|
4.
Những thăng trầm.
Kể từ lúc thành lập, trường dạy theo chương
trình Pháp, chỉ mở tới 4ème. Khi học sinh lên
3ème thì gửi ra trường dân sự học tiếp.
Khác hẳn với các trường Thiếu-sinh-quân đồng
thời, đó là Collège Mỹ-tho. Giáo sư giáo viên hầu
hết là sĩ quan động viên, hoặc tuyển theo quy
chế công chức Quốc-phòng. Kể từ khi thành
lập năm 1946, cho đến năm 1954, các giáo viên, giáo sư
hầu hết là dân sự, do bộ Giáo-dục biệt phái
sang. Bộ tuyển chọn những giáo chức ưu tú
nhất, biệt phái cho trường, thêm vào đó các
Thiếu-sinh-quân chăm học, nên trong các kỳ thi tiểu
học, bao giờ Thiếu-sinh-quân cũng là những thí
sinh đậu cao, tỷ số đậu thường từ 95-100%
Niên khóa1953-1954, sĩ số của trường lên
tới 275 người. Ngày 19-8-1954, trường Thiếu-sinh-quân
đệ tam Quân-khu từ Hà-nội di cư, đem số
Thiếu-sinh-quân Bắc nhập vào, quân số lên tới
352 người. Đây là quân số đông nhất, so với các
trường Thiếu-sinh-quân khác.
Niên
khóa 1954-1955 chuyển sang dạy chương trình Việt.
Lần đầu tiên các thiếu niên miền Bắc,
sống chung với các thiếu niên miền Nam, họ trao
đổi kiến thức, văn hóa với nhau, nên tầm
mắt được mở rộng. Những cựu
Thiếu-sinh-quân có tinh thần dân tộc, vượt
khỏi cái nhìn địa phương, đều trong lớp tuổi hòa hợp này.
Đầu
năm 1955 một quả mìn đặt tại văn phòng
chỉ huy trưởng phát nổ, làm đại úy Huỳnh Văn
Điểu bị banh thây chết tại chỗ. Thiếu-úy
Phú, trung sĩ nhất Nguyễn Đình Du bị thương
hỏng một mắt.
Chú
giải
Thiếu-úy
Phú là cựu Thiếu-sinh-quân, có lẽ vào lớp ra trường
đầu tiên tại Việt-Nam. Ông thuộc loại đàn anh
của tướng Lê Văn Tỵ. Khi ông Tỵ lên trung tướng,
thì ông Phú mới lên thiếu-úy. Thế nhưng khi
gặp nhau, bao giờ tướng Tỵ cũng lễ phép
gọi ông bằng anh, xưng em. Truyền thống nhà
Thiếu-sinh-quân là như vậy đó. Thiếu-úy Phú tự
coi các Thiếu-sinh-quân như con mình. Ông uốn nắn
từng ly từng tý. Cậu nào lôi thôi là ông hèo
liền.
Còn
ông Du là một người yêu trẻ, lòng dạ
quảng đại. Ông phục vụ tại trường
Thiếu-sinh-quân Hà-nội, sau đó di chuyển vào
Mỹ-tho. Ông có kỷ niệm rất đẹp với tôi.
Năm 16 tuổi, một lần đi Vũng-tầu chơi, bị
cắp móc túi mất hết giấy lẫn tiền.
Thấy xe ông đi qua, tôi vẫy tay xin quá giang. Không
những ông cho đi nhờ, mà lúc về tới Long-thành, ông
còn mời ăn cơm cùng và cho ít tiền. Vì vậy
khi thành danh, tôi đã có những đối xử rất
tròn, rất đẹp với ông, không ai biết tại
sao cả. Cô con gái độc nhất của ông, ông gả
cho cựu Thiếu-sinh-quân Chu Văn Hải. Hải hiện
sống với vợ tại Hoa-kỳ.
Bấy
giờ là thời gian cán bộ Việt-minh tiềm ẩn,
không ai nghi ngờ thủ phạm là họ. Cũng không ai
nghi ngờ cho quân đội giáo phái. Hiến-binh đều tra,
nghi cho Thiếu-úy Huỳnh Văn Nở, người dạy
về mìn tại trường. Nhưng Hiến-binh không tìm
ra chứng cớ kết tội Thiếu-úy Nở. Cho đến
nay, thủ phạm vẫn còn nằm trong bóng tối.
Thiếu-tá
Phan Như Hiên, mới 23 tuổi, từ trường Thủ-đức
được bộ Tổng-tham-mưu cử về thay thế.
Thiếu-tá Hiên tuy trẻ tuổi, nhưng ông tỏ ra
chững chạc, khôn ngoan. Ông đem hai sĩ quan cựu
Thiếu-sinh-quân là Trung-úy Nguyễn Văn Đông
và Đỗ Diễn Cam về trường. Ông Đông làm
chỉ huy phó. Ông Cam coi tiểu đoàn Thiếu-sinh-quân.
Ghi
chú.
Cả
hai ông Đông và Cam đều xuất thân trường
Thiếu-sinh-quân Đông-dương.
Sau
cả hai cùng lên đại tá. Ông Cam hiện thành mục sư,
định cư ở Atlanta, Hoa-kỳ. Còn ông Đông, là
nhạc sĩ lừng danh thời 1958 đến 1975 với
những bản Chiều mưa biên giới, Mấy dặm sơn
khê. Vào thời 1959-1963 tướng Nguyễn Văn Là làm
Tổng-giám-đốc Cảnh-sát, ông Đông làm chánh văn phòng.
Tuy lĩnh chức vụ lớn, không thiếu những
biệt thự lớn công ốc cho ông. Nhưng ông vẫn
ở tại câu lạc bộ sĩ quan An-đông, số nhà
100 đường Hồng-bàng Chơ-lớn. Bấy giờ ông là
người tình của nghệ sĩ Kim-Cương. Hồi
ấy tôi còn con nít, thường rình mò ông
với Kim-Cương mùi với nhau. Mỗi khi đi trình
diễn đâu, Kim-Cương lại gửi một tấm hình
bưu thiếp về cho ông vơí mấy giòng "Tấm
hình gởi anh coi chơi". Tôi cầm bưu thiếp trao
cho ông và trêu "Anh có cái coi chơi". Ông lại đánh gió
tôi một cái. Nhưng sau Kim-Cương dâm đãng, lang chạ quá,
mà tính ông lại nghiêm cẩn nên hai người không thành
vợ chồng. Sau1975, ông bị đi tù một thời gian,
từ chối định cư ở Hoa-kỳ theo diện H.O.
Hiện ông sống tiềm ẩn với cửa tiệm
tạp hóa ở Sài-gòn.
Khi
tướng Là làm chỉ huy phó trường Thiếu-sinh-quân,
thì ông Đông, Cam còn là Thiếu-sinh-quân lóc cóc,
tắm truồng, từng bị tướng Là đét đít. Sau
khi Đông, Cam ra trường, bất cứ tướng Là đi đâu
cũng đem hai người em này theo. Các cựu Thiếusinh-quân
gọi đùa ba ông là bộ Tam-đa.
Bấy
giờ 1954-1955 đang lúc thịnh thời của Trung-tá
Nguyễn Văn Là tư lệnh phân khu Mỹ-tho, lãnh
thổ gồm Long-an, Mỹ-tho, Kiến-phong, Bến-tre, Gò-công.
Cuối niên học đó trường tổ chức lễ phát
thưởng, ông đã mời được một số quan khách
kỷ lục tới dự. Mỗi vị mang theo một
phần thưởng cho Thiếu-sinh-quân.
Ghi
chú.
Suốt
cuộc đời, tôi gặp tướng Là đâu hai ba lần,
lần nào ông cũng bị tôi trêu. Nhưng vốn tính
dễ dãi ông cười xì, bỏ qua. Tôi xin kể
một kỷ niệm về ông. Nguyên giữa Đồng-tháp,
gần ngã Sáu, tỉnh Kiến-phong có cây tháp cổ
của người Chân-lạp, thờ thần. Đến năm
1954 tháp đổ nát, chỉ còn mấy tảng đá ong. Lúc
ông làm Tư-lệnh phân khu Đồng-tháp, ông xây lại cái
tháp 10 tầng. Trước kia vùng này gọi là Đồng-tháp,
từ khi ông xây tháp mười tầng, vùng này có tên là Đồng-tháp-mười.
Song danh xưng Đồng-háp-mười chỉ dùng trong dân chúng,
chứ trên bản đồ,
cũng như hành chính không dùng tới. Trong tháp thờ các
anh hùng dân tộc: Bình-Tây đại nguyên soái Trương Công
Định, Thống-lĩnh Nguyễn Văn Linh, Thiên-hộ
Nguyễn Văn Dương. Cả ba vị đều là anh hùng
chống Pháp. Các vị thử nghĩ lại, mới
thấy phục ông. Bấy giờ là thịnh thời
của Pháp, ông là sĩ quan cao cấp, nhiều huy chương
Pháp, mà ông dám thờ người đánh Pháp. Tháp cao 25m,
chiều rộng đáy 8m.
Năm
1961 tháp bị du kích quân Cộng-sản giật mìn làm
sập. Năm 1969, khi tướng Phạm Văn Phú tiến quân
giải phóng Đồng-tháp, tôi theo quân vào. Để tri ơn tướng
Là đã xây tháp, tôi đem danh từ Đồng-tháp-mười
ra công bố. Tôi viết loạt
bài "Tháp-mười ba nắng bẩy mưa". Bài này
khá dài, đã đăng vào báo Thế-giới tự do, và
một số báo bấy
giờ. Tướng Là đọc xong, cảm động lắm. Ông
gọi cho tôi, đề nghị tôi tìm cách xây lại cái
tháp này. Lập tức tôi vận động các vị
tỉnh trưởng An-giang, Châu-đốc, Kiến-phong,
Kiến-tường, cùng dân chúng đóng góp. May mắn, người
bạn cực thân của tôi là đại tá Hadzam, cố
vấn trưởng Biệt-khu 44 cũng hưởng ứng. Anh
cung cấp toàn bộ xi măng, cốt sắt, đá, hệ
thống điện. Tôi dự trù xây xong sẽ thờ như
sau:
Tầng
1 thờ Quốc-tổ, Quốc-mẫu Lạc-long quân, Âu-cơ.
Tầng
2 thờ vua An-Dương, và các công thần.
Tầng
3 thờ vua Trưng và 162 anh hùng thời Lĩnh-Nam, bà
Triệu.
Tầng
4, thờ các anh hùng triều Ngô, Đinh, Lê.
Tầng
5, thờ các anh hùng triều Lý, Trần.
Tầng
6, thờ các anh hùng triều Lê.
Tầng
7, thờ các anh hùng triều Tây-sơn.
Tầng8,
thờ các anh hùng chống Pháp.
Tầng
9, ghi công đức những vị hằng tâm hằng
sản đóng góp xây tháp, cùng chép tiểu sử tháp. Công
số một là tướng Nguyễn Văn Là. Tôi đặt
tại nơi ghi tên Nguyễn Văn Là một bát hương, rồi
chụp hình gửi cho ông "Hãy chuẩn bị
leo lên đây". Ông gọi điện thoại cự: "Anh
trù tôi chết đấy à?". Tôi giảng giải răèng
dân Việt có truyền thống thờ sống
những người có đức. Ông chợt hiểu, xin
lỗi tôi.
Tầng
10, là nơi thủ từ tiếp khách.
Tháp
khởi công vào tháng 12 năm 1969. Đến tháng 9 năm 1970 thì
xong. Bấy giờ tướng Phú cũng như Hadzam rời
Biệt-khu 44. Trong khi chuẩn bị làm lễ khánh thành thì
hai trung đoàn 271-273 thuộc Công-trường 9 tấn công ngã Sáu, phá tan tháp.
Những
năm 1982-1983, tướng Là qua Pháp, vận động sự
ủng hộ của các tướng Pháp, quen biết cũ,
để lập chiến khu
phục quốc. Biết tôi quen biết lớn với
Trung-quốc, ông rủ tôi theo kháng chiến, nhờ tôi
vận động sự ủng hộ của Trung-quốc. Tôi
từ chối vì ba lý do. Một là bấy giờ
tôi đang làm việc cho Liên-hiệp các viện bào chế
châu Âu (CEP= Coopérative Européenne Pharmaçeutique) với chức
vụ giám đốc thị
trường (Directeur marketing). Mà trong khế ước có
khoản cấm tuyệt không được làm chính trị, gia
nhập đoàn thể. Thứ nhì, tôi đang là gà
trống nuôi 4 con. Thứ ba, tôi nhát hơn thỏ đế,
sợ đau, sợ chết, lại sống như công tử
bột quen rồi, sao làm kháng chiến được?
Từ
đấy tôi không gặp ông.
Niên
học 1955-1956 trường bắt đầu mở tới
lớp đệ tứ, sĩ số Thiếu-sinh-quân tăng
tới 442 người. Kỳ thi Trung-học
đệ nhất cấp tháng 6 năm 1956, Thiếu-sinh-quân đậu
95%. Kỷ lục chưa từng có tại Việt-Nam.
Giữa lúc Thiếu-sinh-quân đi nghỉ hè, thì có
lệnh thống nhất tất cả các trường
Thiếu-sinh-quân trên toàn quốc về Vũng-tầu,
lập thành Trường Thiếu-sinh-quân Việt-Nam. Trường
Thiếu-sinh-quân đệ nhất quân khu đến đây chỉ
còn là một truyền tụng trong lịch sử.
|