|
6.
Trận chiến cuối cùng.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, viên tướng mặt bánh đúc, đần
độn Dương Văn Minh phát thanh bản văn ra lệnh cho quân
đội Việt-Nam Cộng-hòa buông súng đầu hàng.
Tất cả các đơn vị quân đội miền Nam tuân
lệnh, cởi bỏ chiến bào, về sống với
gia đình. Một vài đơn vị lẻ lẻ còn
cầm cự. Tiếng súng kháng cự của các đơn
vị Dù tại Sài-gòn ngừng lúc 9 giờ 7 phút.
Đúng lúc đó tại Chương-thiện, tỉnh-trưởng kiêm
Tiểu-khu trưởng là Đại-tá Hồ Ngọc Cẩn.
Ông đang chỉ huy các đơn vị thuộc quyền chống
lại cuộc tấn công của Cộng-quân. Phần
thắng đã nằm trong tay ông. Lệnh của Dương Văn
Minh truyền đến. Các quận trưởng chán nản ra
lệnh buông súng. Chỉ còn tỉnh lỵ là vẫn
chiến đấu. Đại-tá Hồ Ngọc Cẩn ra
lệnh:
" Dương Văn Minh lên làm Tổng-thống trái với
hiến pháp. Ông ta không có tư cách của vị Tổng-tư-lệnh.
Hãy tiếp tục chiến đấu".
Nhưng đến 12 giờ trưa, các đơn vị dần dần
bị tràn ngập, vì quân ít, vì hết đạn vì
mất tinh thần. Chỉ còn lại bộ chỉ huy
tiểu khu. Trong bộ chỉ huy Tiểu-khu, có một đại
đội địa phương quân cùng nhân viên bộ ham mưu. Đến
13 giờ, lựu đạn, đạn M79 hết. Tới 14
giờ 45, thì đạn hết, làn sóng Cộng-quân tràn
vào trong bộ chỉ huy. Cuối cùng chỉ còn
một ổ kháng cự từ trong một hầm chiến
đấu, nơi đó có khẩu đại liên. Một quả
lựu đạn cay ném vào trong hầm, tiếng súng im
bặt. Quân Cộng-sản vào hầm lôi ra hai người.
Một là Đại-tá Hồ Ngọc Cẩn, tỉnh trưởng,
kiêm tiểu khu trưởng và một trung sĩ
mơí 19 tuổi. Trung sĩ đó tên là Vũ Tiến
Quang.
Bấy giờ đúng 15 giờ.
Kẻ chiến thắng trói người chiến bại
lại. Viên đại-tá chính ủy của đơn vị có
nhiệm vụ đánh tỉnh Chương-thiện hỏi:
_ Đ.M. Tại sao có lệnh đầu hàng, mà chúng mày không
chịu tuân lệnh?
Đại-tá Cẩn trả lời bằng
nụ cười nhạt.
Trung sĩ Quang chỉ đại-tá Cẩn:
_ Thưa Đại-tá, tôi không biết có lệnh đầu hàng.
Ví dù tôi biết, tôi cũng vẫn chiến đấu. Vì
anh ấy là cấp chỉ huy trực tiếp của tôi.
Anh ra lệnh chiến đấu, thì tôi không thể cãi
lệnh.
Cộng quân thu nhặt xác chết trong, ngoài bộ chỉ
huy tiểu khu. Viên chính ủy chỉ những xác chết
nói với đại-tá Cẩn:
_ Chúng mày là hai tên ngụy ác ôn nhất. Đ.M. Chúng mày
sẽ phả đền tội.
Đại-tá Cẩn vẫn không trả lời, vẫn cười
nhạt. Trung sĩ Quang ngang tàng:
_ Đại-tá có lý tưởng của đại-tá, tôi có lý
tưởng của tôi. Đại-tá theo Karl Marc, theo Lénine; còn
tôi, tôi theo vua Hùng, vua Trưng. Tôi tuy bại trận, nhưng tôi
vẫn giữ lý tưởng của tôi. Tôi không gọi
đại tá là tên Việt-cộng. Tại sao đại-tá
lại mày tao, văng tục với chúng tôi như bọn
ăn cắp gà, phường trộm trâu vậy? Phải
chăng đó ngôn ngữ của đảng Cộng-sản?
Viên
đại-tá rút súng kề vào đầu Quang:
_ Đ.M. Tao hỏi mày, bây giờ thì mày có chính nghĩa
hay tao có chính nghĩa?
_ Xưa nay súng đạn trong tay ai thì người đó có lý.
Nhưng đối với tôi, tôi học trường
Thiếu-sinh-quân, súng đạn là đồ chơi của tôi
từ bé. Tôi không sợ súng đâu. Đại-tá đừng
dọa tôi vô ích. Tôi vẫn thấy tôi có chính nghĩa, còn
đại-tá không có chính nghĩa. Tôi là con cháu Hoài-văn vương
Trần Quốc Toản mà.
_ Đ.M. Mày có chịu nhận mày là tên ngụy không?
_ Tôi có chính nghĩa thì
tôi không thể là ngụy. Còn Cộng-quân dùng súng
giết dân mới là ngụy, là giặc cướp. Tôi
nhất quyết giữ chính khí của tôi như Bảo-nghĩa
vương Trần Bình Trọng, như Nguyễn
Biểu.
Quang cười nghạo nghễ:
_ Nếu đại-tá có chính
nghĩa tại sao đại-tá lại dùng lời nói thô
tục vơí tôi? Ừ! Muốn mày tao thì mày tao. Đ.M. tên
Cộng-sản ác ôn! Nếu tao thắng, tao dí súng vào thái
dương mày rồi hỏi: Đ.M.Mày có nhận mày là tên
Việt-cộng không? Thì mày trả lời sao?
Một
tiếng nổ nhỏ, Quang ngã bật ngửa, óc
phọt ra khỏi đầu, nhưng trên môi người thiếu
niên còn nở nụ cười. Tôi không có mặt
tại chỗ, thành ra không mường tượng ý nghĩa
nụ cười đó là nụ cười gì? Độc
giả của tôi vốn thông minh, thử đoán xem nụ cươì
đó mang ý nghĩa nào? Nụ cười hối hận ?
Nụ cười ngạo nghễ? Nụ cười khinh bỉ?
Hay nụ cười thỏa mãn?
Ghi
chú
Nhân
chứng quan trọng nhất, chứng kiến tận
mắt cái chết của Vũ Tiến Quang thuật cho tác
giả nghe là cô Vũ Thị Quỳnh Chi. Cô là em ruột
của Quang, nhỏ hơn Quang 4 tuổi. Lúc anh cô bị
giết, cô mới 15 tuổi (cô sinh năm 1960). Hiện (1999)
cô là phu nhân của bác sĩ Jean Marc Bodoret, học trò
của tôi, cư trú tại Marseille, Pháp.
Ít lâu sau, Đại-tá Hồ Ngọc Cẩn bị đem
ra xử bắn.
Đại-tá
Hồ Ngọc Cẩn sinh ngày 24 tháng 3 năm 1938,
xuất thân từ trường Thiếu-sinh-quân Đệ-nhất
quân khu ở Gia-định. Năm 1952 trường di chuyển
về Mỹ-tho. Ông ra
trường năm 1956. (Xin đọc bài Vài
nét về anh hùng Hồ Ngọc Cẩn trong tập sách
này). Còn trung-sĩ Vũ Tiến Quang, sinh ngày 10 tháng 9
năm 1956, xuất thân trường Thiếu-sinh-quân Việt-Nam.
Nhập trường ngày 2 tháng 9 năm 1969, ra trường tháng 6 năm
1974. Đơn vị phục vụ là trung đoàn 31 bộ binh. (Xin
đọc bài Cái bóng của Hoài-văn vương Trần Quốc
Toản trong sách này).
Tại
Thị-xã Vũng-tầu, nơi có nhiều quân trường.
Như trường huấn luyện cán bộ nông thôn, trường
huấn luyện hải thuyền Cát-lở, trường
Truyền-tin, trường Quân-cảnh, và một căn cứ
Hải-quân. Tuy có hậu cứ hai đơn vị chiến đấu
là tiểu đoàn 4 Thủy-quân lục-chiến, tiểu đoàn
6 Dù. Nhưng đây không phải là đơn vị trú phòng để
bảo vệ Thị-xã, mà chỉ là nơi nghỉ quân,
sau thời gian xông pha ngoài chiến trường.
Trong
những ngày 27-28-29 tháng 4 năm 1975, hầu hết khóa sinh, cán
bộ của những quân trường đều bỏ
trốn, kể cả cán bộ trường Thiếu-sinh-quân.
Một trung đội Thiếu-sinh quân đang học chứng
chỉ 2 bộ binh, được phối trí đóng tại khách
sạn Palace, một trung đội nữa đươc phối trí
bảo vệ Bạch-dinh. Còn lại 2 trung đội dàn
ra cùng nhân viên và các Thiếu-sinh-quân lớn bảo
vệ trường.
Sáng
ngày 30, sau khi lệnh đầu hàng ban ra, nhân viên, cán bộ
quẳng súng về lo di tản gia đình. Nhưng các
Thiếu-sinh-quân không bỏ trường. Họ tự
chỉ huy nhau, lấy hết vũ khí trong kho, rồi
bố trí giữ trường. Bấy giờ là lúc các đơn
vị Cộng-quân tiến vào Vũng-tầu. Họ
tiến làm hai mũi.
Mũi
thứ nhất từ Long-hải, theo bờ biển tới
bãi Sau, qua chùa Linh-sơn, vào Thị-xã. Họ
tiến vào dinh Thị-trưởng, ty Cảnh-sát, không
gặp một người nào, không một phát súng nổ.
Giữa lúc bộ chỉ huy đang đứng lố nhố
tại sân tòa Thị-chính thì thình lình
đại liên từ một cửa sổ căn phòng
của khách sạn Palace bắn ra làm hai người chết,
bốn người bị thương. Rồi súng từ các
cửa sổ, sân thượng tiếp tục nã
xuống. Lập tức một tiểu đoàn nấp vào
những ngôi nhà xung quanh phản công, bao vây khách sạn.
Viên
chính ủy của cánh quân chiếm Vũng-tầu là người
có học thức, lại còn trẻ. Tôi đã
cố gắng tìm tên ông mà không ra. Tôi xin mạn phép
gọi ông bằng tên một nhân vật tiểu thuyết
của tôi là Mã Vũ. Ông ra lệnh:
"Trên
khách sạn không có ngụy quân,
chỉ có chưa quá 40 Thiếu-sinh-quân. Ngừng bắn! Không
được bắn làm hư hại một khách sạn đắt
tiền. Dùng loa kêu gọi chúng đầu hàng".
Loa kêu gọi kệ loa kêu gọi, các Thiếu-sinh-quân
vẫn không chịu đầu hàng. Viên tiểu đoàn trưởng
xin tấn công tiêu diệt. Đại-tá Mã Vũ
ra lệnh:
" Bọn trẻ này rất can đảm và giỏi tác
chiến. Đánh sẽ tổn thất nhiều. Cứ bao vây,
chúng đói phải bò ra hàng".
Thế là khách sạn bị bao vây chặt cứng.
Ban hỏa đầu vụ tại trường tan hàng hôm 29, nên
từ chiều hôm trước các Thiếu-sinh-quân trấn khách
sạn không được tiếp tế lương thực, phải
ăn lương khô. Từ sáng hôm nay, lương khô hết. Tất
cả phải nhịn đói. Chỉ huy trung đội là
Thiếu-sinh-quân Trần
Đức Các. Thấy anh em đói quá không còn sức, Các
bàn:
_ Chúng mày ạ! Bây giờ thà hàng, còn hơn khi chúng mình
đói quá, không còn sức, chúng tấn công vào bắt
sống thì nhục lắm.
Tất cả Thiếu-sinh-quân đồng ý. Trần Đức
Các chỉnh đốn y phục lại, rồi ra khỏi khách
sạn:
_ Tôi muốn gặp người
chỉ huy cao nhất.
Các được dẫn đến gặp viên chính ủy. Trong tư
thế đứng nghiêm:
_ Tôi là Thiếu-sinh-quân Trần Đức Các, chỉ huy
trung đội trấn thủ khách sạn.
Sau cái bắt tay:
_ Tôi là đại-tá Vũ chính ủy. Em bao nhiêu tuổi ?
_ 17 tuổi.
_ Tại sao có lệnh đầu hàng, mà em không chịu đầu
hàng?
_ Lệnh đầu hàng là của Đại-tướng Dương Văn
Minh, chỉ có hiệu lực vơí quân đội. Còn chúng
tôi là Thiếu-sinh-quân. Khi học, chúng tôi chỉ học
chiến chứ chưa học hàng. Thành ra không biết cách
đầu hàng.
_ Em ra đây gặp tôi với mục đích gì?
_ Chúng tôi có 31 người. Bây giờ tôi có một đề
nghị với Đại-tá.
_ Em cứ nói.
_ Các bạn tôi chiến đấu là do tôi ra lệnh. Tôi xin
nhận hết trách nhiệm. Đại-tá muốn bắn tôi,
thì tôi không hề oán trách. Xin đại-tá đừng làm
tội các bạn tôi.
Lại
một cái bắt tay:
_
Tôi hứa danh dự, để các em rời khỏi đây
về với gia đình.
Mười
phút sau, trung đội Thiếu-sinh-quân tập họp trước
sân khách sạn. Trần Đức Các hô bắt súng chào. Viên
đại-tá chính ủy đáp lễ rồi ra lệnh cho
một trung đội Bộ-đội tiếp nhận vũ khí.
Trao vũ khí cho người, các Thiếu-sinh-quân cúi mặt
xuống, nước mắt chan hòa.
Bấy giờ là 17 giờ 18 phút.
Xót
người dưới quyền bị chết, viên tiểu đoàn
trưởng hỏi:
_
Hồi sáng, các anh bắn vào Bộ-đội, làm 4 người
chết, 6 người bị thương. Giết người thì
đền tội. Vậy tôi sẽ xử bắn 10 người
trong 31 các anh. Ai bắn vào
Bộ-đội thì bước ra!
Tất cả 31 Thiếu-sinh-quân đều trả lời:
_ Tôi! Chính tôi bắn. Hãy giết tôi đi.
Viên chính ủy xua tay:
_ Trong lúc giao tranh, súng đạn vô tình. Các em không có
tội gì cả.
Sau đó tất cả các Thiếu-sinh-quân được cấp
giấy đi đường, mỗi người được một
số tiền túi làm lộ phí.
Mũi thứ nhì. Tiến theo quốc lộ 15,
chiếm căn cứ Hải-quân dễ dàng. Một đại
đội được để lại trấn thủ. Chiến đoàn
tiếp tục chiếm trung tâm huấn luyện cán bộ
Nông-thôn, trường Truyên-tin dễ dàng. Khi chiếm trường
Thiếu-sinh-quân thì gặp sức kháng cự mãnh
liệt. Sau mấy đợt xung phong, bị đánh bật ra,
viên Trung-đoàn trưởng báo cáo cho đại-tá Mã Vũ.
Mã Vũ nhận đươc báo cáo đúng lúc vừa giải
quyết xong ổ kháng cự khách sạn:
" Tiến chiếm trường Truyền-tin không gặp
sức kháng cự. Nhưng khi tiến chiếm trường
Thiếu-sinh-quân chúng chống trả mãnh liệt ".
Đã kinh nghiệm về vụ chiếm khách sạn. Viên
chính ủy ra lệnh :
_ Ngừng bắn ! Án binh bất động ! Đợi lệnh
!
Ông
ta lên xe trực chỉ mặt trận. Viên Trung-đoàn trưởng
báo cáo:
_ Thưa đồng chí ! Tôi dẫn
Trung-đoàn tiến chiếm trường Truyền-tin, tiếp
quản máy móc xong, tôi thân dẫn một tiểu đoàn theo
quốc lộ 15, tiến đánh trường Thiếu-sinh-quân.
Đi đầu là ba thiết giáp. Đoàn quân vượt qua ngã
tư Nguyễn An-Ninh thì chia làm hai. Một cánh vòng
xuống Bến-đình, rồi bọc hông phía Nam.
Một cánh theo quốc lộ 15 tốc thẳng tới
cổng chính. Khi chiếc thiết giáp
đi đầu vừa qua khúc gẫy của con đường,
thấy cổng trường bằng sắt đóng kín, không có
binh canh phía ngoài. Trên cổng có tấm bảng lớn
với hai hàng chữ :
Quân-đội Việt-Nam Cộng-hòa
Trường Thiếu-sinh-quân Việt-Nam
Thì
hai phát M79 từ sau cổng trường bắn ra, nổ sát
ngay bên cạnh chiếc Thiết-giáp, cầy tung đất lên
cao, khói bay mù mịt. Tiếp theo tiếng đạn đại
liên nổ dòn dã. Thiết-giáp dùng đại pháo
130 ly bắn trực xạ vào trong trường. Một
quả trúng cổng trường, xuyên thủng cánh cửa, làm
sập bức tường án sau cổng. Một quả
bắn nát tấm bảng hiệu, xuyên vào trong, làm
sập căn nhà nhỏ phía cuối sân trước. Hai hàng
Bộ-đội đi tùng thiết bên đường vội lăn
xuống vệ đường. Còn chiếc thiết giáp thì
sang số lùi lại. Nhanh chóng, ta chia làm hai mũi. Một
mũi nhảy qua hàng rào trại Cô Giang. Một mũi
nhảy qua bức tường, vào trong Quân-y viện Vũng-tầu,
tiến chiếm khách sạn Quốc-tế (International) ngay
trước cổng trước cổng trường. Không đầy
nửa giờ, ta đã chiếm trại Cô Giang, Quân-y
viện, dàn ra thành hàng dài trước mặt tiền trường.
Quan sát sơ tình hình, tôi quyết định : Tăng thêm
một tiểu đoàn. Dùng cả
hai tiểu đoàn bao vây trường bằng mặt
tiền, và hông phía Nam.
Viên Trung-đoàn trưởng kết luận :
_ Trường quá rộng, trong khi số Thiếu-sinh-quân
lại đông. Chúng nấp sau bức tường dầy, và
trong các căn nhà. Chúng có đủ thứ vũ khí. Chúng nã
bách kích pháo 81 ly, M79 rất
rất giỏi. Hai xe tăng của ra không thể tiến lên
được. Chúng không bắn bừa như bọn ngụy người
lớn. Chúng chỉ nổ súng khi thấy ta. Chúng bắn
rất chính xác. Bộ đội đã cắt giây kẽm
gai, leo rào vào trong, bị chúng bắn tử thương khá
nhiều. Tôi đã cho xung phong bốn lần, nhưng tường
cao quá vào không được. Xin cho phép dùng đại pháo, dùng
B40-B41 phá tường.
_ Không nên ! Dùng lối đánh đó, thì chiếm được
mau chóng, nhưng tổn thất người, vật chất. Bao
vây. Cứ mười phút bắn dọa một lần.
Bọn trẻ này không có nhiều đạn, lương thực cũng
không. Đợi chúng đói, ta sẽ gọi đầu hàng.
Quả đúng như viên chính ủy đó tiên đoán. Các
Thiếu-sinh-quân đang tuổi trưởng thành, ăn nhiều,
mau đói. Từ sáng đến giờ, phải nằm dài ra
tại các vị trí chiến đấu. Cơm không, nước không.
Đói quá, chân tay bủn rủn.
Bên ngoài, cứ mười phút, viên Trung-đoàn trưởng
lại ra lệnh cho Bộ-đội nổ súng, rồi hô
xung phong. Nhưng chỉ hô xung phong để uy hiếp mà thôi.
Mỗi lần như thế, đạn từ trong trường
bắn ra ào ào.
Sau bốn loạt đạn uy hiếp tinh thần. Viên chính
ủy lại ban lệnh gọi loa:
" Các Thiếu-sinh-quân nghe đây. Nếu các em không buông súng
thì chúng tôi sẽ phá sập ngôi trường của các
em. Bây giờ tôi tạm bắn
sập mấy ngôi nhà cho các em biết..."
Thế rồi B40-B41, đại
pháo trên xe tăng bắn vào sân, nã nát mấy căn nhà
nhỏ bằng tôn chứa dụng cụ thể thao,
rồi lại kêu gọi đầu hàng.
Quả nhiên, sau biện pháp đó thì cánh cửa
của cổng chính mở rộng, một Thiếu-sinh-quân
xuất hiện :
_ Cho tôi gặp người chỉ huy cao cấp nhất.
Viên chính ủy, rời khỏi chỗ nấp :
_ Tôi đây. Tôi là đại tá Mã Vũ.
Một Thiếu-sinh-quân trong tư thế đứng nghiêm,
chào :
_ Thiếu-sinh-quân Ngô Văn Từ, số quân...đại
đội trưởng đại đội chứng chỉ hai.
Một cái bắt tay lịch sử.
_ Toàn quốc đã buông súng đầu hàng. Các em còn
kháng cự chi vô ích. Những người bạn của em
tại khách sạn đã hàng rồi. Tôi thấy các em còn
nhỏ, nên không muốn dùng vũ khí nặng bắn vào các
em.
_ ! ! !
_ Em nên nhớ, tôi ra lệnh bắn sập mấy căn
nhà nhỏ ngụ ý muốn nói, nếu các em không hàng
thì tôi sẽ bắn sập tất cả ba ngôi trường
to lớn của các em.
Lời đe dọa này quả có khả năng trấn áp.
Vì hơn ai hết Thiếu-sinh-quân coi ba ngôi nhà chính; nơi
ăn, ngủ, học là một biểu tượng thiêng liêng.
_ Cách đây mấy giờ, trên máy PRC25 anh Trần Đức
Các đã cho chúng tôi biết tình hình.
Vậy tôi xin đại-tá cho ngưng chiến một
giờ, để chúng tôi kịp thu quân.
_ Được ! Tôi hứa.
_ Cuộc kháng cự tại đây do tôi chỉ huy.
Nếu đại tá cho rằng chúng tôi có tội, xin xử
bắn mình tôi là đủ. Tôi xin nhận hết trách
nhiệm. Mong đại tá đừng làm khổ các bạn tôi.
_ Em không có tội gì cả. Tất cả các em
đều không có tội. Chiến tranh chấm dứt. Hòa
bình đã về trên đất nước chúng ta.
Lại một cái bắt tay.
Hai mươi phút sau, các Thiếu-sinh-quân tập họp thành
hai tiểu đoàn.
Ngô Văn Từ hô !
_ Tất cả nghe lệnh tôi. Nghiêm !
_ Bắt súng chào, bắt !
_ Hạ quốc
kỳ !
Dưới ánh nắng chiều tháng tư, lá cờ vàng
từ rừ hạ xuống, trong khi tiếng hát của hơn
nghìn thiếu nhi vang lên :
" Này công dân ơi !
Quốc gia đến ngày giải phóng.
......
" Công dân ơi !
Mau hiến thân dưới cờ,
Công dân ơi !
Mau làm cho cõi bờ,
Thoát cơn tàn phá,
Vẻ
vang nòi giống
Xứng danh nghìn năm,
Giòng giống Lạc Hồng ".
Cánh cổng trường mở rộng. Viên chính
ủy, viên trung đoàn trưởng đi đầu. Ba chiến xa
tiếp nối, rồi Bộ-đội tiến làm hai hàng đi
sau, từ từ vào trong sân. Các Thiếu-sinh-quân đã
dựng vũ khí thành nhiều hàng. Viên chính ủy, viên
trung đoàn trưởng đứng trước hai tiểu đoàn
Thiếu-sinh-quân.
_ Các em có thể lên phòng lấy quần áo, đồ
dùng, rồi xuống đây lĩnh tiền túi, giấy đi
đường để về với gia đình.
Ngô Văn Từ hô :
_ Tất cả theo lệnh tôi
! Nghiêm ! Tan hàng !
Thình lình hàng nghìn tiếng trẻ tu lên
khóc. Chúng khóc nức nở, khóc thảm thiết chưa
từng có trong cuộc đời chúng. Chúng ôm lấy nhau mà
khóc.
Nếu ai tinh mắt, sẽ thấy đại-tá chính
ủy, là người cả đời chém giết, mà cũng rơm
rớm nước mắt.
Hôm
nay, 24 năm sau, ngồi giữa kinh thành Paris, tôi viết
những giòng này, mà tôi không hiểu tại sao các
Thiếu-sinh-quân lại khóc ? Xin để độc giả thân
mến của tôi giải đáp : Họ khóc cho thân phận
nhỏ bé giữa cơn phong ba của đất nước, không
biết lưu lạc ? Khóc cho truyền thống 76 năm
Thiếu-sinh-quân từ nay chỉ còn là vang bóng
một thời ? Hay họ khóc cho 20 Cộng-hòa
miền Nam ? Hoặc giả họ khóc vì tủi thân
phải sinh ra, lớn lên, dưới quyền những người
xưng là Tổng-thống, là Thủ-tướng, là Bộ-trưởng,
cũng giờ đó đang ôm những bao Đô-la ngồi trên các
chiến hạm Hoa-kỳ lênh đênh trên biển ; hoặc đang
ở những phi trường Thái-lan ?
Bấy
giờ là 19 giờ 45 ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Lịch sử 76 năm của trường Thiếu-sinh-quân đã
sang trang. Lịch sử 20 miền Nam Việt-Nam khép
lại. Và lịch sử tộc Việt cũng chuyển mình
đi vào con đường mới, bầu trời mới.
|