|
7.
Thay lời kết.
Khi
sưu tầm tài liệu viết về Thiếu-sinh-quân đệ
nhất Quân-khu, tôi luôn gặp hứng thú. Mỗi lần
phỏng vấn một nhân chứng, tôi thấy trên nét
mặt họ hiện ra những nét thiện cảm, khâm
phục. Họ kể thực rõ ràng, thực sáng
sủa. Nhất là khi họ thuật tới đoạn giao lưu
văn hóa Nam-Bắc của các Thiếu-sinh-quân Hà-nội và
các Thiếu-sinh-quân Mỹ-tho. Cho nên khi viết, tôi luôn
mỉm cười một mình. Vì chính tôi cũng
được hưởng những ngày vui tươi đầu tiên khi
tiếp xúc với các bạn miền Nam. Tôi sinh trưởng
ở miền Bắc, trong một gia đình giáo dục
cổ. Năm 15 tuổi được vào Nam, sống với các
bạn người Nam. Tôi lĩnh hội, thấu cảm
nếp sống miền Nam. Bây giờ mỗi lần nghĩ
lại, như được uống một ly nước mát. Trong lòng
tôi nảy ra những ao ước, sao cho tuổi trẻ
Việt-Nam (dưới 18 tuổi), Nam Bắc được
sống lẫn lộn thì sau này lớn lên họ
mới thấy cuộc đời hứng thú.
Kể
từ khi thành lập là năm 1946 đến khi di chuyển ra Vũng-tầu,
nhập trường Thiếu-sinh-quân Việt-Nam năm 1956 là 10
năm chẵn. Trường thu nhận 684 học sinh, ra trường
khoảng 350 người. Sau khi chuyển sang trường
Thiếu-sinh-quân Việt-Nam, người cuối cùng ra trường
là năm 1961. Thời gian này là thời gian chiến tranh tái
phát tại Việt-Nam thành ra các cựu Thiếu-sinh-quân
hy sinh rất nhiều. Trong số 684 người, hiện còn
tại thế khoảng 70, họ sống rải rác
tại ngoại quốc. Số ít sống tại
Việt-Nam. Hầu hết họ hy sinh trên chiến trường,
hoặc chết trong các trại học tập.
Với
một triệu quân của
Việt-Nam Công-hòa, thì con số 684 cựu
Thiếu-sinh-quân, không đáng làm bao. Tuy ít, nhưng họ là
những người dám hy sinh cho đại nghĩa, họ làm
được những việc mà ít ai làm được. Những
anh hùng trên chiến trường giai đoạn 1960-1975 hầu
hết là các Thiếu-sinh-quân, mà các Thiếu-sinh-quân đệ
nhất Quân-khu nhiều nhất: Hồ Ngọc Cẩn,
Nguyễn Thiên Sanh, Nguyễn Kim Lăng...kể không hết.
Hôm
nay, ngày 21 tháng 3 năm 1999, ngày đầu của mùa Xuân
tại Pháp, giữa lúc chín vạn hoa trời nở,
tôi ngồi ở tại kinh thành Paris, chép truyện
những người 45 năm trước. Tôi nhìn ra ngoài công
trường Félix Eboué lòng bâng khuâng khôn tả. Mắt
tôi nhòa đi, không còn thấy xe cộ, thấy người
người đi trên đường. Tôi nhớ lại kỳ hè
vừa qua, trở về Mỹ-tho tìm tài liệu
soạn bộ sử Thiếu-sinh-quân. Tôi đã đi
bộ dọc con đường Hùng-vương, đứng nhìn ngôi
nhà cổ từng là nơi ăn, nơi học, nơi vui đùa của
684 Thiếu-sinh-quân. Trong lúc xuất thần tôi vẫn mường
tượng những thiếu niên đó vào ra. Người đi đường
thấy tôi đứng im lặng, mắt mơ màng, họ tưởng
đâu tôi là một thi sĩ đang tìm nguồn cảm
hứng. Bây giờ tôi chép xong mấy trang sử này
về Thiếu-sinh-quân, mà lòng cảm thấy nhẹ
nhõm, vì tôi đã bầy tỏ được sự
biết ơn với họ. Tôi thấy trong không gian bóng dáng
các Thiếu-sinh-quân bay chập chờn với nụ cười
thỏa mãn. Thỏa mãn chí nam nhi, thỏa mãn
khi làm tròn bổn phận với Quốc-tổ
Lạc Long Quân, Quốc-mẫu Âu-Cơ. Paris
ngày 2 tháng 5 năm 1999. |