|
6.
Những truyền thống đặc biệt.

Trong
các trường Thiếu-sinh-quân đồng thời với trường
Thiếu-sinh-quân đệ nhất Quânkhu, thì trường này
có nhiều cơ may vào bậc nhì, so với trường
Thiếu-sinh-quân Đông-dương.
_
Cái cơ may thứ nhất, là lúc mới thành lập, trường
tọa lạc tại thủ đô Sài-gòn. Những cơ
sở đầu não về quân sự đều đặt
ở đây : Bộ Tư-lệnh quân đội tại Đông-dương
của Pháp. Bộ Quốc-phòng Việt-Nam,
bộ Tổng-tham-mưu Việt-Nam, bộ Tư-lệnh đệ
nhất quân khu Việt-Nam. Những cơ sở trực
thuộc các cơ quan này hầu hết đồn trú tại Sài-gòn.
Truyền thống của quân đội Pháp cũng như
Việt-Nam là trao chức vụ tín cẩn cho những quân
nhân cựu Thiếu-sinh-quân. Vì vậy tại thành
phố Sài-gòn Gia-định đầy những cựu
Thiếu-sinh-quân. Mỗi khi trường Thiếu-sinh-quân
cần gì, gặp khó khăn gì, lập tức được
các cựu Thiếu-sinh-quân giải quyết ngay. Quân trang,
quân dụng, xe cộ, học cụ... không bao giờ trường
gặp khó khăn trở ngại cả.
_
Khác với những trường Thiếu-sinh-quân đồng
thời, giáo chức đa số là quân nhân động viên,
hoặc mượn theo khế ước nhân viên dân chính
thuộc bộ Quốc-phòng. Các giáo chức trường
Thiếu-sinh-quân Gia-định hầu hết được bộ
Giáo-dục cho mượn hoặc biệt phái qua. Với
thế lực, uy tín của các cựu Thiếu-sinh-quân vùng
Sài-gòn, Gia-định, bộ cử những giáo chức
kinh nghiệm nhất, ưu tú nhất sang. Sau này, vào năm 1956,
khi trường giải tán, các vị được trả về
bộ Giáo-dục, lập tức được đưa vào chức
trưởng ty, tổng thanh tra tiểu học của các
tỉnh lớn, ít ra cũng là hiệu trưởng những
trường học lớn, như
cụ Nguyễn Văn Sắc, cụ Đào Văn Tố.
_
Bấy giờ giao lưu văn hóa giữa ba miền
Trung-Nam-Bắc chưa nhiều, trường mang tính chất đặc
thù của văn hóa miền Nam. Khoảng cách thầy trò
không cách xa làm bao. Thầy, cũng như cán bộ nhà trường
dễ dãi với học sinh. Chính vì vậy mà sau
này các cựu Thiếu-sinh-quân đệ nhất quân khu
hầu hết thuộc loại bộc trực, ruột để
ngoài da ; họ dễ thành công khi tiếp xúc với dân chúng.
_
Cái truyền thống, mà trường Thiếu-sinh-quân đệ
nhất Quân-khu nức danh là chửi thề. Cùng trong
thời điểm này, mà một Thiếu-sinh-quân Huế, hay
Hà-nội thốt ra tiếng " địt mẹ " hay
"đù mẹ " thì là một sự kinh khủng.
Nhẹ nhất bị gọi lên văn phòng nạo cho
hằng giờ, mà họ gọi là nghe đọc bài văn
tế cá sấu, hay đọc cho bài kinh A-di-Đà. Thế nhưng
tại trường Đệ-nhất quân khu này thì chỉ
các giáo sư văn hóa là không
chửi thề mà thôi. Còn ngoài ra, các sĩ quan, cán
bộ hạ sĩ quan văng ĐM tùm lum, trừ khi trước hàng
quân. Còn các cán bộ Pháp cũng mẹc, sà-lù, cu-song
luôn miệng. Một vết nhơ: Rấy tiếc trong
số các hạ sĩ quan cán bộ, trung sĩ Chung Văn Bông
là một người thô lỗ cộc cằn quá đáng. Vì
vô học, bất thuật, y luôn tỏ ra cộc cằn,
xổ toàn những tiếng đầu đường xó chợ, dù
ngay cả trước hàng quân.
Tôi
xin kể ra một vài giai
thoại.
Đầu
năm 1956, đại-úy X (Hiện ông sống tại Hoa-kỳ tôi
tạm dấu tên ông), xuất thân trường
Thiếu-sinh-quân Gia-định, quen với cái truyền
thống chửi thề, hơi tý là văng ĐM ra. Không ai
chữa được cái tật này của ông cả. Tết năm
Bính Thân (1956), ông là đại úy Tiểu-đoàn trưởng, dưới
quyền chỉ huy của trung-tá Nguyễn Hữu Có. Trong
lần tiến quân đánh Cao-đài, trên làn sóng truyền tin
ông ĐM tùm lum. Sau cuộc hành quân, giữa buổi hội
tham mưu... vì cả hai cùng là cựu thiếu sinh quân,
trung tá Có là đàn anh. Ông Có bẹo tai đàn em X :
_
Thằng cà chớn ! Trong khi điện đàm, mày bỏ
bớt cái vụ ĐM đi có được không ?
_
Dạ, từ nay em xin chừa. ĐM hồi anh chỉ huy trường
anh biết đó, bọn em quen rồi. ĐM bỏ không nổi,
từ nay em xin hứa.
Trung-tá
Có bực mình quá, ký
lên trán ông em rồi lắc đầu chịu thua :
_
ĐM thì mày bớt đi một chút có được không ?
_ Ấy ! Ấy ! Anh cũng ĐM như em mà !
Năm
1959, là lúc thịnh thời của đệ nhất
Cộng-hòa. Tổng-thống Ngô Đình Diệm cũng
như chính phủ đang cố công phục hồi đạo đức,
nên Ngài theo dõi tác phong các tổng, bộ trưởng, các
tỉnh trưởng, các sĩ quan rất kỹ. Bấy
giờ thiếu-tá X. được bổ nhiệm giữ
chức phó tỉnh trưởng Nội-an. Tài thì ông
quả có tài cầm quân, có tài tổ chức an ninh lãnh
thổ. Quen với cái truyền thống chửi thề
hồi còn là Thiếu-sinh-quân Gia-định, hơi tý
là ông văng ĐM ra. Ai cũng biết ông có cái tật này.
Tổng-thống Ngô Đình Diệm truyền gọi ông
về trình diện. Nhận được lệnh, ông cho
rằng Tổng-thống gọi ông về để trình
bầy tình hình an ninh. Ông hý hửng,
chuẩn bị rất kỹ các tài liệu. Khi vào văn phòng,
sau khi trình diện theo quân cách, Ngô tổng-thống
vui vẻ chỉ ghế mời ông ngồi. Ông được
mời uống một chung trà. Tổng-thống nhỏ
nhẹ hỏi về tình hình dân chúng, tình hình
an ninh. Ông trình bầy rất chi tiết, rất sáng
sủa. Tổng-thống khen ngợi ông. Ông mừng
thầm, phen này lên trung tá là chắc rồi. Không ngờ
Tổng-thống hỏi một câu, làm ông choáng váng :
_
Thiếu-tá có tài chỉ huy, có tài lãnh đạo quân nhân
thuộc quyền. Nay mai sẽ lên trung tá. Thế nhưng
tại sao Thiếu-tá cứ nói tục, như thế không
phải tác phong đạo đức của sĩ quan cao
cấp.
Sau
đó Ngô tổng thống giảng một bài về đạo
đức trong ngôn ngữ kéo dài gần nửa giờ
rồi hỏi :
_
Thôi, chừ về ráng làm việc, đừng nói tục
nữa.
_
Dạ, từ nay xin tuân lệnh Tổng-thống.
Ra
khỏi văn phòng Tổng-thống, gặp thượng-sĩ
Võ Đình Thiệt, làm việc tại võ phòng,
là bạn của ông hồi học tại trường
Thiếu-sinh-quân Gia-định. Thế là ông xả ga :
_
ĐM mày biết không, ông cụ nạo tao về cái vụ
chửi thề. ĐM nó, mày làm ở đây mày biết
thằng nào thọt ông cụ cái vụ này không ? ĐM tao
phải lột da đầu nó !
Sau
này thống nhất các trường thành trường
Thiếu-sinh-quân Việt-Nam, các cựu Thiếu-sinh-quân không
chửi thề ở chỗ công cộng nữa, mà chỉ
chử thề khi gặp nhau. Trong đại hội cựu
Thiếu-sinh-quân 1997 tại Âu-châu, khi phái đoàn cựu
Thiếu-sinh-quân Việt-Nam từ Hoa-kỳ đến Pháp.
Một
kỷ niệm thích thú.
Ngày
5-4-1999, theo lời mời của Thiếu-tá Robert Monluc,
tổng thủ quỹ, tổng hội Thếu-sinh-quân Pháp
(Ông là cựu Thiếu-sinh-quân Cap Saint Jacques) ; tôi tới
dự cuộc sinh hoạt định kỳ tam cá
nguyệt của các cựu Thiếu-sinh-quân Việt
tại khu Paris. Trong cuộc họp, anh em ngồi rất
nghiêm túc. Đến màn góp tiền vào quỹ tương trợ,
và nuôi sống tờ Bắc-đẩu, hầu hết anh em góp
nhiều gấp đôi số ấn định. Họ góp
một cách thản nhiên, vui vẻ. Đến khi ăn,
Thiếu-tá Monluc nói nhỏ :
"
Hôm nay có anh là khách lạ, chúng nó không chửi thề đấy.
Lát nữa, bia vào, lời ra anh sẽ chối tai ".
Quả
nhiên, chỉ mười phút sau, cử toạ bắt đầu
xổ nho chùm. Người xổ đầu tiên là nhạc sĩ
Đoàn Văn Linh. Tôi lắng nghe những câu truyện họ nói
với nhau, phải hết sức tinh tế mới
biết cái nào là đùa, cái nào là thực. Họ dùng
những ngôn từ mà tôi gọi là danh từ kỹ
thuật Thiếu-sinh-quân. Cũng may, tôi ngồi cạnh
Nguyễn Bích, " thủ lãnh Thiếu-sinh-quân
Việt " tại châu Âu. Bích có tên húy là Bích-híp. Bích
luôn giải nghĩa cho tôi những danh từ đặc
biệt này. Ngày 17-4-99 tôi lại được dự cuộc
sinh hoạt ở nhà Nguyễn Bích. Lý do : Bích lấy
vợ đã lâu mà dấu anh em. Bị tố quá, Bích
phải mời anh em tới nhà ra mắt bà vợ. Lần
này dường như mấy ông mãnh quen rồi. Các ông
phớt cả gã đồ Nho là tôi, văng tục tùm lum.
Rồi Thiếu-tướng Hoàng Văn Lạc chủ nhiệm
tờ Bắc-đẩu của cựu Thiếu-sinh-quân cùng
Hoàng Văn Vui tổng thư ký, sang Paris ngày 21-4-1999, mục
đích thăm một cựu Thiếu-sinh-quân thuộc loại
Bồ-đề cổ thụ là Thiếu-tướng Nguyễn
Văn Vận, nguyên tư lệnh đệ tam Quân-khu. Ban chấp hành
trịnh trọng đón một ông anh thuộc lớp
tiền bối rất nồng nhiệt. Ngày đầu, tôi
thấy mấy ông mãnh ấm ức, vì phải
giữ gìn. Nhưng sang ngày thứ hai, các ông lại
xổ tiếng Đức, Nho-chùm
kinh khủng, làm ông anh Hoàng Lạc 73 tuổi, đã tu
thiền gần hai chục năm qua, mà cũng phải mở
to mắt ra kinh ngạc.
_
Các Thiếu-sinh-quân thuộc trường Gia-định,
Mỹ-tho còn một truyền thống đặc biệt
nữa là bộc trực, hay đùa, hay dỡn nhau bậc
nhất trong lịch sử Thiếu-sinh-quân. Người ta có
cảm tưởng như họ vô tư, ồn ào, suốt ngày cười.
Họ đùa từ chỉ huy trưởng, giáo sư, cán bộ
cho chí bạn hữu. Bất cứ cái gì họ cũng
có thể đem ra đùa. Người đùa, người bị đùa đều
cười cả. Chả ai thèm giận các bạn chi cho
mệt. Những người được họ kính yêu tuyệt
đối như Thiếu-tá Phan Như Hiên chỉ huy trưởng trưởng,
giáo sư Phạm Văn Viết, giáo sư Đào Văn Tố họ cũng
đùa.
Xin
dẫn chứng.
Đứng
trước hàng quân, mỗi khi muốn ra lệnh, Thiếu-tá
Hiên thường đưa mắt nhìn một lượt, rồi
dơ tay phải lên, sau đó mới nói. Thế là sau giờ
học tối, trước khi đi ngủ, một
Thiếu-sinh-quân đứng giưã phòng ngủ nhái
lại cử chỉ của ông Hiên y hệt, tất
cả cùng cười. (Sau này anh ta lên tới cấp
thiếu tá lĩnh tiểu đoàn trưởng. Mỗi khi nói trước
hàng quân, anh ta cũng nhái lại hệt cử chỉ
của thầy anh là ông Hiên).
Giáo-sư
Viết là nhà nho, khi vào lớp, cụ ngồi xuống
ghế, rồi lấy khăn lau kính, trịnh trọng
cất tiếng " Hôm nay chúng ta học về... ". Cũng
buổi tối trước giờ ngủ, một
Thiếu-sinh-quân nhái lại y hệt ông thầy của mình,
nhái luôn cả những gì cụ giảng, nhái
giống hệt. Thành ra cả lớp không cần học bài,
cũng thuộc. (Cái anh nhái giáo sư Viết, tên Lê Văn Hai,
sau trở thành giáo sư tốt nghiệp đại học sư
phạm. Mỗi khi vào lớp học, anh ta cũng làm
hệt như thầy mình xưa. Hiện anh định cư
tại tiểu bang Iowa, Hoa-kỳ).
Giáo-sư
Đào Văn Tố là người rất nghiêm khắc. Lôi thôi là
cụ giảng luân lý luôn cả giờ. Hôm ấy vào
ngày thứ 2, vì ngày chủ nhật cả trường
đi Chợ-gạo chơi trở về có hơi mệt,
Thiếu-sinh-quân Nguyễn Thiên Sanh, có tên cúng cơm là Sanh-Méo
hỏi các bạn :
_
Ê ! Tụi bay mệt không ?
_
Mệt !
_
Tụi bay muốn học giờ thầy Tố không ?
_
Không !
Khi
cụ Tố vào lớp, trưởng lớp hô:
_
Phắc.
Cả
lớp đứng im, tưởng như một con ruỗi bay qua cũng
nghe tiếng cánh vỗ. Cụ Tố liếc nhìn đám
học trò mình một lượt. Cụ dơ tay ra
hiệu cho ngồi xuống. Thình lình có ba
tiếng địt " Bủm, bủm,
bủm ". Cả lớp cười rộ. Cụ
Tố hỏi :
_
Trò nào ?
Cả
lớp im phăng phắc. Cụ là một nhà giáo kỳ
cựu, hiểu học trò mình hơn ai hết.
Cụ mắng :
_
Phải biết giữ gìn ! Không được vô phép trước
mặt người trên.
"
Bủm, bủm, bủm " ba tiếng nữa. Thế là
cụ cho cả lớp ngồi xuống, rồi cụ đọc
bài văn tế cá sấu suốt một giờ. Chiều hôm
đó bị các bạn nạo quá, Sanh tìm thầy
Tố, quỳ gối xin lỗi. Cụ Tố không
giận, mà còn xoa đầu Sanh :
_
Trò bớt đi một chút !
(Sau
này Sanh thành anh hùng rừng U-minh trong những năm 1965-1968
rồi tuẫn quốc).
_
Còn Thiếu-sinh-quân diễu nhau thì muôn hình
vạn trạng. Đầu tiên là cái tên bị đem ra làm đề
tài nhiều nhất. Những Thiếu-sinh-quân bị đùa
nhiều nhất vì cái tên là Nguyễn Văn Couhé (đọc
là cu-ê, nhưng viết rời ra là cu hé), Võ Văn Tèo, Lương
Paul Raymond, Lương Paul René, Châu Sonet. Châu Sonet thì được
biến thành Chậu Sờ Nách. Lương Paul Raymond thành Lương
Bôn Cắn Mông. Lương Paul René thành Lương Paul Té Re. Sau đây là
trường hợp Nguyễn Văn Couhé với Võ Văn Tèo.
Thiếu-sinh-quân Couhé dáng người cao lớn, tính tình
bộc trực. Không biết ai trong gia đình khi viết
thư cho anh, viết tháu quá, thành ra khi phát thơ,
Thiếu-sinh-quân trực đọc không được cả tên,
gọi một phần :
_
Nguyễn Văn Cu.
Không
ai ứng tiếng. Thiếu-sinh-quân trực lại gọi
ba lần nữa, cũng không ai nhận. Anh ta bèn gọi tên
người gửi :
_
Nguyễn Văn Cu người
gửi tên Bé. Nguyễn Văn Cu Bé.
Cả
trường cười rộ ! Bấy giờ Couhé mới ra
nhận thơ. Vì thơ của anh mà cả trường
phải phơi nắng lâu một chút. Khi Thiếu-sinh-quân
trực hô tan hàng, lập tức tất cả trường hô
lớn " Couhé ! Couhé ! Couhé ". Tiếng hô quá to, làm
sĩ quan trực giật mình, ông bắt cả trường
chạy 3 vòng sân.
Mọi
truyện tưởng đâu như vậy là êm. Nào ngờ đêm đó,
sau khi kèn tắt đèn ngủ khoảng 10 phút. Toàn trường
chìm vào trong yên tĩnh. Thình lình có tiếng
hét " Cou...hé ". Cả trường giật mình
thức giấc ngó ra cửa sổ. Lại có tiếng
" Couhé ", lập tức cả trường cùng kêu ba
tiếng " Couhé ! Couhé ! Couhé " vang dậy trong đêm. Cũng
may sĩ quan trực đêm đó là một giáo sư văn hóa. Ông
điều tra sơ, khi biết sự thực, ông phì cười rồi bỏ qua. Kể
từ đấy hễ có dịp, một người hô lớn
" Couhé " lập tức cả trường cùng ứng
tiếng " Couhé ".
Còn
Nguyễn Văn Tèo là một Thiếu-sinh-quân cao lớn, tương
đối đẹp trai, tính tình hơi nóng nảy. Một
lần trung sĩ Nguyễn Văn Nghị, hạ sĩ quan
trực gọi Tèo ra trình diện. Tèo nghe không rõ,
ông Nghị phải gọi đến lần thứ ba, kéo dài
" Võ Văn Tèo..èo..èo..èo..èo " anh mới ra.
Thế là từ đấy, bất cứ ai có dịp gặp
Tèo, đều kéo dài ra, hú lên như mèo kêu. (Xin đọc bài Đời
thằng Tèo sau bức màn sắt trong sách này).
_
Ngày 19-8-1954, trường Thiếu-sinh-quân đệ tam Quân-khu
từ Hà-nội di cư vào. Lần đầu tiên các thiếu
niên Bắc, Nam có dịp sống chung với nhau. Tầm
mắt họ được mở rộng. Các Thiếu-sinh-quân
Hà-nội có dịp biết về lối nói năng bộc
trực, sống giản dị, đầy tình cảm
của người miền Nam. Ngược lại các
Thiếu-sinh-quân miền Nam được biết về
miền Bắc, gốc của tổ tiên họ, đã
từ đó Nam tiến. Hai phong tục, văn hóa giao lưu,
tạo cho những thiếu niên trẻ có cái nhìn
rất xa, rất rộng về tộc Việt. Sau này,
một số Thiếu-sinh-quân gốc miền Nam, được
ông Ngô Đình Nhu tuyển, để gửi ra Bắc,
hầu hết là lớp thiếu niên này. Vì chỉ
cần huấn luyện sơ họ cũng biết rất rõ
về miền Bắc
|