6. Trận chiến cuối cùng.                                                        

      Ngày 30 tháng 4 năm 1975, viên tướng mặt bánh đúc, đần độn Dương Văn Minh phát thanh bản văn ra lệnh cho quân đội Việt-Nam Cộng-hòa buông súng đầu hàng. Tất cả các đơn vị quân đội miền Nam tuân lệnh, cởi bỏ chiến bào, về sống với gia đình. Một vài đơn vị lẻ lẻ còn cầm cự. Tiếng súng kháng cự của các đơn vị Dù tại Sài-gòn ngừng lúc 9 giờ 7 phút.
Đúng lúc đó tại Chương-thiện, tỉnh-trưởng kiêm Tiểu-khu trưởng là Đại-tá Hồ Ngọc Cẩn. Ông đang chỉ huy các đơn vị thuộc quyền chống lại cuộc tấn công của Cộng-quân. Phần thắng đã nằm trong tay ông. Lệnh của Dương Văn Minh truyền đến. Các quận trưởng chán nản ra lệnh buông súng. Chỉ còn tỉnh lỵ là vẫn chiến đấu. Đại-tá Hồ Ngọc Cẩn ra lệnh:
    " Dương Văn Minh lên làm Tổng-thống trái với hiến pháp. Ông ta không có tư cách của vị Tổng-tư-lệnh. Hãy tiếp tục chiến đấu".
Nhưng đến 12 giờ trưa, các đơn vị dần dần bị tràn ngập, vì quân ít, vì hết đạn vì mất tinh thần. Chỉ còn lại bộ chỉ huy tiểu khu. Trong bộ chỉ huy Tiểu-khu, có một đại đội địa phương quân cùng nhân viên bộ ham mưu. Đến 13 giờ, lựu đạn, đạn M79 hết. Tới 14 giờ 45, thì đạn hết, làn sóng Cộng-quân tràn vào trong bộ chỉ huy. Cuối cùng chỉ còn một ổ kháng cự từ trong một hầm chiến đấu, nơi đó có khẩu đại liên. Một quả lựu đạn cay ném vào trong hầm, tiếng súng im bặt. Quân Cộng-sản vào hầm lôi ra hai người. Một là Đại-tá Hồ Ngọc Cẩn, tỉnh trưởng, kiêm tiểu khu trưởng và một trung sĩ  mơí 19 tuổi. Trung sĩ đó tên là Vũ Tiến Quang.
    Bấy giờ đúng 15 giờ.
    Kẻ chiến thắng trói người chiến bại lại. Viên đại-tá chính ủy của đơn vị có nhiệm vụ đánh tỉnh Chương-thiện hỏi:
    _ Đ.M. Tại sao có lệnh đầu hàng, mà chúng mày không chịu tuân lệnh?
    Đại-tá Cẩn trả lời bằng  nụ cười nhạt.
    Trung sĩ Quang chỉ đại-tá Cẩn:
    _ Thưa Đại-tá, tôi không biết có lệnh đầu hàng. Ví dù tôi biết, tôi cũng vẫn chiến đấu. Vì anh ấy là cấp chỉ huy trực tiếp của tôi. Anh ra lệnh chiến đấu, thì tôi không thể cãi lệnh.
    Cộng quân thu nhặt xác chết trong, ngoài bộ chỉ huy tiểu khu. Viên chính ủy chỉ những xác chết nói với đại-tá Cẩn:
    _ Chúng mày là hai tên ngụy ác ôn nhất. Đ.M. Chúng mày sẽ phả đền tội.
    Đại-tá Cẩn vẫn không trả lời, vẫn cười nhạt. Trung sĩ Quang ngang tàng:
    _ Đại-tá có lý tưởng của đại-tá, tôi có lý tưởng của tôi. Đại-tá theo Karl Marc, theo Lénine; còn tôi, tôi theo vua Hùng, vua Trưng. Tôi tuy bại trận, nhưng tôi vẫn giữ lý tưởng của tôi. Tôi không gọi đại tá là tên Việt-cộng. Tại sao đại-tá lại mày tao, văng tục với chúng tôi như bọn  ăn cắp gà, phường trộm trâu vậy? Phải chăng đó ngôn ngữ của đảng Cộng-sản?

    Viên đại-tá rút súng kề vào đầu Quang:
    _ Đ.M. Tao hỏi mày, bây giờ thì mày có chính nghĩa hay tao có chính nghĩa?
    _ Xưa nay súng đạn trong tay ai thì người đó có lý. Nhưng đối với tôi, tôi học trường Thiếu-sinh-quân, súng đạn là đồ chơi của tôi từ bé. Tôi không sợ súng đâu. Đại-tá đừng dọa tôi vô ích. Tôi vẫn thấy tôi có chính nghĩa, còn đại-tá không có chính nghĩa. Tôi là con cháu Hoài-văn vương Trần Quốc Toản mà.
    _ Đ.M. Mày có chịu nhận mày là tên ngụy không?
    _  Tôi có chính nghĩa thì tôi không thể là ngụy. Còn Cộng-quân dùng súng giết dân mới là ngụy, là giặc cướp. Tôi nhất quyết giữ chính khí của tôi như Bảo-nghĩa vương Trần Bình Trọng, như Nguyễn  Biểu.
    Quang cười nghạo nghễ:
    _  Nếu đại-tá có chính nghĩa tại sao đại-tá lại dùng lời nói thô tục vơí tôi? Ừ! Muốn mày tao thì mày tao. Đ.M. tên Cộng-sản ác ôn! Nếu tao thắng, tao dí súng vào thái dương mày rồi hỏi: Đ.M.Mày có nhận mày là tên Việt-cộng không? Thì mày trả lời sao?

    Một tiếng nổ nhỏ, Quang ngã bật ngửa, óc phọt ra khỏi đầu, nhưng trên môi người thiếu niên còn nở nụ cười. Tôi không có mặt tại chỗ, thành ra không mường tượng ý nghĩa nụ cười đó là nụ cười gì? Độc giả của tôi vốn thông minh, thử đoán xem nụ cươì đó mang ý nghĩa nào? Nụ cười hối hận ? Nụ cười ngạo nghễ? Nụ cười khinh bỉ? Hay nụ cười thỏa mãn?

    Ghi chú

    Nhân chứng quan trọng nhất, chứng kiến tận mắt cái chết của Vũ Tiến Quang thuật cho tác giả nghe là cô Vũ Thị Quỳnh Chi. Cô là em ruột của Quang, nhỏ hơn Quang 4 tuổi. Lúc anh cô bị giết, cô mới 15 tuổi (cô sinh năm 1960). Hiện (1999) cô là phu nhân của bác sĩ Jean Marc Bodoret, học trò của tôi, cư trú tại Marseille, Pháp.

      Ít lâu sau, Đại-tá Hồ Ngọc Cẩn bị đem ra xử bắn.

    Đại-tá Hồ Ngọc Cẩn sinh ngày 24 tháng 3 năm 1938,  xuất thân từ trường Thiếu-sinh-quân Đệ-nhất quân khu ở Gia-định. Năm 1952 trường di chuyển về Mỹ-tho. Ông ra trường năm 1956. (Xin đọc bài Vài  nét về anh hùng Hồ Ngọc Cẩn trong tập sách này). Còn trung-sĩ Vũ Tiến Quang, sinh ngày 10 tháng 9 năm 1956, xuất thân trường Thiếu-sinh-quân Việt-Nam. Nhập trường ngày 2 tháng 9 năm 1969, ra trường tháng 6 năm 1974. Đơn vị phục vụ là trung đoàn 31 bộ binh. (Xin đọc bài Cái bóng của Hoài-văn vương Trần Quốc Toản trong sách này).

  Tại Thị-xã Vũng-tầu, nơi có nhiều quân trường. Như trường huấn luyện cán bộ nông thôn, trường huấn luyện hải thuyền Cát-lở, trường Truyền-tin, trường Quân-cảnh, và một căn cứ Hải-quân. Tuy có hậu cứ hai đơn vị chiến đấu là tiểu đoàn 4 Thủy-quân lục-chiến, tiểu đoàn 6 Dù. Nhưng đây không phải là đơn vị trú phòng để bảo vệ Thị-xã, mà chỉ là nơi nghỉ quân, sau thời gian xông pha ngoài chiến trường.

  Trong những ngày 27-28-29 tháng 4 năm 1975, hầu hết khóa sinh, cán bộ của những quân trường đều bỏ trốn, kể cả cán bộ trường Thiếu-sinh-quân. Một trung đội Thiếu-sinh quân đang học chứng chỉ 2 bộ binh, được phối trí đóng tại khách sạn Palace, một trung đội nữa đươc phối trí bảo vệ Bạch-dinh. Còn lại 2 trung đội dàn ra cùng nhân viên và các Thiếu-sinh-quân lớn bảo vệ trường.

  Sáng ngày 30, sau khi lệnh đầu hàng ban ra, nhân viên, cán bộ quẳng súng về lo di tản gia đình. Nhưng các Thiếu-sinh-quân không bỏ trường. Họ tự chỉ huy nhau, lấy hết vũ khí trong kho, rồi bố trí giữ trường. Bấy giờ là lúc các đơn vị Cộng-quân tiến vào Vũng-tầu. Họ tiến làm hai mũi.

  Mũi thứ nhất từ Long-hải, theo bờ biển tới bãi Sau, qua chùa Linh-sơn, vào Thị-xã. Họ tiến vào dinh Thị-trưởng, ty Cảnh-sát, không gặp một người nào, không một phát súng nổ. Giữa lúc bộ chỉ huy đang đứng lố nhố tại sân tòa Thị-chính thì thình lình đại liên từ một cửa sổ căn phòng của khách sạn Palace bắn ra làm hai người chết, bốn người bị thương. Rồi súng từ các cửa sổ, sân thượng tiếp tục nã xuống. Lập tức một tiểu đoàn nấp vào những ngôi nhà xung quanh phản công, bao vây khách sạn.

  Viên chính ủy của cánh quân chiếm Vũng-tầu là người có học thức, lại còn trẻ. Tôi đã cố gắng tìm tên ông mà không ra. Tôi xin mạn phép gọi ông bằng tên một nhân vật tiểu thuyết của tôi là Mã Vũ. Ông ra lệnh:

  "Trên khách sạn không có ngụy  quân, chỉ có chưa quá 40 Thiếu-sinh-quân. Ngừng bắn! Không được bắn làm hư hại một khách sạn đắt tiền. Dùng loa kêu gọi chúng đầu hàng".
Loa kêu gọi kệ loa kêu gọi, các Thiếu-sinh-quân vẫn không chịu đầu hàng. Viên tiểu đoàn trưởng xin tấn công tiêu diệt. Đại-tá Mã Vũ  ra lệnh:
    " Bọn trẻ này rất can đảm và giỏi tác chiến. Đánh sẽ tổn thất nhiều. Cứ bao vây, chúng đói phải bò ra hàng".
    Thế là khách sạn bị bao vây chặt cứng.
    Ban hỏa đầu vụ tại trường tan hàng hôm 29, nên từ chiều hôm trước các Thiếu-sinh-quân trấn khách sạn không được tiếp tế lương thực, phải ăn lương khô. Từ sáng hôm nay, lương khô hết. Tất cả phải nhịn đói. Chỉ huy trung đội là Thiếu-sinh-quân  Trần Đức Các. Thấy anh em đói quá không còn sức, Các bàn:
    _ Chúng mày ạ! Bây giờ thà hàng, còn hơn khi chúng mình đói quá, không còn sức, chúng tấn công vào bắt sống thì nhục lắm.
Tất cả Thiếu-sinh-quân đồng ý. Trần Đức Các chỉnh đốn y phục lại, rồi ra khỏi khách sạn:
    _ Tôi muốn gặp người chỉ huy cao nhất.
Các được dẫn đến gặp viên chính ủy. Trong tư thế đứng nghiêm:
    _ Tôi là Thiếu-sinh-quân Trần Đức Các, chỉ huy trung đội trấn thủ khách sạn.
Sau cái bắt tay:
    _ Tôi là đại-tá Vũ chính ủy. Em bao nhiêu tuổi ?
    _ 17 tuổi.
    _ Tại sao có lệnh đầu hàng, mà em không chịu đầu hàng?
    _ Lệnh đầu hàng là của Đại-tướng Dương Văn Minh, chỉ có hiệu lực vơí quân đội. Còn chúng tôi là Thiếu-sinh-quân. Khi học, chúng tôi chỉ học chiến chứ chưa học hàng. Thành ra không biết cách đầu hàng.
    _ Em ra đây gặp tôi với mục đích gì?
    _ Chúng tôi có 31 người. Bây giờ tôi có một đề nghị với Đại-tá.
    _ Em cứ nói.
    _ Các bạn tôi chiến đấu là do tôi ra lệnh. Tôi xin nhận hết trách nhiệm. Đại-tá muốn bắn tôi, thì tôi không hề oán trách. Xin đại-tá đừng làm tội các bạn tôi.

Lại một cái bắt tay:
   
_ Tôi hứa danh dự, để các em rời khỏi đây về với gia đình.

    Mười phút sau, trung đội Thiếu-sinh-quân tập họp trước sân khách sạn. Trần Đức Các hô bắt súng chào. Viên đại-tá chính ủy đáp lễ rồi ra lệnh cho một trung đội Bộ-đội tiếp nhận vũ khí. Trao vũ khí cho người, các Thiếu-sinh-quân cúi mặt xuống, nước mắt chan hòa.

    Bấy giờ là 17 giờ 18 phút.

  Xót người dưới quyền bị chết, viên tiểu đoàn trưởng hỏi:

    _ Hồi sáng, các anh bắn vào Bộ-đội, làm 4 người chết, 6 người bị thương. Giết người thì đền tội. Vậy tôi sẽ xử bắn 10 người trong 31 các anh. Ai bắn  vào Bộ-đội thì bước ra!
    Tất cả 31 Thiếu-sinh-quân đều trả lời:
    _ Tôi! Chính tôi bắn. Hãy giết tôi đi.
    Viên chính ủy xua tay:
    _ Trong lúc giao tranh, súng đạn vô tình. Các em không có tội gì cả.
    Sau đó tất cả các Thiếu-sinh-quân được cấp giấy đi đường, mỗi người được một số tiền túi làm lộ phí. 
    Mũi thứ nhì. Tiến theo quốc lộ 15, chiếm căn cứ Hải-quân dễ dàng. Một đại đội được để lại trấn thủ. Chiến đoàn tiếp tục chiếm trung tâm huấn luyện cán bộ Nông-thôn, trường Truyên-tin dễ dàng. Khi chiếm trường Thiếu-sinh-quân thì gặp sức kháng cự mãnh liệt. Sau mấy đợt xung phong, bị đánh bật ra, viên Trung-đoàn trưởng báo cáo cho đại-tá Mã Vũ.
Mã Vũ nhận đươc báo cáo đúng lúc vừa giải quyết xong ổ kháng cự khách sạn:
    " Tiến chiếm trường Truyền-tin không gặp sức kháng cự. Nhưng khi tiến chiếm trường Thiếu-sinh-quân chúng chống trả mãnh liệt ".
    Đã kinh nghiệm về vụ chiếm khách sạn. Viên chính ủy ra lệnh :
    _ Ngừng bắn ! Án binh bất động ! Đợi lệnh !
    Ông ta lên xe trực chỉ mặt trận. Viên Trung-đoàn trưởng báo cáo:   
    
_ Thưa đồng chí ! Tôi dẫn Trung-đoàn tiến chiếm trường Truyền-tin, tiếp quản máy móc xong, tôi thân dẫn một tiểu đoàn theo quốc lộ 15, tiến đánh trường Thiếu-sinh-quân. Đi đầu là ba thiết giáp. Đoàn quân vượt qua ngã tư Nguyễn An-Ninh thì chia làm hai. Một cánh vòng xuống Bến-đình, rồi bọc hông phía Nam. Một cánh theo quốc lộ 15 tốc thẳng tới cổng chính. Khi chiếc thiết giáp  đi đầu vừa qua khúc gẫy của con đường, thấy cổng trường bằng sắt đóng kín, không có binh canh phía ngoài. Trên cổng có tấm bảng lớn với hai  hàng chữ :
      Quân-đội Việt-Nam Cộng-hòa
    Trường Thiếu-sinh-quân Việt-Nam

    Thì hai phát M79 từ sau cổng trường bắn ra, nổ sát ngay bên cạnh chiếc Thiết-giáp, cầy tung đất lên cao, khói bay mù mịt. Tiếp theo tiếng đạn đại liên nổ dòn dã. Thiết-giáp dùng đại pháo 130 ly bắn trực xạ vào trong trường. Một quả trúng cổng trường, xuyên thủng cánh cửa, làm sập bức tường án sau cổng. Một quả bắn nát tấm bảng hiệu, xuyên vào trong, làm sập căn nhà nhỏ phía cuối sân trước. Hai hàng Bộ-đội đi tùng thiết bên đường vội lăn xuống vệ đường. Còn chiếc thiết giáp thì sang số lùi lại. Nhanh chóng, ta chia làm hai mũi. Một mũi nhảy qua hàng rào trại Cô Giang. Một mũi nhảy qua bức tường, vào trong Quân-y viện Vũng-tầu, tiến chiếm khách sạn Quốc-tế (International) ngay trước cổng trước cổng trường. Không đầy  nửa giờ, ta đã chiếm trại Cô Giang, Quân-y viện, dàn ra thành hàng dài trước mặt tiền trường. Quan sát sơ tình hình, tôi quyết định : Tăng thêm một tiểu đoàn. Dùng cả  hai tiểu đoàn bao vây trường bằng mặt tiền, và hông phía Nam.
    Viên Trung-đoàn trưởng kết luận :
    _ Trường quá rộng, trong khi số Thiếu-sinh-quân lại đông. Chúng nấp sau bức tường dầy, và trong các căn nhà. Chúng có đủ thứ vũ khí. Chúng nã bách kích pháo 81 ly, M79  rất rất giỏi. Hai xe tăng của ra không thể tiến lên được. Chúng không bắn bừa như bọn ngụy người lớn. Chúng chỉ nổ súng khi thấy ta. Chúng bắn rất chính xác. Bộ đội đã cắt giây kẽm gai, leo rào vào trong, bị chúng bắn tử thương khá nhiều. Tôi đã cho xung phong bốn lần, nhưng tường cao quá vào không được. Xin cho phép dùng đại pháo, dùng B40-B41 phá tường.
    _ Không nên ! Dùng lối đánh đó, thì chiếm được mau chóng, nhưng tổn thất người, vật chất. Bao vây. Cứ mười phút bắn dọa một lần. Bọn trẻ này không có nhiều đạn, lương thực cũng không. Đợi chúng đói, ta sẽ gọi đầu hàng.
Quả đúng như viên chính ủy đó tiên đoán. Các Thiếu-sinh-quân đang tuổi trưởng thành, ăn nhiều, mau đói. Từ sáng đến giờ, phải nằm dài ra tại các vị trí chiến đấu. Cơm không, nước không. Đói quá, chân tay bủn rủn.
Bên ngoài, cứ mười phút, viên Trung-đoàn trưởng lại ra lệnh cho Bộ-đội nổ súng, rồi hô xung phong. Nhưng chỉ hô xung phong để uy hiếp mà thôi. Mỗi lần như thế, đạn từ trong trường bắn ra ào ào.
Sau bốn loạt đạn uy hiếp tinh thần. Viên chính ủy lại ban lệnh gọi loa:
    " Các Thiếu-sinh-quân nghe đây. Nếu các em không buông súng thì chúng tôi sẽ phá sập ngôi trường của các em. Bây giờ tôi tạm  bắn sập mấy ngôi nhà cho các em biết..."
    Thế rồi  B40-B41, đại pháo trên xe tăng bắn vào sân, nã nát mấy căn nhà nhỏ bằng tôn chứa dụng cụ thể thao, rồi lại kêu gọi đầu hàng.
      Quả nhiên, sau biện pháp đó thì cánh cửa của cổng chính mở rộng, một Thiếu-sinh-quân xuất hiện :
     _ Cho tôi gặp người chỉ huy cao cấp nhất.
     Viên chính ủy, rời khỏi chỗ nấp :
     _ Tôi đây. Tôi là đại tá Mã Vũ.
     Một Thiếu-sinh-quân trong tư thế đứng nghiêm, chào :
     _ Thiếu-sinh-quân Ngô Văn Từ, số quân...đại đội trưởng đại đội chứng chỉ hai.
     Một cái bắt tay lịch sử.
      _ Toàn quốc đã buông súng đầu hàng. Các em còn kháng cự chi vô ích. Những người bạn của em tại khách sạn đã hàng rồi. Tôi thấy các em còn nhỏ, nên không muốn dùng vũ khí nặng bắn vào các em.
      _ ! ! !
      _ Em nên nhớ, tôi ra lệnh bắn sập mấy căn nhà nhỏ ngụ ý muốn nói, nếu các em không hàng thì tôi sẽ bắn sập tất cả ba ngôi trường to lớn của các em.
      Lời đe dọa này quả có khả năng trấn áp. Vì hơn ai hết Thiếu-sinh-quân coi ba ngôi nhà chính; nơi ăn, ngủ, học là một biểu tượng thiêng liêng.
      _ Cách đây mấy giờ, trên máy PRC25 anh Trần Đức Các đã cho chúng tôi biết tình hình.  Vậy tôi xin đại-tá cho ngưng chiến một giờ, để chúng tôi kịp thu quân.
      _ Được ! Tôi hứa.
      _ Cuộc kháng cự tại đây do tôi chỉ huy. Nếu đại tá cho rằng chúng tôi có tội, xin xử bắn mình tôi là đủ. Tôi xin nhận hết trách nhiệm. Mong đại tá đừng làm khổ các bạn tôi.
      _ Em không có tội gì cả. Tất cả các em đều không có tội. Chiến tranh chấm dứt. Hòa bình đã về trên đất nước chúng ta.
      Lại một cái bắt tay.
      Hai mươi phút sau, các Thiếu-sinh-quân tập họp thành hai tiểu đoàn.
      Ngô Văn Từ  hô !
      _ Tất cả nghe lệnh tôi. Nghiêm !
      _ Bắt súng chào, bắt !
      _  Hạ quốc kỳ !
      Dưới ánh nắng chiều tháng tư, lá cờ vàng từ rừ hạ xuống, trong khi tiếng hát của hơn nghìn thiếu nhi vang lên :
     " Này công dân ơi !
      Quốc gia đến ngày giải phóng.
      ......
      " Công dân ơi !
      Mau hiến thân dưới cờ,
      Công dân ơi !
      Mau làm cho cõi bờ,
      Thoát cơn tàn phá,
  
   Vẻ vang nòi giống
      Xứng danh nghìn năm,
      Giòng giống Lạc Hồng ".

      Cánh cổng trường mở rộng. Viên chính ủy, viên trung đoàn trưởng đi đầu. Ba chiến xa tiếp nối, rồi Bộ-đội tiến làm hai hàng đi sau, từ từ vào trong sân. Các Thiếu-sinh-quân đã dựng vũ khí thành nhiều hàng. Viên chính ủy, viên trung đoàn trưởng đứng trước hai tiểu đoàn Thiếu-sinh-quân.
      _ Các em có thể lên phòng lấy quần áo, đồ dùng, rồi xuống đây lĩnh tiền túi, giấy đi đường để về với gia đình.
      Ngô Văn Từ hô :
     
_ Tất cả theo lệnh tôi ! Nghiêm ! Tan hàng !
      Thình lình hàng nghìn tiếng trẻ tu lên khóc. Chúng khóc nức nở, khóc thảm thiết chưa từng có trong cuộc đời chúng. Chúng ôm lấy nhau mà khóc.
      Nếu ai tinh mắt, sẽ thấy đại-tá chính ủy, là người cả đời chém giết, mà cũng rơm rớm nước mắt.

    Hôm nay, 24 năm sau, ngồi giữa kinh thành Paris, tôi viết những giòng này, mà tôi không hiểu tại sao các Thiếu-sinh-quân lại khóc ? Xin để độc giả thân mến của tôi giải đáp : Họ khóc cho thân phận nhỏ bé giữa cơn phong ba của đất nước, không biết lưu lạc ? Khóc cho truyền thống 76 năm Thiếu-sinh-quân từ nay chỉ còn là vang bóng một thời ? Hay họ khóc cho 20 Cộng-hòa miền Nam ? Hoặc giả họ khóc vì tủi thân phải sinh ra, lớn lên, dưới quyền những người xưng là Tổng-thống, là Thủ-tướng, là Bộ-trưởng, cũng giờ đó đang ôm những bao Đô-la ngồi trên các chiến hạm Hoa-kỳ lênh đênh trên biển ; hoặc đang ở những phi trường Thái-lan ?

  Bấy giờ là 19 giờ 45 ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Lịch sử 76 năm của trường Thiếu-sinh-quân đã sang trang. Lịch sử 20 miền Nam Việt-Nam khép lại. Và lịch sử tộc Việt cũng chuyển mình đi vào con đường mới, bầu trời mới.

Hosted by www.Geocities.ws

1