2. Cơ sở trường Thiếu-sinh-quân Việt-Nam,                       
    
    Trường là doanh trại của quân đội Pháp xây cất để lại, bình dân gọi là thành Pháo-thủ tại Vũng-tầu. Thành Pháo-thủ là một doanh trại rộng lớn, khang trang, nằm dưới chân ngọn núi Lớn. Phía trước là quốc lộ 15, nối liền Vũng-tầu với Bà-rịa, Sài-gòn. Bên ngoài, có tường dầy quét vôi vàng, phía trên bằng sắt sơn mầu lam nhạt. Hai hông, phía sau là những bức tường bằng đá, cao trên 2 mét, dầy trên 50 phân. Có ba cổng chính từ quốc lộ 15 vào trường. Nhưng chỉ xử dụng có một cổng, đó là cổng mà con đường từ quốc lộ 15, nối Sài-gòn, Vũng-tầu đâm thẳng vào trong. Trường có ba dẫy nhà lớn ba tầng, nằm theo hình chữ L. Mỗi tầng đều có hành lang trước, sau rất rộng. Ba dãy nhà chia làm hai khu. Khu thứ nhất, được gọi là khu Văn-hóa. Khu Văn-hóa gồm dẫy thứ nhất, nằm về phía Bắc. Dẫy nhà này được dùng làm phòng Văn-hóa, phòng hội giáo sư, phòng học. Hai tầng trên, mỗi tầng có 12 phòng lớn, dùng làm phòng Văn-hóa, ban Trung-học, ban Tiểu-học, phòng giáo sư mất 4 phòng, còn lại 20 phòng học. Tầng dưới cùng, cũng 12 phòng, ngăn đôi, làm thành 24 phòng học. Vào thịnh thời của trường (1959-1975) trường mở tới 44 lớp học. Trước dẫy nhà này, còn có hai ngôi nhà nhỏ, theo kiểu biệt thự, hai tầng,dùng làm phòng Quân-huấn.
    Khu thứ nhì gọi là khu sinh hoạt, gồm hai dãy nhà còn lại, là nơi Thiếu-sinh-quân ăn, ngủ, làm văn phòng Liên-đoàn. Sân cờ nằm trước dãy nhà thứ nhì. Khu này cũng có hai ngôi biệt thự, dùng làm văn phòng chỉ huy trưởng, chỉ huy phó, tham mưu trưởng và phòng hành cánh, tài chánh. Ngoài ra khu này còn nhưng căn nhà tôn mới cất, sau làm văn phòng khối Chiến-tranh chính-trị. Phía sau dãy nhà chính giữa là nhà bếp.
    Khu Văn-hóa và khu sinh hoạt cách biệt nhau bằng một dãy nhà thấp, chắn ngang, dùng làm câu lạc bộ, và nhà kỷ luật. Nhà kỷ luật, nói nôm na ra là nhà tù, để giam những ông mãnh chọc trời khuấy nước. Ngôi nhà nhỏ này được gọi đùa là Nhà nghỉ mát, hoặc Dinh hoàng đế, hoặc Biệt-điện.
    Như trên nói, tất cả cơ sở trường, nằm gọn ngay bụng ngọn núi Lớn  của Vũng-tầu. Ngọn núi Lớn, có hình dạng giống con đại bàng đang bay, đầu hướng cửa sông Sài-gòn. Cánh phải nằm ngay khu Nam trường Thiếu-sinh-quân. Chân phải cặp thanh kiếm, chĩa ngay vào sân cờ trường. Đuôi là sân vận động thành phố. Chân trái là Bạch-dinh, nơi người Pháp xây cho vua Thành-Thái ở, nên còn gọi là dinh Thành-Thái. Cánh trái là mỏm bãi Dâu, sau này xây đài đức mẹ Maria. Còn đầu, chính là nơi xây Thích-ca Phật-đài, chùa Quy-sơn, chùa Linh-sơn v.v. Núi có một thác nước, thác này chảy vào dãy nhà giữa của trường. Cơ quan Thủy-Điện Vũng-tầu đã khai thác làm nơi cấp nước cho thành phố. Nhưng sau này trường Thiếu-sinh-quân gần như độc quyền xử dụng.
   
Đứng về phương diện Phong-thủy, trường nằm ngay giữa chân, cánh con đại bàng đang bay, chân cặp thanh gươm, thì sẽ là nơi cung cấp cho đất nước nhiều đấng anh hùng. Các cựu Thiếu-sinh-quân có nhiều dịp lập chiến công hiển hách, danh vang khắp nước, tên ghi thanh sử. Nhưng quốc lộ 15 đâm thẳng vào trường, chĩa ngay vào cổ con đại bàng, thì số cựu Thiếu-sinh-quân vị quốc vong thân sẽ lên cao. Thực vậy, trong khoảng thời gian 1962-1975, số cựu Thiếu-sinh-quân tử trận trung bình là 45-47%. So với trường Võ-bị Quốc-gia 1à 15%, với trường Võ-khoa Thủ-đức là 13%, trường sĩ quan đặc biệt Nha-trang là 16% . Đấy là nói về phong thủy.
   
 
    Ghi chú.
    Lối tính của tôi như thế này: Lấy tổng cộng quân số ra trường với quân số tử trận. Như năm 1970, số sĩ quan tốt nghiệp trường Võ-bị Quốc-gia là 240 người, trong khi số tử trận của các cựu sĩ quan Đà-lạt là 12, như vậy là 5%. Cũng trong năm này, số Thiếu-sinh-quân ra trường là 320, số tử trận là 151, như vậy là 47%.
    Tuy tôi là người học tới trình độ khá về khoa Phong-thủy, và cũng có chút danh; nhưng tôi thấy không phải như thế. Vì với Quốc-lộ đó, với những xe đâm vào, không đủ sức đánh bạt được cái khí hạo nhiêm, cái hào quang của cả mấy nghìn thiếu niên ngút lửa yêu nước. Vả giai đoạn 1962-1975, số cựu Thiếu-sinh-quân tử trận, một phần tư ra trường trước 1957, họ xuất thân ở những trường khác, đâu có liên quan gì tới địa thế  trường Thiếu-sinh-quân Việt-Nam ?
    Sau khi nghiên cứu kỹ về đời sống các Thiếu-sinh-quân, tôi tìm ra ngay nguyên do, đưa đến các cựu học sinh tuẫn quốc nhiều. Đó là truyền thống các Thiếu-sinh-quân không thích ngồi  văn phòng, thích xông pha chiến trường. Ngoài chiến trường, họ luôn là những chiến sĩ nêu cao gương dũng cảm.

    Xin kể một giai thoại :
    Bấy giờ là tháng 8 năm 1967, hai trung-sĩ cựu Thiếu-sinh-quân Trần Bắc và Phạm Đức, cùng tòng sự tại tiểu đoàn 44 Biệt-động-quân, trú đóng trong khu 42 chiến thuật. Tuy còn trẻ, nhưng vì can đảm, lại giỏi tác chiến, nên mỗi người đều được giữ chức trung đội trưởng. Trong cuộc hành quân đánh vào rừng U-minh, khi lệnh xung phong ban ra, Bắc cùng trung đội lao vào phòng tuyến địch. Chẳng may, Bắc bị thụt xuống cái hố, loi ngoi mãi không lên được. Sau trận đánh tiểu đoàn trưởng là thiếu-tá Nguyễn Văn Huy hỏi Bắc : "  Mọi khi chú can đảm lắm kia mà ! Tại sao lần này sợ quá, rồi lặn xuống sình như con cá lóc vậy ? " Bắc biện luận, nhưng cả tiểu đoàn không ai tin. Đức chửi Bắc : " Mày làm mất mặt bầu cua Thiếu-sinh-quân ". Sau đó Đức viết thư về trường kể cho đàn em nghe. Đàn em truyền khẩu nhau. Bắc biết được, chửi Đức :"  Mày cũng như tao, cùng xuất thân lò Thiếu-sinh-quân. Cái lò của mình có thằng nào sợ chết đâu ? Tại sao mày kể cho tụi nhóc ở nhà nghe, chúng cười tao ? Bây giờ thế này, từ nay trước khi hành quân, mày có dám ủi quần áo thực thẳng rồi ra trận. Khi trở về, quần áo đứa nào gẫy, nhăn thì thằng đó là cá lóc ".
Sau đó trong ba trận liền, Đức, Bắc cứ đứng mà chỉ huy, khi đi y phục thẳng, lúc về cũng thẳng. Cả tiểu đoàn truyền tụng nhau về sự can đảm của hai trung sĩ sữa : Ra trận không
bao giờ nằm, quỳ bò ; chỉ đứng và chạy. Từ đấy hai chàng có tên " Đi thẳng, về thẳng". Mấy hôm sau tin này đồn về trường. Bọn trẻ còn nhỏ suýt xoa kể cho nhau về giai thoại hai người anh. Thiếu-tá Nguyễn Văn Huy xin thăng hai trung sĩ sữa lên trung sĩ nhất, khen ngợi xong, bảo :
    "  Thôi ! Như vậy đủ rồi ! Từ nay đừng đứng nữa ! Nguy hiểm lắm ".
    Nhưng các trận sau Đức, Bắc cũng cứ đứng chỉ huy. Cái dịch đứng chỉ huy lan mau lẹ sang các cựu Thiếu-sinh-quân của sư  đoàn 21 bộ binh. Phòng Tâm-lý-chiến báo cáo lên chuẩn tướng Nguyễn Văn Minh, tư lệnh sư đoàn. Rất kinh nghiệm về Thiếu-sinh-quân, ông nói :
    " Các em nó can đảm, đáng làm gương ! Đáng khen ! Mình là tư lệnh, lại cấm chúng thì vô lý. Thôi, muốn dẹp phong trào này thì phải có một đàn anh của chúng trị mới được ".
    Ông điện thoại cho đại-úy Hồ Ngọc Cẩn. Tuần sau, Đức, Bắc và 12 cựu Thiếu-sinh-quân khác được đại úy Hồ Ngọc Cẩn, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1/33 gọi tới cùng ăn bữa cơm chung. Mười bốn người tưởng phen này được gặp đàn anh, tha hồ mà dỡn. Nào ngờ vừa trình diện ông anh xong, Cẩn hỏi bằng giọng lạnh như băng :
    _ Đức, Bắc ! Tụi bay nghĩ rằng mình còn đánh mấy trận nữa thì hết Việt-cộng ?
    _ Dạ ít ra là vài trăm, nhiều ra là vài nghìn.
    _ Tụi bay thi nhau làm anh hùng rơm, thí cái xác bọn bay thì không sao. Nhưng, quốc gia chi ra bao nhiêu tiền mới tạo ra hai chúng mày để đánh cho đến khi thắng Cộng-sản chứ có phải đánh vài trận đâu ?
    _ Dạ, em biết lỗi rồi.
    _ Mỗi đứa 5 hèo.
    Hai anh hùng " Đi thẳng, về thẳng" bị nọc ra lĩnh hèo liền. Cẩn quay ra hỏi 12 đàn em khác :
    _ Tụi bay lây cái bệnh anh hùng rơm của 2 thằng này ! Tao tạm tha cho. Hễ tái phạm tao hèo.
    Sau đó anh em nhậu nhẹt với nhau, cười đùa như không có gì xẩy ra. Ít tháng sau đó Đức, Bắc được gửi đi học khóa sĩ quan đặc biệt.

  Ghi chú.
   
Không phải mình đại úy Hồ Ngọc Cẩn có oai với đàn em như vậy. Mà truyền thống Thiếu-sinh-quân thế đó. Anh thì thương yêu em, dạy dỗ, tha thứ, bao che cho em. Còn em thì kính trọng anh. Hiện (1999) tất cả những hệ thống của miền Nam Việt-Nam, khi ra hải ngoại đều hỗn độn hết. Kể cả hệ thống tăng ni. Bởi đàn em còn trẻ, học được, có chỗ đứng vững về tài chánh, là coi đàn anh không ra gì. Đàn anh bị mất hết, nảy tật già không nên nết. Nhưng tập thể Thiếu-sinh-quân thì không. Những người đi trước vẫn có uy, vẫn được đàn em kính nể, thăm viếng. Vì vậy những ông lớn tuổi phải hết sức giữ gìn cái vị thế thanh cao của mình.
 Cái truyền thống Thiếu-sinh-quân là : Không cứ phải là cấp chỉ huy trực tiếp. Một người nào đó làm lỗi, người đàn anh thâm niên nhất trong vùng, gọi đến chà xà bông liền. Và mỗi khi một người bị tai vạ hay bị ăn hiếp, lập tức tất cả các cựu Thiếu-sinh-quân trong vùng xúm vào mà bênh, mà đỡ đòn.

Hosted by www.Geocities.ws

1