|
Trường
Thiếu-sinh-quân
Đệ-nhất
Quân-khu

(Còn
có tên trường Thiếu-sinh-quân Gia-định, Mỹ-tho).
1.Thành
lập.
Trường Thiếu-sinh-quân Đệ-nhất Quân-khu,
tọa lạc tại Gia-định, sau di chuyển về
Mỹ-tho. Trường có một nguồn gốc khá dài.
Do quyết định của đại tướng Leclerc, tư
lệnh quân đội Pháp tại Đông-dương, một trường
Thiếu-sinh-quân được thành lập tại Sai-gòn ngày
22-2-1946. Đây là tiền thân của trường
Thiếu-sinh-quân Đông-dương tại Vũng-tầu (xin xem
phần Trường Thiếu-sinh-quân Đông-dương). Trường dành
riêng cho con quân nhân trong các binh đoàn Pháp.
Ghi chú.
Quyết
định số 2725-1/0 ngày 1-2-1946 và 3428-I/A ngày 16-2-1946.
Mãi tới tháng 9 năm 1946, khi Quân-đội
Quốc-gia Việt-Nam thành lập, một trường
Thiếu-sinh-quân dành cho con của quân nhân trong Quân-đội
Việt-Nam mới ra đời tại Gia-định.
|
|
2.
Trường Thiếu-sinh-quân Gia-định.
Lúc đầu trường có tên
"Ecole d'enfants de troupe des Forces Armées du Việt-Nam Sud"
có nghĩa là "Trường Thiếu-sinh-quân Quân-đội
Nam Việt-Nam". Trường tọa lạc trong doanh trai
của Liên-đoàn lưu độïng (Brigade Mobile) tại Gia-định.
Cho nên còn có tên không chính thức là "Ecole d'enfants
de troupe de Gia-định" tiếng Việt là " Trường
Thiếu-sinh-quân Gia-định". Doanh trại Liên-đoàn lưu-động
cổng hướng ra lăng Tả-quân Lê Văn Duyệt.
Trong doanh trại này có ba cơ sở đóng chung. Một là
"Tiểu đoàn Vệ-binh
Nam-Việt" "Bataillon garde du Việt-Nam Sud". Hai là
ban Quân-nhạc Việt-Nam. Ba là trường Thiếu-sinh-quân.
Cũng như các trường Thiếu-sinh-quân trên thế
giới, trường được thành lập với ba mục
đích chính:
_ Một là để nuôi dạy con của quân nhân chuyên
nghiệp luôn phải xa nhà, để họ yên tâm chiến
đấu, phục vụ, mà không phải lo đến giáo
dục con cái.
_ Hai là để nuôi dưỡng, phủ tuất con
của chiến sĩ hy sinh dưới cờ.
_ Ba là tỏ rõ ưu ái của chính phủ đối
với chiến sĩ có công trạng.
Niên
khóa 1946-1947 thu nhận 34 học sinh. Chỉ huy trưởng đầu
tiên là đại-úy Candot, rồi trải qua các chỉ huy trưởng
nối tiếp: Trung-úy Pinard, Billand. Đến năm 1949, thì
sĩ số lên tới 90 người, chỉ huy trưởng là
trung-úy Nguyễn Hữu Có.
Ghi
chú
Cựu
Thiếu-sinh-quân Nguyễn Hữu Có, xuất thân trường
Thiếu-sinh-quân Đông-dương. Nhập trường 1939, ra trường
1943. Sau là trung-tướng Tổng-trưởng Quốc-phòng
của Việt-Nam Cộng-hòa. Tướng Có hiện
(1999) sống trầm lặng tại Việt-Nam.
Giữa
năm 1952, trung úy Có thăng đại úy, lĩnh nhiệm vụ
khác. Đại-úy Cao Minh Điện về thay thế. Kể
từ lúc thành lập đến bấy giờ, trường đã
thu nhận 222 người, ra trường 83, còn lại 139;
mà doanh trại quá chật hẹp, trường được di
chuyển về Mỹ-tho.
|
|
3.
Trường Thiếu-sinh-quân đệ nhất Quân-khu.
Bấy
giờ Quân-đội Quốc-gia Việt-Nam đã tổ
chức thành quân khu, trường đổi tên thành :
Trường
Thiếu-sinh-quân đệ nhất Quân-khu.
Trường tọa lạc tại trung ương thành phố,
mặt tiền nằm trên đại lộ Hùng-vương,
nối liền với tòa tỉnh trưởng và bộ
chỉ huy tiểu-khu. Hông trái là con đường cách biệt
sân vận động thành phố. Hông phải, phía sau là khu
dành cho trại gia binh.
Cái
hông trái là một trò giải trí của
Thiếu-sinh-quân. Đêm đến, một số các cặp tình
nhân trong thành phố Mỹ-tho không có tiền thuê phòng
khách sạn. Họ dẫn nhau vào sân vận động để
mùi. Khán đài của sân là cái dường lộ thiên. Các
cặp tình nhân vừa lên tuyệt đỉnh Vu-sơn,
vừa ngắm trăng sao, xung quanh có hàng vạn con dế
tấu nhạc. Những Thiếu-sinh-quân ngủ ở trên
lầu trái tha hồ dùng đèn pin rọi sang coi phim cụp
lạc sống miễn phí. Có ông mãnh tinh nghịch dùng
súng cao su nã sỏi sang. Các cô cậu đang sống
những phút thần tiên, thình lình bị trúng đạn
la oai oái. Những dịp ấy, các ông mãnh con tha
hồ reo hò khoái chí.
Trường gồm hai dẫy nhà kiến trúc cổ, hai
tầng. Tầng dưới làm các
phòng hoc. Tầng trên làm phòng ngủ. Giữa hai
dẫy nhà lớn tọa lạc hai căn nhà. Một căn
rộng rãi, dùng làm phòng ăn. Một căn thấp,
nhỏ dùng làm văn phòng. Ngoài ra đầu dẫy nhà
trái, còn một căn nhà khá rộng, dùng làm phòng
tắm, và nhà bếp. Đầu phía trong dẫy nhà này, ngăn
ra một phòng, cả hai tầng làm tư thất cho
chỉ huy trưởng. Tầng dưới làm phòng khách.
Tầng trên làm phòng ngủ. Cái tầng trên là
một bí mật, mà chỉ Thiếu-sinh-quân biết
với nhau, cho đến ngày trường di chuyển ra Vũng-tầu,
từ sĩ quan, giáo sư cho tới các huấn luyện viên
cũng chưa ai biết.
Câu truyện như thế này :
Dường
ngủ của chỉ huy trưởng chỉ cách dường
ngủ của các Thiếu-sinh-quân có một bức tường
mỏng. Thành ra, mọi tiếng động bên kia thì bên
này các Thiếu-sinh-quân đều nghe rõ hết. Giờ
Thiếu-sinh-quân phải tắt đèn đi ngủ là 22 giờ.
Sau giờ đó, hễ bên kia ông bà chỉ huy trưởng tò
tý với nhau, thì
cái dường kêu cót két. Anh chàng Thiếu-sinh-quân ngủ sát
tường khẽ đánh
thức các bạn trong phòng dậy, rồi cùng ghé tai
vào tường nghe những âm thanh cụp lạc :
"
Hừ...hừ...trời ! Em sướng quá anh ơi ! Hừ...hừ...em
sướng quá anh ơi ".
Đó
là tiếng rên của bà Cao Minh Điện. Tiếp theo là
tiếng xối nước lạch xạch. Thế là sáng hôm
sau, cả lớp rỉ tai : Hôm qua Đại-úy đại
chiến. Động từ đại chiến trong ngôn ngữ
đối với Thiếu-sinh-quân từ đấy có nghĩa này.
Tỷ như một Thiếu-sinh-quân đi chơi với đào,
gặp bạn học cùng lớp hỏi: Đại chiến
chưa mày? Câu này có nghĩa: Mày ấy nàng chưa? Cô đào
chắc chắn tưởng đâu ông bạn hỏi bồ mình
đã đi hành quân chưa?
Năm 1953, đại-úy Cao Minh Điện rời nhiệm
vụ, đại-úy Huỳnh Văn Điểu về thay thế.
Ông bà Điểu còn rất trẻ, khi
hai ngày không thấy ông bà đại chiến, là các ông
mãnh rỉ tai nhau " Bà Điểu có Hiến-binh gác
cửa ". Hồi ấy, quân đội Việt-Nam chưa có
Quân-cảnh tư pháp, Hiến-binh làm nhiệm vụ này. Mà
mũ, cũng như ngù vai Hiến-binh mầu đỏ.
Rồi những lúc ông bà cơm chẳng lành, canh
chẳng ngọt, lời qua, tiếng lại, các ông thiên lôi
đều biết hết.
|