|
3.
Giáo huấn đặc biệt : Tự trị, tự giác.
Chỉ
mấy tháng thôi, trường trở thành một...thắng
cảnh cho các cựu Thiếu-sinh-quân bậc bố,
bậc đàn anh đồn trú tại Bắc-Việt. Chả các
cụ được thông báo rằng : Nếu có dịp ghé Hà-nội
nên đến thăm bọn trẻ, để thấy đàn con kháu
khỉnh của chúng mình. Thành ra gần như ngày nào cũng
có xe của các cựu Thiếu-sinh-quân bậc anh, bậc
cha, bậc ông tới thăm. Quả thực hồi ấy các
Thiếu-sinh-quân được coi như bầy con chung của các
ông cựu Thiếu-sinh-quân. Vì hằng ngàn con mắt
của các ông bố theo dõi đời sống đàn con mình,
nên chỉ huy trưởng, cũng như nhân viên luôn phải
dạy dỗ Thiếu-sinh-quân lễ nghi chào kính, trường
luôn sạch sẽ, nhân viên tận tụy. Đã hết
đâu, thỉnh thoảng bố Vận, cũng như các sĩ
quan cao cấp cựu Thiếu-sinh-quân khác, có dịp, thình
lình tới kiểm soát bằng cách dự bữa cơm
với Thiếu-sinh-quân, để cha con, chú cháu, anh em có
dịp thân cận. Những lần ấy đôi khi lỡ ra
nồi cơm khê, hay sống, thì nhân viên nhà bếp phát
rét, lạng quạng là 24 giờ mang ba lô đi dự
trận Cao-Bắc-Lạng, trận Sông-lô, được
Tổ-quốc tri ân ngay.
Ấy
là nói về các cụ cựu Thiếu-sinh-quân gốc
Việt. Lại còn các cụ cựu thiếu-sinh-quân
trong quân đội Pháp cũng tới thăm luôn. Các cụ vào
lớp hỏi thăm, tâm tình vơí Thiếu-sinh-quân,
rồi tặng quà ; thành ra trung-úy Nguyễn Đình Quang,
giáo sư Pháp-văn phải dạy môn này thực nặng,
thực kỹ, để Thiếu-sinh-quân có thể đàm
thoại với khách.
Cuối
tuần, các Thiếu-sinh-quân được cha mẹ tới đón
ra đi phép thì thôi. Những người không có ai đón, thì
trường cho xe chở đi thăm các thắng cảnh, di tích
lịch sử Hà-thành. Vì được cưng chiều, được
nuôi dưỡng, dậy dỗ quá chu đáo, tiếp liệu quá
đầy đủ, đến nỗi tờ báo lớn ở Hà-nội
bấy giờ là Tia-sáng, đã xếp trường
Thiếu-sinh-quân là trường mà học sinh sung sướng đứng
đầu Hà-nội, hơn tất cả các trường nội
trú khác, kể cả những trường tư của người
Pháp, của giáo hội Thiên-chúa.
Chính
vì bài báo này, mà các Thiếu-sinh-quân phải chịu
một cuộc giáo huấn rất khắt khe : Uốn
từng lời nói, từng cách đi, bắt tay, lúc ngồi
ăn. Ra khỏi trường bị kiểm soát giầy, mũ ,
y phục tại cổng. Chỉ cần giầy không bóng
thôi, là giấy phép bị thu hồi ngay, và lĩnh vài ba
chục cái hít đất. Khi đi dạo phố, vào một
cửa hàng lớn, qua một di tích anh hùng mà không chào ;
lỡ ra bị một cựu Thiếu-sinh-quân trông
thấy, thì ông gọi về trường, là ôi thôi, khi
trả phép được điệu lên văn phòng nghe tụng
một bài văn tế cá sấu. Tối về phòng
ngủ bị các bạn rủa cho nhức đầu. Có
một sự rất khác các trường dân sự, là khi
một Thiếu-sinh-quân phạm lỗi, bị thầy,
bị cán bộ nạo thì
chỉ chói tai, nhức đầu bấy giờ thôi. Nhưng hình
phạt đến phát khóc là, tối về phòng bị
các bạn xúm lại tố khổ rằng làm mất danh
dự tập thể.
Chắc
chư vị độc giả hỏi : Làm sao biết
Thiếu-sinh-quân nào thiếu chào kính mà tính tội ? Không
khó. Khi nghe báo sự kiện, cán bộ tập họp
Thiếu-sinh-quân hỏi : Ai đã thiếu chào kính hôm
ấy...tại chỗ ấy... Lập tức
Thiếu-sinh-quân nào có lỗi bước ra nhận ngay. Trong
4 năm liền chưa từng có Thiếu-sinh-quân nào phạm
lỗi mà chối tội cả. Cái lối trọng danh
dự đó là đặc thù của Thiếu-sinh-quân Đệ-tam
Quân-khu thời ấy.
Về
tổ chức, trường chia học sinh thành một trung đội.
Lối chia của các trường khác, thường theo lớp.
Mỗi lớp thành một trung đội. Thành ra trong lớp
học sinh không đồng tuổi. Tỷ như lớp đệ
lục, có em mười ba tuổi, có em mười bẩy
tuổi. Còn trường đệ tam Quân-khu lại chia theo
tuổi. Bọn lóc nhóc 12 tuổi thành trung đội,
rồi tới bọn 13... cho tơí 18.
Trong
một lớp, sau kỳ thi bán niên, cộng chung điểm
quân sự, văn hóa, thể thao, hạnh
kiểm...Thiếu-sinh-quân nào nhất lớp, được
gắn lon trung sĩ, nhì được gắn lon hạ sĩ
nhất. Ba, tư được gắn lon hạ sĩ. Từ
thứ 5 đến thứ 8 được gắn lon binh nhất. Lương
(tiền túi) của một TSQ là 30 đồng 1 tháng. Sau đó
cứ mỗi cấp, thêm 15$. Như vậy lương binh nhất
là 45$, hạ sĩ là 60$, hạ sĩ nhất 75$, trung sĩ
90$. Lại tuyển trong các trung sĩ, người nào có
hạnh kiểm tốt, biết chỉ huy, được phong
trung sĩ nhất. Thời bấy giờ gọi là Major. Lương
major lên tới 105$. Để độc giả có một ý
niệm, tôi xin cử ra vài giá cả. Một tô phở
ngon giá 3$, một cây kem giá 0,50$. Sang bán niên sau, lỡ
trung sĩ bị xếp thứ 9 trong lớp, thì
bị tuột xuống binh nhì cái rụp.
Cán
bộ nhà trường chỉ có tính cách tượng trưng, các
Thiếu-sinh-quân tự chỉ huy lấy nhau. Các trung sĩ
là trung đội trưởng. Major thì chỉ huy toàn
bộ. Sáng sớm, kèn báo thức, các Thiếu-sinh-quân
chỉ có 10 phút để gấp chăn, dọn dường, làm
vệ sinh. Khi kèn tập họp trỗi lên, các trung đội
tập họp. Trung đội trưởng trình diện
trung đội lên Major, báo cáo quân số hiện diện,
nếu có người bị bệnh vắng mặt thì
đưa xuống bệnh xá hay đi quân y viện điều
trị. Sau đó Major báo cáo cho cán bộ trực, thường
là cấp trung sĩ. Bây giờ đến lượt các
huấn luyện viên thể dục, thể thao làm
việc. Mỗi trung đội có một huấn luyện viên
phụ trách. Sau 45 phút thể thao, a lê hấp, ào vào phòng
tắm. Tắm xong, một hồi kèn nữa thúc dục, vào
phòng ăn điểm tâm. Không phải nhà bếp muốn
cho Thiếu-sinh-quân ăn gì thì cho. Thực đơn do
một bác sĩ quân y soạn trước hàng tháng. Thường
thì điểm tâm bánh mì pa-tê, xúc xích, cũng có
khi xôi gà, có khi bánh dầy giò. Cái món không bao giờ
đổi hàng ngày là cà-phê sữa. Ăn sáng xong, một
hồi kèn tập họp vang lên, tất cả ra sân. Major
trình diện cả trường lên sĩ quan trực. Sĩ
quan trực lại trình diện lên chỉ huy trưởng.
Lễ chào cờ. Chào cờ xong, thì vào lơp học.
Trong khi các Thiếu-sinh-quân học, thì sĩ quan
trực đi khám phòng, khám toàn bộ phòng tắm,
cầu tiêu. Buổi sáng chỉ học có 3 giờ.
Mười
một giờ trưa, tan học, ra sân tập họp nghe
nhật lệnh. Những cu cậu nào không xếp y
phục ngay thẳng, khăn trải giường
nhăn nheo, thì được gọi ra. Nhẹ thì hít
đất, nặng thì bị phạt rửa phòng
tắm, thụt WC, nhiều ít lần tùy tội. Anh chàng nào
phạm tội nặng thì bị tù quân. Tùy theo
tội, bị từ một ngày tới 15 ngày. Ai bị
phạt 15 ngày tù thì đầu bị gọt bóng như trái
dừa. Khi bị tù thì chỉ được ăn cơm với
muối hột, giờ học được thả ra. Hết
giờ học vào nhà tù. Đấy là trên lý thuyết,
chứ khi có bạn vào tù, lập tức có màn các
bạn cùng trung đội mua quà qua hàng rào, rồi đuồn
vào nhà tù cho tù nhân xơi. Nhưng sau khi mãn hạn tù, thì
tù nhân lại bị chính bạn cùng trung đội, cùng
lớp xỉ vả đến nỗi không bao giờ dám tái
phạm. Cái lệ làng đó là truyền thống của trường
Thiếu-sinh-quân Hà-nội. Trong suốt 4 năm, chưa
Thiếu-sinh-quân nào bị phạt tơí 8 ngày, dĩ nhiên chưa
ai bị cạo đầu cả. Nói đến phạt thì
chỉ cán bộ phạt thôi, chứ các giáo sư thì chưa
từng phạt học trò bao giờ. Đối vơí
Thiếu-sinh-quân thì ông thầy văn hóa là cái gì
thiêng liêng vô cùng, họ coi thầy là hiện thân của
lòng từ ái nhà Phật, nhà Chúa, nhà
Khổng-Mạnh. Vì vậy tình thầy trò
thắm thiết, thâm sâu lắm lắm. Thầy nào
phạt trò?
Sau
giờ nhật lệnh, kéo nhau vào phòng ăn. Major hô nghiêm.
Tất cả im phăng phắc, rồi hô TSQ, tất cả hô
kỷ luật. Major hô TSQ, tất cả hô trật tự.
Major hô Mời anh em xơi. Tất cả hô Cơm. Sau đó
ngồi xuống...ăn.
Cơm
rồi, lên phòng ngủ, làm một giấc la-siết.
Đúng 14 giờ kèn báo thức, tất cả bật
dậy, đánh răng, rửa mặt, xuống lớp học
văn hóa. Sau hai tiếng học văn hóa, thì tan
học. Bây giờ là lúc tập quân sự, hoặc chơi
thể thao trong hai giờ. Tiếp theo là cơm chiều. Cơm
chiều xong, đúng 20 giờ lại
xuống lớp học bài. Kể từ giờ phút này,
trường chỉ còn lại một cán bộ, các
Thiếu-sinh-quân tự chỉ huy lẫn nhau. Mười
giờ tối, giờ tự học chấm dứt.
Tất cả trở về phòng ngủ. Bây giờ là
lúc gà mọc đuôi tôm đây. Bao nhiêu mưu mô quấy phá,
nghịch ngợm đều diễn ra lúc này. Mười
một giờ đêm, một hồi kèn rúc lên, đây là
giờ ngủ, tất cả phải lên giường ngủ.
Song đấy là luật vua. Luật vua, thua lệ làng. Các mánh
lới quỷ sứ, đùa phá diễn ra âm thầm, không
một tiếng động. Cán bộ không thể nào
biết được. Mà có biết cũng nhắm mắt
lờ đi, rồi bí mật báo cáo lên cấp ttrên.
Những sĩ quan, những vị
chỉ huy không phải là cựu Thiếu-sinh-quân, khi
mới nghe báo cáo những phương pháp chọc trời
khuấy nước của học trò lần đầu, thì
rởn gai ốc, tóc dựng đứng lên. Còn những
vị là cựu Thiếu-sinh-quân thì mỉm cười
"Bọn này nghịch còn thua mình hồi xưa xa.
Kệ chúng".
Năm
1951 trung-úy Nguyễn Duy Nguyên được thăng cấp đại-úy.
Năm 1952 , đại-úy Phạm Văn Linh về làm chỉ huy trưởng
thay đại-úy Nguyên. Đại-úy Linh cũng là một
cựu Thiếu-sinh-quân. Thời gian 1952-1954 là thời gian
vàng son, cực thịnh của Thiếu-sinh-quân đệ tam
Quân-khu. Bấy giờ các cựu Thiếu-sinh-quân nắm
trọn uy quyền ở Quân-khu ba: Đại-tá Vận, Tư-lệnh
được thăng Thiếu-tướng. CácTrung-tá Phạm Văn
Cảm Tham-mưu-trưởng, Trung-tá Vũ Văn Thụ tham mưu phó,
Trung-tá Vương Văn Trừ chỉ huy Biệt-khu Hà-nội v.v.
được thăng đại-tá. Ngay tại bộ tư lệnh Đệ-tam
quân khu, có vài ba chục sĩ quan cao cấp là cựu
Thiếu-sinh-quân. Hầu hết những chức vụ then
chốt tại Đệ-tam quân khu đều do các cựu
Thiếu-sinh-quân nắm. Các cụ dùng uy tín, uy quyền, tình
cảm vun trồng cho các con.
Xin
dẫn một tỷ dụ.
Năm
1953, phu nhân của Trung-tướng Nguyễn Văn Hinh,
Tổng-tham mưu trưởng quân đội Quốc-gia
Việt-Nam hồi đó. Bà là người Pháp, ông lại
ở chức vụ cao hơn Thiếu-tướng Nguyễn Văn
Vận. Thế mà trong một chuyến tháp tùng phu quân, công
du Hà-nội, bà phải hỏi phu nhân của thiếu-tướng
Cogny, Tư-lệnh quân đội Pháp tại Bắc-Việt
rằng "Nên làm điều gì, có thể thu phục
nhân tâm quân đội Việt-Nam ngoài đó?". Bà Cogny
trả lời: "Từ Tư-lệnh, cho đến Tham-mưu trưởng,
cùng các chức vụ quan trọng khác, đều nằm
trong tay các sĩ quan xuất thân Thiếu-sinh-quân. Mà
mấy ông này có đàn con chung, ngoan ngoãn, cưng chiều
rất mực là các Thiếu-sinh-quân. Cứ tới thăm trường
Thiếu-sinh-quân, tỏ cử chỉ yêu thương bọn
trẻ thì đạt được mục đích". Cho nên
trong chuyến công du này, khi tới Hà-thành bà ngỏ
ý xin cho thăm trường Thiếu-sinh-quân. Chính
Thiếu-tướng Vận hướng dẫn bà tới trường.
Cũng như tất cả các phụ nữ Pháp khác, bà Hinh
tỏ ra những cử chỉ dịu dàng, yêu thương đám
trẻ. Bà tặng cho mỗi Thiếu-sinh-quân một cái
cặp da loại đắt tiền, cùng những thứ khác
như xà phòng thơm, dụng cụ học sinh. Mỗi khi
trao tay cho một Thiếu-sinh-quân, bà không quên tặng cho
nụ hôn lên trán như một bà mẹ hiền. Chuyến đi
của bà, tạo cho ông một hào quang: Toàn quân miền
Bắc, toàn dân Hà-nội khen bà rằng
tuy là đầm, nhưng không hách dịch. Bà thực
dịu dàng, yêu trẻ như bất cứ phụ nữ
Việt-Nam nào. Năm 1970, mười bẩy năm sau của
cuộc tặng quà này. Bấy giờ, bà và Trung-tướng
Hinh đã ca bài ca giã biệt. Nhưng một
Thiếu-sinh-quân được bà tặng quà, hôn hồi 1953,
vừa giải ngũ; đến Pháp, đã tìm thăm
biếu quà bà. Bà cảm động bật ra tiếng khóc.
Rồi bà dùng uy tín, kiếm cho cậu bé ngày xưa đó
một học bổng.
Từ
1950 tới 1954, cứ
mỗi cuối niên học, đầu tháng 6, lễ phát
phần thưởng của trường Thiếu-sinh-quân, bao
giờ cũng tổ chức tại nhà hát Tây Hà-nội,
với đầy đủ các sĩ quan cao cấp Pháp-Việt
tại Đệ-tam Quân-khu, và công chức Hà-thành. Sau khi phát
phần thưởng, các Thiếu-sinh-quân được đưa ra Đồ-sơn
nghỉ mát một tháng. Trong tháng đó, thế nào
Thiếu-tướng Vận cũng ra nghỉ với các con
một vài tuần.
Niên
khóa 1953-1954, quân số trường lên tới 210
Thiếu-sinh-quân. Hiệp định Genève ký ngày 20-7-1954
thì ngày 19-8-1954, các Thiếu-sinh-quân được chuyên
chở bằng phi cơ Dakota từ phi trường Bạch-mai vào
phi trường Tân-sơn-nhất, rồi đưa về Mỹ-tho,
nhập vào trường Thiếu-sinh-quân Đệ-nhất Quân-khu.
Đến đây, trường Thiếu-sinh-quân Đệ-tam Quân-khu
bị xóa sổ, để lại những kỷ niệm ; người
sau nhắc đến, chỉ là nhắc lại những hình
bóng xa xưa muôn vàn nuối tiếc .
Trong
cuộc di cư này, giáo-sư Pháp-văn là Trung-úy Nguyễn Đình
Quang ở lại. Bà Quang có một cửa hàng chế
tạo và bán guốc ở số nhà 58 phố Huế, Hà-nội.
Ông ở lại, bị đi học tập 7 năm, khi về thì
cửa hàng bị tịch thu, ông chỉ còn lại có
một căn lầu nhỏ phía sau, mà trước kia ông dành
cho gia nhân ở. Năm 2000, một cựu Thiếu-sinh-quân Hà-nội
tên Chu Văn Hải, từ Hoa-kỳ về thăm quê đã tìm
lại được thầy cũ. Sau 46 năm xa cách, nay hội
ngộ, thầy trò ôm nhau mà khóc. Hiện (2001) sức
khỏe giáo sư Quang không mấy khả quan, tài chánh
chữa bệnh không có. Tin này được loan báo mau lẹ
trong hàng ngũ cựu Thiếu-sinh-quân ở
Hải-ngoại. Học trò cũ của ông ở châu
Âu như Đức, Pháp, Thụy-sĩ cùng những học sinh
khác ở Hoa-kỳ, Canada, Úc cùng góp tiền gửi
về, gọi là chút lễ tạ thầy. Một học
trò cũ hiện là Giáo-sư đại học Y-khoa Paris,
đã nhờ học trò là Bác-sĩ người Pháp đang
công tác tại Hà-nội tới trị bệnh cho thầy
mình.
|