinh cho con biết chọn Chúa là tất
cả của con.
Đây là bài cầu
nguyện cuối cùng trong sách Linh Thao của thánh Inhaxiô.
“Xin ơn nhận
biết thâm sâu về tất cả ơn lành ḿnh đă lănh
nhận, để rồi một khi đă nhận ra th́
ḿnh có thể yêu mến và phụng sự Chúa Chí Tôn trong
mọi sự” (LT 233).
Làm sao để
cảm nhận Thiên Chúa luôn hiện diện và yêu
thương ḿnh trong từng giây phút của cuộc
sống, để rồi ḿnh yêu lại Chúa và phục
vụ Ngài trong mọi nơi mọi lúc, đó là mục
đích của bài cầu nguyện này.
Yêu là trao tặng
người yêu những ǵ ḿnh có (LT 231). Nếu Thiên Chúa
đă tặng ban cho chúng ta tất cả, ngay cả
những ǵ quư nhất với Ngài là Chúa Con và Chúa Thánh
Thần, th́ chúng ta phải dâng ǵ lại cho Chúa đây?
Với “kinh dâng
hiến,” thánh Inhaxiô dạy chúng ta dâng tất cả cho Thiên
Chúa, và chỉ xin Ngài một điều duy nhất “XIN LÀM
CHO CON YÊU CHÚA, và ơn đó là đủ cho con” (LT 234).
Đọc kỹ
điểm trong sách Linh Thao. Mỗi điểm có thể
cầu nguyện một ngày nếu là tĩnh tâm trong
cuộc sống hằng ngày.
Thiên Chúa, T́nh yêu,
Sự thật, và Hạnh Phúc, là một. Có Thiên Chúa là có
tất cả.
Với thư Gioan,
chúng ta có thể cầu nguyện bao nhiêu lâu chúng ta muốn.
Đây cũng là bài “chiêm niệm để được
t́nh yêu” nối dài.
Một bận tâm của người làm Linh Thao
"đạt kết quả" là, làm sao để duy
tŕ và phát triển ơn Linh Thao?
Đây là một bận tâm chính đáng!
Linh Thao không là kết thúc hay điểm cực
đại của đời sống thiêng liêng, nhưng nó
là khởi đầu của một giai đoạn
sống mới thân thiết hơn với Chúa và quảng
đại hơn với anh chị em.
Nguyên tắc tổng quát: mỗi ngày tiếp
tục làm điều đă tập trong thời gian Linh
Thao. Một cách cụ thể, luôn sống với ư thức
Chúa đang hiện diện với ḿnh và yêu thương
ḿnh, chấp nhận mọi biến cố xảy tới
với ḿnh trong niềm tin "Thiên Chúa có thể làm nó thành
tốt đối với ḿnh,” hy sinh liên lỉ nhất là
giữ ǵn ngũ quan để luôn kết hiệp với
Chúa.
Tâm t́nh của Thánh Vịnh 139 (138): Thiên Chúa luôn yêu
thương và nh́n xem săn sóc ḿnh. Chúa Giêsu dạy:
"Chúa Cha và Ngài luôn ở với chúng ta" và "Thánh
Thần luôn ở với chúng ta" (Ga 14:23.16). Thiên Chúa luôn
ở với chúng ta v́ Ngài yêu thương ta. Chúng ta cần
ư thức rơ điều này, để luôn sống với
tâm t́nh Thiên Chúa luôn hiện diện với ḿnh.
Nếu Thiên Chúa luôn ở với chúng ta, chúng ta
đâu c̣n cô đơn nữa; cho dù tất cả có bỏ
chúng ta th́ Thiên Chúa vẫn không bao giờ bỏ chúng ta:
Người luôn yêu thương chúng ta.
Nếu Thiên Chúa yêu thương chúng ta như
vậy, chúng ta c̣n sợ ǵ nữa? Nếu Thiên Chúa yêu
thương chúng ta như vậy, chúng ta không cảm
thấy yên tâm và hạnh phúc sao?
Sống tâm t́nh Chúa luôn hiện diện, là đă
khởi đầu giờ cầu nguyện liên lỉ.
Thiên Chúa vẫn nói
với chúng ta mỗi ngày bằng nhiều h́nh thức khác
nhau: qua lương tâm, những ǵ lư trí nhận thấy qua
những biến cố, ngay cả những biến cố
trái ư ḿnh, lời nói của người này người kia,
trang sách này tập vở kia. Như vậy, chúng ta phải
lắng nghe Chúa qua mọi dấu chỉ trong cuộc
sống, trong từng biến cố của cuộc
sống thường ngày.
Lắng nghe và
thực hiện Ư Chúa, chấp nhận và lấy Ư Chúa làm ư
ḿnh, đó là kết hiệp với Thiên Chúa trong hành
động.
Giờ cầu nguyện chính thức là cao
điểm của giờ cầu nguyện liên lỉ
suốt này; kết hiệp với Thiên Chúa trong giờ
cầu nguyện là cao điểm của tiến tŕnh
kết hiệp với Thiên Chúa trong suốt ngày.
Từ bỏ ḿnh liên lỉ, quảng đại
với Chúa, sẽ giúp ḿnh dễ dàng cầu nguyện
hơn, dễ dàng gặp Thiên Chúa hơn.
Từ bỏ ḿnh, chấp nhận trái ư v́ ích
lợi của tha nhân, giữ ǵn ngũ quan để luôn
sống thân thiết với Thiên Chúa, luôn vâng phục thánh ư
Chúa trong từng biến cố nhỏ, chọn Thiên Chúa trên
hết, là dấu chỉ cho thấy ḿnh đang thuộc
về Thiên Chúa.
Linh Thao chỉ là khởi đầu của một
giai đoạn mới trong đời sống thiêng liêng.
Xin Chúa giúp chúng ta quảng đại với Chúa, để
chúng ta tăng trưởng mỗi ngày một hơn về
đời sống thiết thân với Chúa, bằng:
·
ư thức liên lỉ
Thiên Chúa luôn yêu thương và hiện diện với chúng
ta,
·
sẵn sàng vâng phục
Thánh Ư Thiên Chúa,
·
từ bỏ ḿnh,
·
xét ḿnh và xét gẫm
mỗi ngày.
"Linh
Thao" là tựa đề một tập sách nhỏ do
Thánh I-nhă biên soạn. Mặc dù mang tên sách, nhưng "linh
thao" không phải là một sách để đọc theo
nghĩa một biên khảo thần học hay một giáo
huấn về đời sống thiêng liêng, nhưng là
một chỉ nam hướng dẫn thực hành.
Từ
trong nguồn gốc, "Linh Thao" là một tập bút
kư, nơi đó Thánh I-nhă ghi lại những kinh nghiệm
thiêng liêng quan trọng của riêng ḿnh, bắt đầu
từ năm 1522, trong thời gian ẩn dật, khổ
hạnh và chuyên tâm cầu nguyện tại Manresa, tức là
một năm sau cuộc hoán cải đổi đời.
Theo sách Tự thuật, "Khi nhận thấy kinh
nghiệm thiêng liêng này có thể giúp ích cho kẻ khác, ngài
đă viết thành sách." Nhưng ngài không nhắm
đến việc khai triển thành một quyển sách có
hệ thống và mạch lạc. Ngài chỉ muốn thu
thập những yếu tố quan trọng của kinh nghiệm
làm thành một cẩm nang thực hành hay một
phương pháp t́m Chúa. Cách chính xác, đó là cách t́m kiếm
ư muốn Thiên Chúa trên cuộc đời ḿnh.
"Linh
Thao" theo ư định của thánh I-nhă không nhắm
đến việc phổ biến rộng răi, nhưng
được ưu tiên dành cho người hướng
dẫn như thủ bản của một kinh nghiệm
thiêng liêng nhất định. Người hướng
dẫn-giống như các huấn luyện viên trong các môn thể
thao hay tập luyện khác-là người đă có kinh
nghiệm t́m Chúa qua Linh Thao và có thể giúp kẻ khác đi
lại con đường t́m kiếm ư muốn Thiên Chúa
trong khuôn khổ của một tiến tŕnh cầu
nguyện trong thinh lặng và cô tịch.
Thủ
bản "Linh Thao" bao gồm những thực tập
hay thao luyện thiêng liêng (gọi tắt là: Linh Thao)
chủ yếu là những bài suy niệm hay chiêm niệm,
vốn được sắp xếp theo một tŕnh
tự chặt chẽ và năng động, nhằm
mục đích chuẩn bị tâm hồn đi vào một
tiến tŕnh hoán cải sâu xa, trở về với Thiên
Chúa, mục đích cuối cùng.
Để
cho kinh nghiệm được thành tựu cách mỹ măn,
Thánh I-nhă không bỏ qua một yếu tố nào, dù là
những chi tiết xem ra rất nhỏ, nhưng
đối với ngài là cần thiết cho hoạt
động của ân sủng trong linh hồn. V́ thế,
thủ bản "Linh Thao" cung cấp rất nhiều
loại chỉ dẫn, chú thích và quy tắc liên quan
đến những điều kiện và hoàn cảnh
cầu nguyện hoặc những dẫn giải về
cách xét ḿnh xưng tội và thanh tẩy linh hồn hay các
thao luyện khác.
Trong
số những quy tắc của Linh Thao, nổi bật
nhất là các quy luật: "Biện phân thần
loại" và chọn lựa bậc sống. Các quy
tắc này rất cần thiết để giúp thao viên
(người thực hành linh thao) nhận ra hoạt
động của các loại thần trong linh hồn,
hầu tránh khỏi những ảo tưởng và sai
lầm, khi chọn lựa và bước theo Chúa.
"Linh
Thao" là một con đường t́m Chúa theo
phương pháp của thánh I-nhă. Phương pháp này
giả thiết một sự quảng đại của
tâm hồn, không từ chối điều ǵ Chúa muốn,
nhưng đồng thời sự quảng đại này
cũng được bộc lộ bên ngoài bằng
việc trung thành tuân giữ những quy định của
phương pháp. Trong Linh Thao, có những quy tắc dành riêng
cho người hướng dẫn, nhưng cũng có
những lời khuyên và huấn dụ dành riêng cho
người thực tập.
Một
điều xem ra nghịch lư, nhưng đồng thời
biểu thị tính cách mới mẻ của Linh Thao, đó
là thánh I-nhă khuyến cáo người hướng dẫn
không được can thiệp quá mức vào sự tự
do thiêng liêng của thao viên. Nghĩa là người
hướng dẫn phải để cho mỗi thao viên
trực tiếp gặp gỡ Thiên Chúa không qua trung gian.
"Hăy để Đấng Tạo Hóa hành động
trực tiếp với thụ tạo của ḿnh và
để thụ tạo tiếp xúc trực tiếp
với Đấng Tạo Hóa và Chúa của ḿnh" (LT 15).
Người
hướng dẫn Linh Thao chỉ tŕnh bày những nét chính
của tiến tŕnh; vạch ra con đường và
đề nghị và những chỉ dẫn cần
thiết, luôn hiện diện để hỗ trợ. Và nhất
là giúp thao viên nhận định các loại thần,
để có những chọn lựa thiêng liêng phù hợp
với tiêu chuẩn của giáo lư đức tin tức là trong
sự tuân phục ư muốn Thiên Chúa.
Người
hướng dẫn c̣n phải sử dụng phương
pháp trong tinh thần cởi mở, và thích nghi tối đa.
Phương pháp Linh Thao thoạt tiên xem ra khô khan và có phần
khắc khổ, nhưng khi được thấu hiểu
và được áp dụng cách nhẹ nhàng, uyển
chuyển th́ trở thành một khí cụ hữu hiệu
để canh tân và củng cố đời sống thiêng
liêng. Dĩ nhiên, Linh Thao cũng như mọi phương
pháp huấn luyện, đ̣i hỏi kỷ luật, nhưng
sư phạm của Linh Thao, phối hợp hài ḥa sự
cương quyết, mạnh mẽ về phương
diện nguyên tắc với sự dịu dàng tế
nhị của con tim. Không có ǵ đi ngược lại
với tinh thần Linh Thao hơn là việc áp dụng cách
máy móc và quá khắt khe, những chỉ thị
được ấn định cách đây bốn thế
kỷ.
Linh
Thao là môt quyển sách nhỏ bé về kích thước
nhưng mang một tầm vóc vĩ đại về
hiệu quả thiêng liêng, nếu người đọc
khám phá được động lực sâu xa tiềm
ẩn trong đó. Nghĩa là, cần phải biết
vượt lên trên cái nh́n chi tiết, tỉ mỉ, với
lối giải thích mặt chữ, theo nghĩa đen và
nắm bắt được cái tinh thần mạnh
mẽ đă thúc đẩy thánh I-nhă hoàn toàn dâng hiến
cuộc đời để t́m kiếm vinh quang Thiên Chúa
chính là tinh thần bàng bạc trong quyển Tự thuật,
và được bộc lộ cách sắc nét trong Hiến
Pháp Ḍng Chúa Giêsu. Lúc đó người đọc công
nhận Linh Thao quả thực chứa đựng một
kho tàng vô giá về việc cầu nguyện cách riêng và
đời sống thiêng liêng cách chung. Từng câu, từng
chữ của Linh Thao có thể được coi như
những hạt trai quư giá, với điều kiện là ta
phải chịu khó lặn xuống sâu cả trăm ngàn
lần để t́m thấy nó. Hay nói cách khác, nếu
muốn thấy giá trị sung măn của Linh Thao, ta không nên
chỉ cầm đọc một lần. Nhưng phải
đọc nhiều lần và nhất là phải biết
thử nghiệm, tức là thực hành và áp dụng vào
đời sống. Và rồi c̣n phải liên tục t́m
hiểu qua các chú giải và chỉ nam đủ loại
từ bốn thế kỷ nay. Đồng thời, không
ngừng đối chiếu bản Linh Thao với
quyển Tự thuật và Hiến Pháp của Ḍng Tên Chúa
Giêsu. Lúc đó, ta mới hiểu tại sao Linh Thao
được nhiều người ca tụng-nhưng
cũng không thiếu những sự đề kháng,
chối từ.
Kinh
nghiệm Linh Thao mà những trục chính được ghi
lại trong Linh Thao là kinh nghiệm của Thánh I-nhă Loyola,
nhưng cũng là kinh n ghiệm của vô số những
linh hồn quảng đại đă bước theo sau ngài
để, "trong tất cả mọi sự, yêu mến
và phụng sự Thiên Chúa uy linh" (LT 233).
Chọn
con đường t́m Chúa theo phương pháp Linh Thao là
biết rằng: "mỗi ngườii chỉ tiến
bộ trong đời sống thiêng liêng, bao lâu họ thoát
ra khỏi tự ái, ư riêng và tư lợi" (LT 189, 10)
để bước theo Chúa Giêsu vác thập giá. Và cùng
với Chúa Giêsu khó nghèo, khiêm hạ, và chịu sỉ
nhục họ dấn bước trên con đường
tử nạn để cùng Người
Linh
Thao là một phương pháp đào luyện canh tân linh
hồn, dưới tác động của ân sủng.
Nhưng nếu chỉ có thế th́ chưa nói hết
được tính cơ bản của nó. Nếu phải tóm
lược Linh Thao cách chính xác hơn, chúng ta chỉ có
thể khẳng định: Linh thao là một tổng
hợp các thao luyện thiêng liêng nhằm biến
đổi một người trở nên giống Chúa Kitô,
hầu bước theo Người mà t́m vinh quang lớn măi
cho Cha. Chính v́ thế, Linh Thao đ̣i hỏi sự dấn
thân trọn vẹn của con người: trí tuệ,
cảm xúc và ư chí, với một ước nguyện dâng
hiến quảng đại và toàn diện. Phải chăng
điều này làm cho nhiều người ái ngại và thoái
lui?
Sẽ
là một thiếu sót nếu chúng ta không ghi nhận
những chứng từ và phán quyết từ quyền bính
tối cao trong Hội Thánh trên Linh Thao.
Đ.G.H
Phaolô III ban đoản sắc Pastoralis Officii (ngày
31.07.1548) phê chuẩn và khen ngợi sách "Linh Thao, vốn
được tuyển chọn từ kinh Thánh và
được rút ra từ kinh nghiệm trong đời
sống thiêng liêng." Rồi từ đó, các vị Giáo
Hoàng kế tiếp không ngừng đề cao và khuyến
khích kinh nghiêm thiêng liêng này như một phương pháp
vững chắc để tạo nên cho Giáo Hội
những vị thánh qua mỗi thời đại. Các
Đức Giáo Hoàng khẩn thiết mời gọi các tín
hữu thực tập Linh Thao, đồng thời nhấn
mạnh đến sự cần thiết phải tuyệt
đối trung thành với phương pháp của thánh
I-nhă, dù là người hướng dẫn hay là
người thực tập Linh Thao.
Gần
chúng ta hơn, vào giữa thế kỷ XX, phải kể
đến Đức Piô XI. Từ khi c̣n là giám chức tại
Giáo Triều và quản thủ Thư Viện Vaticanô, ngài
đă nghiên cứu Linh Thao cách tường tận. Ngài nói:
"Linh Thao của thánh I-nhă không phải là một giáo
thuyết mà là một phương pháp" (x. S. Carlo e gli
Eser. sp. di. S. Ign. Milano, 1908-10). Trong Tông hiến Summorum Pontificum
(ngày 25.07.1922) ngài đă đặt thánh I-nhă Loyola làm quan
thầy mọi công việc Linh Thao. Không ai đă hiểu
biết và thực hành Linh Thao cách sâu sắc như Đức
Piô XI.
Nhân
dịp kỷ niệm kim khánh linh mục, Đức Piô XI
gửi đến các Giám mục và Linh mục thông
điệp "Mens Nostra" (20.12.1929) khuyến khích
việc thực tập Linh Thao và nhu cầu phải
đẩy mạnh sự phát triển Linh Thao, như quà
tặng kim khánh của ngài cho hàng giáo phẩm trên toàn
thế giới.
Đức
Piô XII ân cần giới thiệu Linh Thao ngay trong Thông
điệp Mediator Dei về phụng vụ (x. AAS.
1947, tr.586). Và trong sắc phong chân phước cho nữ tu
Marie-Thèrése Couderc, ngài nói đến "cuốn Linh Thao
nhỏ bé mà bao la của thánh I-nhă" ("Le minuscule mais
immense livre des Exercices de St. Ignace" x. AAS. 1592, tr.29)
Trong
bức thư do chính tay Ngài viết cho cha Tổng quyền
Ḍng Tên: Magna cum jucunditate, 31.07.1955 Đức Piô XII ghi
nhận: "không có điều ǵ quư giá hơn, hữu ích
hơn, trường tồn hơn quyển sách vàng nhỏ
bé mà thánh I-nhă đă trao lại cho con cái như di sản.
Cũng như Ngài đă đạt thấu đời
sống mới, th́ ngài cũng muốn cho con cái
được nuôi dưỡng bởi tinh thần ngài
cống hiến cho Ḍng Tên: một ḷng nhiệt thành thánh
thiện và đáng phục của tâm hồn,
được thúc đẩy bởi ân sủng đang
hoạt động trong các linh thao, vốn làm cho họ
không chỉ khao khát mà c̣n sẵn sàng và hăng hái phụng
sự cho vinh quang Thiên Chúa"
Đức Gioan XXIII từ
khi làm linh mục, hầu như năm nào cũng tĩnh tâm
theo phương pháp Linh Thao. Năm 1958, sau khi lên ngôi Giáo
Hoàng, ngài dự khóa tĩnh tâm hàng năm do cha C. Messori
Roncaglia, S.J. giảng trong điện Vaticanô, theo
phương pháp thánh I-nhă. Khi bế mạc, Đức Giáo Hoàng
nhắc lại lợi ích của Linh Thao và khen ngợi vị
giảng Linh Thao đă trung thành với phương pháp
của thánh I-nhă, phương pháp đă được các
Đức Giáo Hoàng tiền nhiệm ân cần khuyến khích.
(x. Osservatore Romano, edit. hebdomadaire, 19 déc. 1958)
Đức Phaolô VI, trong
thư gởi ĐHY Cushing (Boston), nhân một cuộc hội
thảo về tĩnh tâm của giáo dân tại Hoa Kỳ “National
Catholic Laymen’s Retreat Conference” viết: "Trong nhiều
phương pháp đáng ca ngợi giúp giáo dân tĩnh tâm,
phương pháp dựa trên Linh Thao của thánh I-nhă vẫn
là phương pháp được yêu thích hơn cả
từ khi được Đức Phaolô III phê chuẩn năm
1548. Các vị hướng dẫn tĩnh tâm phải không
ngừng đào sâu những nguồn mạch phong phú về
giáo lư và linh đạo trong bản văn của thánh
I-nhă" (x. Documentation Catholique, LXIII, n.1482,
col.1956-58).
Phương pháp đào
luyện tâm hồn dưới tác động của ân
sủng mà Linh Thao đề nghị dẫn đưa
nhiều người đến t́nh yêu đích thực
của Thiên Chúa. Không chỉ linh mục tu sĩ mà chính
nếp sống tạo ra một hoàn cảnh thuận
lợi cho việc nên thánh, mà cả những giáo dân muốn
làm chứng cho Tin Mừng Chúa Kitô cách hữu hiệu trong
những hoàn cảnh cụ thể giữa trần
đời.
Mọi người
đều có thể sử dụng phương pháp Linh
Thao, với điều kiện duy nhất là phải có
tấm ḷng tha thiết và quảng đại, không từ
chối điều ǵ trước lời mời gọi
của ân sủng Thiên Chúa. Lúc đó ân sủng sẽ làm nên
những việc lạ lùng nơi tâm hồn con
người.
"Người
luyện tập Linh Thao, sẽ được nhiều ích
lợi, nếu bước vào với ḷng quảng
đại và hào hiệp với Đấng tạo Hóa và Chúa
ḿnh." (LT 5)
Antôn Ngô Văn Vững, S.J.
Bản dịch này đă
được linh mục Mariano Mai Sơn, S.J., khởi
sự năm 1965, và hoàn tất với sự cộng tác
của linh mục Nguyễn Công Đoan, S.J., năm 1968,
tại nhà tập Ḍng Tên ở Thủ Đức, dựa
trên nguyên bản tiếng Tây Ban Nha do nhà xuất bản
B.A.C.[31] tŕnh bày, đồng thời so sánh với bản
dịch La ngữ phổ thông có từ thời thánh I-nhă[32], và bản dịch La ngữ do cha J. Roothaan[33], S.J., thực hiện, cùng bản dịch Pháp
ngữ của cha François Courel[34], S.J.. Bản dịch lúc ấy chưa bao gồm
các bài tóm tắt “những mầu nhiệm trong cuộc
đời Đức Kitô Chúa chúng ta.”
Năm 2004, linh mục
Nguyễn Công Đoan sửa chữa và bổ sung bản
dịch tại Roma, tham khảo bản chép tay do chính thánh
I-nhă sửa chữa (lưu tại văn khố của
Ḍng Tên), và bản in dựa trên bản chép tay này, do nhà
xuất bản Sal Terrae tŕnh bày (1977), bản dịch
tiếng Anh của cha Michael Ivans, S.J. (1977).
Những điểm thêm
vào để giúp câu văn tiếng Việt rơ ràng hơn
hoặc để chỉ dẫn sự phân chia, đều
đặt trong […]. Ngoài ra chúng tôi cũng có thêm một vài
ghi chú ở cuối trang để giải thích một vài
chi tiết khó hiểu.
ĐỂ HIỂU BIẾT MỘT CHÚT CÁC BÀI LINH THAO SAU
ĐÂY NHẰM GIÚP NGƯỜI HƯỚNG DẪN CŨNG
NHƯ NGƯỜI TẬP LUYỆN.
1. CHÚ DẪN THỨ
NHẤT: Hai tiếng "Linh Thao" ở đây có
nghĩa là mọi cách xét ḿnh, suy gẫm, chiêm niệm,
cầu nguyện bằng miệng lưỡi hay bằng
tâm trí, và các việc thiêng liêng khác như sẽ nói sau. V́
như đi dạo, đi bộ, chạy, là những
việc thể thao th́ cũng thế, gọi là "Linh
Thao" tất cả những cách dọn và chuẩn
bị linh hồn để xa bỏ những quyến
luyến lệch lạc và sau đó t́m kiếm ư Chúa trong
cách xếp đặt cuộc sống để mưu ích
cho linh hồn ḿnh.
2. CHÚ DẪN THỨ HAI:
Người tŕnh bày cho người khác một cách thức
hay một dàn bài để suy gẫm hay chiêm niệm,
phải kể một cách trung thành sự kiện để
chiêm niệm hay suy gẫm, chỉ giải thích sơ
lược và vắn tắt từng điểm. V́ nếu
khởi từ một căn bản lịch sử xác
thực, người chiêm niệm tự ḿnh suy nghĩ và lư
luận mà gặp được điều ǵ giải
thích hay giúp "cảm" sự kiện lịch sử
ấy, họăc nhờ tư duy hay nhờ ơn Chúa soi
sáng tâm trí, họ sẽ thấy ư vị hơn và thu
đạt kết qủa thiêng liêng nhiều hơn là
được người hướng dẫn diễn
giải nhiều về nội dung sự kiện. Bởi
v́ không phải sự biết nhiều, nhưng chính sự
cảm nếm bề trong mới làm thỏa măn linh hồn.
3. CHÚ DẪN THỨ BA: V́
khi thực hành những việc Linh Thao sau đây, chúng ta
dùng trí khôn để suy nghĩ và ư muốn để yêu
mến, nên phải chú ư điểm này là khi dùng ư muốn
để tâm sự ngoài miệng hay trong ḷng, với Chúa hay
với các thánh, ta phải có thái độ cung kính hơn khi
chỉ dùng trí khôn để hiểu biết.
4. CHÚ DẪN THỨ
BỐN: Những bài Linh Thao sau đây được phân
chia thành bốn tuần, tương ứng với bốn
phần của sách Linh Thao:
tuần thứ nhất:
suy xét và chiêm niệm về các tội lỗi;
tuần thứ hai:
về cuộc đời Đức Kitô Chúa chúng ta cho
đến hết ngày rước lá;
tuần thứ ba: về
cuộc thương khó của Đức Kitô Chúa chúng ta;
tuần thứ bốn:
về sự sống lại và lên trời, thêm bản
chỉ dẫn ba cách cầu nguyện.
Tuy
nhiên điều đó không có nghĩa là mỗi tuần
phải kéo dài bảy hay tám ngày. V́ có thể trong tuần
thứ nhất, có người chậm gặp
được điều ḿnh kiếm, tức ḷng
thống hối, sự đau đớn, nước
mắt chảy ra v́ tội lỗi ḿnh. Lại cũng có
những người chăm chỉ hơn kẻ khác, và tâm
hồn bị xáo động hoặc bị thử thách
nhiều hơn bởi các "thần" khác nhau, bởi
vậy có khi phải rút ngắn, có khi phải kéo dài
tuần ấy. Về các tuần sau cũng làm như
vậy, trong khi luôn t́m đạt những điều
tương ứng với chất liệu được
đề nghị. Tuy nhiên sẽ kết thúc trong khoảng
hơn kém 30 ngày.
5. CHÚ DẪN THỨ
NĂM: Người luyện tập Linh Thao sẽ
được nhiều ích lợi, nếu bước vào
với ḷng quảng đại và hào hiệp đối với
Đấng Tạo Hóa và Chúa ḿnh, dâng trót cả ư muốn và
tự do ḿnh cho Chúa chí tôn, để mặc Ngài sử
dụng chính ḿnh cũng như mọi sự ḿnh có theo Thánh
ư Ngài.
6. CHÚ DẪN THỨ SÁU:
Nếu vị hướng dẫn thấy người
luyện tập Linh Thao không gặp biến chuyển thiêng
liêng nào trong tâm hồn, như sự an ủi hay sầu
khổ, cũng như không bị lay động bởi các
"thần" khác nhau, th́ phải hỏi họ
nhiều:
về các bài Linh Thao:
họ có làm đúng thời giờ đă được
chỉ định không và làm thế nào?
về các điều
phụ thêm cũng vậy: họ có thi hành cẩn thận
không? Phải hỏi cách riêng về từng điều
một.
Về an ủi và sầu
khổ, xin coi số 316 và 317. Về các điều phụ
thêm, xin coi số 73- 90.
7. CHÚ DẪN THỨ
BẢY: Nếu thấy người luyện tập bị
buồn chán và cám dỗ, vị hướng dẫn không nên
tỏ ra cứng cỏi cay nghiệt với họ, nhưng
phải tỏ ra hiền lành dịu dàng, cùng khuyến khích
cho họ can đảm và mạnh mẽ trong tương
lai; ngoài ra vị ấy cũng phải vạch cho họ
biết những mưu mô của kẻ thù của bản
tính loài người và giúp họ dọn ḿnh sẵn sàng
đón nhận an ủi sắp tới.
8. CHÚ DẪN THỨ TÁM:
Tùy theo nhu cầu nhận thấy nơi người
luyện tập, liên quan đến những sầu khổ
và mưu mô của kẻ thù cũng như an ủi, vị
hướng dẫn có thể tŕnh bày cho họ những
"quy tắc" thuộc tuần thứ nhất và
thứ hai nhằm phân biệt các "thần" khác nhau,
(số 316- 324; 328- 336).
9. CHÚ DẪN THỨ CHÍN:
Phải lưu ư trong tuần Linh Thao thứ nhất,
nếu người luyện tập không phải là
người thành thạo trong đàng thiêng liêng và gặp những
cám dỗ thô thiển, rơ ràng, chẳng hạn chước
cám dỗ bày cho họ thấy những cản trở
đối với sự tiến tới trong đàng
phụng sự Chúa, như những gian khổ, hổ
thẹn và sợ sệt bởi hư danh phàm tục xúi
bẩy. Vị hướng dẫn không nên nói với họ
về những quy tắc "phân biệt thần
lọai" thuộc tuần thứ hai. V́ những quy
tắc thuộc tuần thứ nhất làm ích cho họ bao
nhiêu th́ những quy tắc thuộc tuần thứ hai
sẽ làm hại cho họ bấy nhiêu, bởi đây là
vấn đề quá tế nhị và quá cao siêu đối
với tầm hiểu biết của họ.
10. CHÚ DẪN THỨ
MƯỜI: Khi người hướng dẫn thấy
người luyện tập bị quấy nhiễu và cám
dỗ dưới h́nh thức sự lành, đó là chính lúc
phải tŕnh bày cho họ những quy tắc thuộc
tuần thứ hai như đă nhắc tới ở trên. V́
thông thường kẻ thù của loài người hay cám
dỗ dưới dạng sự lành khi người
luyện tập đang ở trong chặng "khải
minh" (vita illuminativa) tương ứng với tuần
Linh Thao thứ hai, hơn là trong chặng "thanh
luyện" (vita purgativa) tương ứng với
tuần thứ nhất.
11. CHÚ DẪN THỨ
MƯỜI MỘT: Khi làm tuần thứ nhất,
người luyện tập sẽ được
nhiều ích lợi nếu không biết ǵ về việc
phải làm trong tuần thứ hai. Trái lại, họ
phải chú tâm thao luyện tuần thứ nhất
để đạt kết quả ḿnh t́m kiếm, như
thể không hy vọng t́m được điều ǵ
tốt trong tuần thứ hai.
12. CHÚ DẪN THỨ
MƯỜI HAI: Vị hướng dẫn phải cẩn
thận nhắc bảo người luyện tập
để họ dành đủ một giờ đồng
hồ cho mỗi cuộc nguyện ngắm hay chiêm niệm,
năm lần mỗi ngày; họ phải luôn cố gắng
để hài ḷng với ư tưởng đă ở suốt
một giờ trong việc thao luyện, và thà quá một
giờ hơn là kém. V́ kẻ thù thường hay làm mọi
cách để rút ngắn giờ chiêm niệm, suy gẫm hay
cầu nguyện.
13. CHÚ DẪN THỨ
MƯỜI BA: Cũng phải chú ư rằng khi
được an ủi th́ chiêm niệm đủ một
giờ là việc dễ dàng và nhẹ nhàng, c̣n lúc gặp
sầu khổ th́ chiêm niệm cho đến hết giờ
thật là khó. Bởi thế để chống lại
sầu khổ và thắng được cơn cám dỗ,
người luyện tập Linh Thao phải luôn luôn làm quá một
giờ đồng hồ chút ít, để không những
tập cho quen chống trả mà c̣n chà đạp
được kẻ thù.
14. CHÚ DẪN THỨ
MƯỜI BỐN: Nếu vị hướng dẫn
thấy người luyện tập Linh Thao
được an ủi và đầy ḷng sốt sắng,
phải khuyên can họ đừng khấn hứa hay
thề nguyền cách thiếu suy xét và vội vàng, và nếu
biết rơ người đó có tính nhẹ dạ th́ càng
phải khuyến cáo họ.
V́
mặc dù khuyên người nọ người kia vào
đời tu có khấn vâng phục và khiết tịnh là
việc tốt; lại dù việc lành làm bởi lời
khấn có giá trị hơn khi thường, nhưng
phải rất cẩn thận để nhận biết
rơ ràng tính t́nh và khả năng của người luyện
tập và xem họ có thể được ích hay gặp
cản trở trong sự chu toàn điều họ muốn
khấn hứa.
15. CHÚ DẪN THỨ
MƯỜI LĂM: Vị hướng dẫn không nên thúc
đẩy người luyện tập Linh Thao đến
sự khó nghèo hay một lời hứa nào hơn là
những điều ngược lại, hoặc
đến bậc sống này hơn bậc sống khác.
V́
dầu ngoài cuộc luyện tập Linh Thao th́ việc
khuyến khích những người tỏ ra thích hợp
với đời sống trinh khiết, tu tŕ hay một
bậc sống trọn hảo nào khác theo Tin Mừng,
lựa chọn con đường đó, là việc
được phép và đáng khen, nhưng đang khi
luyện tập Linh Thao, điều ích lợi và tốt
đẹp hơn trong việc t́m hiểu Thánh ư Thiên Chúa, là
để cho chính Đấng Tạo Hóa và Chúa tự thông
truyền cho linh hồn trung tín, ấp ủ nó trong t́nh yêu
mến và sự ngợi khen Ngài, và đặt nó vào con
đường thích hợp hơn cả để
phụng sự Ngài sau này. Như thế, người
hướng dẫn không phải xoay hướng hoặc
nghiêng về đàng này hay đàng kia, nhưng phải
đứng ở giữa như cái cân, để cho
Đấng Tạo Hóa trực tiếp hành động với
thọ tạo và thọ tạo với Đấng Tạo Hóa
là Chúa ḿnh.
16. CHÚ DẪN THỨ
MƯỜI SÁU: Muốn được vậy, nghĩa là
muốn để Đấng Tạo Hóa và Chúa hành động
cách chắc chắn hơn trong linh hồn người
luyện tập, nếu gặp trường hợp linh
hồn đó tha thiết hướng chiều về
một điều ǵ đó cách lệch lạc, họ
sẽ được nhiều ích lợi nếu phản
ứng lại và đem hết sức hướng về
điều ngược lại với điều ḿnh tha
thiết.
Chẳng
hạn trường hợp một linh hồn hướng
chiều về một chức vụ hay một bổng
lộc, không phải để làm vinh danh Thiên Chúa Chúa chúng
ta và mưu ích cho các linh hồn, nhưng để t́m ích riêng
và lợi lộc đời tạm: linh hồn đó
phải đem ḷng hướng chiều về điều
ngược lại bằng cách nài van Thiên Chúa trong khi
cầu nguyện và trong các việc đạo đức
khác, xin Ngài ban cho ḿnh điều ngược lại,
nghĩa là không ước muốn chức vụ, bổng
lộc ấy, hoặc bất cứ sự ǵ khác, trừ
khi Chúa chí tôn thay đổi chiều hướng ḷng tha
thiết trước kia bằng cách chỉnh đốn
lại những ước muốn của ḿnh, khiến cho
nguyên do độc nhất làm ta ước muốn,
hoặc giữ lấy điều này hay điều khác
chỉ là việc phụng sự, tôn vinh và làm hiển danh
Chúa Chí Tôn mà thôi.
17. CHÚ DẪN THỨ
MƯỜI BẢY: Thật rất hữu ích nếu
vị hướng dẫn, mặc dầu không muốn
hỏi hay biết các tư tưởng riêng hoặc
tội lỗi của người luyện tập,
nhưng được biết đầy đủ
về những giao động và tư tưởng do các
thần khác nhau đưa tới cho họ, v́ tùy vào sự
tiến bộ mau hay chậm của họ mà người
hướng dẫn có thể cho họ những việc
Linh Thao thích ứng với nhu cầu của linh hồn
bị xao động như vậy.
18. CHÚ DẪN THỨ
MƯỜI TÁM: Các việc Linh Thao phải thích hợp
với khả năng của những người muốn
tập luyện nghĩa là thích hợp với tuổi tác,
văn hóa và trí khôn của họ. V́ thế không nên
đề ra cho người quê mùa, yếu ớt những
điều họ không thể làm mà không mệt nhọc
lại chẳng được ích lợi ǵ. Cũng
vậy, phải đề ra cho mỗi người
việc ǵ có thể giúp đỡ họ và làm ích cho họ
hơn, tùy theo khả năng đón nhận của họ.
Bởi
vậy, đối với một người chỉ
muốn cố gắng học hỏi và thỏa măn linh
hồn tới một mức độ nào đó mà thôi, th́
có thể đề nghị cho họ việc xét ḿnh riêng
(số 24-32), rồi việc xét ḿnh chung (số 32-43) và cách
thức cầu nguyện mỗi sáng độ nửa
giờ theo các giới răn cùng bảy mối tội
đầu v.v... (số 238-248); lại cũng khuyên họ
nên xưng tội tám ngày một lần, và có thể
rước lễ hai tuần một lần, và nếu
họ khao khát hơn th́ tám ngày một lần. Đó là một
cách thức thích hợp hơn đối với những
người quê mùa hoặc ít chữ nghĩa. Sẽ cắt
nghĩa cho họ từng giới răn một, rồi các
mối tội đầu, các giới luật Hội Thánh,
ngũ quan (số 238-248) và các việc từ thịện.
Cũng
thế, nếu vị hướng dẫn thấy
người luyện tập Linh Thao không đủ sức
khỏe hoặc khả năng tự nhiên và không có hy
vọng được nhiều kết quả th́ việc
ích lợi hơn là đề nghị cho họ làm ít nhiều
việc nhẹ nhàng cho đến khi họ xưng tội.
Sau đó khuyên họ xét ḿnh về một vài điểm và
đề nghị một chương tŕnh năng xưng
tội hơn trước, để giữ ḿnh bền
vững trong những ǵ đă thu hoạch được.
Không nên dẫn đưa họ vào việc chọn bậc
sống hay những việc Linh Thao khác ngoài khuôn khổ
tuần thứ nhất, nhất là khi ta có thể thu
được nhiều ích lợi hơn với những
người khác và khi không đủ thời giờ
để hướng dẫn tất cả mọi
người.
19. CHÚ DẪN THỨ
MƯỜI CHÍN: Đối với những người
mắc việc công hay những việc hữu ích, nhưng
là người học thức hoặc thông minh, và có thể
dành một giờ rưỡi vào việc tập Linh Thao,
sẽ giảng cho họ về Nguyên Lư- Nền Tảng (số
23). Cũng có thể giảng cho họ trong nửa giờ
về việc xét ḿnh riêng (LT.24-31), rồi việc xét ḿnh
chung (LT.32-43), và cách thức xưng tội và rước
lễ. Trong ba ngày, mỗi sáng họ dành một giờ
để suy ngắm về tội thứ nhất, thứ
hai và thứ ba (LT.45-54); rồi trong ba ngày khác nữa,
cũng vào giờ đó, suy về các tội đă phạm
(55-61), rồi trong ba ngày khác nữa cũng vào giờ
đó, suy về những h́nh phạt tương ứng
với tội (65-71).
Trong
ba đợt suy gẫm đó, cũng đề nghị cho
họ "mười điều phụ thêm" (73-90);
c̣n về những mầu nhiệm của Đức Kitô Chúa
chúng ta, cũng theo cùng một thể thức ấy, như
sẽ được quảng diễn chi tiết trong các
bài Linh Thao.
20. CHÚ DẪN THỨ HAI
MƯƠI: Với một người rảnh rỗi và
muốn được tấn tới thật nhiều, có
thể giảng hết mọi việc Linh Thao theo thứ
tự tŕnh bày sau đây; tuy nhiên khi làm Linh Thao, nếu
người ấy càng xa lánh hết thảy bạn bè,
những người quen biết và mọi sự lo
lắng thế gian, th́ càng dễ tấn tới hơn.
Như thế, họ có thể bỏ nơi đang ở,
đến ở một nhà khác hay một pḥng khác
để sống kín đáo hết sức, hầu mỗi
ngày có thể đi xem lễ và dự kinh chiều mà
khỏi sợ những người quen biết làm ngăn
trở.
Sự
xa lánh ấy đem lại ba lợi ích chính trong nhiều
lợi ích khác:
·
thứ nhất: Khi xa
lánh bạn bè, những người quen biết và những
bận rộn thế tục để phụng sự và
ngợi khen Thiên Chúa Chúa chúng ta, họ được công
phúc không ít trước mặt Thiên Chúa.
·
thứ hai: Khi xa lánh
như thế, th́ trí khôn không bị phân chia nhiều
đàng, nhưng tập trung hết nỗ lực vào
một việc là phụng sự Đấng Tạo Hóa và làm
cho linh hồn ḿnh tấn tới, nên họ sử dụng
những tài năng tự nhiên của ḿnh cách tự do
hơn để chăm chú t́m kiếm điều họ
hằng mong ước.
·
thứ ba: Linh hồn ta
càng ở xa vắng một ḿnh càng dễ gần và tới
được với Đấng Tạo Hóa và Chúa của ḿnh,
và càng gần Ngài càng được sẵn sàng để
đón nhận ân sủng và ân huệ từ ḷng nhân hậu
vô cùng của Ngài hơn.
21.LINH THAO
ĐỂ TỰ THẮNG
M̀NH VÀ XẾP ĐẶT CUỘC SỐNG CHO CÓ TRẬT TỰ MÀ
KHÔNG QUYẾT ĐỊNH V̀ MỘT T̀NH CẢM LỆCH LẠC
NÀO.
22. Muốn cho vị
hướng dẫn và người luyện tập Linh Thao
được nhiều ích lợi hơn, cần giả
thiết rằng mọi giáo hữu phải mau mắn
giải nghĩa tốt ư kiến của người khác
hơn là lên án nó. Nếu không giải nghĩa tốt
được, phải hỏi xem người ta hiểu ư
kiến ấy thế nào; và nếu người ấỵ
hiểu sai th́ phải sửa chữa với t́nh
thương yêu; nếu làm thế không đủ, phải
t́m mọi phương thế thích hợp để
người ấỵ hiểu đúng và khỏi sai
lầm.
Con
người được dựng nên để ngợi
khen, tôn kính và phụng sự Thiên Chúa, và nhờ đó
cứu rỗi linh hồn ḿnh. Mọi loài khác dưới
đất cũng được tạo dựng cho con
người, để giúp họ đạt tới cùng
đích Đấng Tạo Hóa đặt cho họ. Bởi
thế người ta chỉ được sử
dụng thọ tạo theo mức độ chúng giúp
đạt tới cứu cánh và phải gạt bỏ khi
chúng làm cản trở. Do đó, cần phải giữ cho
ḿnh được b́nh tâm[35] đối với mọi thọ tạo trong
tất cả những ǵ nằm trong sự tự do
của ta và không bị cấm, đến nỗi chúng ta
không ước muốn sức khỏe hơn bệnh
tật, giàu sang hơn nghèo khổ, danh vọng hơn
nhục nhă, sống lâu hơn chết yểu và tương
tự thế đối với mọi sự khác, nhưng
chỉ ước muốn và lựa chọn cái ǵ dẫn
đưa chúng ta tới cứu cánh của ḿnh hơn
cả.
gồm ba "th́" và
hai lần xét ḿnh.
Th́ thứ nhất: Ban
sáng khi thức dậy phải dốc ḷng giữ ḿnh
cẩn thận không sa ngă vào một tội hay một
nết xấu riêng nào đó, mà ta muốn sửa chữa và
cải thiện.
25. Th́ thứ hai: Sau
bữa ăn, xin Thiên Chúa ban cho điều ḿnh muốn,
nghĩa là ơn được nhớ lại bao nhiêu
lần đă sa ngă vào tội hay nết xấu riêng ấy và
sửa ḿnh về sau. Rồi xét ḿnh lần thứ nhất:
hỏi ḿnh về điểm riêng mà ḿnh đă dốc ḷng và
muốn sửa ḿnh; như thế phải xét lại
từng giờ từng lúc, bắt đầu từ khi
thức dậy cho đến giờ xét ḿnh hiện
tại. Ghi trên hàng thứ nhất sau chữ "g"
một số chấm tương ứng với số
lần sa ngă vào tội hay nết xấu riêng ấy. Sau
đó lại dốc ḷng sửa ḿnh từ lúc đó cho
đến lần xét ḿnh thứ hai.
26. Th́ thứ ba: Sau
bữa tối, xét ḿnh lần thứ hai theo cùng một cách
thức như trước, xét từng giờ từ lúc xét
ḿnh lần thứ nhất cho đến bây giờ, và ghi
trên hàng thứ hai sau chữ "g" số chấm
tương ứng với số lần sa ngă vào tội hay
tính xấu ấy.
27. Sau đây là bốn việc phụ thêm để
trừ bỏ một tội hay một tính xấu riêng nào
mau chóng hơn.
Việc phụ thêm
thứ nhất: Mỗi lần sa ngă vào tội hay nết
xấu riêng ấy, hăy để tay lên ngực, hối
tiếc v́ đă sa ngă. Điều này có thể làm trước
mặt nhiều người mà không ai chú ư đến.
28. Việc phụ thêm
thứ hai: V́ hàng thứ nhất sau chữ "g"
ứng với lần xét ḿnh thứ nhất, hàng thứ hai
ứng với lần thứ hai, buổi tối hăy xem
lại coi có sự cải thiện nào từ hàng thứ
nhất sang hàng thứ hai, nghĩa là từ lần xét ḿnh
thứ nhất đến lần xét ḿnh thứ hai không?
29. Việc phụ thêm
thứ ba: So sánh ngày thứ hai với ngày thứ nhất,
nghĩa là hai lần xét ḿnh trong ngày với hai lần xét
ḿnh hôm trước, và xem từ ngày nọ sang ngày kia có
sự cải thiện không?
30. Việc phụ thêm
thứ bốn: So sánh tuần nọ với tuần kia, xem
trong tuần này đối với tuần trước có
sự cải thiện không?
31. Ghi chú: Phải chú ư,
chữ "G" lớn thứ nhất sau đây ứng
với ngày Chúa nhật, chữ "g" thứ hai nhỏ
hơn ứng với ngày thứ hai, chữ thứ ba
ứng với ngày thứ ba v.v.
_________________________________________
G _________________________________________
_________________________________________
g _________________________________________
_________________________________________
g _________________________________________
_________________________________________
g _________________________________________
_________________________________________
g _________________________________________
_________________________________________
g _________________________________________
_________________________________________
g _________________________________________
Để thanh tẩy ḿnh và
xưng tội cách tốt đẹp hơn. Tôi giả
thiết rằng trong người tôi có ba thứ tư
tưởng: một thứ là của riêng tôi hoàn toàn bởi
tự do và ư muốn của tôi phát sinh, c̣n hai thứ kia
tự bên ngoài đến, một thứ do thần tốt,
và một thứ do thần xấu.
33. VỀ TƯ
TƯỞNG
Có hai cách lập công khi
một tư tưởng xấu từ bên ngoài đến;
thí dụ một tư tưởng xúi phạm tội
nặng chợt đến, tôi chống lại tức th́
và nó chịu thua.
34. Cách lập công thứ
hai là khi cùng một tư tưởng xấu ấy
đến, tôi chống trả, nó cứ trở lại
nhiều lần và tôi cứ chống trả măi cho đến
khi nó chịu thua và biến đi. Cách thứ hai này có công
phúc hơn cách thứ nhất.
35. Người ta
phạm một tội nhẹ khi cùng một tư
tưởng xui phạm tội nặng ấy đến và
người ta để tai nghe nó bằng cách ngưng
lại ở đó một chút, hoặc chấp nhận
một chút
36. Có hai cách phạm
tội nặng: cách thứ nhất là ưng thuận
một tư tưởng xấu để thực hành ngay
theo sự ưng thuận ấy, hoặc để
chuyển thành hành động khi có dịp.
37. Cách phạm tội
nặng thứ hai là phạm tội ấy bằng việc
làm. Và như thế tội nặng thêm v́ ba lư do: thứ
nhất, v́ thời gian lâu hơn; thứ hai, v́ chủ ư
bề trong mănh liệt hơn; thứ ba, v́ thiệt hại
lớn hơn cho cả hai người.
38. VỀ LỜI NÓI
Đừng lấy Đấng
Tạo Hóa hay thọ tạo vật mà thề trừ khi làm
theo sự thật, sự cần thiết và cách kính
cẩn. "Cần" hiểu là không dùng lời thề
để quả quyết bất cứ sự thật nào,
nhưng chỉ sự thật quan trọng đối
với ích lợi phần hồn hay phần xác hoặc
về của cải đời này. "Kính cẩn"
hiểu là khi nói đến Danh Đấng Tạo Hóa và Chúa
ḿnh, phải để ư giữ sự tôn trọng và kính
cẩn xứng hợp.
39. Phải chú ư
điều này: là cho dù khi thề vô cớ, nếu
người ta nại đến Đấng Tạo Hóa, th́
tội nặng hơn là lấy thọ tạo mà thề;
nhưng nếu lấy thọ tạo mà thề, lại khó
mà thề theo đúng sự thật, sự cần thiết
và kính cẩn, hơn là khi nại đến Đấng
Tạo Hóa, v́ các lư do sau:
a. Lư do thứ nhất:
Khi chúng ta muốn lấy một thọ tạo mà thề,
th́ chính sự muốn lấy tên một thọ tạo không
làm chúng ta chú ư và sáng suốt để nói sự thật hay
để quả quyết theo sự cần thiết cho
bằng sự muốn nại đến Danh Đấng
Tạo Hóa và Chúa tể mọi loài.
b. Lư do thứ hai: Khi
lấy thọ tạo mà thề, th́ không dễ giữ
sự kính trọng đối với Đấng Tạo Hóa
bằng khi thề mà xưng Danh Đấng Tạo Hóa và Chúa
tể. V́ chính sự muốn nại đến danh Thiên Chúa
Chúa chúng ta thúc đẩy chúng ta tỏ ḷng kính trọng
hơn sự muốn lấy tên thọ tạo. Bởi
vậy, người hoàn thiện được phép
lấy thọ tạo mà thề hơn người
thường. V́ nhờ sự chiêm niệm liên lỉ và
ơn soi sáng trí khôn, họ suy xét, nguyện ngắm và chiêm
niệm nhiều hơn về sự Thiên Chúa Chúa ở trong
mọi thọ tạo theo yếu tính và quyền phép của
Ngài. Như thế, khi lấy thọ tạo mà thề,
họ đủ năng lực và sẵn sàng hơn
người thường để tỏ ḷng tôn trọng
và kính cẩn đối với Đấng Tạo Hóa và Chúa
ḿnh.
c. Lư do thứ ba: Nếu
người ta cứ lấy thọ tạo mà thề luôn
măi, th́ người thường có nguy cơ sa vào việc
tôn thờ ngẫu tượng hơn người hoàn
thiện.
40. ĐỪNG NÓI LỜI VÔ
ÍCH: Lời vô ích hiểu là những lời không mang lại
lợi ích ǵ cho tôi, hay cho người khác và cũng
chẳng qui hướng vào ư đó. Bởi vậy khi nói
bất cứ điều ǵ tự nó ích lợi hay là có ư làm
ích cho linh hồn ḿnh hay cho người khác hoặc cho thân
xác hay về của cải đời này không bao giờ là
lời vô ích, cả khi nói những điều không
thuộc bậc sống của ḿnh, như một tu sĩ
nói về chiến tranh hay thương mại. Nhưng trong
mọi trường hợp trên, người ta
được công khi nhằm mục đích tốt và
phạm tội khi nhằm mục đích xấu hay nói cách
vô ích.
41. KHÔNG NÓI HÀNH NÓI XẤU:
V́ nếu tôi tiết lộ một tội trọng kín, tôi
phạm tội nặng, nếu đó là một tội
nhẹ, tôi phạm tội nhẹ, và nếu là một
khuyết điểm, tôi tỏ chính khuyết điểm
của tôi. Nhưng với một ư ngay lành, tôi có thể nói
về tội hay lỗi người khác theo hai cách:
a. Cách thứ nhất: Khi
một tội là công khai, chẳng hạn một
người đàn bà xấu nết công khai, hay một
bản án của ṭa, hoặc một sai lầm công khai đầu
độc các linh hồn nó lan tới.
b. Cách thứ hai: Khi
tiết lộ một tội kín cho một người nào
để họ giúp tội nhân hối cải, với
điều kiện phải có hy vọng hoặc lư do khá
đủ để nghĩ rằng người ấy có
thể giúp tội nhân.
42. VỀ VIÊC PHẢI LÀM:
Xét theo mười điều răn của Chúa và sáu
điều răn của Hội Thánh và các huấn lệnh
của bề trên. Mọi hành động ngược
với bất cứ điều nào trong ba thứ trên
đều là một tội, nặng nhẹ tùy theo tính cách
quan trọng nhiều ít. Chỉ thị của bề trên hiểu
là "sắc lệnh về binh Thánh Giá" hay về các ân
xá mà có xưng tội và rước lễ như
"cầu cho ḥa b́nh" chẳng hạn. V́ không phải
là nhẹ tội khi xui người khác hay tự ḿnh hành
động ngược với những huấn dụ
đạo đức như thế và các chỉ thị
của bề trên chúng ta.
43. PHƯƠNG PHÁP XÉT
M̀NH CHUNG
gồm năm Điểm
gợi ư:
1. Điểm thứ
nhất: Tạ ơn Thiên Chúa Chúa chúng ta v́ những ân
huệ đă được.
2. Điểm thứ hai: Xin
ơn nhận biết và từ bỏ tội lỗi.
3. Điểm thứ ba: Xét
hỏi linh hồn ḿnh, từ khi thức dậy cho tới
lúc xét ḿnh hiện tại, từng giờ, từng lúc,
trước hết về tư tưởng, rồi
về lời nói, sau đến hành động, theo cùng
thứ tự trong việc xét ḿnh riêng.
4. Điểm thứ
bốn: Xin Thiên Chúa Chúa chúng ta tha thứ tội lỗi.
5. Điểm thứ năm:
Dốc ḷng nhờ ơn Chúa sửa ḿnh.
Đọc kinh Lạy Cha.
Người
tự ư xưng tội chung, sẽ được nhiều
ích lợi, sau đây xin kể ba điều:
1. Ích lợi thứ
nhất: Người nào xưng tội hằng năm,
dĩ nhiên không buộc phải xưng tội chung, nhưng
nếu làm được th́ có ích lợi và công phúc lớn hơn,
v́ có ḷng thống hối hiện tại mănh liệt hơn
về tất cả các tội lỗi và mọi sự
xấu xa trong đời ḿnh.
2. Ích lợi thứ hai:
Khi tập Linh Thao người ta có được sự
hiểu biết bề trong về tội lỗi và sự
xấu xa của nó hơn khi không để ư ǵ đến
những điều nội tâm. Nhờ có sự hiểu
biết và ḷng ăn năn đau đớn hơn về
tội lỗi như thế, người ta
được ích lợi và công phúc nhiều hơn có
thể được trước đấy.
3. Ích lợi thứ ba:
Bởi đó, khi đă xưng tội cách tốt
đẹp hơn và được chuẩn bị
đầy đủ hơn, người ta cảm thấy
ḿnh được thêm xứng đáng và sẵn sàng hơn
để lănh bí tích Thánh Thể, là bí tích mà khi chịu, không
những giúp ta khỏi sa ngă phạm tội, mà c̣n giúp cho
ơn thánh trong ta lớn mạnh thêm luôn. Việc xưng
tội chung này nên làm ngay sau các việc Linh Thao tuần
thứ nhất.
SUY GẪM BẰNG BA TÀI NĂNG CỦA LINH HỒN
VỀ TỘI THỨ NHẤT, THỨ HAI VÀ THỨ
BA.
CUỘC LINH THAO NÀY GỒM: TRƯỚC HẾT LÀ
KINH DỌN L̉NG VÀ HAI TIỀN NGUYỆN, RỒI ĐẾN BA
ĐIỂM CHÍNH VÀ MỘT CUỘC TÂM SỰ.
46. KINH NGUYỆN: Kinh
dọn ḷng cốt xin ơn Thiên Chúa Chúa chúng ta cho tất
cả ư hướng, hành vi và hoạt động của
tôi hoàn toàn hướng về việc phụng sự và ca
tụng Chúa chí tôn.
47. TIỀN NGUYỆN I:
Tiền nguyện thứ nhất là đặt ḿnh vào khung
cảnh bằng cách nh́n xem nơi chốn.
Ở đây nên chú ư
rằng khi chiêm niệm hay suy gẫm những ǵ hữu
h́nh, thí dụ chiêm niệm Đức Kitô Chúa chúng ta, là Đấng
hữu h́nh, đặt ḿnh vào khung cảnh là lấy con
mắt tưởng tượng nh́n xem nơi chốn
cụ thể mà điều tôi muốn chiêm ngắm
diễn ra. Tôi nói nơi chốn cụ thể, chẳng
hạn một đền thờ hay một trái núi mà Chúa
Kitô hay Đức Bà ở đó, tùy theo điều tôi muốn
chiêm ngắm. Đối với những sự vô h́nh, chẳng
hạn ở đây, về tội lỗi, th́ đặt
ḿnh vào khung cảnh là lấy con mắt tưởng
tượng nh́n xem và xét linh hồn tôi bị giam cầm
trong thân xác hay hư nát này và cả hồn lẫn xác bị
đầy ải trong thung lũng thế gian này giữa các
loài dă thú
48. TIỀN NGUYỆN II:
Tiền nguyện thứ hai là xin Thiên Chúa Chúa chúng ta
điều tôi muốn và ước ao.
Điều cầu xin
phải hợp với đề tài đang suy ngắm.
Chẳng hạn khi chiêm niệm về mầu nhiệm
Phục Sinh, th́ xin đựơc
Ở đây phải
cầu xin được ḷng tự hổ thẹn và
ngượng ngùng khi thấy bao nhiêu người đă
bị luận phạt chỉ v́ một tội trọng,
c̣n chính tôi đă bao lần đáng bị luận phạt
đời đời v́ bấy nhiêu tội tôi đă
phạm.
49. Ghi chú: Trước
mỗi lần chiêm niệm hay suy gẫm, bao giờ cũng
phải đọc kinh dọn ḷng và làm hai tiền
nguyện nói trên. Kinh dọn ḷng th́ không đổi, c̣n hai
tiền nguyện đôi khi thay đổi tùy theo đề
tài suy gẫm hay chiêm niệm.
50. ĐIỂM NHẤT: Dùng
trí nhớ để nhớ lại tội đầu tiên,
tội của các thiên thần, kế đó dùng trí khôn
để suy xét tội ấy, rồi dùng đến ư
muốn, muốn nhớ và hiểu tất cả
điều ấy để được ḷng hổ
thẹn và ngượng ngùng hơn, khi đem so sánh tội
độc nhất của các thiên thần với bấy
nhiêu tội của tôi. Bởi đâu các thiên thần đă
bị phạt sa hỏa ngục chỉ v́ một tội,
c̣n chính tôi, biết bao lần đă đáng bị phạt
như thế v́ bấy nhiêu tội tôi.
Tôi
nói: nhớ lại tội của các thiên thần, nghĩa
là nhớ lại các thiên thần đă được
dựng nên trong ân sủng và đă không muốn dùng tự do
của ḿnh để tôn thờ và phục tùng Đấng
Tạo Hóa và Chúa ḿnh, lại sinh kiêu ngạo, nên đă
đổi từ ân sủng sang sự ác và đă bị xua
đuổi từ thiên đàng xuống hỏa ngục
như thế nào. Đoạn dùng trí khôn để suy xét
vấn đề một cách chi tiết hơn, rồi dùng
ư muốn để đánh động ḷng ḿnh hơn.
51. ĐIỂM HAI: Cũng làm
như thế, nghĩa là vận dụng ba tài năng
(của linh hồn) vào tội Adam và Eva; nhớ lại
rằng chỉ v́ một tội ấy, hai ông bà đă
phải làm việc đền tội lâu dài thế nào, và
loài người đă bị hư hỏng ra sao, cũng
như biết bao nhiêu người đang đi lần
xuống hỏa ngục.
Tôi
nói: nhớ lại tội thứ hai, tức là tội
của tổ tông chúng ta: sau khi ông Adam đă được
dựng nên trong đồng "Damas" và được
đặt trong vườn địa đàng, và sau khi Eva
được dựng nên bởi xương sườn
của ông, hai ông bà đă nhận lệnh cấm không
được ăn trái cây biết lành biết dữ,
nhưng ông bà đă ăn và như thế đă phạm
tội. Bấy giờ ḿnh mặc áo da thú, và bị
đuổi ra khỏi địa đàng, hai ông bà sống
không c̣n nguyên sủng v́ đă làm mất, suốt đời
đầy gian khổ và đền tội nặng nề.
Sau đó lấy trí khôn để suy xét vấn đề
tỉ mỉ hơn, và dùng đến ư muốn như
đă nói trên.
52. ĐIỂM BA: Cũng làm
như thế về tội thứ ba, tội riêng của
một người đă phải sa hỏa ngục v́
một tội trọng thôi, và của nhiều người
khác kể chẳng xiết, cũng đă sa hỏa ngục
v́ những tội c̣n ít hơn tội tôi đă phạm.
Tôi
nói: cũng làm như thế về tội riêng thứ ba,
tức là nhớ lại trong trí sự nặng nề
xấu xa của tội phạm đến Chúa là Đấng
Tạo Hóa và Chúa ḿnh; lấy trí khôn suy tưởng kẻ
đă phạm tội và hành động phản lại
Đấng tốt lành vô cùng đă bị phạt đời
đời cách chính đáng như thế nào, và cuối cùng
dùng đến ư muốn như đă nói trên.
53. TÂM SỰ:
Tưởng tượng đang ở trước mặt
Đức Kitô Chúa chúng ta nằm trên Thánh Giá, tâm sự cùng Ngài:
v́ đâu Chúa là Đấng Tạo Hóa, Chúa đă xuống thế
làm người, và v́ đâu Chúa là Đấng hằng sống,
Chúa đă chịu chết và chết như thế này v́
tội lỗi tôi. Cũng nh́n vào chính ḿnh tôi mà tự
hỏi: tôi đă làm ǵ cho Đức Kitô? tôi đang làm ǵ cho
Đức Kitô? và tôi phải làm ǵ cho Đức Kitô. Cuối cùng
nh́n Chúa treo trên Thánh Giá như thế và cân nhắc theo những
điều hiện đến trong trí tôi.
54. TÂM SỰ chính là như
một người bạn nói với bạn ḿnh hay như
một người đầy tớ nói với chủ
ḿnh, khi xin một ơn, khi thú một lỗi đă
phạm, khi tỏ bày việc ḿnh và xin chỉ bảo.
Đọc kinh Lạy Cha.
GỒM KINH DỌN L̉NG VỚI HAI TIỀN NGUYỆN
RỒI NĂM ĐIỂM VÀ MỘT CUỘC TÂM SỰ.
KINH NGUYỆN: Kinh dọn
ḷng như trước.
TIỀN NGUYỆN I:
Đặt ḿnh vào khung cảnh như trước.
TIỀN NGUYỆN II: Xin
điều tôi ao ước. Ở đây là xin
được ḷng ăn năn đau đớn thảm
thiết và chảy nước mắt ra v́ tội lỗi
tôi.
56. ĐIỂM NHẤT:
Về toàn thể các tội tôi đă phạm, nghĩa là
nhớ lại mọi tội đă phạm trong đời
tôi bằng cách nh́n lại từng năm hay từng thời
kỳ một. Có ba điều giúp ích cho việc đó:
thứ nhất là nh́n
lại những nơi và nhà đă ở;
thứ hai: là xét lại
những tiếp xúc giao dịch với người khác;
thứ ba: xét lại
nghề nghiệp đă làm.
57. ĐIỂM HAI: Cân
nhắc tội: nh́n vào sự xấu xa và độc
hại của mỗi tội trọng đă phạm, cho dù
không bị cấm.
58. ĐIỂM BA: Nh́n xem tôi
là ai và so sánh để càng thấy ḿnh nhỏ bé hơn:
thứ nhất: tôi là ai
sánh với mọi người;
thứ hai: loài
người là ǵ sánh với các Thiên Thần và các Thánh trên
thiên đàng;
thứ ba: cả thọ
tạo là ǵ sánh với Thiên Chúa; vậy th́ một ḿnh tôi, tôi
có thể là ǵ?
thứ bốn: nh́n xem
tất cả sự thối rữa và xấu xa của thân
xác tôi;
thứ năm: coi tôi
như một thứ ung nhọt, từ đó tuôn ra bao nhiêu
tội lỗi cùng những sự hung ác và chất
độc rất ghê tởm dường ấy.
59. ĐIỂM BỐN: Xét xem
Thiên Chúa mà tôi phạm đến là ai, xét theo từng ưu
phẩm của Ngài để so sánh với những
điểm trái ngược nơi tôi: sự khôn ngoan
của Ngài với sự dốt nát của tôi, sự toàn
năng của Ngài với sự yếu đuối của
tôi, sự công chính của Ngài với sự bất chính
của tôi, sự tốt lành của Ngài với sự
độc ác của tôi.
60. ĐIỂM NĂM:
Tiếng kêu thán phục với một ḷng xúc động
mạnh mẽ, tưởng nghĩ đến mọi
thọ tạo, làm sao mà chúng đă để tôi sống và ǵn
giữ tôi cho sống, các thiên thần là lưỡi
gươm của phép công thẳng Thiên Chúa làm sao mà các
Đấng ấy đă chịu đựng được
tôi, che chở và cầu xin cho tôi, rồi các vị thánh, làm
sao mà các ngài đă bầu cử và cầu xin cho tôi; lại
các tầng trời, hai vầng nhật nguyệt, các v́ tinh
tú cùng các nguyên tố và mọi loài trong vũ trụ, hoa
trái, chim chóc, tôm cá và các giống thú vật, (làm sao chúng c̣n
để tôi sống đến lúc này); trái đất sao
không nứt ra để chôn vùi tôi, tạo nên những
địa ngục mới để tôi chịu khổ
đời đời trong đó.
61. TÂM SỰ: Kết thúc
bằng một cuộc tâm sự về ḷng thương xót,
thân thưa và tạ ơn Thiên Chúa Chúa chúng ta, v́ Ngài đă
cho tôi sống đến bây giờ, và dốc ḷng nhờ
ơn Chúa chừa cải từ này về sau. Đọc kinh
Lạy Cha.
LÀ LẶP LẠI CUỘC LINH THAO THỨ NHẤT VÀ
THỨ HAI VỚI BA CUỘC TÂM SỰ.
Sau kinh dọn ḷng và hai
tiền nguyện, lặp lại cuộc Linh Thao thứ
nhất và thứ hai, chú ư và ngừng lại ở những
điểm tôi đă cảm thấy được an
ủi hơn hoặc phải sầu khổ hơn hay được
một t́nh cảm thiêng liêng lớn hơn, sau đó tôi làm
ba cuộc tâm sự theo cách sau đây:
63. CUỘC TÂM SỰ
THỨ NHẤT: tâm sự với Đức Mẹ xin
Người cầu cùng Con, cũng là Chúa của
Người, ban ơn cho tôi về ba điều:
·
một là cho tôi cảm
nghiệm được sự thấu hiểu bên trong
về tội lỗi tôi, cùng gớm ghét nó;
·
hai là cho tôi cảm
nghiệm được sự lệch lạc trong hành
động của tôi để gớm ghét nó và nhờ
đó sửa ḿnh cùng tự chỉnh đốn lại;
·
ba là xin được
thấu hiểu thế gian hầu gớm ghét nó và tránh xa
những sự thế gian phù phiếm.
Đoạn đọc
một Kinh Kính Mừng.
CUỘC TÂM SỰ THỨ
HAI: cầu xin như thế với Đức Chúa Con
để Ngài xin cùng Đức Chúa Cha ban cho tôi ơn ấy.
Đoạn đọc kinh
"Anima Christi" (Lạy Linh Hồn Chúa Kitô)
CUỘC TÂM SỰ THỨ
BA: cầu xin như thế với Đức Chúa Cha,
để chính Chúa Hằng Sống ban ơn ấy cho tôi.
Đoạn đọc một
Kinh Lạy Cha.
LÀ TÓM LƯỢC LẠI CHÍNH CUỘC LINH THAO
THỨ BA.
Tôi nói tóm lược
lại, v́ trí khôn chăm chú suy tưởng bằng cách
hồi niệm những điều đă chiêm niệm trong
các cuộc Linh Thao trước. Rồi cũng làm lại ba
cuộc tâm sự như trên.
SUY GẪM VỀ HỎA NGỤC, GỒM KINH
DỌN L̉NG VỚI HAI TIỀN NGUYỆN, NĂM ĐIỂM VÀ
MỘT CUỘC TÂM SỰ.
KINH NGUYỆN: Kinh dọn
ḷng như thường lệ.
TIỀN NGUYỆN I:
Đặt ḿnh vào khung cảnh. Ở đây, lấy con mắt
tưởng tượng nh́n xem chiều dài, chiều
rộng và chiều sâu của hỏa ngục.
TIỀN NGUYỆN II: Xin
điều tôi ao ước. Ở đây, xin cho
được cảm biết trong ḷng cực h́nh những
kẻ bị phạt trong hỏa ngục phải chịu,
để nếu tôi có quên t́nh yêu Chúa Hằng Sống, th́ ít
ra sự sợ hăi những cực h́nh ấy giúp tôi
đừng sa ngă phạm tội.
66. ĐIỂM NHẤT:
Lấy con mắt tưởng tượng nh́n xem những
khói lửa bao la và các linh hồn như ở trong những
thân xác cháy đỏ.
67. ĐIỂM HAI: Lấy tai
nghe những tiếng than khóc, gào thét kêu la, những lời
phạm thượng đến Đức Kitô, Chúa chúng ta và
tất cả các thánh.
68. ĐIỂM BA: Lấy
mũi ngửi khói, diêm sinh, nơi ô uế và những
sự thối tha.
69. ĐIỂM BỐN:
Lấy lưỡi nếm những sự cay đắng
như nước mắt, sự buồn phiền và ḍi
bọ rúc riả lương tâm.
70. ĐIỂM NĂM:
Lấy tay sờ xem lửa bén và thiêu đốt các linh
hồn như thế nào.
71. TÂM SỰ: Tâm sự
với Đức Kitô Chúa chúng ta, đem trí nhớ lại các
linh hồn trong hỏa ngục, có những linh hồn v́
không tin Chúa đến, có những linh hồn khác đă tin
nhưng không ăn ở theo các giới răn Chúa. Chia các linh
hồn ấy thành ba nhóm:
·
thứ nhất: các linh
hồn trước khi Chúa đến thế gian;
·
thứ hai: các linh
hồn thời Chúa sống ở thế gian;
·
thứ ba: các linh
hồn sau thời Chúa sống ở thế gian này.
Rồi tạ ơn Chúa v́
đă không để tôi rơi vào một trong ba nhóm ấy
bằng cách chấm dứt đời sống tôi. Cũng
tạ ơn Chúa v́ cho đến nay, Chúa luôn tỏ ḷng nhân
từ và thương xót đối với tôi như
vậy.
Kết thúc bằng Kinh
Lạy Cha.
72. Ghi chú: Cuộc Linh Thao
thứ nhất sẽ làm vào nửa đêm, cuộc thứ
hai sẽ làm vào buổi sáng, cuộc thứ ba trước
hoặc sau Thánh Lễ nhưng phải là trước bữa
trưa, cuộc thứ bốn sẽ làm vào giờ hát kinh
chiều, cuộc thứ năm một giờ trước
bữa ăn tối.
Thời dụng biểu
này - có thể xê xích ít nhiều- tôi đề nghị cho
cả bốn tuần; tùy theo tuổi tác, thể trạng
và tâm trạng cho phép người luyện tập làm cả
năm cuộc Linh Thao hay ít hơn.
ĐỂ TẬP LINH THAO TỐT ĐẸP HƠN VÀ
ĐỂ ĐẠT ĐƯỢC NHỮNG SỰ M̀NH AO ƯỚC
CÁCH DỄ DÀNG HƠN.
ĐIỀU PHỤ THÊM
THỨ NHẤT: Khi đă nằm xuống và sắp sửa
ngủ, trong khoảng thời gian bằng đọc
một kinh Kính Mừng, tưởng nghĩ đến giờ
tôi phải thức dậy và để làm ǵ, cùng
lược tóm lại cuộc Linh Thao mà tôi phải làm.
74. ĐIỀU PHỤ THÊM
THỨ HAI: Khi thức dậy không nghĩ đến ǵ khác,
nhưng để tâm vào ngay điều tôi sắp suy
ngắm trong cuộc Linh Thao thứ nhất vào nửa
đêm; giục ḷng hổ thẹn v́ bấy nhiêu tội
lỗi tôi đă phạm, bằng cách mượn h́nh
ảnh chẳng hạn một hiệp sĩ đang
đứng trước mặt
Cũng vậy, trong
cuộc Linh Thao thứ hai, coi ḿnh như một
người tội lỗi nặng nề mang gông cùm,
nghĩa là coi ḿnh như đang tiến lên để ra
trước Đấng xét xử đời đời, tay
chân bị xiềng xích; lấy thí dụ những tù
phạm bị xiềng xích và đă đáng chết, đang
ra trước quan ṭa đời này. Vừa mặc áo
vừa nghĩ về những điều ấy hay
những điều khác, tùy theo đề tài cuộc Linh
Thao.
75. ĐIỀU PHỤ THÊM
THỨ BA: Đứng cách chỗ tôi phải chiêm niệm hay suy
gẫm một hai bước, trong khoảng thời gian
bằng đọc một kinh Lạy Cha, nâng trí lên nghĩ
đến Thiên Chúa, Chúa chúng ta đang nh́n xem tôi v.v., và làm
một cử chỉ tỏ ḷng cung kính hay khiêm nhường.
76. ĐIỀU PHỤ THÊM
THỨ BỐN: Bắt đầu chiêm niệm, khi qùy
gối, khi sấp ḿnh xuống đất, lúc nằm
ngửa mặt lên trời, khi ngồi, khi đứng, luôn
nhằm t́m kiếm điều tôi ao ước. Hai
điểm phải chú ư:
·
thứ nhất, nếu
đang qùy gối mà t́m được điều ḿnh ao
ước th́ đừng thay đổi, và nếu đang
sấp ḿnh cũng vậy v.v.
·
thứ hai, ở
điểm tôi gặp thấy điều tôi ao ước,
tôi sẽ nghỉ tại đó, không bận tâm đi xa
hơn, cho đến khi thấy ḿnh no thỏa.
77. ĐIỀU PHỤ THÊM
THỨ NĂM: Khi xong cuộc Linh Thao, trong khoảng 15 phút,
hoặc ngồi hoặc đi đi lại lại, tôi
sẽ kiểm điểm xem việc chiêm niệm hay suy
gẫm đă diễn ra thế nào; nếu không tốt
đẹp, tôi xét xem nguyên cớ bởi đâu, và khi
thấy, tôi ăn năn để sửa ḿnh về sau;
nếu tốt đẹp, tôi tạ ơn Thiên Chúa, và
lần khác sẽ làm như vậy.
78. ĐIỀU PHỤ THÊM
THỨ SÁU: Không nghĩ đến những điều
79. ĐIỀU PHỤ THÊM
THỨ BẢY: V́ cùng một mục đích ấy, kiêng lánh
mọi ánh sáng. Khi ở trong pḥng, đóng hết các cửa,
trừ lúc đọc kinh, đọc sách hay ăn cơm.
80. ĐIỀU PHỤ THÊM
THƯ TÁM: Đừng cười và đừng nói ǵ cho gây
cười.
81. ĐIỀU PHỤ THÊM
THỨ CHÍN: Cầm hăm con mắt, trừ khi tiếp đón
hay từ gĩa người đến gặp.
82. ĐIỀU PHỤ THÊM
THỨ MƯỜI: Việc đền tội, sự
ăn năn đền tội chia ra hai thứ, bề trong
và bề ngoài. Bề trong là đau đớn về tội
lỗi ḿnh cùng quyết tâm không bao giờ tái phạm
tội này hay tội khác nữa. Sự đền tội
bề ngoài là kết quả của sự thống hối
bề trong, tức là sửa phạt về tội lỗi
đă phạm. Việc này thực hiện bằng ba cách.
83. CÁCH THỨ NHẤT:
Cách thứ nhất về việc ăn uống. Nên
biết, bỏ bớt sự ǵ dư thừa, chưa
phải là hăm ḿnh đền tội, nhưng mới là
tiết độ. Chỉ gọi là hăm ḿnh đền
tội khi ta bỏ bớt sự cần thiết b́nh
thường, và càng bỏ bớt nhiều, việc hăm ḿnh
đền tội càng lớn lao tốt đẹp,
miễn là không làm tổn hại sức khỏe và không gây
bệnh tật trầm trọng.
84. CÁCH THỨ HAI: Cách
thứ hai về giấc ngủ. Ở đây cũng
thế, bỏ những ǵ là đài các, tiện nghi dư
thừa, chưa phải là hăm ḿnh đền tội, nhưng
có sự hăm ḿnh đền tội khi bớt cái ǵ b́nh
thường. Và càng bớt nhiều càng có giá trị,
miễn không làm tổn hại sức khỏe và không gây
bệnh tật trầm trọng. Và cũng không nên bớt
giấc ngủ b́nh thường, trừ khi có thói xấu
ngủ nhiều quá mà muốn đạt mức trung dung.
85. CÁCH THỨ BA: Cách
thứ ba là phạt xác, nghĩa là bắt thân xác chịu
sự đau đớn cảm thấy được
như mang trên ḿnh những đai có mũi nhọn hoặc
dây thừng hay xích sắt làm cho ḿnh đau đớn,
hoặc dùng những cách hành xác khác.
86. Ghi chú: Trong việc hăm
ḿnh đền tội, thích hợp hơn và an toàn hơn
nếu chỉ làm đau đớn da thịt nhưng không
phạm đến xương cốt, làm sao để
cảm thấy đau đớn nhưng không sinh bệnh
tật, v́ thế nên đánh ḿnh bằng những dây nhỏ
chỉ làm đau đớn ngoài da, hơn là dùng những
cách khác có thể gây nội thương nguy hiểm.
87. GHI CHÚ THỨ NHẤT:
Những việc đền tội bề ngoài nhằm ba
mục đích chính:
·
thứ nhất:
đền bù những tội đă phạm;
·
thứ hai: thắng
ḿnh, nghĩa là để bắt t́nh cảm vâng theo lư trí và
mọi phần hạ phục tùng các phần thượng;
·
thứ ba: để t́m
cho được một ân sủng hay ân huệ mà
người ta muốn và ước ao, chẳng hạn
ước ao được ḷng ăn năn về tội
lỗi ḿnh, hoặc khóc lóc nhiều về tội lỗi
hay về những buồn phiền đau đớn Chúa
Kitô đă chịu trong cuộc thương khó, hoặc để
giải quyết một nghi nan người ta đang
mắc.
88. GHI CHÚ THỨ HAI: Nên chú
ư là các điều phụ thêm thứ nhất và thứ hai
phải thực hiện đối với các cuộc Linh
Thao nửa đêm hay rạng sáng chứ không phải cho các
cuộc Linh Thao khác. C̣n điều phụ thêm thứ tư
không bao giờ làm ở nhà thờ hay trước công chúng
mà chỉ làm riêng, thí dụ trong nhà ḿnh v. v.
89. GHI CHÚ THỨ BA: Khi
người tập Linh Thao không t́m được
điều ḿnh ao ước như nước mắt,
sự an ủi v.v., nhiều khi nên thay đổi ít
nhiều trong việc ăn uống, trong giấc ngủ và
những cách hăm ḿnh đền tội khác. Chẳng hạn
làm việc hăm ḿnh đền tội hai họăc ba ngày,
rồi ngừng hai hay ba ngày; v́ có những người nên
làm việc hăm ḿnh nhiều hơn, có những người khác
lại nên làm ít hơn. Cũng vậy, nhiều khi ta bỏ
việc hăm ḿnh đền tội bởi tính dung
dưỡng thân xác và phán đoán sai lầm cho rằng
sức ḿnh không chịu nỗi mà sẽ sinh ra bệnh
tật trầm trọng, trái lại đôi khi ta lại làm
quá, tưởng thân xác có thể chịu được,
nên nhiều khi Thiên Chúa là Chúa chúng ta, thông biết bản
tính chúng ta hơn chúng ta vô cùng, cho mỗi người nhận
ra điều thích hợp với ḿnh qua những sự thay
đổi ấy.
90. GHI CHÚ THỨ BỐN:
Xét ḿnh riêng để trừ bỏ những khuyết
điểm và những trễ nải trong việc Linh Thao
và các việc phụ thêm; cả các tuần thứ hai,
thứ ba và thứ bốn cũng làm như vậy.
KINH NGUYỆN: Kinh dọn
ḷng thường lệ.
TIỀN NGUYỆN I:
Đặt ḿnh vào khung cảnh, xem nơi chốn. Ở đây
là lấy con mắt tưởng tượng nh́n xem các
hội đường, các xóm làng nơi Đức Kitô Chúa
chúng ta giảng dạy.
TIỀN NGUYỆN II: Xin
điều tôi ao ước. Ở đây là xin ơn Chúa
chúng ta để khỏi điếc lác với tiếng
Ngài kêu gọi, nhưng được mau mắn và chăm
chỉ chu toàn Ư cực thánh của Ngài.
92. PHẦN THỨ
NHẤT
ĐIỂM NHẤT: Là h́nh
dung ra một vị
93. ĐIỂM HAI: Nh́n coi
vị
94. ĐIỂM BA: Xét xem
những tôi trung phải trả lời thế nào với
vị
95. PHẦN THỨ HAI
Phần thứ hai
của cuộc Linh Thao này là áp dụng thí dụ về
ĐIỂM NHẤT: Trong
điểm nhất, nếu tiếng gọi của
96. ĐIỂM HAI: Suy xét
rằng tất cả những ai có lương tri
đều sẽ dâng trót ḿnh để chịu lao nhọc.
97. ĐIỂM BA: Những
kẻ muốn yêu mến và trổi vượt hơn trong
việc phụng sự Vua Hằng Sống và Chúa muôn loài,
không những hiến thân chịu lao nhọc mà c̣n hành
động chống lại t́nh cảm tự nhiên và
chống lại ḷng yêu chuộng xác thịt, thế gian;
họ dâng lễ vật qúi giá hơn và quan trọng hơn.
Họ thân thưa:
98. Lạy Chúa Hằng
Sống của muôn loài, nhờ ơn và sự trợ giúp
của Chúa, trước ḷng nhân từ vô biên Chúa và
trước mặt Mẹ vinh hiển Chúa cùng tất
cả các thánh nam nữ của triều đ́nh thiên
quốc, con xin tiến dâng chính ḿnh con. Con mong muốn và
ước ao, và sau khi suy xét, con quyết tâm noi gương
Chúa chịu mọi sự sỉ nhục và khinh chê, mọi
h́nh thức nghèo khó, thực sự cũng như trong ḷng,
miễn là điều ấy phụng sự và làm vinh danh
Chúa hơn, nếu Chúa muốn chọn và nhận con vào
đời sống và bậc ấy.
99. GHI CHÚ THỨ NHẤT:
Cuộc Linh Thao này sẽ làm hai lần trong ngày: ban sáng khi
thức dậy và một giờ trước bữa
trưa hay bữa tối.
100. GHI CHÚ THỨ HAI:
Về tuần thứ hai cũng như các tuần sau,
thỉnh thoảng đọc một chút trong sách
Gương Chúa Giêsu hay Phúc âm, và hạnh các thánh là
điều rất có ích.
gồm kinh dọn ḷng, ba
tiền nguyện, ba điểm và một cuộc tâm
sự.
KINH NGUYỆN: Kinh dọn
ḷng thường lệ.
102. TIỀN NGUYỆN I:
Nhớ lại lịch sử điều tôi sắp chiêm
niệm. Ở đây là Ba Ngôi Thiên Chúa đang nh́n xem
khắp mặt địa cầu đầy người;
vi thấy mọi người đang sa xuống hỏa
ngục, Ba Ngôi quyết định trong sự vĩnh
hằng của ḿnh rằng Ngôi Hai sẽ làm Người
để cứu chuộc nhân loại; và như thế khi
đă đến thời viên măn, Ba Ngôi sai thiên thần
Gabriel đến cùng Đức Mẹ [ 262].
103. TIỀN NGUYỆN II:
Đặt ḿnh vào khung cảnh, nh́n xem nơi chốn. Ở
đây là nh́n xem mặt địa cầu mênh mông, trên đó
có biết bao dân tộc rất khác biệt nhau; rồi nh́n
riêng ngôi nhà và căn pḥng của Đức Bà trong thành
104. TIỀN NGUYỆN III:
Xin điều tôi muốn. Ở đây là xin
được sự hiểu biết bên trong về Chúa,
Đấng đă làm người v́ tôi, để yêu mến
Ngài hơn và theo Ngài hơn.
105. Ghi chú: Ở đây
nên chú ư là trong tuần này và các tuần sau, phải thực
hành cùng một kinh dọn ḷng như đă nói từ
đầu, không thay đổi; c̣n ba tiền nguyện có
thể thay đổi h́nh thức tùy theo đề tài chiêm
niệm.
106. ĐIỂM THÚ NHẤT:
1. Lần lượt nh́n
xem các nhân vật; trước tiên là những người
trên mặt đất, với bao sự khác biệt, trong y
phục và cử chỉ, kẻ trắng người
đen, người ḥa b́nh kẻ chiến tranh, kẻ khóc
người cười, kẻ khỏe mạnh
người ốm yếu, người sinh ra kẻ
chết đi v.v.
2. Hai là nh́n xem và chiêm
ngưỡng Ba Ngôi Thiên Chúa, như ngự trên ngai ṭa uy nghi,
đang nh́n xem khắp mặt địa cầu và mọi
dân tộc đang mù quáng dường ấy, đang chết
và sa hỏa ngục như thế nào.
3. Ba là nh́n xem Đức Bà và
thiên thần đang kính chào Người. Suy nghĩ
để rút ích lợi từ những ǵ đă nh́n ngắm
như vậy.
107. ĐIỂM THỨ HAI:
Nghe những điều người ta nói trên mặt
đất, tức là nghe người ta nói với nhau,
chửi rủa và nói phạm thượng v.v., như
thế nào. Cũng vậy nghe Ba Ngôi Thiên Chúa phán: "chúng ta
hăy cứu chuộc nhân loại....” Rồi những lời
của thiên thần và Đức Bà; cuối cùng suy nghĩ
để rút ích lợi từ những lời ấy.
108. ĐIỂM THỨ BA: Sau
đó nh́n xem những việc người ta làm trên mặt
đất, như đánh, giết, sa hỏa ngục v.v.;
cũng thế, nh́n xem việc Ba Ngôi Thiên Chúa làm tức là
đang thực hiện công cuộc Nhập Thể cực
thánh ...; cũng thế, nh́n xem thiên thần và Đức Bà làm
ǵ, tức là thiên thần đang thi hành chức vụ
sứ giả và Đức Bà hạ ḿnh khiêm nhường và
tạ ơn Thiên Chúa. Đoạn suy nghĩ để rút ích
lợi bởi mỗi sự việc ấy.
109. TÂM SỰ: Sau hết,
tâm sự bằng cách nghĩ về điều tôi phải
thưa với Ba Ngôi Thiên Chúa hoặc với Ngôi Lời
Hằng Sống đă nhập thể, hoặc với
Đức Mẹ cũng là Đức Bà của chúng ta; cầu xin
theo điều ḿnh cảm thấy trong ḷng, để
được theo và noi gương Chúa chúng ta vừa
mới nhập thể như vậy hơn.
Đọc một kinh Lạy
Cha.
KINH NGUYỆN: Kinh dọn
ḷng như thường lệ.
111. TIỀN NGUYỆN I:
Tiền nguyện thứ nhất là lịch sử. Ở
đây là cuộc hành tŕnh từ Nazareth đi Belem: Đức
Mẹ có thai được gần chín tháng, như ta có
thể lấy ḷng đạo đức mà suy gẫm
như thế, ngồi trên lưng một con lừa, và Thánh
Giuse với một nữ tỳ dắt một con ḅ, cùng
rời Nazareth đi Belem để trả thuế mà
112. TIỀN NGUYỆN II:
Đặt ḿnh vào khung cảnh, xem nơi chốn; ở đây
là lấy con mắt tưởng tượng mà nh́n xem con
đường từ Nazareth đến Belem, coi chiều
dài chiều rộng, xem con đường ấy đi trên
đồng bằng hay qua thung lũng và đồi núi.
Cũng nh́n xem chỗ hay hang đá Chúa sinh ra, xem chỗ
ấy lớn, nhỏ, cao, thấp cỡ nào và
được dọn dẹp thế nào.
113. TIỀN NGUYỆN III:
Cùng một tiền nguyện và cùng một h́nh thức
như trong cuộc chiêm niệm trước.
114. ĐIỂM NHẤT: Là
nh́n xem các nhân vật, tức là Đức Bà, thánh Giuse,
người nữ tỳ và Hài Nhi Giêsu sau khi sinh ra; tự
coi ḿnh như một kẻ hèn mọn và một tôi tớ bé
nhỏ bất xứng, nh́n ngắm, chiêm ngưỡng và
hầu hạ các Ngài trong những công việc cần
thiết, như thể tôi đang có mặt, với tất
cả ḷng tôn trọng và cung kính có thể được;
đoạn suy nghĩ trong ḷng để rút phần nào ích
lợi.
115. ĐIỂM HAI: Nh́n xem,
chú ư và suy niệm điều các Ngài nói, và suy nghĩ trong
ḷng để rút ích lợi.
116. ĐIỂM BA: Nh́n xem và
suy niệm việc các Ngài làm, như cuộc hành tŕnh và
sự vất vả để Chúa sinh ra trong cảnh nghèo
khó tột cùng, và để chết trên Thập Giá sau bao
nhiêu lao nhọc, đói, khát, nóng, lạnh, bất công
nhục nhă, và tất cả những sự ấy là v́ tôi.
Rồi suy nghĩ để rút phần nào ích lợi thiêng
liêng.
117. TÂM SỰ: Kết thúc
bằng một cuộc tâm sự như trong cuộc chiêm
niệm trước và bằng một kinh Lạy Cha.
LẶP LẠI CUỘC
LINH THAO THỨ NHẤT VÀ THỨ HAI.
Sau kinh dọn ḷng và ba
tiền nguyện, sẽ lặp lại cuộc Linh Thao
thứ nhất và thứ hai; chú ư hơn những chỗ
quan trọng mà trước đă cảm thấy chút hiểu
biết, an ủi hay sầu khổ. Cuối cùng cũng tâm
sự và đọc một kinh Lạy Cha.
119. Trong cuộc "chiêm
niệm lại" này cũng như các lần khác sau này,
sẽ theo cùng một trật tự tiến hành như trong
các cuộc "gẫm lại" ở tuần thứ
nhất, chỉ đổi đề tài c̣n giữ nguyên
cách thức.
lặp lại cuộc chiêm
niệm thứ nhất và thứ hai, theo cùng một cách
thức như trong cuộc chiêm niệm lại trên đây.
ÁP DỤNG NGŨ QUAN VÀO CUỘC CHIÊM NIỆM
THỨ NHẤT VÀ THỨ HAI.
KINH NGUYỆN: Sau kinh
dọn ḷng và tiền nguyện, sẽ được ích
lợi nhiều nếu đem sử dụng năm giác quan
tưởng tượng vào bài chiêm niệm thứ nhất
và thứ hai theo cách sau đây:
122. ĐIỂM NHẤT:
Lấy con mắt tưởng tượng nh́n xem các nhân
vật. Suy gẫm và chiêm niệm từng hoàn cảnh liên
quan tới các Ngài và rút phần nào ích lợi từ những
điều ḿnh thấy.
123. ĐIỂM HAI: Lấy
thính giác nghe những điều các Ngài nói hoặc có
thể nói, và suy nghĩ trong ḷng để rút lấy
phần nào ích lợi từ đó.
124. ĐIỂM BA: Dùng
khứu giác và vị giác, ngửi và nếm mùi vị
thơm tho và dịu ngọt vô cùng của Thiên Chúa, của
linh hồn và các nhân đức của linh hồn cùng moi
sự khác, tùy theo nhân vật ta chiêm ngắm; suy nghĩ trong
ḷng và rút phần nào ích lợi từ đó.
125. ĐIỂM BỐN:
Lấy xúc giác sờ mó, thí dụ ôm và hôn những nơi các
nhân vật ấy đặt chân lên và đă ngồi, luôn
cố gắng rút phần nào ích lợi từ đó.
126. TÂM SỰ: Kết thúc
bằng một cuộc tâm sự như trong các cuộc
chiêm niệm thứ nhất và thứ hai, và bằng một
kinh Lạy Cha.
127. GHI CHÚ THỨ
NHẤT: Nên chú ư rằng trong suốt tuần này và các
tuần sau, tôi chỉ được đọc về
mầu nhiệm của cuộc chiêm niệm mà tôi phải
làm ngay, nghĩa là hiện tại tôi sẽ không đọc
về một mầu nhiệm nào khác mà tôi không phải chiêm
niệm hôm nay hay ngay bây giờ, để việc suy
ngắm mầu nhiệm này không làm xáo trộn việc suy
ngắm mầu nhiệm khác.
128. GHI CHÚ THỨ HAI:
Cuộc linh thao thứ nhất về mầu nhiệm
nhập thể sẽ thực hiện vào nửa đêm;
cuộc thứ hai lúc rạng đông; cuộc thứ ba sau
giờ Thánh Lễ; cuộc thứ bốn vào giờ hát kinh
chiều và cuộc thứ năm trước giờ ăn
tối; mỗi lần làm một giờ. Sẽ giữ cùng
một trật tự ấy cho mọi cuộc sau này.
129. GHI CHÚ THỨ BA: Nên
chú ư là nếu người tập Linh Thao đă có tuổi
hay yếu sức, hoặc dù mạnh khỏe nhưng trong
tuần thứ nhất đă sút đi một chút th́
điều tốt hơn đối với họ trong
tuần thứ hai này ít nhất đôi ba lần bỏ
đừng dậy trong giờ nửa đêm; họ sẽ
làm một cuộc chiêm niệm buổi sáng, một sau
giờ lễ và một trước bữa ăn và một
cuộc ôn lại tất cả những cuộc ấy vào
giờ hát kinh chiều rồi áp dụng ngũ quan
trước bữa tối.
Đối
với tuần thứ hai này, trong tất cả
mười điều phụ thêm đă nói ở tuần
thứ nhất, phải sửa đổi lại các
điều thứ hai, thứ sáu, thứ bảy và một
phần điều thứ mười.
·
Về điều
thứ hai sửa đổi như sau: thọat khi thức
dậy, đặt ngay trước mặt cuộc chiêm
niệm mà tôi phải làm, với ư muốn được
biết Ngôi Lời Hằng Sống nhập thể hơn,
để phụng sự và theo chân Ngài hơn.
·
Về điều
thứ sáu: Năng nhớ lại cuộc đời và các
mầu nhiệm của Đức Kitô, Chúa chúng ta, bắt
đầu từ mầu nhiệm nhập thể cho đến
nơi hoặc mầu nhiệm mà tôi đang chiêm niệm.
·
Về điều
thứ bảy: Phải dùng bóng tối hay ánh sáng, trời
đẹp hay trời xấu, tùy theo người tập
Linh Thao thấy có thể sinh ích cho ḿnh và giúp t́m kiếm được
điều ḿnh ao ước.
·
Về điều
thứ mười: Người tập Linh Thao phải
thích ứng với những mầu nhiệm mà họ chiêm
niệm, v́ có những mầu nhiệm đ̣i phải hăm
ḿnh đền tội, có những mầu nhiệm không.
Như vậy phải
giữ rất cẩn thận mười điều
phụ thêm ấy.
131. GHI CHÚ THỨ NĂM:
Trong tất cả các cuộc Linh Thao, trừ lần
nửa đêm và ban sáng, sẽ làm một điều
tương đương với điều phụ thêm
thứ hai, theo cách thức sau đây: ngay khi thấy
đến giờ phải tập Linh Thao, trước khi
đi làm việc ấy, tôi sẽ đặt trước
mặt: tôi đi đâu và đến trước mặt
ai, rồi lược tóm bài Linh Thao sắp làm và sau khi làm
điều phụ thêm thứ ba, tôi vào bài linh thao.
132. NGÀY THỨ HAI: Để
làm cuộc chiêm niệm thứ nhất và thứ hai,
lấy mầu nhiệm Dâng Chúa trong đền thánh [268] và
việc chạy trốn như bị lưu đầy sang
Ai cập [269]. Về hai bài chiêm niệm này, cũng làm hai
cuộc chiêm niệm lại và áp dụng ngũ quan theo cùng
một cách thức như hôm trước.
133. Ghi chú: Mặc dù
người tập Linh Thao dai sức và luôn sẵn sàng,
đôi khi cũng nên thay đổi, bắt đầu
từ ngày thứ hai này cho đến hết ngày thứ
bốn, để dễ t́m thấy điều
người ta ước muốn hơn; nghĩa là chỉ
làm một cuộc chiêm niệm lúc rạng đông, một
vào giờ lễ, chiêm niệm lại vào giờ kinh
chiều và áp dụng ngũ quan trước bữa ăn
tối.
134. NGÀY THỨ BA: Chiêm
niệm về trẻ Giêsu vâng lời cha mẹ ở
Nazareth như thế nào [271], đoạn về việc các
Ngài t́m thấy con trẻ ở trong đền thờ ra sao
[272], và sau đó cũng làm hai cuộc chiêm niệm lại
và áp dụng ngũ quan.
Chúng
ta đă suy gẫm gương Đức Kitô, Chúa chúng ta, nêu cho
chúng ta về bậc sống thứ nhất, tức là
sự tuân giữ các điều răn, khi Ngài sống trong
sự vâng lời cha mẹ, cũng như về bậc
sống thứ hai tức là sự trọn lành theo Phúc Âm,
khi Ngài bỏ Cha nuôi và người Mẹ trần gian của
Ngài mà ở lại trong đền thờ để
hiến ḿnh vào việc thuần túy phụng sự Cha
Hằng Sống của Ngài. Cùng một trật với
việc chiêm niệm về cuộc đời Ngài, chúng ta
cũng sẽ bắt đầu t́m hiểu và xin
được biết Chúa Chí Tôn muốn chúng ta sống
cách nào, hay ở bậc nào để phụng sự Ngài.
Bởi vậy, như để dẫn nhập, ngay trong
cuộc Linh Thao sau đây, chúng ta sẽ xem xét ư hướng
của Đức Kitô, Chúa chúng ta và ngược lại ư
hướng của kẻ thù địch của bản
tính loài người, cũng như về cách thức
phải tự chỉnh đốn hầu đạt
tới sự trọn lành trong bất cứ bậc hay
nếp sống nào mà Thiên Chúa, Chúa chúng ta sẽ cho chúng ta
chọn lựa.
MỘT BÊN LÀ CỜ
CỦA ĐỨC KITÔ, VỊ CHỈ HUY TỐI CAO VÀ CHÚA CHÚNG
TA,
BÊN KIA LÀ CỜ CỦA
LUXIPHE, KẺ TỬ THÙ CỦA BẢN TÍNH LOÀI NGƯỜI
CHÚNG TA.
KINH NGUYỆN: Kinh dọn
ḷng thường lệ.
137. TIỀN NGUYỆN I:
Lịch sử. Ở đây là Chúa Kitô kêu gọi và muốn
cho mọi người ở dưới cờ của Ngài,
và ngược lại, Luxiphe cũng gọi và muốn cho
mọi người ở dưới cờ của nó.
138. TIỀN NGUYỆN II:
Đặt ḿnh vào khung cảnh, nh́n xem nơi chốn. Ở
đây là nh́n xem một doanh trại vĩ đại bao
hết miền Giêrusalem, nơi có vị chỉ huy tối
cao của những người lành là Đức Kitô, Chúa chúng
ta; một doanh trại khác ở miền
139. TIỀN NGUYỆN III:
Xin điều tôi ao ước, ở đây là xin cho
được hiểu biết những sự lừa
dối của tên cầm đầu xấu xa và ơn
trợ giúp để giữ ḿnh khỏi những sự
ấy; và được hiểu biết sự sống
chân thật mà vị lănh đạo tối cao và chân
thật chỉ cho chúng ta, cùng ơn để bắt
chước Ngài.
PHẦN I
140. ĐIỂM THỨ
NHẤT: Tưởng tượng ra tên cầm đầu
hết mọi kẻ thù địch ở trong một doanh
trại vĩ đại miền Babylon, như đang
ngồi trên một ngai lớn bằng lửa và khói,
với h́nh dáng ghê sợ và khủng khiếp.
141. ĐIỂM THỨ HAI:
Suy nghĩ về việc hắn kêu gọi vô số qủy
và sai chúng đi khắp thế giới thể nào; bọn
này thành nọ, lũ kia thành khác, không bỏ sót một thành
một miền, một bậc người hay một cá
nhân nào.
142. ĐIỂM THỨ BA: Suy
nghĩ về những điều hắn nói với lũ
qủy, và về sự hắn khuyến khích chúng quăng
lưới và xiềng xích như thế nào; rằng
trước hết chúng phải cám dỗ về sự ham
muốn của cải, như phần nhiều
trường hợp thường xảy ra, để
người ta dễ đi đến hư danh thế gian
hơn, và sau đó đến kiêu ngạo cả thể;
như thế, bậc thang thứ nhất là của
cải, bậc thứ hai là danh vọng, bậc thứ ba
là kiêu ngạo, và từ ba bậc thang này hắn đưa
vào mọi nết xấu khác.
PHẦN II
143. Phải tưởng
tượng trái ngược lại về vị chỉ
huy tối cao và chân thật là Đức Kitô, Chúa chúng ta.
144. ĐIỂM THỨ
NHẤT: Nh́n xem Đức Kitô Chúa chúng ta đang đứng
trong doanh trại rộng lớn miền Giêrusalem, ở
một chỗ khiêm tốn, đẹp đẽ và phúc hậu
như thế nào.
145. ĐIỂM THỨ HAI:
Suy nghĩ về việc Chúa cả thế giới chọn
lựa biết bao nhiêu người, tông đồ, môn
đệ v.v., và sai họ đi khắp thế gian rao
truyền đạo thánh Ngài cho mọi bậc và mọi
hạng người như thế nào.
146. ĐIỂM THỨ BA: Suy
xét về những lời Đức Kitô Chúa chúng ta phán dạy
các tôi tớ và bạn hữu Ngài, mà Ngài sai đi trong
cuộc viễn chinh đó, Ngài căn dặn họ t́m cách
giúp đỡ mọi người bằng cách lôi kéo họ,
thứ nhất đến sự khó nghèo trong ḷng tột
bực, và đến cả sự khó nghèo thực, nếu
bởi đó Thiên Chúa được phụng sự và
nếu Ngài muốn chọn họ; thứ hai đến
ḷng ao ước chịu sỉ nhục và khinh chê, v́
bởi hai điều ấy mà có đức khiêm
nhường. Như thế có ba bậc thang, bậc
thứ nhất là sự khó nghèo đối lại với
sự giàu sang, bậc thứ hai là những sự sỉ
nhục hoặc khinh chê đối lại với danh
vọng thế gian, bậc thứ ba là khiêm nhường
đối lại với kiêu ngạo và từ ba bậc
thang ấy họ dẫn tới mọi nhân đức khác.
147. TÂM SỰ:
CUỘC TÂM SỰ THỨ
NHẤT: Tâm sự với Đức Bà để Người
xin cùng Con và Chúa của Người, cho tôi ơn
được nhận vào dưới cờ Ngài, thứ
nhất bằng sự khó nghèo trong ḷng tột bực và
cả khó nghèo thực sự, nếu bởi đó Chúa Chí
Tôn được phụng sự và nếu Ngài muốn
chọn và nhận tôi; thứ hai bằng sự chịu
sỉ nhục và bất công, để nhờ đó noi
gương Ngài hơn, miễn là tôi có thể chịu
những sự ấy mà không ai mắc tội và cũng
không có chi mất ḷng Chúa Chí Tôn. Đoạn đọc một
kinh Kính Mừng.
CUỘC TÂM SỰ THỨ
HAI: Xin với Đức Chúa Con để Ngài cầu xin
Đức Chúa Cha cho tôi cùng một điều ấy, rồi
đọc kinh "Anima Christi" (Lạy hồn Chúa Kitô).
CUỘC TÂM SỰ THỨ
BA: Xin cùng một điều ấy với Đức Chúa Cha
để Ngài ban cho tôi, rồi đọc kinh Lạy Cha.
148. Ghi chú: Cuộc Linh Thao
sẽ làm vào nửa đêm và sau đó làm một lần
nữa vào ban sáng. Cũng làm hai cuộc chiêm niệm lại
về cùng một bài ấy vào giờ lễ và giờ kinh
chiều, lần nào cũng kết thúc bằng ba cuộc
tâm sự với Đức Bà, với Đức Chúa Con và với
Đức Chúa Cha. Cuộc Linh Thao tiếp sau đây về các
mẫu người, sẽ làm trước bữa tối.
ĐỂ THEO MẪU TỐT
HƠN HẾT.
KINH NGUYỆN: Kinh dọn
ḷng như thường lệ.
150. TIỀN NGUYỆN I:
câu chuyện. Đây là câu chuyện ba mẫu người,
mỗi người đều kiếm được
mười ngàn "đu-ca[36].” Nhưng không phải với ḷng trong sạch ngay
thẳng v́ kính mến Chúa. Cả ba đều muốn
cứu thoát ḿnh và t́m thấy Thiên Chúa, Chúa chúng ta trong b́nh an,
bằng cách gỡ ḿnh khỏi gánh nặng và sự cản
trở vấp phải do ḷng quyến luyến những
của đă kiếm được.
151. TIỀN NGUYỆN II:
Đặt ḿnh vào khung cảnh, nh́n xem nơi chốn. Ở
đây là nh́n xem chính ḿnh tôi, như đang ở
trước mặt Thiên Chúa, Chúa chúng ta và tất cả các
Thánh của Ngài, để ước muốn và nhận
biết điều ǵ có thể làm đẹp ḷng Chúa nhân
lành hơn cả.
152. TIỀN NGUYỆN III:
Xin điều tôi ao ước. Ở đây là xin ơn
để chọn điều ǵ có thể làm vinh danh Chúa Chí
Tôn và cứu rỗi linh hồn tôi hơn.
153. MẪU NGƯỜI
THỨ NHẤT: Mẫu người thứ nhất cũng
muốn diệt trừ ḷng quyến luyến ḿnh có
đối với của cải đă kiếm được,
để t́m thấy Thiên Chúa, Chúa chúng ta trong b́nh an và
để có thể cứu rỗi chính ḿnh, nhưng cho
đến giờ chết họ vẫn chưa dùng các
phương thế để làm điều đó.
154. MẪU NGƯỜI
THỨ HAI: Mẫu người thứ hai muốn diệt
trừ ḷng quyến luyến ấy, nhưng họ muốn
vừa diệt bỏ nó, vừa giữ lại của
cải đă kiếm được, làm như Thiên Chúa
phải theo ư họ muốn, chứ họ không quyết tâm
từ bỏ của ấy để đi tới Thiên
Chúa, mặc dù đó phải là bậc tốt hơn hết
cho họ.
155 MẪU NGƯỜI
THỨ BA. Mẫu người thứ ba muốn diệt
trừ ḷng quyến luyến ấy, mà họ muốn
đến nỗi, chẳng c̣n tha thiết tới việc
giữ hay không giữ của đă kiếm
được, nhưng chỉ muốn là sẽ muốn
hay không muốn của ấy theo như Thiên Chúa, Chúa chúng ta
sẽ thúc đẩy ư muốn của họ, và chính họ
thấy tốt hơn cho việc phụng sự và ngợi
khen Chúa Chí Tôn. Trong khi chờ đợi, họ muốn coi
ḿnh như đă từ bỏ hết mọi sự trong tâm
hồn và cố sức không muốn sự này hay sự khác
nếu họ không được thúc đẩy bởi
nguyên một việc phụng sự Thiên Chúa Chúa chúng ta mà
thôi. Như thế, chính ư muốn được phụng
sự Thiên Chúa, Chúa chúng ta hơn, thúc đẩy họ
giữ hoặc bỏ của ấy.
156. BA CUỘC TÂM SỰ:
Làm ba cuộc tâm sự như trong cuộc chiêm niệm
trước về hai cờ hiệu.
157. Ghi chú: Nên ghi chú
rằng khi ta cảm thấy một tâm t́nh ngược
lại hoặc ḷng ghê sợ đối với sự khó
nghèo thực sự, khi ta không b́nh tâm đối với
sự khó nghèo hoặc giàu có, th́ điều giúp ích nhiều
để diệt trừ ḷng quyến luyến lệch
lạc ấy, là trong các cuộc tâm sự, nài xin Chúa
chọn ḿnh vào sự khó nghèo thực sự (mặc dù
nghịch ư xác thịt) và giục ḷng ước muốn,
cầu xin, van nài cho được điều ấy,
miễn là để phụng sự và ngợi khen Chúa nhân
lành.
158. NGÀY THỨ NĂM:
Chiêm niệm việc Đức Kitô, Chúa chúng ta khởi hành
từ
159. GHI CHÚ I: Cuộc chiêm
niệm này sẽ làm một lần vào nửa đêm và
một lần nữa vào ban sáng, rồi hai lần chiêm
niệm lại vào giờ lễ và giờ kinh chiều, và
trước bữa ăn tối sẽ áp dụng ngũ
quan. Mỗi lần trong năm cuộc Linh Thao ấy đều
bắt đầu bằng kinh dọn ḷng thường
lệ và ba tiền nguyện như đă giải thích trong
cuộc chiêm niệm về mầu nhiệm nhập thể
và giáng sinh, và kết thúc bằng ba cuộc tâm sự,
như khi gẫm về ba mẫu người hoặc theo
lời ghi chú sau bài ấy.
160. GHI CHÚ II: Việc xét
ḿnh riêng sau bữa trưa và bữa tối sẽ làm về
các khuyết điểm và trễ nải trong các cuộc
Linh Thao và các điều phụ thêm thuộc ngày đó.
Những ngày sau cũng làm như vậy.
161. NGÀY THỨ SÁU: Chiêm
niệm Đức Kitô Chúa chúng ta từ sông Giordano vào sa mạc
và ở đó thế nào. Mọi sự theo cùng thể
thức như ngày thứ năm.
NGÀY THỨ BẢY: Thánh
Andrê và các vị khác theo Đức Kitô, Chúa chúng ta thế nào
[275].
NGÀY THỨ TÁM: Bài
giảng trên núi về tám mối phúc thật [278].
NGÀY THỨ CHÍN: Về
Đức Kitô Chúa chúng ta hiện ra cùng các môn đệ trên sóng
biển như thế nào [280].
NGÀY THỨ MƯỜI:
Chúa giảng trong đền thờ như thế nào [288].
NGÀY THỨ MƯỜI
MỘT: Về việc ông Lazarô sống lại [285].
NGÀY THỨ MƯỜI
HAI: Về ngày rước lá [287].
162. GHI CHÚ THỨ
NHẤT: Trong tuần thứ hai này, có thể kéo dài hay rút
ngắn số bài chiêm niệm tùy theo thời giờ
mỗi người muốn dành ra hoặc theo những
tiến bộ họ đạt được. Nếu
muốn kéo dài, hăy suy gẫm về những mầu
nhiệm Đức Bà đi viếng bà thánh Elisabeth, các mục
đồng, Hài Nhi Giêsu chịu cắt b́, Ba Vua, hoặc
về những mầu nhiệm khác nữa. Nếu muốn
rút ngắn cũng có thể bỏ bớt trong những
điều đă đề nghị; v́ những
điều đó chỉ nhằm cung cấp một dẫn
nhập và phương pháp hầu sau này có thể chiêm
niệm cách hoàn hảo và trọn vẹn hơn.
163. GHI CHÚ THỨ HAI:
Sẽ đề cập vấn đề lựa chọn
bắt đầu từ cuộc chiêm niệm về
những việc xảy ra từ khi Chúa rời
164. GHI CHÚ THỨ BA:
Trước khi bước vào việc lựa chọn,
điều rất ích lợi để được
gắn bó với giáo lư chân chính của Đức Kitô, Chúa chúng
ta, là để tâm suy xét về ba bậc khiêm nhường
sau đây; trong ngày, nên có những lúc để suy đi
nghĩ lại về ba bậc khiêm nhường ấy và
cũng làm các cuộc tâm sự, theo cách thức sẽ
chỉ ở phần sau.
165. BẬC KHIÊM
NHƯỜNG THỨ NHẤT. Bậc khiêm nhường
thứ nhất cần thiết cho phần rỗi
đời đời, tức là tôi hạ ḿnh khiêm
nhường hết sức, để vâng theo lề
luật Thiên Chúa, Chúa chúng ta trong mọi sự, đến
nỗi dù người ta có đặt tôi làm Chúa mọi
thọ tạo trên thế gian này, hay phải đổi
lấy mạng sống tạm bợ này đi nữa, tôi
cũng không nghĩ đến vi phạm một
điều răn nào của Thiên Chúa hay của loài
người mà buộc thành tội trọng.
166. BẬC KHIÊM
NHƯỜNG THỨ HAI. Bậc khiêm nhường thứ
hai hoàn hảo hơn bậc thứ nhất, tức là tôi
đạt tới mức độ không c̣n t́m kiếm mà
cũng chẳng tha thiết được giàu sang hơn
là nghèo hèn, danh dự hơn là sỉ nhục, ao ước
đời sống lâu dài hơn là ngắn ngủi, khi
việc phụng sự Thiên Chúa, Chúa chúng ta và ích lợi cho
linh hồn tôi ngang nhau trong những trường hợp
ấy; vả nữa, dù để được cả
thọ tạo hay phải mất mạng sống đi
nữa, tôi cũng không nghĩ đến phạm một
tội nhẹ.
167. BẬC KHIÊM
NHƯỜNG THỨ BA. Bậc khiêm nhường thứ ba
hoàn hảo nhất, bao gồm cả bậc thứ
nhất và thứ hai, ấy là giả thiết sự
ngợi khen và vinh danh Chúa ngang nhau trong mọi trường
hợp, th́ để noi gương và nên giống Đức
Kitô, Chúa chúng ta cách thiết thực hơn, tôi muốn và tôi
chọn sự nghèo khó với Chúa Kitô khó nghèo hơn là
sự giàu sang, sự sỉ nhục với Chúa Kitô bị
sỉ nhục hơn là danh vọng, và ao ước
được coi là vô tích sự và điên dại v́ Chúa
Kitô, Đấng đă bị coi như thế trước,
hơn là được coi như người thông thái, khôn
ngoan ở thế gian này.
168. GHI CHÚ: Như thế,
đối với ai muốn được ḷng khiêm
nhường theo bậc thứ ba, th́ điều rất có
ích là làm ba cuộc tâm sự như trong bài về các mẫu
người đă nói trước đây, xin Chúa chúng ta đoái
chọn họ vào bậc khiêm nhường thứ ba, cao
hơn và tốt hơn, để noi gương và
phụng sự Chúa hơn, nếu việc phụng sự
và ngợi khen Chúa chí tôn cũng bằng hoặc lớn
hơn (ở các bậc khác).
ĐIỂM NHẤT: Trong
mọi việc lựa chọn tốt, về phía chúng ta,
con mắt ư hướng chúng ta phải đơn sơ,
chỉ nhằm cái [mục đích] v́ đó tôi đă được
dựng nên, ấy là để ngợi khen Thiên Chúa, Chúa
chúng ta và để cứu rỗi linh hồn tôi; như
thế dù tôi lựa chọn điều ǵ, th́ cũng
phải nhằm giúp tôi đạt tới cứu cánh v́
đó tôi được tạo dựng, nên không
được xếp đặt và khuôn cứu cánh theo
phương tiện, nhưng phải xếp đặt và
khuôn phương tiện theo cứu cánh.
Chẳng
hạn trong thực tế, có nhiều người chọn
hôn nhân trước, đó là phương tiện, thứ
đến mới chọn việc phụng sự Thiên Chúa,
Chúa chúng ta trong hôn nhân, việc phụng sự Chúa mới là
cứu cánh. Cũng thế có những người khác
trước hết muốn được bổng lộc[37] rồi sau mới muốn phụng sự Thiên Chúa
qua đó.
Như
vậy, những người ấy không đi thẳng
tới Thiên Chúa, nhưng muốn Thiên Chúa đến với
những quyến luyến lệch lạc của họ, và
do đó họ lấy phương tiện làm cứu cánh và
cứu cánh làm phương tiện. Như thế cái mà
họ phải đặt lên hàng đầu th́ họ
lại để xuống hàng cuối, v́ trước
nhất chúng ta phải lấy ư muốn phụng sự
Thiên Chúa, tức là cứu cánh, làm mục tiêu, thứ
đến mới là việc nhận bổng lộc hay
kết hôn là phương tiện để tới mục
đích, nếu thấy việc đó thích hợp hơn.
Như vậy không ǵ có thể thúc đẩy tôi lấy hay
bỏ những phương thế nào đó, ngoại
trừ việc phụng sự và ngợi khen Thiên Chúa, Chúa
chúng ta và phần rỗi đời đời của linh
hồn tôi.
170. LỜI CHỈ
DẪN ĐỂ BIẾT PHẢI LỰA CHỌN NHỮNG G̀,
GỒM BỐN ĐIỂM VÀ MỘT GHI CHÚ.
ĐIỂM THỨ NHẤT:
Tất cả những điều làm đối
tượng cho việc lựa chọn của chúng ta
nhất thiết phải là những điều, tự
chúng không tốt không xấu, hoặc tốt và phù hợp
với ư của Mẹ Thánh là Giáo Hội Phẩm Trật,
chứ không phải là những điều xấu hay
những điều đi ngược với Giáo Hội.
171. ĐIỂM THỨ HAI: Có
những điều mà khi việc lựa chọn đă
dứt khoát, th́ không thể thay đổi, chẳng hạn
như đă chịu chức linh mục hay đă kết hôn
v.v.; c̣n những điều khác th́ có thể thay
đổi, chẳng hạn như nhận lănh hay
khước từ bổng lộc, nhận lănh hay từ
bỏ những của cải đời này.
172. ĐIỂM THỨ BA:
Với việc lựa chọn không thể đổi,
một khi đă làm không được chọn lại
nữa v́ không thể cởi bỏ được, chẳng
hạn như phép hôn phối, chức linh mục v.v.;
chỉ c̣n một điều, nếu ḿnh đă lựa
chọn không phải phép và không đúng trật tự
nhưng theo những quyến luyến lệch lạc, th́
ăn năn hối hận và cố gắng sống
một đời tốt lành trong điều ḿnh đă
lựa chọn. Một việc lựa chọn như
vậy không cho thấy đó là ơn thiên triệu, v́ đó
là một cuộc lựa chọn lệch lạc và sai trái,
như có nhiều người lầm lẫn trong việc
ấy, lấy sự lựa chọn sai trái hay xấu xa làm
ơn thiên trịêu, v́ mọi ơn thiên triệu bao giờ
cũng trong sáng và rơ ràng, không pha ư xác thịt hay một
quyến luyến lệch lạc nào khác.
173. ĐIỂM THỨ
BỐN: Về những điều lựa chọn có
thể thay đổi, nếu người nào đă lựa
chọn phải phép và đúng trật tự, không theo xác
thịt hay thế gian, th́ không phải lựa chọn
lần nữa, nhưng chỉ phải hoàn thiện trong
sự lựa chọn ấy tùy sức có thể.
174. GHI CHÚ: Nên ghi chú
rằng, nếu một việc lựa chọn có thể
đổi mà đă không làm cho thành thật và đúng
trật tự, th́ làm lại cho đúng phép vào lúc này là
điều có ích lợi cho những ai ao ước sinh hoa
trái đáng kể và rất đẹp ḷng Thiên Chúa, Chúa chúng
ta.
MÀ MỖI THỜI KỲ
ĐỀU THÍCH HỢP ĐỂ LÀM VIỆC LỰA CHỌN
TỐT LÀNH
THỜI KỲ THỨ
NHẤT: Là khi Thiên Chúa, Chúa chúng ta đánh động và lôi
kéo ư muốn đến nỗi linh hồn trung tín tuân theo
điều đă được chỉ vạch không
hồ nghi mà cũng không thể hồ nghi; thánh Phaolô và thánh
Matthêu đă làm như thế khi các Ngài theo Đức Kitô Chúa
chúng ta.
176. THỜI KỲ
THỨ HAI: Khi nhận được đủ ánh sáng và
sự hiểu biết bởi kinh nghịêm những an
ủi và sầu khổ, cũng như bởi kinh nghịêm
phân biệt các thần khác nhau.
177. THỜI KỲ
THỨ BA: Thời kỳ thứ ba th́ trầm lặng;
trước hết suy xét con người sinh ra để
làm ǵ, tức là để ngợi khen Thiên Chúa, Chúa chúng ta,
và để cứu linh hồn ḿnh. Và với ḷng
ước ao sự ấy, chọn một cuộc sống
hay một bậc trong phạm vi Giáo Hội chấp
nhận, làm phương thế để giúp cho việc
phụng sự Chúa và cứu rỗi linh hồn ḿnh.
Tôi nói, thời kỳ
trầm lặng, nghĩa là khi linh hồn không bị xao
động bởi các thần khác nhau, và sử dụng
những khả năng tự nhiên của ḿnh cách tự do
và yên tĩnh.
178. Nếu cuộc lựa
chọn không làm được trong thời kỳ thứ
nhất hay thứ hai, th́ sau đây là hai cách để
lựa chọn theo thời kỳ thứ ba.
GỒM SÁU ĐIỂM:
ĐIỂM THỨ NHẤT:
Là đặt ḿnh trước những điều tôi toan
lựa chọn, chẳng hạn một chức vụ hay
bổng lộc để nhận hay bỏ, hoặc
bất cứ điều ǵ khác mà sự lựa chọn có
thể thay đổi được.
179. ĐIỂM THỨ HAI:
Tôi phải nhằm đến cứu cánh v́ đó tôi đă
được dựng nên, là ngợi khen Thiên Chúa, Chúa chúng
ta và cứu rỗi linh hồn tôi; lại nữa tôi
phải giữ b́nh tâm, không có một quyến luyến
lệch lạc nào, đến nỗi không hướng
chiều và cũng không tha thiết để nhận
điều đă được đề nghị hơn
là từ chối hoặc từ chối hơn là nhận;
nhưng tôi phải giữ ḿnh ở vị thế cân
bằng như ở giữa một bàn cân; chỉ nghiêng
theo đàng nào tôi cảm thấy hợp hơn cho vinh quang
và sự ca ngợi Chúa cùng việc cứu rỗi linh
hồn tôi.
180. ĐIỂM THỨ BA: Xin
Thiên Chúa, Chúa chúng ta đoái thương đánh động
ư muốn tôi và đặt vào linh hồn tôi điều tôi
phải làm đối với việc đă được
đề ra, để ngợi khen và làm vinh danh Chúa hơn,
trong khi tôi dùng trí khôn suy xét đúng đắn và trung thành, và
lựa chọn cho hợp với ư cực thánh và nhân lành
của Người.
181. ĐIỂM THỨ
BỐN: Suy xét xem việc được chức vụ hay
bổng lộc nói đây sẽ sinh thuận tiện và ích
lợi cho tôi bao nhiêu, duy để ngợi khen Thiên Chúa, Chúa
chúng ta và cứu rỗi linh hồn tôi; và ngược
lại cũng theo cách thức ấy, suy xét những
bất tiện và nguy hiểm nếu được
điều ấy. Trong phần thứ hai cũng làm như
vậy, nghĩa là xét những thuận tiện và ích
lợi bởi việc không được điều
ấy, và ngược lại cũng xét những bất
tiện và nguy hiểm nếu không được điều
ấy.
182. ĐIỂM THỨ
NĂM: Sau khi đă suy nghĩ và cân nhắc vấn
đề dưới mọi khia cạnh như thế, coi
xem lư trí nghiêng về phia nào, và phải quyết định
theo sự thúc đẩy mạnh nhất của lư trí
chứ không theo sự thúc đẩy nào của t́nh cảm
tự nhiên.
183. ĐIỂM THỨ SÁU: Khi
đă làm xong việc lựa chọn hay quyết
định ấy, người đă lựa chọn
phải mau mắn đi cầu nguyện trước
mặt Thiên Chúa, Chúa chúng ta, và dâng cho Ngài sự lựa
chọn đó, để Chúa Chí Tôn đoái nhận và xác
chuẩn cho, nếu điều ấy giúp phụng sự
và ngợi khen Ngài hơn.
GỒM BỐN QUY TẮC
VÀ MỘT GHI CHÚ.
QUY TẮC I: Ḷng yêu
mến đánh động và làm tôi lựa chọn
điều nào đó, phải từ trên mà xuống, từ
ḷng kính mến Thiên Chúa, như thế người lựa
chọn trước hết phải cảm thấy trong ḷng
rằng t́nh yêu mến nhiều hay ít đối với
điều họ chọn, hoàn toàn hướng về
Đấng Tạo Hóa và Chúa họ.
185. QUY TẮC II: Nh́n vào
một người mà tôi chưa bao giờ gặp và
cũng chẳng quen biết, với ḷng ước ao cho
họ được hoàn thiện trọn vẹn, suy xét
điều tôi sẽ khuyên họ làm và lựa chọn
để sáng danh Thiên Chúa, Chúa chúng ta hơn cả và làm cho
linh hồn họ nên trọn lành hơn; và chính tôi cũng
làm như vậy, tuân theo quy tắc tôi đặt cho
người khác.
186. QUY TẮC III: Xét coi,
ví như tôi đang ở vào giờ chết, th́ thể
thức và quy tắc mà lúc ấy tôi muốn ḿnh đă tuân
theo trong việc lựa chọn hiện bây giờ như
thế nào, và tôi hoàn toàn tuân theo quy tắc đó mà thực
hiện việc quyết định này.
187. QUY TẮC IV: Nh́n xem
và suy xét t́nh trạng của tôi trong ngày phán xét. Nghĩ xem lúc
ấy tôi muốn ḿnh đă định đoạt về
công việc hiện tại như thế nào; quy tắc mà
lúc ấy tôi muốn ḿnh đă tuân theo, tôi nhận lấy
ngay bây giờ, để lúc ấy tôi được
hạnh phúc và mừng
188. GHI CHÚ: Một khi đă
nhận lấy những quy tắc trên đây để
được cứu rỗi và an nghỉ đời
đời, tôi sẽ làm việc lựa chọn và dâng cho
Thiên Chúa, Chúa chúng ta, theo như điểm thứ sáu trong
cách lựa chọn thứ nhất [183].
Nên
lưu ư rằng đối với những người
đă vào bậc cai quản trong Giáo Hội hay ở bậc
hôn nhân, (dù có dư dật của cải đời này hay
không), khi họ không cần hay không hoàn toàn sẵn sàng
để lựa chọn về những điều có
thể đổi, điều rất ích lợi là, thay v́
một cuộc lựa chọn, đề nghị cho
họ một khuôn khổ và một cách thức nhằm tu
chỉnh và cải thiện đời sống và bậc
ḿnh; nghĩa là đưa hữu thể thụ tạo,
đời sống và bậc ḿnh vào việc làm vinh danh và ngợi
khen Thiên Chúa, Chúa chúng ta và cứu rỗi linh hồn ḿnh.
Để
hướng về và đạt tới cùng đích ấy,
phải suy xét và nghiền ngẫm nhiều bằng các
cuộc Linh Thao và các cách lựa chọn, như đă
giải thích, xem ḿnh phải có nhà cửa và gia nhân thế
nào, phải điều khiển và cai quản trong nhà thế
nào, phải dạy dỗ gia đ́nh bằng lời nói và
gương sáng ra sao; cũng thế, suy xét xem phải trích
của cải bao nhiêu cho người nhà và người giúp
việc, và bao nhiêu để cho người nghèo và các
việc thiện. Không muốn cũng không t́m sự ǵ khác
ngoài việc ngợi khen và làm vinh danh Thiên Chúa, Chúa chúng ta
hơn trong mọi sự và qua mọi sự.
V́
mỗi người phải nghĩ rằng ḿnh càng thoát ra
khỏi ḷng yêu ḿnh, ḷng ham muốn và tư lợi bao nhiêu,
th́ càng tiến tới trong mọi việc thiêng liêng bấy
nhiêu.
CUỘC CHIÊM NIỆM
THỨ NHẤT VÀO NỬA ĐÊM
VỀ CÁC VIỆC TỪ
KHI ĐỨC KITÔ, CHÚA CHÚNG TA, RỜI BETANIA ĐỂ LÊN GIÊRUSALEM
ĐẾN HẾT BỮA
TIÊC LY [289],
GỒM KINH DỌN L̉NG, BA
TIỀN NGUYỆN, SÁU ĐIỂM VÀ MỘT CUỘC TÂM SỰ.
KINH NGUYỆN: Kinh dọn
ḷng như thường lệ.
191. TIỀN NGUYỆN I:
Nhớ lại lịch sử. Ở đây là Đức Kitô,
Chúa chúng ta từ Betania sai hai môn đệ lên Giêrusalem
để dọn bữa tiệc ly, rồi sau chính Chúa lên
đó cùng với các môn đệ khác; sau khi ăn chiên
vượt qua, và đă xong bữa tối, Chúa rửa chân
cho các môn đệ và ban Ḿnh cùng Máu Cực Thánh cho các ông,
rồi khi Giuđa đă ra đi để bán Chúa ḿnh, th́
Người giảng cho các môn đệ một bài.
192. TIỀN NGUYỆN II:
Đặt ḿnh vào khung cảnh, xem nơi chốn: ở đây
là xem con đường đi từ Betania lên Giêrusalem, nó
rộng răi hay chật hẹp, bằng phẳng v.v.; cũng
xem xét nhà tiệc ly: nó to hay nhỏ, h́nh dáng thế nào.
193. TIỀN NGUYỆN III:
xin điều tôi ao ước: ở đây là sự
đau đớn, hối hận và hổ thẹn, v́ chính
bởi tội tôi mà Chúa đi chịu nạn.
194. ĐIỂM THỨ
NHẤT: nh́n xem các nhân vật trong bữa tiệc ly, và suy
nghĩ trong ḷng, cố rút phần nào ích lợi từ các
nhân vật ấy.
ĐIỂM THỨ HAI: nghe
điều các Ngài nói và cũng rút lấy phần nào ích
lợi như thế.
ĐIỂM THỨ BA: nh́n xem
việc các Ngài làm và rút lấy phần nào ích lợi.
195. ĐIỂM THỨ
BỐN: Suy xét về sự đau khổ Đức Kitô, Chúa
chúng ta, chịu hoặc muốn chịu trong nhân tính Ngài, tùy
theo cảnh đang chiêm niệm. Ở đây bắt đầu
đem hết sức lực và cố gắng để
được đau đớn, buồn sầu và khóc lóc.
Cũng làm như thế trong các điểm tiếp sau.
196. ĐIỂM THỨ
NĂM: suy xét xem thiên tính ẩn ḿnh như thế nào;
nghĩa là bản tính ấy có thể hủy diệt
kẻ thù ḿnh, mà không làm, nhưng để mặc cho nhân
tính chí thánh chịu cực khổ dữ dội như
thế nào.
197. ĐIỂM THỨ SÁU:
suy xét Chúa Giêsu chịu tất cả những sự ấy
v́ tội lỗi tôi như thế nào v.v., và tôi, tôi phải
làm ǵ và chịu những sự ǵ cho Chúa.
198. TÂM SỰ: Kết thúc
bằng một cuộc tâm sự với Đức Kitô, Chúa
chúng ta, và sau cùng đọc một kinh Lạy Cha.
199. Ghi chú: Trong các cuộc
tâm sự, như trước đă giải thích một
phần, cần chú ư rằng, chúng ta phải thân thưa và
cầu xin theo đề tài suy gẫm, nghĩa là tùy theo tôi
đang bị cám dỗ hay được an ủi, tùy theo
tôi ao ước được nhân đức này hay nhân
đức khác, tùy theo tôi muốn chọn đàng này hay
đàng kia, tùy theo tôi muốn đau khổ hay
ĐẾN HẾT NHỮNG
VIỆC XẢY RA Ở VƯỜN DẦU.
KINH NGUYỆN: Kinh dọn
ḷng thường lệ.
201. TIỀN NGUYỆN I:
Là lịch sử. Ở đây là việc Đức Kitô, Chúa
chúng ta, cùng mười một môn đệ rời núi Sion,
nơi đă ăn bữa tiệc ly, xuống thung lũng
Giosaphat. Người để tám môn đệ ở
một nơi trong thung lũng và ba môn đệ khác ở
một nơi trong vườn, và bắt đầu cầu
nguyện. Người đổ một thứ mồ hôi
giống như những giọt máu. Sau khi đă cầu
nguyện cùng Đức Chúa Cha ba lần, Người đánh
thức ba môn đệ. Sau đó, khi nghe tiếng
Người, các kẻ thù địch ngă xuống
đất; Giuđa hôn Người cái hôn b́nh an; thánh Phêrô
chém đứt cái tai của Malcô, và Chúa Kitô gắn cái tai
lại cho nó. Bấy giờ Người bị bắt
như kẻ gian phi, chúng lôi Người xuống đáy
thung lũng rồi lại kéo lên dốc núi để
đến nhà Anna.
202. TIỀN NGUYỆN II:
Nh́n xem nơi chốn. Ở đây là nh́n con
đường từ núi Sion xuống thung lũng Giosaphat
và cả cái vườn nữa; nó có rộng không, có dài
không, và h́nh dạng thế nào v.v.
203. TIỀN NGUYỆN III:
Xin điều tôi ao ước. Đang khi suy về sự
thương khó phải xin được thống khổ
với Đức Kitô thống khổ, tan nát tâm hồn với
Đức Kitô tan nát tâm hồn, được khóc lóc và đau
đớn trong ḷng về sự đau đớn
dường ấy mà Đức Kitô đă chịu v́ tôi.
204. GHI CHÚ THỨ
NHẤT: Trong cuộc chiêm niệm thứ hai này, sau kinh
dọn ḷng và ba tiền nguyện đă nói, sẽ theo cùng
một cách thức về các điểm và cuộc tâm
sự như trong cuộc chiêm niệm thứ nhất
về bữa Tiệc Ly. Vào giờ Thánh Lễ và giờ
kinh chiều sẽ làm hai cuộc chiêm niệm lại
về bài chiêm niệm thứ nhất và thứ hai. Rồi
trước bữa tối áp dụng ngũ quan về hai
bài chiêm niệm nói trên. Bao giờ cũng bắt đầu
bằng kinh dọn ḷng và ba tiền nguyện, tùy theo
đề tài đang gẫm, cùng một cách thức như
đă nói và giải thích trong tuần thứ hai.
205. GHI CHÚ THỨ HAI: Tùy
theo tuổi tác, thể trạng và tâm trạng[38], người luyện tập sẽ làm năm cuộc
Linh Thao mỗi ngày hoặc ít hơn.
206. GHI CHÚ THỨ BA: Trong
tuần thứ ba này sẽ sửa đổi một
phần điều phụ thêm thứ hai và thứ sáu:
·
VỀ ĐIỀU THỨ
HAI: Ngay khi thức dậy, đặt trước mắt:
tôi đi đâu, và để làm ǵ, ôn lại vắn tắt
cuộc chiêm niệm tôi muốn làm, theo mầu nhiệm
đang đề cập. Đang khi dậy và mặc áo, tôi
cố gắng giục ḷng buồn sầu đau
đớn v́ nỗi thống khổ và đau đớn
dường ấy của Đức Kitô Chúa chúng ta.
·
VỀ ĐIỀU THỨ
SÁU: Phải sửa đổi thế này: cố gắng
đừng làm nảy sinh những tư tưởng vui
mừng dù tốt lành thánh thiện như sự phục
sinh và vinh quang; nhưng trái lại, giục ḷng thống
khổ, đau đớn năo nề, năng nhớ
đến những nỗi gian khổ, nhọc nhằn và
đau đớn mà Đức Kitô Chúa chúng ta đă chịu
từ khi sinh ra cho đến mầu nhiệm mà tôi đang
chiêm niệm trong cuộc thương khó.
207. GHI CHÚ THỨ BỐN:
Việc xét ḿnh riêng về các cuộc Linh Thao và các
điều phụ thêm ở đây, cũng sẽ làm cùng
một cách như trong tuần trước.
·
vào nửa đêm chiêm
niệm từ Vườn Cây Dầu cho đến hết
các việc xảy ra tại nhà Kha-nan [291]
·
và buổi sáng từ nhà
Kha-nan đến hết các việc ở nhà Caipha [292].
·
Rồi làm hai cuộc
chiêm niệm lại và áp dụng ngũ quan như đă
chỉ.
·
vào nửa đêm chiêm
niệm từ nhà Caipha đến hết các việc
xảy ra tại dinh Philatô [293].
·
Buổi sáng, từ dinh
Philatô đến hết các việc xảy ra tại dinh
Hêrođê [294].
·
Rồi làm hai cuộc
chiêm niệm lại và áp dụng ngũ quan như đă nói.
NGÀY THỨ BỐN
·
Nửa đêm, từ
Hêrođê về Philatô [295], chiêm niệm một nửa các
mầu nhiệm xảy ra tại dinh Philatô.
·
Rồi trong cuộc linh
thao vào buổi sáng: các mầu nhiệm khác xảy ra cũng
tại dinh ấy.
·
Rồi làm các cuộc
chiêm niệm lại và áp dụng ngũ quan như đă nói.
NGÀY THỨ NĂM
·
Nửa đêm từ
dinh Philatô đến khi [Chúa chiu] đóng đinh trên Thánh Giá
[296].
·
Buổi sáng, từ lúc
Chúa chịu treo trên Thánh Giá đến khi Chúa tắt thở
[297].
·
Rồi làm hai cuộc
chiêm niệm lại và áp dụng ngũ quan.
NGÀY THỨ SÁU
·
Nửa đêm, từ
khi hạ xác Chúa khỏi Thánh Giá cho đến khi tới
mồ [298].
·
Buổi sáng, từ các
việc ở mồ đến ngôi nhà Đức Bà về, sau
khi đă táng xác Con.
Chiêm niệm chung về
tất cả cuộc thương khó trong các cuộc Linh
Thao nửa đêm và buổi sáng. Thay v́ hai cuộc chiêm
niệm lại, th́ suốt ngày, nhiều lần chừng
nào có thể, suy về sự xác cực thánh của Đức
Kitô, Chúa chúng ta, ở trong t́nh trạng tách rời và xa ĺa
linh hồn thế nào, được mai táng ở đâu và
thế nào. Cũng theo cách ấy, suy về nỗi cô
đơn của Đức Bà với biết bao đau
đớn mỏi ṃn, rồi đàng khác, nỗi cô
đơn của các môn đệ.
209. Ghi chú: Nên chú ư
rằng, nếu muốn kéo dài việc chiêm niệm về
sự Thương Khó th́ trong mỗi cuộc chiêm niệm
phải suy gẫm ít mầu nhiệm hơn, chẳng
hạn trong cuộc thứ nhất, nguyên về bữa
Tiệc Ly thôi, trong cuộc thứ hai, về việc
Rửa Chân, trong cuộc thứ ba, về việc Chúa ban bí
tích Thánh Thể cho các môn đệ, trong cuộc thứ
bốn, về bài Chúa giảng cho họ và cũng làm như
vậy trong các cuộc chiêm niệm và các mầu nhiệm
khác. Cũng thế, khi đă chiêm niệm hết cuộc
Thương Khó, hăy dành trọn một ngày để chiêm
niệm lại phân nửa cuộc thương khó, và ngày
nữa về nửa kia, rồi ngày thứ ba chung cả
cuộc thương khó.
Trái lại nếu muốn
rút ngắn việc chiêm niệm về cuộc Thương
Khó, th́ lúc nửa đêm chiêm niệm bữa Tiệc ly;
buổi sáng: Vườn Cây Dầu; giờ lễ: nhà
Kha-nan; giờ kinh chiều: nhà Caipha; và giờ trước
bữa tối: dinh Philatô. Như vậy trong khi bỏ các
cuộc chiêm niệm lại và áp dụng ngũ quan, mỗi
ngày làm năm cuộc Linh Thao khác nhau, và mỗi cuộc
về một mầu nhiệm khác của Đức Kitô, Chúa
chúng ta. Rồi khi đă chiêm niệm hết tất cả
cuộc Thương Khó như thế, có thể lấy
một ngày khác làm chung về trọn cuộc Thương
Khó trong một hay nhiều cuộc Linh Thao khác nhau, tùy theo
đàng nào thấy có ích lợi hơn.
QUY TẮC I: Về bánh ḿ[39], việc kiêng bớt ít thích hợp, v́ nó không
phải là món ăn gây thèm thuồng thái quá, hoặc tạo
cám dỗ thúc bách như các món ăn khác.
211. QUY TẮC II: Về
đồ uống, việc kiêng bớt h́nh như thích
hợp hơn so với bánh ḿ, nên phải xét kỹ xem cái ǵ
có ích để giữ, và cái ǵ có hại để bỏ.
212. QUY TẮC THỨ III:
Về các món ăn ngon, việc kiêng bớt phải nghiêm
ngặt và trọn vẹn hơn, v́ trong địạ
hạt đó sự thèm khát dễ trở nên lệch
lạc, cũng như sự cám dỗ trở nên thúc bách
hơn; bởi đó việc kiêng bớt các loại
thức ăn này, nhằm tránh sự hỗn loạn, có
thể giữ theo hai cách: một là tập quen ăn
những món b́nh thường, hai là tập quen ăn ít,
nếu là những món mỹ vị.
213. QUY TẮC IV: Tuy luôn
phải giữ ḿnh cho khỏi đau yếu, nhưng càng
bỏ bớt những nhu cầu thuộc mức b́nh
thường, th́ càng mau tới được mức trung
dung phải giữ trong việc ăn uống; v́ hai lẽ:
thứ nhất là trong khi cố gắng và tự chuẩn
bị như vậy, thường cảm thấy
được những hiểu biết bên trong, những
an ủi và những sự soi sáng thiêng liêng dồi dào
hơn để t́m ra mức trung dung thích đáng; thứ
hai, nếu trong lúc kiêng bớt như vậy mà thấy
thiếu sức mạnh phần xác và kém sẵn sàng
để tập Linh Thao, th́ sẽ dễ phán đoán
được điều ǵ phù hợp hơn để
nâng đỡ thể xác.
214. QUY TẮC V: Trong khi
ăn, h́nh dung như thấy Đức Kitô, Chúa chúng ta đang
ăn với các tông đồ: Chúa uống, Chúa nh́n, Chúa nói
thể nào và cố gắng bắt chước; như
vậy, phần thượng của trí khôn sẽ lo chiêm
ngắm Chúa chúng ta, c̣n phần hạ lo cho thân xác
được dưỡng nuôi; và nhờ thế
người ta sẽ đạt được một
sự ḥa hợp và một trật tự hoàn hảo hơn
trong cách xử sự và tu thân.
215. QUY TẮC VI: Trong khi
ăn c̣n có thể chiêm ngắm các sự khác, hoặc
về hạnh các thánh, hay một điều đạo
đức nào khác hoặc một việc thiêng liêng nào mà
người ta phải làm: v́ khi mắc chú ư đến
những sự ấy th́ sẽ bớt cảm khoái và
thỏa măn đối với các đồ ăn của
phần xác.
216. QUY TẮC VII: Trên
hết, đừng dồn hết tâm trí vào cái ḿnh ăn, và
đừng ăn vội vàng theo tính háu ăn, nhưng
phải tự chủ trong cách ăn cũng như trong
lượng đồ ăn.
217. QUY TẮC VIII: Để
trừ bỏ những hỗn loạn, điều rất
có ích là sau bữa trưa hoặc bữa tối hay lúc nào
khác không thấy đói, tự xác định số
lượng đồ ăn thích hợp cho ḿnh trong bữa
trưa hoặc bữa tối sau đó, và cứ làm như
thế mỗi ngày. Không được vượt quá
số lượng ấy cho dù thấy ngon miệng hay
bị cám dỗ. Trái lại, để dễ thắng
sự thèm thuồng hỗn loạn và mọi chước
cám dỗ của kẻ thù hơn, nếu bị cám dỗ
ăn nhiều hơn, th́ hăy ăn bớt đi.
KINH NGUYỆN: Kinh dọn
ḷng thường lệ.
219. TIỀN NGUYỆN I:
Lịch sử. Ở đây là sau khi Chúa Kitô tắt thở
trên thập giá, xác Ngài ở trong t́nh trạng tách rời
khỏi linh hồn, nhưng vẫn luôn kết hợp cùng
bản tính Thiên Chúa, linh hồn đầy hạnh phúc
Người xuống ngục tổ tông, vẫn luôn kết
hiệp cùng thiên tính. Người đưa linh hồn các
thánh ra khỏi ngục, đoạn trở lại mồ,
và khi đă sống lại, Người hiện ra cùng
Mẹ diễm phúc của Người, bằng cả xác và
hồn.
220. TIỀN NGUYỆN II:
Đặt khung cảnh, nh́n xem nơi chốn. Ở đây là
xem xét sự xếp đặt của mồ thánh, và nơi
nhà Đức Bà; nh́n riêng từng phần một, pḥng ngủ,
nhà nguyện v.v.
221. TIỀN NGUYỆN III:
Cầu xin điều tôi ao ước. Ở đây là
cầu xin ơn được
222. ĐIỂM THỨ
NHẤT, HAI, BA: Điểm 1: 2, 3 cũng là những
điểm mà chúng ta đă quen làm trong cuộc chiêm niệm
về Tiệc Ly của Đức Kitô, Chúa chúng ta [190].
223. ĐIỂM THỨ
BỐN: Suy gẫm về việc bản tính Thiên Chúa đă
có vẻ như ẩn ḿnh trong cuộc Thương Khó, bây
giờ tỏ hiện cách lạ lùng biết bao trong
việc Phục Sinh cực thánh, bởi những hiệu
lực đích thật và cực thánh của bản tính
ấy.
224. ĐIỂM THỨ
NĂM: Xét về nhiệm vụ an ủi mà Đức Kitô, Chúa
chúng ta, hiện đang thi hành. So sánh việc ấy với
cách thức mà các bạn hữu quen an ủi nhau.
225. TÂM SỰ: Kết thúc
bằng một hay nhiều cuộc tâm sự, tùy theo
đề tài, và đọc một kinh Lạy Cha.
226. GHI CHÚ THỨ
NHẤT: Trong các cuộc chiệm niệm sau, tiến hành
theo cách thức sẽ chỉ dưới đây, về
tất cả các mầu nhiệm từ việc Chúa phục
sinh cho đến hết việc Chúa lên trời; về các
điều khác, trong suốt tuần về sự phục
sinh, sẽ theo cùng một h́nh thức và cách thế như
trong tuần về sự thương khó. Vậy trong các
cuộc chiêm niệm sau, phần tiền nguyện cứ
theo mẫu bài chiêm niệm thứ nhất này về sự
phục sinh, nhưng thay đổi theo đề tài chiêm
niệm; năm điểm cũng thế; các điều
phụ thêm nói dưới đây cũng vậy. C̣n
những điều khác, có thể theo phương pháp
đă cho để dùng trong tuần về sự
thương khó, chẳng hạn về các cuộc chiêm
niệm lại, áp dụng ngũ quan, rút ngắn hay kéo dài
các mầu nhiệm v.v.
227. GHI CHÚ THỨ HAI: Cách
chung, trong tuần thứ tư này, làm bốn cuộc Linh
Thao thay v́ năm, th́ hợp hơn so với ba tuần
trước: cuộc thứ nhất ngay khi thức dậy
buổi sáng; cuộc thứ hai vào giờ lễ
họăc trước bữa trưa, thay v́ cuộc chiêm
niệm lại thứ nhất; cuộc thứ ba vào
giờ kinh chiều thay v́ cuộc chiêm niệm lại
thứ hai; cuộc thứ bốn trước bữa
tối bằng cách áp dụng ngũ quan vào ba bài Linh Thao
trong ngày; nên để ư và ngừng lại ở những
điểm chủ yếu hơn và những điểm
đă được đánh động và nhiều
hương vị thiêng liêng hơn.
228. GHI CHÚ THỨ BA:
Mặc dù trong mỗi cuộc chiêm niệm đă đề
nghị một số điểm nhất định,
chẳng hạn ba, năm v.v., nhưng người chiêm
niệm có thể tăng hay bớt số điểm
như họ thấy đàng nào dễ chịu hơn; v́
thế điều rất có ích là trước khi vào
cuộc chiêm niệm, dự trù và xác định rơ số
điểm sẽ làm.
229. GHI CHÚ THỨ BỐN:
Trong tuần thứ tư này, về cả thảy 10
điều phụ thêm, phải sửa đổi
điều thứ hai, sáu, bảy và mười.
·
Điều hai: ngay khi
thức dậy, đặt ḿnh trước cuộc chiêm
niệm mà tôi phải làm, giục ḷng hân hoan v́ sự vui
mừng hoan lạc dường ấy của Đức Kitô
Chúa chúng ta.
·
Điều sáu:
hướng trí nhớ và tư tưởng vào những
điều có thể gây sung sướng, hoan lạc và vui
mừng thiêng liêng, như sự vinh quang.
·
Điều bảy: Tận
dụng ánh sáng và những sự dễ chịu với
từng mùa, chẳng hạn sự mát mẻ trong mùa hạ,
họăc mặt trời và sự ấm áp trong mùa
đông, tùy theo mức độ mà linh hồn tưởng
có thể giúp ḿnh vui mừng trong Đấng tạo dựng và
cứu chuộc ḿnh.
·
Điều mười:
Thay v́ sự hăm ḿnh đền tội, hăy nhắm đến
sự tiết độ và trung dung trong mọi sự, khi
không phải là những thời điểm mà luật Giáo
Hội buộc ăn chay hay kiêng thịt, v́ những
luật ấy phải luôn luôn được giữ chu
đáo, trừ trường hợp ngăn trở chính
đáng.
Ghi chú: Trước
hết nên nhận xét hai điều:
Thứ nhất: T́nh yêu
phải diễn tả bằng việc làm hơn là bằng
lời nói.
231. Thứ hai: T́nh yêu
cốt ở sự trao đổi giữa hai bên, nghĩa
là người yêu trao tặng và truyền thông cho
người được yêu cái ǵ ḿnh có, hay một
phần những ǵ ḿnh có hoặc có thể cho, và
người được yêu đối lại với
người yêu cũng vậy. Như thế, nếu
người này có được kiến thức, sẽ
truyền dạy cho người kia; cả danh vọng hay
tiền của cũng thế; và người kia cũng
đối lại với người này như vậy.
KINH NGUYỆN: Kinh dọn
ḷng thường lệ.
232. TIỀN NGUYỆN I:
Đặt ḿnh vào khung cảnh. Ở đây là nh́n xem tôi đang
ở trước thánh nhan Thiên Chúa, Chúa chúng ta, trước
các thiên thần và các thánh đang cầu bầu cho tôi.
233. TIỀN NGUYỆN II:
Cầu xin điều tôi muốn. Ở đây là xin
được sự hiểu biết bên trong về
bấy nhiêu ơn lành đă lănh nhận; để với
ḷng biết ơn sâu xa, tôi có thể yêu mến và phụng
sự Chúa chí tôn trong mọi sự.
234. ĐIỂM THỨ
NHẤT:
Nhớ lại trong trí
những ơn lành đă lănh nhận: ơn tạo dựng,
ơn cứu chuộc và các ơn riêng. Cân nhắc với
thật nhiều cảm mến xem Thiên Chúa, Chúa chúng ta,
đă làm cho tôi biết bao nhiêu điều, đă ban cho tôi
biết bao nhiêu từ những ǵ Ngài có; sau nữa, Chúa
lại c̣n ước muốn ban chính ḿnh Ngài cho tôi bao nhiêu
có thể, theo kế hoạch của Ngài.
Tôi nghiền ngẫm trong
ḷng, suy xét theo đúng lẽ phải và sự công bằng
về điều tôi phải dâng hiến Ngài, về
phần tôi, nghĩa là, tất cả những ǵ tôi có cùng
với chính bản thân tôi nữa, như một
người dâng hiến với t́nh yêu tha thiết[40]:
"LẠY CHÚA, XIN
NHẬN LẤY TRỌN CẢ TỰ DO, TRÍ NHỚ, TRÍ
HIỂU VÀ TRỌN CẢ Ư MUỐN CỦA CON, CÙNG HẾT
THẢY NHỮNG G̀ CON CÓ VÀ NHỮNG G̀ THUỘC VỀ CON.
MỌI SỰ ẤY CHÚA
ĐĂ BAN CHO CON;
LẠY CHÚA, CON XIN DÂNG
LẠI CHÚA HẾT THẢY.
TẤT CẢ LÀ CỦA
CHÚA, XIN CHÚA SỬ DỤNG HOÀN TOÀN THEO Ư CHÚA.
CHỈ XIN BAN CHO CON
L̉NG MẾN CHÚA VÀ ÂN
SỦNG CHÚA,
V̀ ĐƯỢC NHƯ
THẾ LÀ ĐỦ CHO CON.”
235. ĐIỂM THỨ HAI:
Nh́n xem Thiên Chúa ngự trong thọ tạo như thế nào,
trong các nguyên tố bằng cách ban cho hiện hữu, trong
thảo mộc bằng cách ban cho sức tăng trưởng,
trong thú vật bằng cách ban cho cảm giác, trong loài
người bằng cách ban cho trí khôn; và như vậy trong
tôi bằng cách ban cho hiện hữu, làm cho tôi sống, làm
cho tôi có cảm giác và làm cho tôi hiểu biết. Cũng
vậy, xét xem Chúa đă làm tôi nên đền thờ của
Ngài như thế nào, v́ Ngài đă tạo dựng tôi nên
giống h́nh ảnh Tôn Nhan Ngài. Cũng suy nghĩ trong ḷng
theo cách đă chỉ ở điểm thứ nhất hay
cách nào khác tôi thấy tốt hơn. Về mỗi
điểm dưới đây cũng làm như vậy.
236. ĐIỂM THỨ BA: Suy
xét xem Thiên Chúa làm việc và hành động cho tôi như
thế nào trong mọi thọ tạo trên mặt
đất, nghĩa là Ngài xử sự theo cách một
người đang làm việc như thế nào, chẳng
hạn trên các tầng trời, trong các nguyên tố, thảo
mộc, hoa, thú vật v.v., bằng cách ban cho chúng hiện
hữu, giữ cho tồn tại, làm cho tăng
trưởng, và làm cho cảm giác v.v.. Đoạn suy nghĩ
trong ḷng.
237. ĐIỂM THỨ
BỐN: Xét xem mọi điều tốt lành và mọi
ơn riêng đều từ trên ban xuống như thế
nào, chẳng hạn quyền lực hữu hạn của
tôi, bởi quyền lực tối cao và vô hạn từ
trên và cả sự công bằng, ḷng nhân từ, hiền
hậu, thương xót v.v., như những tia sáng từ
mặt trời chiếu xuống, như nước trong
nguồn chảy ra v.v.. Rồi kết thúc bằng cách suy
nghĩ trong ḷng như đă nói. Kết thúc bằng một
cuộc tâm sự và một kinh Lạy Cha.
I. VỀ CÁC ĐIỀU
RĂN
Cách
cầu nguyện thứ nhất về mười
điều răn, bảy mối tội đầu, ba tài
năng của linh hồn, và năm giác quan của thể
xác. Cách cầu nguyện này nhằm cho một khuôn khổ,
một phương pháp và những bài tập giúp linh
hồn dọn ḿnh và tiến tới trong các cuộc
luyện tập và để việc cầu nguyện
được chấp nhận, hơn là cho một thể
thức hay một phương pháp cầu nguyện.
239. [ĐIỀU PHỤ THÊM]
Trước
hết làm một điều tương đương
với điều phụ thêm thứ hai của tuần
thứ hai, nghĩa là trước khi bước vào cầu
nguyện, để cho tinh thần được nghỉ
ngơi một chút, như ngồi hay đi tản bộ
tùy thấy đàng nào tốt hơn, rồi xét xem ḿnh đi
đâu và để làm ǵ. Trong cách cầu nguyện nào ta
cũng phải làm điều phụ thêm này lúc bắt
đầu.
240. KINH NGUYỆN: Một
kinh dọn ḷng, chẳng hạn xin ơn Thiên Chúa, Chúa chúng
ta, để có thể nhận biết tôi đă lỗi ǵ
về mười điều răn, và cũng xin ơn và
sự trợ giúp để sửa ḿnh từ này về sau;
xin được hiểu biết tường tận các
điều răn, hầu tuân giữ kỹ hơn
để làm vinh danh và ca tụng Chúa chí tôn hơn.
241. CÁCH CẦU NGUYỆN
THỨ NHẤT
Theo
cách thứ nhất, nên đem trí suy xét về điều
răn thứ nhất, xem tôi đă tuân giữ điều
răn ấy thế nào, và đă lỗi phạm
điều ǵ. Lấy nguyên tắc là ngừng ở
việc suy xét này một thời gian bằng đọc ba
kinh Lạy Cha và ba kinh Kính Mừng, và nếu trong thời
gian ấy tôi xét thấy những lỗi đă phạm, tôi
xin ơn miễn xá và tha thứ về những lỗi
đó, rồi đọc một kinh Lạy Cha. Cứ làm
như vậy về mỗi điều trong mười
điều răn.
242. GHI CHÚ THỨ
NHẤT: Nên chú ư rằng khi ai suy nghĩ về một
điều răn mà thấy ḿnh không hề có thói quen
lỗi phạm bao giờ, th́ không cần ngừng lại
đó lâu như thế. Nhưng tùy như thấy ḿnh
vấp phạm nhiều hay ít về một điều
răn nào, th́ phải ngừng lại lâu hay chóng để
suy nghĩ và xét kỹ về điều ấy. Đối
với các mối tội đầu cũng làm như
vậy.
243. GHI CHÚ THỨ HAI: Sau
khi đă suy xét như vậy về các điều răn,
cáo ḿnh về những điều lỗi phạm và xin
ơn cùng sự trợ giúp để sửa ḿnh từ này
về sau, rồi kết thúc bằng một cuộc tâm
sự với Thiên Chúa, Chúa chúng ta, theo đề tài suy
niệm.
244. II. VỀ BẢY
MỐI TỘI ĐẦU
Về
bảy mối tội đầu, sau điều phụ
thêm, đọc kinh dọn ḷng theo cách đă nói, chỉ khác
điều này: ở đây là về tội phải tránh,
c̣n trước kia là về các điều răn phải
giữ. Cũng theo cùng trật tự và những qui tắc
đă chỉ, rồi làm cuộc tâm sự.
245. Để biết rơ
hơn những lỗi phạm về bảy mối
tội đầu, ta nh́n vào những nhân đức trái
ngược với chúng; cũng vậy để dễ
tránh các tội đó hơn, ta quyết tâm và cố gắng
đạt được và nắm giữ bảy nhân
đức trái ngược với chúng bằng những
việc tập luyện thánh thiện.
246. III. VỀ CÁC TÀI
NĂNG CỦA LINH HỒN
PHƯƠNG PHÁP: Về
ba tài năng linh hồn, cũng giữ cùng trật tự
và quy tắc như về các điều răn: làm
điều phụ thêm, kinh dọn ḷng và cuộc tâm sự.
247. IV. VỀ NGŨ QUAN
PHẦN XÁC
PHƯƠNG PHÁP: Về
ngũ quan phần xác, cũng vẫn theo trật tự
như trên, trong khi thay đổi đề tài.
248. GHI CHÚ: Ai muốn
bắt chước Đức Kitô, Chúa chúng ta, trong việc dùng
ngũ quan, th́ trong kinh dọn ḷng, hăy phó thác ḿnh cho Chúa Chí
Tôn. Sau khi suy xét về mỗi giác quan, đọc một
kinh Kính Mừng hay một kinh Lạy Cha.
Ai muốn bắt
chước Đức Mẹ trong việc dùng ngũ quan, th́
trong kinh dọn ḷng, hăy phó thác ḿnh cho Người để
Người xin ơn đó nơi Con và Chúa Người cho.
Sau khi suy xét về mỗi giác quan, đọc một kinh Kính
Mừng.
CHIÊM NIỆM Ư NGHĨA
TỪNG LỜI CỦA MỘT KINH
250. ĐIỀU PHỤ THÊM:
Trong cách cầu nguyện thứ hai này, cũng giữ
điều phụ thêm như trong cách cầu nguyện
thứ nhất.
251. KINH NGUYỆN: Kinh
dọn ḷng được thích ứng cho phù hợp với
Đấng mà ta cầu nguyện.
252. CÁCH CẦU NGUYỆN
THỨ HAI
Qùy
hay ngồi, tùy tư thế nào hợp với ta hơn và
giúp sốt sắng hơn, nhắm mắt lại hay nh́n
chăm chú vào một điểm nào, không để mắt
liếc nh́n chỗ này hay chỗ nọ, rồi đọc
"Lạy Cha,” và ngừng lại suy xét lời đó bao
lâu ta c̣n thấy những ư nghĩa, những sự so sánh, ư
vị và an ủi khi suy xét về lời đó. Làm
tương tự với từng lời trong kinh Lạy
Cha hay kinh nào khác mà ta muốn nguyện theo thể thức
đó.
253. QUY TẮC I: Theo
thể thức đă nói, sẽ lưu lại một
giờ trong toàn thể kinh Lạy Cha; xong kinh này, ta
đọc kinh Kính Mừng, kinh Tin Kính, kinh Lạy Hồn
Chúa Kitô, kinh Lạy Nữ Vương, đọc ra
tiếng hay thầm trong trí theo cách quen làm.
254. QUY TẮC II: Khi chiêm
niệm về Kinh Lạy Cha, nếu trong một hay hai
lời mà thấy đủ đề tài để suy
tưởng cùng ư vị và sự an ủi, th́ đừng
lo tiến xa hơn, dù có để hết cả một
giờ vào điều ta gặp thấy đó cũng
được. Khi hết giờ, đọc hết
phần c̣n lại của Kinh Lạy Cha theo cách quen làm.
255. QUY TẮC III: Nếu
ta đă lưu lại cả một giờ ở một
hay hai lời trong Kinh Lạy Cha, rồi ngày khác muốn
trở lại kinh đó, th́ đọc một hay hai
lời đó như thường, rồi tới lời
tiếp theo, ta bắt đầu chiêm niệm như đă
nói ở quy tắc thứ hai.
256. GHI CHÚ THỨ
NHẤT: Nên để ư rằng, khi đă chiêm niệm xong
Kinh Lạy Cha trong một hay nhiều ngày, ta sẽ làm theo
cùng một cách thức như vậy với kinh Kính
Mừng, rồi với các kinh khác. Như thế trong
suốt một khoảng thời gian nào đó, ta luôn
tập luyện theo một trong các kinh đó.
257. GHI CHÚ THỨ HAI:
Cầu nguyện như vậy xong, ta hướng về
Đấng mà ta đă cầu nguyện, và bằng một vài
lời vắn tắt, xin những nhân đức hay những
ơn ta cảm thấy cần đến nhiều hơn.
ĐIỀU PHỤ THÊM:
Điều phụ thêm cũng như trong cách cầu nguyện
thứ nhất và thứ hai.
KINH NGUYỆN: Kinh dọn
ḷng như trong cách cầu nguyện thứ hai.
CÁCH CẦU NGUYỆN
THỨ BA: Trong mỗi hơi thở, ta nguyện thầm
trong trí bằng cách đọc một lời trong Kinh
Lạy Cha hay một kinh nào khác mà ta đọc; làm sao để
giữa hai hơi thở chỉ đọc có một
lời, và trong khoảng từ hơi thở này đến
hơi thở khác, tập trung vào nh́n ngắm ư nghĩa
của lời đó hay Đấng mà ta cầu xin, sự
thấp hèn của chính ḿnh hay sự khác biệt giữa
sự cao cả của Đấng ấy với sự thấp
hèn của ḿnh. Cứ theo cùng cách thức và quy tắc
ấy về các lời khác của kinh Lạy Cha. Rồi
đọc các kinh khác, như kinh Kính Mừng, Lạy
hồn Chúa Kitô, Tin Kính và Lạy Nữ Vương như
đă quen.
259. QUY TẮC I: Ngày hôm
sau hay vào một giờ cầu nguyện khác, đọc
kinh Kính Mừng theo nhịp thở, rồi đọc các
kinh khác như đă quen, rồi sau cứ làm như thế
về các kinh khác.
260. QUY TẮC II: Ai muốn
cầu nguyện theo nhịp lâu hơn nữa, có thể
đọc tất cả các kinh kể trên hay một
phần các kinh đó bằng cách đọc theo nhịp
thở như đă chỉ dẫn.
Ghi chú. Nên biết rằng trong tất cả các mầu
nhiệm sau đây, những lời để trong ngoặc
( ) là chính lời trong sách Phúc Âm, c̣n những lời ở
ngoài th́ không phải; trong mỗi mầu nhiệm phần
lớn sẽ gặp thấy ba điểm để giúp
suy niệm và chiêm ngắm dễ hơn.
262. VỀ VIỆC BÁO TIN
CHO ĐỨC BÀ, THÁNH LUCA VIẾT Ở CHƯƠNG THỨ
NHẤT, c.26-38
1. Điểm thứ nhất là thánh thiên thần Gabriel,
khi chào Đức Bà th́ cho Đức Bà biết việc thụ thai
Đức Kitô Chúa chúng ta: (thiên thần vào nơi Đức Maria
đang ở, chào rằng: kính chào bà, bà đầy ân phúc; bà
sẽ thụ thai và sẽ sinh ra một người con
trai).
2.
Điểm thứ hai: thiên
thần dẫn việc bà Elisabeth mang thai thánh Gioan Baotixita
để củng cố lời đă nói với Đức Bà,
thiên thần nói: (Ḱa xem, bà Elisabeth, họ hàng của bà,
tuy già rồi mà cũng đă có thai một đứa con
trai).
3. Điểm thứ ba: Đức Bà trả lời thiên thần:
(Này tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin cứ thể
hiện nơi tôi như lời Ngài đă nói).
263. VỀ VIỆC ĐỨC BÀ ĐI
VIẾNG BÀ ELISABETH, THÁNH LUCA KỂ Ở CHƯƠNG
THỨ NHẤT, c.39-56.
1.
Điểm thứ
nhất: khi Đức Bà thăm viếng bà Elisabeth, thánh Gioan
Baotixita, tuy c̣n trong ḷng mẹ, đă nhận ra Đức Bà
đến viếng thăm: (Và khi bà Elisabeth nghe tiếng
Đức Bà chào th́ thai nhi trong ḷng bà đă nhảy mừng, c̣n
bà Elisabeth được đầy Thánh Thần, lớn
tiếng kêu lên rằng: bà có phúc hơn mọi người
nữ, và phúc thay người con trong ḷng bà).
2.
Điểm thứ hai:
Đức Bà hát bài ca rằng: (Linh hồn tôi ngợi khen
Chúa).
3. Điểm thứ ba: (Bà Maria ở lại với bà
Elisabeth độ ba tháng, rồi trở về nhà ḿnh).
264. VỀ VIỆC ĐỨC KITÔ
CHÚA CHÚNG TA SINH RA, THÁNH LUCA KỂ Ở CHƯƠNG THỨ
HAI, c.1-14.
1. Điểm thứ nhất: Đức Bà cùng với
bạn của ngài là thánh Giuse đi từ Nazareth
đến Belem: (Ông Giuse từ Galilê đi lên Belem,
để tỏ sự tuân phục hoàng đế, cùng
với Maria là bạn và vợ của ông đang mang thai).
2. Điểm thứ hai: (Đức Bà sinh Con Trai đầu
ḷng, lấy tă bọc con và đặt nằm trong máng
cỏ).
3. (Đạo binh trên trời đông đúc xuất
hiện và nói rằng: vinh danh Thiên Chúa trên trời).
265. VỀ CÁC NGƯỜI
CHĂN CHIÊN, THÁNH LUCA KỂ Ở CHƯƠNG THỨ HAI, c.
8-20
1. Điểm thứ nhất: việc Đức Kitô Chúa
chúng ta sinh ra được thiên thần tỏ cho các
người chăn chiên: (Tôi báo cho anh em một tin
rất vui mừng, v́ hôm nay Đấng Cứu Thế dă sinh
ra).
2. Điểm thứ hai: các người chăn chiên
đi sang Belem: (Họ vội vă tới nơi, họ
thấy Đức Maria với ông Giuse và hài nhi đặt
nằm trong máng cỏ).
3. Điểm thứ ba: (các người chăn chiên
trở về, vừa đi vừa tôn vinh và ngợi khen
Chúa).
266. VỀ VIỆC CẮT B̀,
THÁNH LUCA VIẾT Ở CHƯƠNG HAI, c.21
1. Điểm thứ nhất: họ cắt b́ cho Hài Nhi
Giêsu.
2. Điểm thứ hai: (họ đặt tên cho Hài Nhi
là Giêsu, tên mà thiên thần đă gọi trước khi
Người thành thai trong bụng mẹ).
3. Họ trao Hài Nhi lại cho Mẹ Người,
Mẹ cảm thương v́ thấy máu con ḿnh chảy ra.
267. VỀ BA VUA CHIÊM TINH, THÁNH
MATTHÊU VIẾT TRONG CHUƠNG THỨ HAI, c.1-12.
1. Điểm thứ nhất: ba vua được ngôi
sao dẫn đường, đến thờ lạy Chúa
Giêsu, họ nói: (chúng tôi đă thấy ngôi sao của
Người bên phương đông và chúng tôi đến
thờ lạy Người).
2. Điểm thứ hai: họ thờ lạy và dâng
lễ vật: (Họ sấp ḿnh thờ lạy và dâng
lễ vật, vàng, hương và mộc dược).
3. (Trong giấc ngủ họ được trả
lời cho biết đừng trở lại gặp
Hêrođê, và họ đi đường khác mà về
xứ ḿnh).
268. VỀ VIỆC THANH TẨY
CỦA ĐỨC BÀ VÀ VIỆC DÂNG HÀI NHI GIÊSU, THÁNH LUCA VIẾT
TRONG CHƯƠNG THỨ HAI, c.22-39.
1. Điểm thứ nhất: các ngài đem Hài Nhi Giêsu lên
đền thờ để Hài Nhi được dâng cho
Chúa như con đầu ḷng, và các ngài dâng thay cho Hài Nhi (một
đôi chim gáy hay một cặp bồ câu non).
2. Điểm thứ hai: ông Simêon vào đền thờ
(ẵm Hài Nhi trong tay), ông nói: (Lạy Chúa, giờ đây xin
cho tôi tớ Chúa ra đi b́nh an).
3. Điểm thứ ba: bà Anna (tới sau, bà tuyên xưng
Chúa và nói về Người với tất cả những
ai đang trông đợi ơn cứu độ của
Israel).
269. VỀ VIỆC TRỐN SANG
AI-CẬP, THÁNH MATTHÊU VIẾT TRONG CHƯƠNG THỨ HAI,
c.13-18.
1. Điểm thứ nhất: Hêrođê muốn giết
Hài Nhi Giêsu nên đă giết các trẻ vô tội, và
trước khi các trẻ bị giết th́ thiên thần
đă báo tin cho ông Giuse để trốn sang Ai-Cập: (Hăy
trỗi day, đem Hài Nhi và Mẹ Người trốn sang
Ai-cập).
2. Điểm thứ hai: người lên đường
sang Ai-cập (Đang đêm Ông Giuse trỗi dạy lên
đường sang Ai-cập).
3. Điểm thứ ba: (người ở lại đó
cho tới khi Hêrođê qua đời).
270. VỀ VIỆC ĐỨC KITÔ
CHÚA CHÚNG TA TỪ AI CẬP TRỞ VỀ, THÁNH MATTHÊU
VIẾT TRONG CHƯƠNG THỨ HAI, c.19-23.
1. Điểm thứ nhất: thiên thần báo cho ông Giuse
biết để trở về Israel: (Hăy trỗi
dậy, đem Hài Nhi và Mẹ người đi về
Israel).
2. Điểm thứ hai: (Người trỗi dậy
đi về Israel).
3. Điểm thứ ba: v́ Ac-khê-lao, con của Hêrođê
cai trị xứ Giuđa, nên người lui về Nazareth.
271. VỀ ĐỜI SỐNG
CỦA ĐỨC KITÔ CHÚA CHÚNG TA TỪ NĂM MƯỜI HAI
TUỔI TỚI NĂM BA MƯƠI TUỔI, THÁNH LUCA
VIẾT TRONG CHƯƠNG THỨ HAI, c.51-52.
1. Điểm thứ nhất: người đă vâng
phục cha mẹ.
2. Điểm thứ hai: (Người thêm khôn ngoan,
tuổi tác và ân sủng).
3. Điểm thứ ba: H́nh như Người tập
nghề thợ mộc, như thánh Marcô diễn tả trong
chương thứ sáu: (Ông ta chẳng phải là chú
thợ mộc đó sao?)
272. VỀ VIỆC ĐỨC KITÔ
CHÚA CHÚNG TA LÊN ĐỀN THỜ NĂM MUỜI HAI TUỔI, THÁNH
LUCA VIẾT TRONG CHƯƠNG THỨ HAI, c.41-50.
1. Điểm thứ nhất: Đức Kitô Chúa chúng ta,
mười hai tuổi, từ Nazareth lên Giêrusalem.
2. Điểm thứ hai: Đức Kitô Chúa chúng ta ở
lại Giêrusalem mà cha mẹ không biết.
3. Điểm thứ ba: hết ba ngày, cha mẹ t́m
thấy Người đang tranh luận ở trong
đền thờ, ngồi giữa các bậc thầy, và
khi cha mẹ hỏi Người đă ở đâu th́
Người trả lời: (cha mẹ không biết
rằng con phải lo việc của cha con sao?).
273. VỀ VIỆC ĐỨC KITÔ
CHÚA CHÚNG TA CHỊU PHÉP RỬA NHƯ THẾ NÀO, THÁNH MATTHÊU
VIẾT TRONG CHƯƠNG THỨ BA, c.13-17.
1. Điểm thứ nhất: Đức Kitô Chúa chúng ta, sau
khi từ giă người mẹ diễm phúc của ḿnh,
đến sông Giođan, nơi thánh Gioan Baotixita đang
ở.
2. Điểm thứ hai: Thánh Gioan Baotixita làm phép rửa
cho Đức Kitô Chúa chúng ta, và khi ông muốn từ chối v́
nghĩ ḿnh không xứng đáng để làm phép rửa cho
Người, th́ Đức Kitô bảo ông rằng: (Bây
giờ cứ làm việc này đi, v́ chúng ta phải hoàn
thành tất cả sự công chính).
3. Điểm thứ ba: (Thánh Thần đến và
tiếng Chúa Cha từ trời quả quyết: Đây là Con yêu
dấu của Ta, Ta rất hài ḷng về Người).
274. VỀ VIỆC ĐỨC KITÔ
CHÚA CHÚNG TA CHỊU CÁM DỖ NHƯ THẾ NÀO, THÁNH LUCA
VIẾT Ở CHƯƠNG THỨ TƯ, c.1-13 VÀ THÁNH MATTHÊU,
CHƯƠNG THỨ TƯ, c. 1-11.
1. Điểm thứ nhất: sau khi chịu phép rửa,
Người vào hoang địa, ở đó Người
ăn chay bốn mươi ngày và bốn mươi
đêm.
2. Điểm thứ hai: Người chịu kẻ thù
cám dỗ ba lần: (Tên cám dỗ đến gần
Người mà nói với Người: Nếu ông là Con Thiên
Chúa, hăy bảo những cục đá này trở thành bánh ḿ
đi; hăy đứng đây mà lao xuống đi; tất
cả những ǵ ông thấy đó, tôi sẽ cho ông, nếu
ông sấp ḿnh thờ lạy tôi).
3. Điểm thứ ba: (các thiên thần đến
hầu hạ Người).
275. VIỆC KÊU GỌI CÁC TÔNG
ĐỒ.
1. Điểm thứ nhất: có vẻ như thánh Phêrô và
thánh Anđrê được gọi ba lần: lần
thứ nhất để biết một chút; điều
này thấy rơ trong thánh Gioan, chương thứ nhất;
lần thứ hai để theo Đức Kitô một cách nào
đó với ư định trở lại sở hữu
những ǵ đă bỏ, như thánh Luca nói ở
chương thứ năm; lần thứ ba để theo
Đức Kitô Chúa chúng ta một cách vĩnh viễn, thánh Matthêu
[viết] trong chương thứ tư, và thánh Marcô, trong
chương thứ nhất.
2. Điểm thứ hai: Người gọi Philipphê,
như trong chương thứ nhất của thánh Gioan, và
Matthêu, như chính Matthêu nói trong chương thứ chin.
3. Điểm thứ ba, Người gọi các tông
đồ khác mà Phúc Âm không kể riêng việc Chúa gọi
mỗi vị.
Cũng nên suy xét ba
điều nữa: điều thứ nhất, các tông
đồ là những người thuộc tầng lớp
quê mùa và thấp hèn; điều thứ hai, chức vị
mà các ngài được gọi lănh nhận một cách ngot
ngào như thế; điều thứ ba, những ân huệ
và ân sủng nhờ đó các ngài được nâng lên trên
tất cả các tổ phụ trong tân ước và cựu
ước.
276. VỀ PHÉP LẠ
THỨ NHẤT CHÚA LÀM TRONG TIỆC CƯỚI Ở
1. Điểm thứ nhất: Đức Kitô Chúa chúng ta
được mời dự tiệc cưới cùng
với các môn đệ của Người.
2. Điểm thứ hai: Đức Mẹ bảo cho Con
biết việc thiếu rượu, người nói: (họ
không c̣n rượu); và người truyền cho các
kẻ giúp việc: (Người bảo làm ǵ th́ cứ
làm nhé).
3. Điểm thứ ba: (Người biến
nước lă thành rượu, và người tỏ vinh
quang của người, và các môn đệ của
người tin vào người).
277. VỀ VIỆC ĐỨC KITÔ
ĐUỔI NHỮNG NGƯỜI BUÔN BÁN RA KHỎI ĐỀN
THỜ, THÁNH GIOAN VIẾT, CHƯƠNG HAI, c.13-22.
1. Điểm thứ nhất: Người đuổi
tất cả những kẻ buôn bán ra khỏi đền
thờ với một cái roi kết bằng dây.
2. Điểm thứ hai: Người lật đổ
bàn và tiền bạc của những kẻ đổi
tiền giàu có đang ở trong đền thờ.
3. Điểm thứ ba: với những người
nghèo đang bán bồ câu th́ Người dịu dàng bảo:
(Hăy đem những thứ này ra khỏi đây và
đừng muốn biến nhà ta thành nhà bán hàng).
278. VỀ BÀI ĐỨC KITÔ
GIẢNG TRÊN NÚI, THÁNH MATTHÊU VIẾT TRONG CHƯƠNG THỨ
NĂM.
1.
Điểm thứ
nhất: Người nói riêng với các môn đệ yêu
dấu của Người về các mối phúc: (phúc thay
những người có tinh thần nghèo khó, những
người hiền lành, những người có ḷng
thương xót, những người khóc lóc, những
người đói khát sự công chính, những
người có ḷng thanh sạch, những người xây
dựng ḥa b́nh và những người chịu bách hại).
2.
Điểm thứ hai:
Người khuyên bảo họ sử dụng các tài
năng của ḿnh cho đúng: (Như thế ánh sáng của
anh em sẽ tỏa ra trước mặt người ta,
để họ thấy các việc lành của anh em và tôn
vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời).
3.
Điểm thứ ba:
Người tỏ ra Người không phải là kẻ vi
phạm lụật, nhưng là Đấng hoàn tất, khi tuyên
bố điều răn chớ giết người,
chớ gian dâm, chớ thề gian và hăy yêu mến kẻ thù:
(Tôi bảo anh em rằng hăy yêu mến kẻ thù và làm
ơn lành cho những người ghét anh em).
279. VỀ VIỆC ĐỨC KITÔ
CHÚA CHÚNG TA DẸP YÊN BĂO TỐ TRÊN BIỂN NHƯ THẾ
NÀO, THÁNH MATTHÊU VIẾT, CHƯƠNG THỨ TÁM, c.23-27.
1. Điểm thứ nhất, Đức Kitô Chúa chúng ta
đang ngủ ở trên biển th́ một cơn băo
lớn nổi lên.
2. Điểm thứ hai: các môn đệ của
Người hoảng sợ, đánh thức Người
day, Người quở trách họ v́ họ kém ḷng tin,
Người bảo họ: (Hỡi những kẻ kém
long tin, sao lại sợ hăi?).
3. Điểm thứ ba: Người truyền cho gió và
biển phải ngưng, và thế là gió ngưng, biển
lặng, người ta ngạc nhiên về việc đó,
họ nói: (Người này là ai mà gió và biển cũng
vâng phục?).
280.
VỀ VIỆC ĐỨC
KITÔ ĐI TRÊN BIỂN NHƯ THẾ NÀO, THÁNH MATTHÊU VIẾT,
CHƯƠNG THỨ MƯỜI BỐN, c.22-33.
1. Điểm thứ nhất:Đức Kitô Chúa chúng ta
đứng trên núi, Người bảo các môn đệ
xuống thuyền, rồi sau khi từ bịêt đám
đông, Người bắt đầu cầu nguyện
một ḿnh.
2. Điểm thứ hai: con thuyền nhỏ bị sóng
đánh, Đức Kitô đi trên biển mà đến gần
thuyền, và các môn đệ tưởng là ma.
3. Điểm thứ ba: Đức Kitô bảo họ: (Thầy
đây mà, đừng có sợ). Thánh Phêrô, theo lệnh
của Người, đi trên mặt nước mà
đến với Người, ông nghi ngờ nên bắt
đầu ch́m, nhưng Đức Kitô Chúa chúng ta cứu ông, và
quở trách ông v́ kém ḷng tin, rồi Người bước
lên thuyền và gió liền ngưng.
281. VỀ VIỆC CÁC TÔNG ĐỒ
ĐƯỢC SAI ĐI RAO GIẢNG NHƯ THẾ NÀO, THÁNH MATTÊU
VIẾT, CHƯƠNG THỨ MƯỜI, c.1-16.
1. Điểm thứ nhất: Đức Kitô Chúa chúng ta
gọi các môn đệ yêu dấu của Người, và
trao cho họ quyền xua đuổi quỉ ra khỏi thân
xác người ta và chữa lành mọi bệnh tật.
2. Điểm thứ hai: Người dạy họ
về sự khôn ngoan và sự kiên nhẫn: (Này đây
Thầy sai anh em đi như chiên vào giữa sói rừng; v́
thế, hăy khôn ngoan như con rắn, và đơn sơ
như bồ câu).
3. Điểm thứ ba: Người bảo họ cách
thức đi rao giảng: (Đừng muốn có vàng hay
bạc; cái ǵ anh em nhận được nhưng không, th́
hăy cho đi nhưng không); Người cho họ chất
liệu để rao giảng: (Đang khi đi hăy giảng
rằng: nước trời đă tới gần).
282. VỀ SỰ HOÁN CẢI
CỦA BÀ MADALENA, THÁNH LUCA VIẾT, CHƯƠNG THỨ
BẢY, c.36-50.
1. Điểm thứ nhất: bà Mađalena vào nơi
Đức Kitô Chúa chúng ta đang ngồi dự tiệc trong nhà
người Pharisêu, bà mang theo một b́nh bạch ngọc
đầy dầu thơm.
2. Điểm thứ hai: bà ở phía sau lưng, bên chân
Chúa, bà bắt đầu lấy nước mắt
tưới ướt chân Người, lấy tóc mà lau, bà
hôn chân Người và lấy dầu thơm mà đổ lên
chân Người.
3. Điểm thứ ba: khi người pharisêu cáo tội
bà Mađalena, Đức Kitô lên tiếng bênh vực bà,
Người nói: (chị ấy được tha nhiều
tội v́ đă yêu mến nhiều; và Người nói
với người đàn bà: ḷng tin của chị đă
cứu chị, hăy đi b́nh an).
283. ĐỨC KITÔ CHÚA CHÚNG TA CHO
NĂM NGÀN NGƯỜI ĂN NHƯ THẾ NÀO, THÁNH MATTHÊU
VIẾT, CHƯƠNG THỨ MƯỜI BỐN, c. 13-21.
1. Điểm thứ nhất: v́ trời đă muộn,
các môn đệ xin Đức Kitô giải tán đám đông
đang ở với Người.
2. Điểm thứ hai: Đức Kitô Chúa chúng ta truyền
đem bánh đến cho Người, Người
truyền cho người ta ngồi để ăn,
rồi Người chúc tụng, bẻ bánh ra và trao cho các
môn đệ của Người, và các môn đệ trao cho
đám đông.
3. Điểm thứ ba: (Họ đă ăn và
được no nê, rồi c̣n dư mười hai thúng).
284. VỀ VIỆC ĐỨC KITÔ
BIẾN H̀NH, THÁNH MATTHÊU VIẾT, CHƯƠNG THỨ
MƯỜI BẢY, c.1-9.
1. Điểm thứ nhất: Đức Kitô Chúa chúng ta
đem theo các môn đệ yêu dấu của Người là
Phêrô, Giacôbê và Gioan, Người biến h́nh, mặt
Người sáng như mặt trời và áo người
như tuyết.
2. Điểm thứ hai: Người nói với Môsê và
Êlia.
3. Khi thánh Phêrô nói xin làm 3 cái lều, th́ tiếng
từ trời vọng xuống rằng: (Đây là con yêu
dấu của Ta, hăy nghe lời Người); khi nghe
tiếng ấy, các môn đệ sợ hăi sấp mặt
xuống, Đức Kitô Chúa chúng ta chạm tới họ và
bảo họ: (Trỗi dây và đừng sợ;
đừng nói với ai thị kiến này cho tới khi Con
Người sống lại).
285. VỀ VIỆC LAZARÔ SỐNG
LẠI, THÁNH GIOAN, CHƯƠNG THỨ MƯỜI MỘT,
c.1-45.
1. Điểm thứ nhất: Marta và Maria báo cho Đức
Kitô Chúa chúng ta biết cơn bệnh của Lazarô, khi đă
biết việc này Người c̣n nán lại hai ngày
để phép lạ hiển nhiên hơn.
2. Điểm thứ hai: trước khi cho Lazarô sống
lại, Người đ̣i cả hai chị em phải tin,
Người nói: (Thầy là sự sống lại và là
sự sống; ai tin vào Thầy, dù đă chết, cũng
sẽ sống).
3. Điểm thứ ba: sau khi đă khóc và cầu
nguyện, Người cho ông ấy sống lại, và cách
thức cho ông ấy sống lại là truyền lệnh: (Lazarô,
ra ngoài này).
286. VỀ BỮA TIỆC
TẠI BÊTANIA, MATTHÊU, CHƯƠNG HAI MƯƠI MỐT,
c.6-10
1. Điểm thứ nhất: Chúa ăn tiệc ở nhà
ông Simon cùi, cùng với Lazarô.
2. Điểm thứ hai: Maria đổ dầu thơm
lên đầu Đức Kitô.
3. Điểm thứ ba: Giuđa lẩm bẩm rằng:
(Sao lại phí dầu thơm như thế?); nhưng
Người bênh vực Madalena một lần nữa
rằng: Sao lại gây sự với người phụ
nữ này, v́ chị ấy đă làm một việc nghĩa
cho tôi?).
287. CHÚA NHẬT RƯỚC LÁ,
MATTHÊU, CHƯƠNG HAI MƯƠI MỐT, c.1-17.
1. Điểm thứ nhất: Chúa sai đi dắt con
lừa mẹ và lừa con, Người nói: (hăy cởi dây
cho chúng và dắt về đây cho Thầy; nếu có ai nói ǵ
với anh em th́ cứ bảo rằng Chúa cần, và lập
tức họ sẽ để cho dắt).
2. Điểm thứ hai: Người ngồi lên lưng
con lừa đă được phủ bằng áo của
các tông đồ.
3. Điểm thứ ba: người ta ra đón
Người, lấy áo và cành lá trải lên đường
và hô rằng: Lạy Con Vua Đavit, xin cứu chúng tôi; chúc
tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến, xin cứu chúng tôi
từ trời cao).
288. VỀ VIỆC RAO GIẢNG
TRONG ĐỀN THỜ, LUCA, CHƯƠNG MƯỜI CHÍN, c.
47-48
1. Điểm thứ nhất: hàng ngày Người
giảng dạy trong đền thờ.
2. Điểm thứ hai: khi giảng xong, v́ không có ai
đón tiếp Người tại Giêrusalem, Người
trở về Bêtania.
289. VỀ BỮA TIỆC LY,
MATTHÊU, CHƯƠNG HAI MƯƠI SÁU, c. 20-30; GIOAN,
CHƯƠNG MƯỜI BA, c.1-30.
1.
Điểm thứ
nhất: Người ăn thịt chiên vượt qua cùng
với các tông đồ, Người báo trước cho các
ông biết cuộc khổ nạn của Người: (Thầy
bảo thật anh em rằng một người trong anh em
phải bán Thầy).
2.
Điểm thứ hai:
người rửa chân cho các môn đệ, kể cả
Giuđa, bắt đầu từ Thánh Phêrô, ông này nghĩ
đến sự uy nghi của Chúa và sự thấp hèn của
ḿnh, th́ không muốn chấp nhận, ông nói: (Lạy Chúa,
Chúa mà lại rửa chân cho con sao?); nhưng Thánh Phêrô
không biết rằng qua việc này Chúa làm gương khiêm
nhường, và v́ thế Người nói: (Thầy làm
gương cho anh em để anh em làm như Thầy đă
làm).
3.
Điểm thứ ba:
Người lập hy lễ tạ ơn cực thánh, làm
dấu hiệu lớn nhất của t́nh yêu, Người
nói: (Hăy cầm lấy và ăn). Sau bữa tiệc,
Giuđa đi ra để bán Đức Kitô Chúa chúng ta.
290.
VỀ CÁC MẦU
NHIỆM XẢY RA TỪ BỮA TIỆC LY ĐẾN HẾT
VƯỜN CÂY DẦU, MATTHÊU, CHƯƠNG HAI MƯƠI
SÁU, c.30-46; VÀ MARCÔ, CHƯƠNG MƯỜI BỐN, c.26-42.
1. Điểm thứ nhất: sau khi ăn tiệc và hát
thánh vịnh xong, Chúa đi ra núi Cây Dầu cùng với các môn
đệ đang đầy sợ hăi: và Người
để tám người lại trong vườn Giethsemani,
Người nói: (Hăy ngồi đây chờ Thầy đi
tới đàng kia cầu nguyện).
2. Điểm thứ hai: có thánh Phêrô, Thánh Giacobê và Thánh
Gioan đi theo, Người cầu nguyện ba lần
với Thiên Chúa, Người nói: (Lạy Cha, nếu có
thể được, xin cho chén này rời khỏi con; tuy
nhiên, không phải ư con mà ư Cha phải thể hiện; và lâm
cơn hấp hối, Người cầu nguyện
khẩn thiết hơn).
3. Người cảm thấy kinh hăi đến
nỗi thốt lên: (Tâm hồn Thầy buồn
đến chết được); và Người
đổ mồ hôi máu đầm đ́a đến nỗi
Thánh Luca nói: (Mồ hôi Người như những
giọt máu chảy xuống đất), điều
ấy giả thiết là áo sống Người đă
đẫm máu.
291. VỀ NHỮNG MÀU NHIỆM
XẢY RA TỪ VƯỜN CÂY DẦU CHO TỚI HẾT
CHUYỆN XẢY RA Ở NHÀ ÔNG KHA-NAN, MATTHÊU, XXVI, c. 47-58;
LUCA, XXII, 47-57; MARCÔ, CHƯƠNG XIV, 43-68.
1. Điểm thứ nhất: Chúa để cho Giuđa
hôn, và để cho người ta bắt như bắt
một tên trộm cướp đang khi Người nói
với họ: (các anh đem gậy gộc và gươm
giáo ra bắt tôi, làm như thể tôi một tên trộm
cướp, hàng ngày tôi vẫn ở trong đền thờ
với các anh để dạy dỗ th́ các anh không
bắt); và khi Người nói: (Các anh t́m ai?), những
kẻ thù ngă xuống đất.
2. Điểm thứ hai: Thánh Phêrô đánh bị
thương một tên đầy tớ của
thượng tế, Chúa nhân hiền nói với ông: (Hăy
để gươm lại vào chỗ của nó), và
Người chữa vết thương của tên
đầy tớ.
3. Bị các môn đệ bỏ rơi, Người
bị điệu đến cho ông Kha-nan, ở đó Thánh
Phêrô, kẻ đă theo Người xa xa, chối
Người một lần, và Đức Kitô bị một cái
tát đang khi người ta nói với Người: (Ngươi
trả lời Thượng Tế như vậy đó
hả?).
292.VỀ CÁC MẦU NHIỆM
XẢY RA TỪ NHÀ ÔNG KHA-NAN ĐẾN HẾT CHUYỆN Ở
NHÀ ÔNG CAIPHA, MATTHÊU XXVI; MARCÔ XIV; LUCA, XXII; GIOAN,
CHƯƠNG XVIII.
1. Điểm thứ nhất: họ cứ để
Người bị trói mà điệu từ nhà ông Kha-nan qua
nhà ông Caipha, tại đó ông Phêrô chối Người hai
lần; và ông được Chúa nh́n (Ông ra ngoài khóc lóc
đau đớn).
2. Điểm thứ hai: Đức Giêsu bị trói suốt
đêm ấy.
3. Điểm thứ ba: thêm vào đó, những kẻ canh
giữ Người chế diễu Người, chúng
đánh Người, chúng che mặt Người rồi tát
Người; và chúng hỏi Người: (Nói tiên tri cho
chúng tôi biết ai vừa đánh ông thế; và chúng xúc
phạm đến Người bằng những
điều tương tự như thế).
292.VỀ NHỮNG MẦU
NHIỆM XẢY RA Ở NHÀ ÔNG CAIPHA CHO TỚI HẾT
CHUYỆN Ở DINH PHILATÔ, MATTHÊU, XXVII; LUCA,XXIII; MARCÔ, XV.
1.
Điểm thứ
nhất: tất cả đám đông người do thái
điệu Người tới cho Philatô, và trước
mặt ông, họ cáo tội Người rằng: (Chúng
tôi đă bắt gặp người này xúi giục dân chúng
tôi và cấm nộp thuế cho Xê-da).
2. Điểm thứ hai: sau khi Philatô đă xét hỏi
Người lần thứ nhất rồi lần thứ
hai, Philatô tuyên bố: (Ta không thấy người này có
lỗi ǵ cả).
3. Điểm thứ ba: Baraba, tên trộm cướp,
được coi trọng hơn Người: (Tất
cả lên tiếng: đừng tha người này, nhưng
tha Baraba).
294. VỀ CÁC MẦU NHIỆM
XẢY RA TỪ DINH PHILATÔ CHO TỚI HÉT CHUYỆN Ở DINH
HÊROĐÊ, LUCA, XIII, c. 6-11.
1. Điểm thứ nhất: Philatô gởi Đức Giêsu
người Galilê cho Hêrođê, thủ hiến xứ Galilê.
2. Điểm thứ hai: Hêrođê, ṭ ṃ, hỏi
Người nhiều điều; nhưng Người không
trả lời ǵ hết, dù những luật sĩ và tư
tế khăng khăng tố cáo Người.
3. Điểm thứ ba: Hêrođê cùng với lính tráng khinh
dể Người, mặc cho Người chiếc áo
trắng.
295. VỀ CÁC MẦUNHIỆM
XẢY RA TỪ DINH HEROĐÊ CHO TỚI HẾT CHUYỆN Ở
DINH PHILATÔ, MATTHÊU XXVII; LUCA, XXII; MARCÔ, XV, VÀ GIOAN, XIX
1. Điểm thứ nhất: Hêrođê gởi trả
Người lại cho Philatô, nhờ thế hai
người trước vẫn là kẻ thù của nhau
đă trở thành bạn hữu.
2. Điểm thứ hai: Philatô đem Đức Giêsu đi
và cho đánh đ̣n, và lính làm một măo gai, đội lên
đầu Người, mặc cho Người chiếc áo
đỏ rồi đến gần Người mà nói: (Tâu
vua người Do Thái); và chúng tát vào mặt Người.
3. Điểm thứ ba: (Philatô) đem Người ra
trước mặt mọi người: (Rồi Đức
Giêsu đi ra, đầu đội măo gai, ḿnh mặc áo
điều; và Philatô nói với họ: Người đây);
va khi thấy Người, các thượng tế cất
tiếng kêu lên rằng: (đóng đinh thập giá, đóng
đinh nó vào thập giá đi).
296. VỀ CÁC MẦU NHIỆM
XẢY RA TỪ DINH PHILATÔ CHO ĐẾN THẬP GIÁ, GIOAN XIX, c.
13-22.
1.
Điểm thứ
nhất: Philatô ngồi làm quan ṭa, trao Đức Giêsu cho họ
để họ đóng đinh vào thập giá, sau khi
người Do Thái chối bỏ không nhận Người
là vua, họ nói: (Chúng tôi không có vua nào ngoài Xê-da).
2. Điểm thứ hai: Người khom lưng vác
thập giá, và khi Người không thể vác nổi th́ ông
Simon người Kyrênê bị cưỡng bức vác
thập giá đi đàng sau Đức Giêsu.
3. Điểm thứ ba: họ đóng đinh
Người vào thập giá giữa hai kẻ trộm
cướp, và treo bản án này: (Giêsu Nadaret, vua người
Do Thái).
297. VỀ CÁC MẦU NHIỆM
XẢY RA TRÊN THẬP GIÁ, GIOAN XIX, c. 23-37.
1.
Điểm thứ
nhất: Người nói bảy lời trên thập giá:
cầu xin cho những kẻ đă đóng đinh
Người; tha thứ cho kẻ trộm cướp; trao
Thánh Gioan cho Mẹ Người, và trao Đức Mẹ cho Thánh
Gioan; Người nói lớn tiếng: (Tôi khát); và
họ cho Người mật đắng và dấm chua;
Người nói rằng Người bị bỏ rơi;
Người nói (Đă hoàn tất); Người nói: (Cha
ơi, con phó linh hồn con trong tay Cha)
2.
Điểm thứ hai:
mặt trời ra tối tăm; đá vỡ ra; mồ
mả mở tung; màn trong đền thờ xé làm đôi
từ trên xuống dưới.
3.
Điểm thứ ba:
họ nói phạm đến Người rằng: (Mi là
kẻ toan phá đền thờ Thiên Chúa; xuống khỏi
thập giá đi); áo của Người bị đem
chia phần; khi bị đâm bằng lưỡi đ̣ng;
cạnh sườn Người chảy nước và máu.
298. VỀ CÁC MẦU NHIỆM
XẢY RA TỪ THẬP GIÁ CHO TỚI HẾT CÁC VIỆC
Ở MỘ, CÙNG NƠI SÁCH ĐĂ DẪN.
1. Điểm thứ nhất: Người
được ông Giuse và ông Nicôđemô đưa xuống
khỏi thập giá, trước mặt người mẹ
đau khổ của Người.
2. Điểm thứ hai: xác Người được
đưa tới mộ, được xức dầu
thơm và được mai táng.
3. Điểm thứ ba: họ đặt lính canh gác.
299. VỀ SỰ PHỤC SINH
CỦA ĐỨC KITÔ CHÚA CHÚNG TA; VỀ VIỆC NGƯỜI
HIỆN RA LẦN THỨ NHẤT.
1.
Điểm thứ
nhất: Người hiện ra với Đức Trinh Nữ
Maria, điều này tuy không có nói trong Sách Thánh, vẫn coi
như có nói, khi nói rằng Người hiện ra với bao
nhiêu người khác; v́ Sách Thánh giả thiết chúng ta có
sự hiểu biết, như có viết: (Cả anh em
cũng không có sự hiểu bịết à?).
300. VỀ CUỘC HIỆN RA
LẦN THỨ HAI, MARCÔ, CHƯƠNG XVI, c.1-11.
1.
Điểm thứ
nhất: tờ mờ sáng, bà Maria Madalena, bà Maria mẹ ông
Giacôbê và bà Salomê đi ra mộ, các bà nói; (Ai sẽ lật
tảng đá ở cửa mộ cho chúng ta?).
2. Điểm thứ hai: Các bà thấy tảng đá
đă lật ra và thấy thiên thần nói: (Các bà t́m Đức
Giêsu Nadaret chứ ǵ; Người đă sống lại
rồi, Người không c̣n ở đây).
3. Điểm thứ ba: Người hiện ra với bà
Maria, bà này ở lại bên mộ, sau khi các bà kia đă
về.
301. VỀ CUỘC HIỆN RA
LẦN THỨ BA, THÁNH MATTHÊU, CHƯƠNG CUỐI CÙNG.
1. Điểm thứ nhất: các bà Maria này ra khỏi
mộ với nỗi khiếp sợ và niềm vui lớn,
muốn báo tin cho các môn đệ về việc Chúa
phục sinh.
2. Điểm thứ hai: Đức Kitô Chúa chúng ta hiện ra
với các bà trên đường, Người nói với các
bà: (Chào các bà); và các bà tới phục xuống
dưới chân Người và thờ lạy Người.
3. Đức Giêsu nói với các bà: (Đừng sợ, hăy
đi nói với anh em của Thầy rằng họ hăy
đi về Galilê, v́ ở đó họ sẽ
được thấy Thầy).
302. VỀ CUỘC HIỆN RA
LẦN THỨ BỐN, CHƯƠNG CUỐI CÙNG CỦA THÁNH
LUCA, c.9-12; 33-34.
1. Điểm thứ nhất: nghe các phụ nữ nói
Đức Kitô đă phục sinh, Thánh Phêrô lập tức đi
ra mộ.
2. Điểm thứ hai: khi vào trong mộ, ông chỉ
thấy những tấm vải đă dùng để
liệm xác Đức Kitô Chúa chúng ta chứ không thấy ǵ khác.
3. Điểm thứ ba: Thánh Phêrô đang suy nghĩ
về những điều này th́ Đức Kitô hiện ra
với ông và v́ thế các tông đồ nói: (Quả
thật Chúa đă sống lại và đă hiện ra với
ông Simon).
303. VỀ LẦN HIỆN RA
THỨ NĂM TRONG CHƯƠNG CUỐI CÙNG CỦA THÁNH LUCA.
1. Điểm thứ nhất: Người hiện ra
với các môn đệ đi về Emmau đang nóivề
Đức Kitô.
2. Điểm thứ hai: Người quở trách họ
bằng cách lấy Sách Thánh mà chỉ cho họ thấy
rằng Đức Kitô phải chết và phục sinh: (Ôi,
những kẻ ḷng trí ngu muội và chậm tin tất
cả những ǵ các ngôn sứ đă nói! Chẳng phải
là Đức Kitô cần phải chịu đau khổ và
nhờ thế mà vào trong vinh quang của Người sao?).
3. Điểm thứ ba: v́ họ nài xin, Người
ở lại đó với họ cho tới khi Người
biến đi đang lúc Người cho họ rước
lễ; và khi họ trở về, họ nói với các môn
đệ về việc họ đă nhận biết
Người như thế nào khi rước lễ.
304. VỀ CUỘC HIỆN RA
LẦN THỨ SÁU, GIOAN, CHƯƠNG XX, c.19-23.
1. Điểm thứ nhất: các môn đệ đă
tụ họp với nhau (v́ sợ người Do Thái), trừ
thánh Tôma.
2. Điểm thứ hai: Đức Giêsu hiện ra với
họ đang khi cửa đóng then cài, và Người
đứng giữa họ mà nói: (B́nh an ở với anh
em).
3. Điểm thứ ba: Người ban Thánh Thần cho
họ mà rằng: (Hăy nhận lấy Thánh Thần; anh em tha
tội cho những ai, th́ tội sẽ được tha
cho họ).
305. VỀ CUỘC HIỆN RA
LẦN THỨ BẢY, GIOAN, XX, c.24-29.
1.
Điểm thứ
nhất: Thánh Tôma, người cứng ḷng tin, v́ vắng
mặt khi Người hiện ra lần trước, nói: (Nếu
tôi không thấy việc đó th́ tôi sẽ không tin).
2. Cách đó tám ngày, Đức Giêsu hiện ra với
họ, đang khi cửa đóng then cài, và Người nói
với Thánh Tôma: (Hăy đặt ngón tay anh vào đây, và hăy
thấy sự thật, và đừng cứng ḷng nữa
nhưng hăy có ḷng tin).
3. Thánh Tôma tin mà rằng: (Lạy Chúa tôi, lạy Chúa
Trời tôi); Đức Kitô nói với ông: (Phúc cho những
người không thấy mà tin).
306. VỀ CUỘC HIỆN RA
LẦN THỨ TÁM, GIOAN, CHƯƠNG CUỐI CÙNG, c.1-17.
1.
Điểm thứ
nhất: Đức Giêsu hiện ra với bảy môn đệ
đang đánh cá, suốt đêm họ đă chẳng
bắt được ǵ, và khi giăng lưới theo
lệnh của Người (họ không thể kéo lên, v́
bắt được nhiều cá).
2. Điểm thứ hai: v́ phép lạ này, Thánh Gioan
nhận biết Người và nói với Thánh Phêrô: (Chúa
đấy), ông này nhảy xuống biển và
đến với Đức Kitô.
3. Điểm thứ ba: Người chia cho họ ăn
một con cá nướng và một tảng mật ong;
rồi Người trao các con chiên cho Thánh Phêrô, sau khi đă
khảo sát ông ba lần về đức ái, Người
bảo ông: (Hăy chăn các con chiên của Thầy).
307. VỀ CUỘC HIỆN RA
LẦN THỨ CHÍN, MATTHÊU, CHƯƠNG CUỐI CÙNG, c.16-20.
1. Điểm thứ nhất: các môn đệ đi lên
núi Tabor theo lệnh Chúa truyền.
2. Điểm thứ hai: Đức Kitô hiện ra với
họ và nói: (Mọi quyền trên trời dưới
đất đă được trao cho Thầy).
3. Điểm thứ ba: Người sai họ đi rao
giảng khắp thế gian mà rằng: (Hăy đi dạy
dỗ muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và
Thánh Thần).
308. VỀ CUỘC
HIỆN RA LẦN THỨ MƯỜI, TRONG THƯ THỨ
NHẤT GỞI TÍN HỮU CORINTÔ, CHƯƠNG XV, c.6
(Sau đó Người cho
hơn 500 anh em được thấy Người).
309. VỀ CUỘC
HIỆN RA LẦN THỨ MƯỜI MỘT, TRONG THƯ
THỨ NHẤT GỞI TÍN HỮU CORINTÔ CHƯƠNG XV, c. 7.
(Sau đó Người
hiện ra với Thánh Giacôbê).
310. VỀ CUỘC
HIỆN RA LẦN THỨ MƯỜI HAI.
Người hiện ra
với ông Giuse Arimathia, như ta có thể lấy ḷng
đạo đức mà suy niệm và đọc trong
hạnh các Thánh.
311. VỀ CUỘC
HIỆN RA LẦN THỨ MƯỜI BA, THƯ THỨ
NHẤT CORINTÔ, CHƯƠNG XV, c.8.
Sau khi lên trời,
Người hiện ra với Thánh Phaolô (cuối cùng
Người hiện ra với tôi, như với một
kẻ sinh non).
Người cũng
hiện ra với các tổ phụ trong ngục tổ tông
bằng linh hồn của Người, rồi sau khi
Người đă đưa họ ra và trở về
lấy lại thân xác ḿnh, Người hiện ra nhiều lần
với các môn đệ và nói chuyện với họ.
312. VỀ VIỆC ĐỨC
KITÔ CHÚA CHÚNG TA LÊN TRỜI, SÁCH TÔNG ĐỒ CÔNG VỤ, I, c.1-12.
1. Điểm thứ nhất: sau khoảng thời gian
bốn mươi ngày Người đă hiện ra với
các môn đê, làm nhiều băng chứng và dấu hiệu,
và nói với họ về nước Thiên Chúa, truyền cho
họ ở Giêrusalem chờ đợi Thánh Thần [Thiên
Chúa] đă hứa.
2. Điểm thứ hai: Người đưa họ
lên núi Cây Dầu (và trước mặt họ Người
được đưa lên trời và một đám mây che
người khuất mắt họ).
3. Điểm thứ ba: họ đang nh́n lên trời th́
các thiên thần nói với họ: (Hỡi những
người xứ Galilê, sao cứ mải nh́n lên trời?
Đức Giêsu này, Đấng đă được đưa lên
trời khuất mắt các ông, Người sẽ
đến cùng một cách như các ông đă thấy
Người lên trời).
ĐIỀU TỐT ĐỂ ĐÓN
NHẬN VÀ ĐIỀU XẤU ĐỂ LOẠI BỎ
CÁC QUY TẮC NÀY THÍCH
HỢP HƠN CHO TUẦN THỨ NHẤT
314. QUY TẮC I: Đối
với những người sa ngă hết tội trọng
này đến tội trọng khác, kẻ thù thường
quen bày cho họ những
315. QUY TẮC II: Nơi
những người tiến mạnh trong việc diệt
trừ tội lỗi và đang tiến lên hơn măi trên
đường phụng sự Thiên Chúa, Chúa chúng ta, th́
lại có phương pháp ngược lại với quy
tắc thứ nhất. V́ khi đó, đường lối
riêng của thần dữ là cắn rứt, làm buồn
phiền và đặt chướng ngại bằng cách gây
băn khoăn lo lắng với những lư lẽ giả
tạo để người ta khỏi tiến tới,
c̣n cách thức riêng của thần lành là làm cho can
đảm và sức mạnh, an ủi, nước mắt,
ơn soi giục và an nghỉ, giảm bớt và hủy
diệt các trở ngại để cho người ta
tiến lên trong đàng lành.
316. QUY TẮC III: Về
an ủi thiêng liêng. Gọi là an ủi khi trong linh hồn
phát khởi một thúc đẩy nội tâm, khiến linh
hồn bừng cháy lửa kính mến Đấng Tạo Hóa và
Chúa ḿnh, và do đó, không có thể yêu một thọ tạo
nào trên mặt đất v́ chính thọ tạo ấy,
nhưng chỉ yêu trong Đấng tạo dựng mọi
sự. Đó cũng là trường hợp linh hồn chảy
nước mắt giục ḷng mến Chúa, hoặc bởi
đau đớn v́ tội lỗi ḿnh, hay v́ sự
thương khó của Đức Kitô, Chúa chúng ta, hay v́
những điều khác trực tiếp hướng
về việc phụng sự và ca ngợi Chúa. Sau cùng, c̣n
gọi là an ủi mọi gia tăng của ḷng tin- cậy-
mền, cùng mọi niềm
317. QUY TẮC IV: Sự
sầu khổ thiêng liêng. Gọi là sầu khổ tất
cả những ǵ trái ngược với quy tắc thứ
ba, như sự tối tăm trong linh hồn, xao xuyến
bề trong, thúc đẩy về những ǵ thấp hèn và
phàm tục, lo lắng về những xao động và cám
dỗ xúi ta mất tin tưởng, trông cậy, ḷng
mến; [linh hồn] cảm thấy lười biếng,
khô khan, buồn sầu và như bị ĺa xa Đấng Tạo
Hóa và Chúa ḿnh. Bởi lẽ như an ủi trái ngược
với sầu khổ thế nào, th́ các tư tưởng
do an ủi sinh ra cũng trái ngược với các tư
tưởng do sầu khổ sinh ra như vậy.
318. QUY TẮC V: Trong
thời gian sầu khổ, đừng bao giờ thay
đổi, nhưng hăy cương quyết bền vững
trong những quyết định và dốc ḷng có
trước khi bị sầu khổ, hoặc những
quyết định đă có khi được an ủi
trước đấy. Bởi lẽ cũng như trong
khi được an ủi, phần nhiều là thần lành
hướng dẫn khuyên nhủ ta thế nào, th́ trong
cơn sầu khổ, thần dữ cũng (làm) như
vậy, mà theo lời khuyên của nó, ta chẳng thể
gặp được con đường đưa
tới đích.
319. QUY TẮC VI: Trong
cơn sầu khổ, nếu như không nên thay đổi
những điều đă quyết định, th́ lại
rất nên cương quyết thay đổi chính ḿnh
để chống lại với cơn sầu khổ
ấy, chẳng hạn bằng cách chăm chú cầu
nguyện, suy gẫm hơn, xét ḿnh nhiều hơn và gia
tăng sự hăm ḿnh theo cách nào thích hợp.
320. QUY TẮC VII: Đang
gặp sầu khổ, ta hăy nghĩ rằng, để
thử luyện ta, Chúa đă để ta với sức
tự nhiên chống trả các xao động và cám dỗ
của kẻ thù; như vậy ta vẫn có thể
chống trả được, nhờ ơn Chúa vẫn
giúp đỡ dù ta không cảm thấy rơ ràng. V́ Chúa rút
bớt ḷng sốt sắng nồng nàn, ḷng mến bao la và ân
sủng mạnh mẽ nhưng vẫn để lại ân
sủng đủ cho sự cứu rỗi đời
đời.
321. QUY TẮC VIII: Đang
cơn sầu khổ hăy gắng giữ sự nhẫn
nại, là sự trái ngược với những xáo
trộn xảy đến, và nghĩ rằng, chẳng bao
lâu nữa sẽ được an ủi, nếu hết
sức chiến đấu với cơn sầu khổ
ấy, như đă nói ở quy tắc thứ sáu.
322. QUY TẮC IX: Có ba nguyên
do chính khiến ta gặp sầu khổ:
·
thứ nhất: v́ ta
không sốt mến đủ, lười biếng hay
chểnh mảng trong các việc thiêng liêng; vậy là v́
lỗi ta mà sự an ủi thiêng liêng ĺa bỏ ta;
·
thứ hai: để
thử coi sức ta tới đâu và ta có thể vươn
tới đâu trong việc phụng sự và ca ngợi Chúa,
khi không được thưởng công bằng bấy
nhiêu an ủi và ân sủng bao la;
·
thứ ba: để ta
học biết và nhận thức tận thâm tâm rằng,
không phải tự ta làm phát sinh hay duy tŕ được
ḷng sốt sắng vô ngần, ḷng mến mạnh mẽ,
nước mắt hoặc ơn an ủi thiêng liêng, mà
mọi sự đều là ân điển của Thiên Chúa,
Chúa chúng ta, và để ta đừng "làm tổ ở
nhà người khác,” và đừng tự đắc
đến trở thành kiêu ngạo, khoe khoang, tự gán cho
ḿnh ḷng sốt sắng hay các hoa trái khác của ơn an
ủi thiêng liêng.
323. QUY TẮC X: Khi
được ơn an ủi, phải nghĩ tới cách
xử sự trong cơn sầu khổ sẽ đến,
đồng thời dành lấy sức cho lúc đó.
324. QUY TẮC XI: Ai
được an ủi, phải gắng tự khiêm và
tự hạ chừng nào có thể, bằng cách nghĩ ḿnh
nhỏ hèn biết mấy trong cơn sầu khổ, khi không
có ân sủng này. Trái lại, người lâm cơn sầu
khổ phải nghĩ ḿnh có thể làm được
nhiều nhờ ơn đủ của Chúa trợ giúp,
để chống trả mọi kẻ thù, nhờ lấy
sức nơi Đấng Tạo Hóa và Chúa ḿnh.
325. QUY TẮC XII: Kẻ
thù xử sự như đàn bà, v́ khi ta chống trả th́
nó yếu, và khi ta để mặc th́ nó mạnh. Quả
vậy, đặc tính của đàn bà khi gây gỗ với
người đàn ông, là mất can đảm và chạy
trốn khi người đàn ông thẳng tay chống
trả. Trái lại, nếu người đàn ông bắt
đầu chạy trốn và mất can đảm, th́
cơn giận, sự trả thù và sự hung dữ của
người đàn bà thật không sao lường
được.
Cũng vậy,
đặc tính của kẻ thù là yếu nhược,
khiếp đảm và bỏ chạy với những
chước cám dỗ của nó, khi người tập tành
trong đàng thiêng liêng thẳng tay chống trả các cám
dỗ của nó bằng cách làm điều ngược
hẳn lại. Trái lại, nếu người ấy
bắt đầu sợ hăi và mất can đảm
trước cơn cám dỗ, th́ trên mặt đất này,
không có vật nào hung dữ cho bằng kẻ thù của
bản tính loài người trong việc theo đuổi ư định
xấu xa của nó cách dữ dằn chừng ấy.
326. QUY TẮC XIII: Kẻ
thù cũng c̣n sử xự như kẻ si t́nh lẳng
lơ, muốn giữ bí mật để khỏi bị
lộ. Quả vậy, một người đàn ông
đồi bại dùng lời xảo trá quyến rũ
một thiếu nữ con nhà lành, hoặc vợ một
người đứng đắn, th́ muốn cho những
lời dụ dỗ của hắn được giữ
kín; trái lại hắn rất bất măn khi thiếu nữ
mách với cha, thiếu phụ mách với chồng
những lời quyến rũ và ư xấu xa của
hắn, v́ hắn dễ dàng suy ra rằng, không thể nào
thành công được với chuyện hắn đă
bắt đầu.
Cũng vậy khi kẻ
thù của bản tính loài người đưa những
sự xảo trá và xúi giục của nó vào linh hồn ngay
lành, th́ mong muốn những điều đó
được tiếp nhận và giữ kín. Nhưng khi
linh hồn tỏ ra với cha giải tội tốt hay
một người đạo đức nào khác am
tường những dối trá và sự hiểm
độc của nó, th́ nó rất bất măn, v́ nó kết
luận rằng không thể đạt tới điều
xấu xa mà nó đă bắt đầu, v́ sự dối trá
rơ rệt của nó đă bị phanh phui.
327. QUY TẮC XIV: Kẻ
thù lại c̣n xử sự như một tướng quân
để thắng và cướp những ǵ nó muốn. Ví
như một vị chỉ huy cầm đầu
đội quân, sau khi đặt doanh trại và xem xét
lực lượng hoặc cách bố trí của một
thành tŕ, sẽ tấn công vào điểm yếu nhất;
th́ cũng vậy, kẻ thù của bản tính loài
người lượn quanh để ḍ xét những nhân
đức đối thần, các nhân đức trụ[41] và các nhân đức luân lư khác của ta, và
điểm nào nó thấy ta yếu nhất và dễ nguy
nhất cho phần rỗi đời đời của ta,
nó sẽ tấn công vào đó và cố hạ ta.
Các quy tắc này thích
hợp hơn cho tuần thứ hai.
329. QUY TẮC I: Đặc
điểm của Chúa và các thiên thần khi soi giục là
ban sự sảng khoái và
330. QUY TẮC II: Chỉ
có Thiên Chúa, Chúa chúng ta, mới ban ơn an ủi cho linh
hồn mà không cần có nguyên do trước; v́ quyền
riêng của Đấng Tạo Hóa là vào, ra, đánh động
linh hồn, lôi cuốn trọn vẹn linh hồn vào ḷng yêu
mến Ngài. Tôi nói không có nguyên do, nghĩa là, không có một
t́nh cảm hay một nhận thức về một
đối tượng nào trước, nhờ đó
sự an ủi phát sinh do tác động của trí tuệ
và ư chí.
331. QUI TẮC III: Khi có
nguyên do, thần lành cũng như thần dữ
đều có thể an ủi linh hồn, nhưng nhằm
mục đích trái ngược nhau: thần lành nhằm mưu
ích cho linh hồn, để nó lớn lên và ngày càng tốt
lành hơn, c̣n thần dữ nhằm điều
ngược lại, để rồi lôi cuốn linh
hồn theo ư xấu xa đồi tệ của nó.
332. QUI TẮC IV: Đặc
điểm của thần dữ là giả dạng
thần lành đi vào theo chiều hướng của linh
hồn trung tín để rồi kéo linh hồn ra theo
đường của nó; nghĩa là nó bày ra những tư
tưởng tốt lành thánh thiện hợp với tâm
hồn công chính, rồi lần lần gắng lôi kéo linh hồn
ra theo những mưu mô ẩn kín và những ư đồi
tệ của nó.
333. QUI TẮC V: Cần
chú ư nhiều về diễn biến của tư
tưởng. Nếu từ đầu đến cuối
đều tốt, hướng hẳn về
đường lành, là dấu hiệu của thần lành.
Nhưng nếu diễn biến của tư tưởng
đưa ta tới điều xấu hoặc lo ra, hay
không được tốt như điều trước
đó linh hồn đă định làm, hoặc làm giảm
sút, khiến ta lo lắng, bối rối, mất sự b́nh
an, yên tĩnh đă có từ trước, đó là dấu
hiệu rơ ràng điều ấy bởi thần dữ,
kẻ thù của sự tiến tới và phần rỗi
ta.
334. QUI TẮC VI: Khi
đă cảm thấy và nhận ra kẻ thù của bản
tính loài người bởi cái đuôi rắn của nó và
mục đích xấu xa nó muốn đưa tới, th́
điều có ích cho người bị cám dỗ là sau
đó duyệt lại diễn biến của những
tư tưởng tốt nó bày ra và khởi đầu
của những tư tưởng ấy, và xem nó đă
lần lần t́m cách khiến ta rời sự dịu
ngọt và niềm
335. QUY TẮC VII: Đối
với những người đang tiến tới,
thần lành soi dẫn linh hồn cách êm ái, nhẹ nhàng và
dịu ngọt, như giọt nước thấm vào
miếng bọt biển; c̣n thần dữ th́ thúc
đẩy cách chát chúa, ồn ào và sôi động, như
giọt nước rơi trên đá. Với những
người sa sút, th́ các thần nói trên hành động
ngược lại. Lư do là tùy theo t́nh trạng của linh
hồn trái ngược hay ḥa hợp với các thần nói
trên, v́ khi trái ngược, th́ các thần xâm nhập cách
ồn ào, dễ cảm thấy và nhận ra, c̣n khi ḥa
hợp th́ các thần ấy xâm nhập lặng lẽ
như vào nhà ḿnh, cửa mở.
336. QUY TẮC VIII: Khi an
ủi không có nguyên do, th́ không có cạm bẫy, v́ như
đă nói trên, đó là ơn của riêng Thiên Chúa, Chúa chúng ta.
Song người sống thiêng liêng được Chúa ban
ơn yên ủi phải tỉnh thức, và chú ư xem xét và phân
biệt thời gian được an ủi với
thời gian tiếp sau, khi linh hồn c̣n nóng nảy và sung
sướng v́ ơn an ủi vừa qua và dư
hưởng của ơn ấy. Qủa vậy, trong
thời gian tiếp sau ấy, nhiều khi tự ḿnh suy
nghĩ theo tư tưởng và suy luận riêng, hoặc do ảnh
hưởng của thần lành hay thần dữ, ta
hoạch ra những dự định và ư kiến mà không
phải do Thiên Chúa, Chúa chúng ta, trực tiếp ban cho, và v́
thế, cần xét xem thật kỹ trước khi hoàn toàn
tin tưởng ở những điều ấy và đem
ra thực hành.
338. QUY TẮC I: Nếu
tôi phân phát cho bà con hoặc bạn bè hay những
người tôi qúy mến, tôi phải chú ư đến
bốn điều, đă được nói tới trong
phần lựa chọn ở cuối tuần hai.
Thứ nhất: T́nh yêu
khiến tôi bố thí phải do từ trên xuống, do ḷng
mến Thiên Chúa, Chúa chúng ta. Vậy trước hết tôi
phải cảm thấy trong ḷng rằng, ḷng yêu mến
nhiều ít của tôi đối với những
người ấy là v́ Chúa, và có Chúa tỏa sáng trong lư do
khiến tôi yêu mến họ hơn.
339. QUY TẮC II:
Tưởng tượng một người tôi chưa
hề gặp và cũng chẳng quen biết, mà tôi
ước ao cho người ấy được hoàn
hảo trọn vẹn trong chức vụ và đấng
bậc của họ. Tôi muốn người đó giữ
mức trung dung nào trong cách phân phát để làm vinh danh Thiên
Chúa, Chúa chúng ta, hơn, và để linh hồn họ
được hoàn thiện hơn, th́ tôi cũng làm như
vậy, không hơn không kém. Tôi tuân giữ quy tắc và
mức độ mà tôi mong muốn và coi là tốt hơn cho
người đó.
340. QUY TẮC III:
Tưởng tượng như tôi đang ở vào giờ
chết, xét xem thái độ và mức độ lúc ấy
tôi muốn ḿnh đă giữ trong việc quản trị
của tôi; và tôi khuôn theo thái độ và mức ấy, tuân
giữ như vậy trong việc phân phát của tôi.
341. QUY TẮC IV: Nh́n xem
t́nh trạng của tôi trong ngày phán xét, và suy nghĩ kỹ
xem lúc đó tôi muốn ḿnh đă thi hành chức vụ và
bổn phận như thế nào. Quy tắc mà lúc đó tôi
muốn ḿnh đă tuân theo, tôi giữ ngay bây giờ.
342. QUY TẮC V: Khi
người nào tự cảm thấy nghiêng chiều và
quyến luyến với người ḿnh muốn phân phát
cho, hăy dừng lại và suy gẫm kỹ bốn quy tắc
trên, để xét xem và thẩm định lại cảm
t́nh của ḿnh đối với người đó; và không
phân phát của bố thí trước khi theo đúng
những quy tắc trên đây nhằm gạt bỏ hoàn toàn
t́nh cảm lệch lạc ấy.
343. QUY TẮC VI: Không có
lỗi ǵ khi lấy của Thiên Chúa mà đem phân phát nếu
đă được Chúa gọi vào chức vụ ấy,
nhưng về tỷ lệ và số lượng lấy ra
từ những của dành để cho người khác mà
chi dụng cho chính ḿnh, th́ có thể có lỗi phạm và
lạm dụng. Vậy có thể sửa đổi lại
trong đời sống và đấng bậc nhờ
những quy tắc nói trên.
344. QUY TẮC VII: V́ các lư
do trên và nhiều lư do khác, về những ǵ liên quan tới
bản thân và những ǵ thụôc về ta, bao giờ
điều tốt hơn và chắc chắn hơn vẫn
là hạn chế và giảm bớt càng nhiều càng hay, và
gắng tiến tới gần vị Thượng Tế,
khuôn mẫu và quy tắc của chúng ta, Đức Kitô, Chúa chúng
ta. Theo ư đó, Đệ Tam Công Đồng Carthago (có Thánh Augustinô
dự) đă quyết định và chỉ thị
rằng, đồ đạc trong nhà của giám mục
phải tầm thường và khó nghèo. Ư tưởng đó
hợp với mọi cuộc sống, nếu để ư
đến và thích ứng với hoàn cảnh và đấng
bậc từng người; như trong bậc hôn nhân, có
gương thánh Gioakim và Anna, các ngài đă chia gia sản làm
ba phần, một cho người nghèo, một cho các viên
chức và việc phụng tự ở đền thờ,
và một cho cuộc sống của chính ḿnh và gia đ́nh.
VỀ NHỮNG
BỐI RỐI CÙNG
NHỮNG XÚI BẪY CỦA KẺ THÙ CHÚNG TA
346. GHI CHÚ I: Ta
thường gọi là bối rối điều ǵ do
sự phán đoán và tự do của ta mà ra, nghĩa là khi ta
tự ư cho là có tội một điều không phải là tội.
Chẳng hạn một người t́nh cờ dẫm lên
một h́nh thánh giá do những cọng rơm làm thành,
rồi do phán đoán riêng cho rằng ḿnh đă phạm
tội. Nhưng đúng ra đó chỉ là phán đoán sai
lầm chứ không phải bối rối thật.
347. GHI CHÚ II: Khi đă
dẫm lên h́nh thánh giá, hoặc sau một tư
tưởng, lời nói hay hành động nào đó, từ
bên ngoài đưa tới một ư tưởng là tôi đă
phạm tội; và đàng khác, tôi lại thấy h́nh như
tôi không phạm tội; nhưng tôi vẫn cảm thấy
phân vân về điều đó, nghĩa là nửa tin,
nửa ngờ; chính đó mới là bối rối và
chước cám dỗ kẻ thù bày ra.
348. GHI CHÚ III: Loại
bối rối thứ nhất, nói ở ghi chú I, đáng
khinh chê hẳn, v́ hoàn toàn sai lầm. C̣n loại thứ hai,
nói ở ghi chú II, trong một thời gian nào đó, giúp
tiến tới không ít cho linh hồn chăm lo tập tành
đàng thiêng liêng, v́ điều ấy tẩy rửa linh
hồn rất nhiều, giúp xa lánh tất cả những ǵ
có vẻ là tội, theo lời thánh Grêgôriô: đặc
điểm của các linh hồn lành thánh là nh́n thấy
lỗi nơi không có lỗi.
349. GHI CHÚ IV: Kẻ thù
thường xem xét kỹ coi linh hồn thô thiển hay
tế nhị. Nếu tế nhị, nó làm cho tế nhị
hơn nữa, tới mức thái quá, để dễ làm
cho bối rối băn khoăn. Thí dụ thấy một
linh hồn không chịu chiều theo tội trọng
cũng như tội nhẹ, và cả đến những
ǵ có vẻ là tội khi đă kịp suy nghĩ; lúc ấy
v́ không thể làm cho linh hồn sa ngă vào điều ǵ có
vẻ là tội, kẻ thù cố xúi linh hồn
tưởng là có tội khi không có, như trong lời nói hay
tư tưởng rất nhỏ nhặt. Nếu linh
hồn thô thiển, kẻ thù gắng làm cho thô thiển
hơn, thí dụ nếu trước linh hồn không coi sao
về các tội mọn, nó cố xui cho coi thường
cả tội trọng, và nếu trước linh hồn có
kiêng nể chút ít, th́ nó cố xui cho coi thường hơn
hoặc chẳng kể là ǵ nữa.
350. GHI CHÚ V: Linh hồn
muốn tiến tới trong đàng thiêng liêng bao giờ
cũng phải xử sự ngược lại với
cách chước của kẻ thù, nghĩa là nếu kẻ
thù muốn làm cho linh hồn ra thô thiển hơn, th́
phải gắng trở nên tế nhị hơn. Cũng
vậy, nếu kẻ thù muốn làm cho linh hồn tế
nhị đi tới thái quá, th́ linh hồn phải gắng
giữ trong mức trung dung để được b́nh an
hoàn toàn.
351. GHI CHÚ VI: Đôi khi linh
hồn ngay lành muốn nói hay làm điều ǵ đúng ư Giáo
Hội, đúng ư các Bề Trên cho sáng danh Chúa, nhưng
từ bên ngoài đưa tới ư tưởng hay cám dỗ xui
đừng nói hoặc làm điều ấy, nại
những lư do giả tạo như hư danh hay sự ǵ
khác v.v.. Khi ấy phải hướng ḷng trí lên Đấng
Tạo Hóa và Chúa ḿnh, và nếu thấy đó là việc
phụng sự Chúa đúng lư, hay ít là không trái với
điều đó, th́ phải hành động ngược
hẳn với chước cám dỗ, trả lời nó
như thánh Bênađô: "không phải v́ mày mà tao bắt
đầu, cũng chẳng v́ mày mà tao chấm dứt.”
353. QUY TẮC I: Gạt
bỏ mọi phán đoán riêng, ta phải giữ tâm hồn
quy hướng và sẵn sàng vâng phục Bạn Thật
của Chúa Kitô, Chúa chúng ta, là Giáo Hội có phẩm Trật,
Mẹ Thánh của chúng ta.
354. QUY TẮC II: Ca
ngợi việc xưng tội với linh mục và
việc rước Ḿnh Thánh Chúa mỗi năm một
lần, và hơn nữa mỗi tháng một lần, và
tốt hơn nữa mỗi tuần một lần,
với các điều kiện cần thiết phải có.
355. QUY TẮC III: Ca
ngợi việc năng dự lễ cũng như việc
đọc các ca vịnh, thánh vịnh và các kinh dài ở nhà
thờ hoặc ở ngoài, và cả các giờ đă quy
định cho kinh nhật tụng, và các kinh nguyện khác.
356. QUY TẮC IV: Ca
ngợi đời sống tu tŕ, đức trinh khiết
và tiết hạnh, và cả hôn nhân, nhưng không bằng
một bậc nào nói trên.
357. QUY TẮC V: Ca
ngợi lời khấn ḍng, vâng lời, khó nghèo, khiết
tịnh và các lời khấn trọn lành t́nh nguyện khác.
Nên lưu ư là v́ các lời khấn nhằm đưa tới
bậc trọn lành theo Phúc Âm, nên về những
điều dẫn xa bậc trọn lành th́ không
được khấn: chẳng hạn đi buôn hay
lập gia đ́nh...
358: QUY TẮC VI: Ca
ngợi các di tích của các thánh, tôn kính các di tích ấy và
cầu xin các thánh. Ca ngợi các nơi chặng kính, các
cuộc hành hương, các ân xá, các năm toàn xá, các đoàn
nghĩa binh thánh giá, và các đèn nến đốt trong nhà
thờ.
359. QUY TẮC VII: Ca
ngợi các luật giữ chay, kiêng thịt, chẳng
hạn trong mùa chay, các ngày bốn mùa, các ngày áp lễ, các
ngày thứ sáu và thứ bẩy, cũng như các việc đền
tội, không những bề trong và cả bề ngoài
nữa.
360. QUY TẮC VIII: Ca
ngợi việc trang hoàng và kiến trúc các nhà thờ,
cũng như các ảnh tượng, và tôn kính các ảnh
tượng ấy theo ư nghĩa được biểu dương.
361. QUY TẮC IX: Sau
hết, ca ngợi mọi giới luật của Giáo
Hội, sẵn sàng t́m lư lẽ để bênh vực và không
bao giờ công kích.
362. QUY TẮC X: Chúng ta
phải sẵn sàng công nhận và ca ngợi các quyết
định, các mệnh lệnh cũng như cách cư
xử của các Bề Trên. V́ dẫu có khi có thể các ngài
ăn ở không xứng đáng, hoặc trước đă
có như vậy, nhưng công kích các ngài hoặc trong khi
giảng hoặc khi nói chuyện trước mặt
người b́nh dân, có thể gây bàn tán và gương
xấu hơn là làm ích; và như vậy quần chúng có
thể bất b́nh với các Bề Trên phần đời
hay phần đạo.
Vậy nếu như nói
xấu các Bề Trên vắng mặt trước những người
b́nh dân là điều có hại, th́ việc nói những hành
vi xấu ấy với chính những người có thể
sửa chữa, lại là điều có lợi.
363. QUY TẮC XI: Ca
ngợi cả thần học dựa trên Kinh Thánh và các Giáo
Phụ (doctrina positiva) lẫn thần học kinh viện.
V́ cũng như đặc điểm của những
vị Giáo Phụ (như thánh Giêrônimô, thánh Augustinô và thánh
Grêgôriô v.v.), là thúc đẩy tâm hồn kính mến và
phụng sự Thiên Chúa, Chúa chúng ta, trong mọi sự, th́
đặc điểm của các bậc thầy thuộc
kinh viện (như thánh Bônaventura và vị tôn sư các châm
ngôn v.v.), là định nghĩa và giải thích cho thời
đại chúng ta những điều cần thiết cho
phần rỗi đời đời và để dễ
chiến đấu cùng tố giác mọi điều sai
lạc và ngụy biện. Quả thật các bậc
thầy kinh viện, v́ mới mẻ hơn, nên không
những tận dụng được những hiểu
biết chân xác về Kinh Thánh và về các giáo phụ và các
thánh tiến sĩ, mà cũng c̣n - nhờ được
ơn Chúa soi sáng và hướng dẫn - có thể dựa
vào các Công Đồng, luật lệ và quy chế của Giáo
Hội, Mẹ thánh của chúng ta nữa.
364. QUY TẮC XII:
Phải tránh so sánh chúng ta, những kẻ c̣n đang
sống, với các thánh đời trước, v́ ta sẽ
sai lầm không ít trong điểm này; thí dụ khi nói:
người này biết hơn thánh Augustinô, người kia
là một thánh Phanxicô khác hoặc hơn thánh Phanxicô,
người ấy là một thánh Phaolô khác xét về nhân
đức, thánh thiện, v.v..
365. QUY TẮC XIII: Để
chắc chắn đúng trong mọi sự, phải luôn luôn
sẵn sàng, trước một vật mà tôi thấy là
trắng, nếu Giáo Hội có phẩm trật thấy là
đen, th́ tin là đen. V́ ta tin rằng cả nơi Đức
Kitô, Chúa chúng ta, lẫn Bạn Ngài là Giáo Hội, vẫn cùng
một Thánh Thần cai quản và hướng dẫn,
để cứu rỗi linh hồn chúng ta. Thực
vậy, cũng một Chúa Thánh Thần, Đấng đă ban
mười điều răn, hiện đang hướng
dẫn cùng cai quản Giáo Hội, Mẹ thánh của chúng
ta.
366. QUY TẮC XIV:
Điều rất thật là không ai có thể tự cứu
rỗi nếu không được ơn tiền
định, không có đức tin và ân sủng, nhưng
phải rất cẩn thận trong cách nói và diễn tả
về các điểm này.
367. QUY TẮC XV:
Thường ta không nên nói nhiều về ơn tiền
định; nhưng nếu đôi khi có dịp phải nói
tới, th́ phải nói sao cho người b́nh dân khỏi sai
lầm. Chẳng hạn khi nói nếu tôi sẽ
được cứu rỗi hay sẽ bị luận
phạt th́ đă được định trước
rồi, nên tôi có làm lành hoặc dữ cũng không thể ra
khác được, sẽ dễ làm người ta mất
nhuệ khí và coi thường các việc lành đưa
đến phần rỗi cùng giúp linh hồn tấn
tới trên đàng thiêng liêng.
368. QUY TẮC XVI: Cũng
vậy, phải coi chừng việc nói nhiều và nhấn
mạnh quá đáng về đức tin mà thiếu phân
biệt và giải thích, kẻo làm dịp cho dân chúng ra
nguội lạnh và lơ là trong việc lành, dù trước
hoặc sau khi đức tin được thấm
nhuần bằng đức mến.
369. QUY TẮC XVII:
Cũng vậy, không nên nói nhiều và nhấn mạnh quá
về ân sủng đến nỗi đưa tới nguy
cơ tiêu diệt tự do. Vậy có thể nói về đức
tin và ân sủng chừng nào, theo ơn Chúa giúp, để ca
ngợi Chúa chí tôn, nhưng không được nói làm
thiệt hại cho các việc lành và sự tự do,
hoặc khiến người ta không coi (việc lành và
tự do) ra ǵ nữa, nhất là trong thời buổi ngày
nay.
370. QUY TẮC XVIII:
Dẫu việc phụng sự Thiên Chúa, Chúa chúng ta, v́ yêu
mến, phải được qúy trọng hơn hết,
nhưng cũng phải ca ngợi sự kính sợ
quyền uy Chúa. V́ việc kính sợ Thiên Chúa như con
thảo là việc tốt và rất thánh, nhưng ngay cả
sự kính sợ như tôi tớ, khi không thể làm cách
tốt hơn và có ích hơn, cũng giúp nhiều cho ta ra
khỏi tội trọng; và một khi ra khỏi tội
trọng, dễ tiến tới ḷng kính sợ như con
thảo, là điều đẹp ḷng Thiên Chúa, Chúa chúng ta,
v́ điều ấy cũng chỉ là một với ḷng
mến Chúa.
AMDG
AD MAIOREM DEI GLORIAM
TẤT CẢ CHO VINH DANH CHÚA HƠN
Anima Christi, sanctifica me
Corpus Christi, salva me
Sanguis Christi, inebria me
Aqua lateris Christi, lava me
Passio Christi, conforta me.
O Bone Jesu, exaudi me
Intra tua
Ne permittas me separari a Te
Ab hoste maligno defende me.
In hora mortis meae voca me
Et jube me venire ad Te
Ut cum sanctis tuis laudem Te
In saecula saeculorum. Amen
Lạy Chúa Kitô, xin linh
hồn Chúa thánh hóa con.
Lạy Chúa Kitô, xin Ḿnh
thánh Chúa cứu độ con.
Lạy Chúa Kitô, xin Máu
Thánh Chúa làm cho con say mến.
Lạy Chúa Kitô, xin
nước bởi cạnh sừơn Chúa rửa con cho
sạch.
Lạy Chúa Kitô, xin sự
thương khó của Chúa thêm sức cho con.
Lạy Chúa Giêsu nhân ái, xin
nhận lời con.
Xin cất giấu con
trong các vết thương Chúa.
Xin đừng bao giờ
để cho con ĺa xa Chúa.
Xin bảo vệ con
khỏi kẻ thù tinh quái.
Đến giờ lâm tử,
xin Chúa gọi con,
và truyền cho con
đến cùng Chúa,
để cùng với các
thánh của Chúa
con được ca
tụng Chúa muôn đời. AMEN.
[1] Các bước gợi ư cho một lần cầu
nguyện:
Bước 1: Sau khi
đă chọn địa điểm tốt nhất
để cầu nguyện như ḿnh thấy, đến
chỗ đó, và ư thức ḿnh
hiện diện trước Thiên Chúa Ba Ngôi, rồi kính cẩn chào Chúa (diễn
tả với thân xác nếu không có ǵ ngăn trở).
Bước 2: Xin Chúa Cha ban Thánh Thần
của Chúa Giêsu Phục Sinh cho ḿnh, để Ngài thanh
tẩy ḿnh, để Ngài giúp ḿnh bỏ những
vướng bận đặc biệt trong giờ cầu
nguyện này, và xin Ngài giúp ḿnh gặp gỡ Thiên Chúa.
Bước 3: Đặt khung cảnh (v́ thân
phận con người, chúng ta đến với Thiên Chúa
qua những ǵ hữu h́nh).
Bước 4: Ơn xin (Mỗi bài cầu
nguyện đều có ơn xin; Thao viên cần khao khát
điều này trước khi xin).
Bước 5:
Điểm gợi ư cầu nguyện
Bước 6: Tâm sự với Chúa (Sau
mỗi điểm, chúng ta nên tâm sự với Chúa, chứ
không nhất thiết phải chờ đến cuối
giờ cầu nguyện, v́ các điểm gợi ư chỉ
là phương tiện giúp chúng ta gặp gỡ và tâm sự
cùng sống hạnh phúc với Chúa).
[2] Tuy vậy cần lưu ư về t́nh trạng
biếng lười của ḿnh; có người không
muốn dùng điểm v́ họ làm biếng suy nghĩ
cầu nguyện.
Cũng có bài cầu
nguyện cần dùng tất cả số điểm
được cho, như trường hợp bài cầu
nguyện về "Tội tôi" (LT 55 tt).
[3] "Ta không muốn kẻ gian ác phải chết,
nhưng muốn nó ăn năn sám hối và được
sống" (Ed 33:11).
"Thiên Chúa muốn
cho mọi người được cứu độ và
nhận biết chân lư" (1Tm.2:4).
[4] Cũng xảy ra trường hợp có vẻ được an
ủi, nhưng không phải là an ủi thực;
trường hợp này là do thần dữ giả dạng
thần lành để đánh lừa người ta (2Cr
11:14), làm người ta đi theo đường của
nó, nhưng nếu theo nó, người ta sẽ cảm
thấy bất an bối rối, v́ không đi trên con
đường Thiên Chúa muốn (LT 332-333).
[5] Với tác động của Thiên Chúa, tự do
của con người luôn được bảo toàn.
"Xin thánh ... làm cho
người em con trở lại.” Thánh... không thể làm
được điều này nếu "em con" không
đồng ư; nhưng Thiên Chúa có thể làm được
mà người "em con" vẫn hoàn toàn tự do.
[6] Mỗi bài cầu nguyện đều có ơn xin,
có thể coi như yêu cầu của bài cầu nguyện.
[7] Giờ cầu nguyện không tốt, tốt, hay
tốt lắm, là đánh giá chủ quan hay khách quan của
người cầu nguyện hay của người
hướng dẫn.
[8] Khao khát nên thánh, là hành vi đă được lư trí
tự do hướng dẫn.
[9] Môsê: "được vớt" (Xh.2:10)
nghĩa là được cứu, được yêu
(tiểu sử đời Môsê).
[10] Thực ra, tội không thuộc bản tính con
người. Con người có thể không phạm tội.
Phạm tội hay không là tùy tự do mỗi người.
[11] Lấy Ư Thiên Chúa làm ư ḿnh.
[12] Xem ghi chú của FranVois
Courel, sj, trong SAINT IGNACE DE LOYOLA, Exercices Spirituels, DESCLÉE DE
BROUWER 1960, p.65 note 2.
[13] Phương pháp cầu nguyện là chiêm niệm,
nghĩa là nh́n, nghe, quan sát, suy nghĩ để rút ích
lợi.
[14] Có thể đọc thêm Rm.4:18-25 trước khi
cầu nguyện.
[15] Để đáp trả tiếng gọi của
Thiên Chúa, tất cả chúng ta dù là ai chăng nữa, và dù
ở bất cứ thời điểm nào và hoàn cảnh
nào, cũng phải từ bỏ chính ḿnh!
[16] Chữ “phải” ở đây không có nghĩa là
bị bó buộc, nó vẫn là hành vi tự do của Thiên
Chúa, nhưng nó được hiểu là do t́nh yêu thúc
đẩy.
[17] Sa mạc vật lư cũng là điều kiện
cho sa mạc tinh thần. V́ là người, nên thời gian
cô tịch với Đức Giêsu cũng cần thiết
để chuẩn bị cho sứ mạng trọng
đại. Đức Giêsu giống chúng ta mọi đàng
nên thấy đói, khát, ao ước, v.v.
[18] Tám phúc hay chỉ có một phúc duy nhất? Phải
chăng mối phúc duy nhất là được nên
giống Đức Giêsu Kitô?
[19] Ư nghĩa theo bản văn? Tác giả muốn nói
ǵ khi viết những điều này? Thiên Chúa muốn nói ǵ
với tôi qua bản văn này?
Đức Giêsu
đă sống điều này như thế nào?
Tôi đă sống
điều này như thế nào?
[20] Xin nghèo là từ bỏ những ǵ ngoài ḿnh; xin
sỉ nhục khinh chê là từ bỏ chính ḿnh. Nhiều
người có thể xin được nghèo nhưng không
dám xin được sỉ nhục với Chúa.
[21] Không vị lợi, có cái nh́n trưởng thành
về đời sống gia đ́nh và dâng hiến, không
bị quyến luyến lệch lạc chi phối.
[22] Lấy con người cảm tính của ḿnh làm
tiêu chuẩn chọn lựa.
[23] Như vậy không nên lạm dụng cách chọn
lựa theo thánh Inhaxiô, như thể cứ làm theo cách
thức đó, th́ đă là làm việc lựa chọn
đúng đắn!
[24] Nếu ai đó không b́nh tâm mà làm lựa chọn,
th́ cuộc chọn lựa đó không được coi là
cuộc chọn lựa có giá trị.
[25] Ở một nghĩa nào đó, không quyết
định cũng là quyết định, không chọn
lựa cũng là chọn lựa.
Nếu không thấy
rơ th́ đừng quyết định. Cụ thể, trong
trường hợp lựa chọn bậc sống,
nếu không thấy rơ Chúa muốn ḿnh sống bậc sống
khác, th́ cứ sống trong bậc sống ḿnh đang
sống.
[26] Điều này không muốn nói rằng người
đó không bị đau khổ hoặc thập giá trong
cuộc sống.
[27] Đương nhiên phải hiểu là nếu chúng ta
vẫn quảng đại với Chúa: vẫn luôn kết
hiệp với Chúa liên lỉ trong suốt ngày sống,
vẫn luôn giữ tâm trí và giữ ǵn ngũ quan.
Nếu sau chọn
lựa mà chúng ta cầu nguyện dở hơn trước
dù chúng ta vẫn quảng đại với Chúa như
trước, th́ phải t́m nguyên do, cũng có thể tại
ḿnh chọn điều Chúa không muốn.
[28] Như thể Chúa Cha cũng bỏ Ngài (Mc 15:34).
[29] Nếu ai đó tin lời chị Maria Magdala (Ga
20:18), th́ biết Đức Giêsu đă sống lại, mà
không cần nhờ lời chứng của các tông
đồ.
[30] Chính v́ thế, Hội Thánh Công Giáo tuyên xưng trong
Kinh Tin Kính: “tôi tin Giáo Hội duy nhất, thánh thiện, công
giáo và tông truyền.” Hội Thánh được xây trên
nền tảng các tông đồ, dĩ nhiên khi nói như
vậy, vẫn phải hiểu: Hội Thánh có nền
tảng là chính Thiên Chúa.
[31] Obras completas de San Ignacio, I. IPARRAGUIRE, SJ, B.A.C. 1963
[32] Monumenta Historica Societatis Iesu, "Exercitia,” pp. 222- 563
[33] Exercitia Spiritualia, S. P. Ignatii de Loyola vers. Ioannes
ROOTHAAN, SJ., V. Goupy et Soc., PARIS 1865
[34] Exercices Spirituels, trd. FR. COUREL, SJ., coll. Christus, n. 5.,
Textes, DDB. 1960
[35] B́nh tâm (indifferentia) là giữ ḷng không nghiêng
chiều, cũng không ác cảm đối với
điều này hơn điều kia, nhưng hoàn toàn
sẵn sàng theo ư Chúa.
[36] Lương của thánh Phanxicô Borgia khi làm phó
vương xứ
[37] Bổng lộc: (bénéfice ecclésiastique) là những
lợi tức vật chất đi kèm với một
chức vụ nào trong Giáo Hội.
[38] Thánh Inhaxiô dùng chữ "temperatura" (thời
tiết), nhưng các bản dịch hiểu theo chữ
"temperamento" (tính khí, tâm trạng).
[39] "bánh ḿ" ở tây phương tương
tự như cơm ở Á đông.
[40] Bản La-tinh phổ thông có hơi khác. Bản
dịch này theo bản gốc Tây-ban-nha và đă
được anh em Ḍng Tên tại Việt
[41] đối nghịch với bảy mối tội
đầu.