Chúng
tôi xin giải đoán:
_ Về con số của đối lập trong nước,
hẳn họ căn cứ vào bản đồ hiệp định
trên bộ như chúng tôi, rồi so sánh với bản đồ
thời Pháp dùng cho học sinh, nhưng họ đo bằng
lối ước tính trên giấy, kém chính xác một chút.
_ Về con số của Đại-tá Bùi Tín chúng tôi
giải đoán: giữa biên giới Hoa-Việt có 6 khu đất
29,300km2, 26,750 km2, 17,400km2, 21,003 km2, 16.547km2,
vào thời Nguyễn; Nguyễn-Thanh coi như của
chung, để cho hai bên dân chúng trao đổi hàng hóa (như vùng
Andora của Pháp-Tây Ban Nha, không thuộc nước nào). Sau
hiệp ước 1887 và 1895 tình trạng vẫn không
thay đổi. Trong chiến tranh 1945-1954 cac khu này thuộc
Trung-quốc, nhưng trên pháp lý vẫn là của chung.
Nay đảng Cộng-sản VN nhượng cho Trung-quốc, nên
Đai-tá Bùi coi như VN mất đứt khu này.
Về
hang Pakbo
Về hang Pak-bó, sở Kỹ-thuật của chúng tôi
đo, kể từ biên giới cũ, đến cửa hang là :
50.035 m. Nay biên giới mới chỉ còn cách cửa
hang có 1.511 m. Bản tin của Câu-lạc-bộ sinh viên
(http://dungday.tripod.com) công bố ngày 5-2-2002 thì
khoảng cách: Cũ là 48.900 m nay
là 1.500 m. Hai con số gần với nhau.
Vậy chúng tôi ghi ra đây. Dù sao thì vấn đề
này quan trọng đối với người Việt, người
Hoa. Còn đối với IFA chúng tôi thì sự
việc đã xong. Sổ sách đã khép lại. Chúng tôi
(IFA) và Gs Trần Đại-Sỹ không dám có ý tưởng
tranh cãi với Thứ-trưởng Lê Công Phụng. Hơn
nữa chúng tôi không cần, không có thời giờ tranh cãi
một vụ việc đã qua với bất cứ ai.
IFA chúng tôi rất thông cảm nỗi khổ tâm của
Lê Công Phụng, vì ngài tuân lệnh trên mà làm,
nếu chống thì e tính mạng khó toàn.
Về
thác Bản-giốc
Thác Bản-giốc, theo Thứ-trưởng Lê Công
Phụng thì trước hiệp định 30-12-1999, địa
danh này chỉ nằm về ranh giới VN có 1/3, còn
2/3 thuộc Trung-quốc. Nay thì Trung-quốc,
Việt-Nam cưa đôi. Điều này làm chúng tôi hơi ngạc nhiên.
Vì suốt thời gian 1887-1955 trong thời Pháp
thuộc, thác này nằm khá xa biên giới Hoa-Việt. Năm
1993, 1995, 1997 chúng tôi có giúp đỡ cho ba công ty nước khoáng
châu Âu thăm dò lưu lượng nước, thăm dò thành
phần nước để khai thác thương mại. Các chuyên viên
xin visa vào Việt-Nam:
_ 1993 Kỹ-sư J.P. Renault,
_ 1995, Bác-sĩ Trần Đại-Sỹ, kỹ sư F.
Puririer,
_ 1997 Dược-sĩ Marie Christine Le
Dưới hình
thức du lịch, rồi tới Bản-giốc. Như
vậy rõ ràng trước
1997 thác này còn nằm trên lãnh thổ Việt-Nam.
Chứ nếu nằm trên lãnh thổ Trung-quốc thì
phải xin visa vào Quảng-Tây, rồi tới
Bản-giốc! Vả địa danh Bản-giốc đã
in sâu vào tiềm thức giới trẻ VN vì họ
từng đi cắm trại, sinh hoạt tại đây. Một
số sách Việt-ngữ dành cho tuổi trẻ đã nói
nhiều về thác này. Nay Thứ-trưởng bảo thác đó
nằm trên lãnh thổ Trung-quốc từ thời Pháp-Thanh,
chúng tôi e tuổi trẻ nay thành tuổi nhỡ, tuổi
già VN, cũng không ai chịu. Chúng tôi theo dõi rất
kỹ, từ lâu cuộc đàm phán Hoa-Việt về biên
giới, nên rất thông cảm với Thứ-trưởng.
Hình
chụp cửa hang Pak-bo (hình của Lửa Tự-do)
Hồi chiến tranh Hoa-Việt (1979) Hồng-quân
Trung-quốc đã phá hủy tất cả di vật, cũng
như cửa hang này

Thác Bản-giốc thuộc tỉnh Cao-bằng (Hình của Lửa Tự-do)

Suốt
năm nghìn năm lịch sử, thuộc lãnh thổ
Việt. Nay cưa đôi,
Trung-quốc, Việt-Nam mỗi nước
một nửa.
Thưa Qúy-vị
4.3,
Ảnh hưởng vụ cắt đất,
4.3.1,
Mất biểu tượng năm nghìn năm của tộc
Việt,
Khu Ải Nam-quan này là
vùng đất thiêng, là Thánh-địa trong mấy nghìn năm
của người Việt. Bất cứ người Việt nào
từ 6 tuổi trở lên đều biết rằng Ải
Nam-quan là vùng đất tượng trưng biên giới phía
Bắc, tượng trưng cho lãnh thổ, cho tinh thần
tự chủ, cho niềm niềm tự hào của họ.
Đây là vùng đất đi sâu vào lịch-sử, văn-học và
tâm tư toàn thể người Việt.
Trở về quá khứ, trong lần mạn đàm
giữa Chủ-tịch Mao Trạch-Đông và Chủ-tịch
Hồ Chí Minh. Chủ-tịch Mao Trạch-Đông đã nói:
" Cái tên Ải Nam-quan,
nhắc nhở đến cuộc chiến do bọn phong
kiến Hoa, Việt làm xấu tình hữu nghị nhân
dân. Tôi xin đổi thành Mục Nam-quan. Mục là mắt,
coi như nhân dân Trung-quốc luôn hướng mắt nhìn
về nhân dân Việt ở phương Nam. Ngược lại coi
như mắt của nhân dân Việt luôn nhìn về
Bắc với tình hữu nghị".
Chủ-tịch Hồ Chí-Minh vui vẻ chấp
thuận. Nhưng trên thực tế, chỉ có phía
Trung-quốc in trên bản đồ địa danh Mục Nam-quan
mà thôi. Còn phía Việt-Nam trên bản đồ hành chính,
trên báo chí, văn học, vẫn dùng từ Ải Nam-quan hay
cửa Hữu-nghị.
Hình cửa
ải Nam-quan trước chiến tranh Hoa-Việt 1979,
dùng để phân chia biến giới. |
Ảnh
chụp tháng 8-2001, |
4.3.2,
Mất cửa ngõ giao thông lịch sử giữa
tộc Hoa, tộc Việt,
Tôi đã nhiều lần từ Việt-Nam sang
Trung-quốc bằng cửa ải này và ngược lại.
Lãnh thổ Hoa-Việt
được phân chia bởi một con sông nhỏ. Đây là
cửa họng giao thông của Trung-quốc, Việt-Nam
bằng đường bộ. Suốt hơn mấy nghìn năm
qua, dân Hoa-Việt giao thương đều qua đây. Chính vì
vậy mà con đường quốc lộ xuyên Việt mang tên
Quốc-lộ 1, được đánh số cây số Zéro từ
đầu cây cầu Nam-quan. Tất cả thư tịch
Việt-Nam đều chép rằng:
" Con đường Bắc-Nam khởi từ ải
Nam-quan".
Hoặc
:
"Lãnh thổ Việt-Nam Bắc giáp Trung-hoa,
khởi từ ải Nam-quan đến mũi Cà-mâu, theo hình
chữ S".
Bây giờ nếu Quý-vị
vào Website của Bộ Ngoại-giao Việt-Nam, Quý-vị
sẽ không thấy hàng chữ trên, mà chỉ thấy câu:
"Lãnh thổ
Việt-Nam khởi từ cây số không ở phía
Bắc".
Thưa Quý-vị
Cái cây số không đó là cây số 1,5 cũ đấy.
Cột cây số Zéro bây giờ ở phía Nam cột Zéro cũ
1,5 cây số. Từ cây số Zéro đến cây số 1, 5
nay thuộc Trung-quốc.
Ghi chú
của IFA.
Sát cây cầu Nam-quan, phía bên Trung-quốc cũng như
Việt-Nam, đều có nhiều cơ sở:
_ Cơ sở Hải-quan,
_ Bãi đậu cho hằng trăm xe tải, để
chờ kiểm soát, chờ làm thủ tục nộp
thuế.
_ Cơ sở di trú của Công-an để kiểm soát
Passeport,
_ Đồn của quân đội để tuần phòng,
bảo vệ lãnh thổ,
_ Hằng chục cơ quan, khác như Bưu-điện, Ngân-hàng,
công ty điện, nước.
_ Về phía dân chúng, hằng trăm cửa hàng ăn, nhà
ngủ, khách sạn.
Các cơ sở phía Nam thuộc Việt-Nam, trong chiến
tranh Hoa-Việt 1978, quân đội Trung-quốc đã san
bằng hết. Kể cả cây cột biên giới.
Tuy
vậy sau chiến tranh, đã xây dựng lại hoàn toàn.
Từ khi có phong trào mở cửa, đổi mới chính
trị, dân chúng cả hai bên đã xây dựng lại
khang trang hơn cũ, rộng lớn hơn cũ, và hiện đại
hơn cũ. Nhưng từ khi
hiệp định 30-12-1999 ký thì toàn bộ khu này
thuộc Trung-quốc. Những cơ sở đó bây giờ được
thay bằng một tòa nhà duy nhất.(Hình đính kèm)
![]() |
Hình chụp từ phía lãnh thổ Trung-quốc mới (VN cũ) sang, căn nhà duy nhất tại cửa khẩu Hữu-nghị của VN ( mới) |
4.3.3,
Mất dân, mất di tích lịch sử,
Đi sâu vào khu vực phía Nam của Nam-quan ít cây
số nữa là quận lỵ Đồng-đăng, rồi
tớiø tỉnh lỵ Lạng-sơn. Đây cũng là đất
thiêng, khu có di tích văn hóa lịch sử của tộc
Việt: Động Tam-thanh, tượng núi Tô-thị, thành
của bọn giặc Mạc trên núi. Vùng Lạng-sơn xưa
là Thủ-đô của con cháu giặc Mạc Đăng-Dung, mà năm
1540 đã dâng đất cho Trung-quốc, để được
bao che cát cứ quân phiệt một thời gian. Trong
chiến tranh Hoa-Việt 1979, hầu như
toàn bộ các cơ sở kỹ nghệ, cầu
cống, dinh thự, di tích tôn giáo, lịch sử, cơ
sở hành chính, thương mại, kể cả nhà cửa
của dân chúng bị san bằng. Chắc Quý-vị
cho rằng tôi dùng từ Coventry có đôi chút quá đáng. Thưa
Quý-vị từ Coventry cũng chưa đủ để
chỉ việc quân đội Trung-quốc đã làm ở
Lạng-sơn. Kinh khiếp nhất là động Nhất-thanh,
Nhị-thanh, Tam-thanh, họ cũng dùng đại bác bắn vào
làm hư hại rất nhiều.
Đi sâu về phía Nam ít cây số nữa là Ải Chi-lăng, nơi mà quân Trung-quốc vượt qua không biết bao nhiêu lần để tiến về thủ đô Thăng-long của Việt-Nam xưa. Tại đây đã diễn ra những trận chiến ác liệt, khiến ít nhất 73 vạn quân của các triều đại Tống, Mông-cổ, Minh, Thanh bị giết. Và cũng tại đây, có không biết bao nhiều tướng của các triều đại trên bị tử trận. Khi quân Việt giết những tướng, dù vào thời kỳ nào chăng nữa thì đầu vẫn bêu tại một mỏm núi, gọi là núi Đầu-quỷ. Tại ải Chi-lăng, núi Đầu-quỷ đều khắc bia đá ghi lại di tích lịch sử. Hồi chiến tranh Hoa-Việt 1978, khi các tướng Hồng-quân cho quân tiến đến đây, nghe nhắc chuyện cũ thì họ toát mồ hôi lạnh, phải ngừng lại. May mắn thay khu này vẫn còn thuộc lãnh thổ Việt.(2 hình đính kèm)
Bia lưu niệm Ải Chi-lăng |
Cửa Ải Chi-lăng, yết hầu biên giới vào đồng bằng Bắc-bộ |
Trở
lại vùng đất mà đảng Cộng-sản Việt-Nam
đã nhượng cho Trung-quốc, dĩ nhiên họ nhượng
cả dân chúng nữa. Trong năm nghìn năm lịch sử
chiến tranh Hoa-Việt, dân chúng, chiến sĩ tại vùng
này là lực lượng đầu tiên chống quân
Trung-quốc. Họ phải hy sinh tính mạng, tài sản
đầu tiên, khi quân Trung-quốc đánh sang. Có không biết
bao nhiêu di tích, huyền sử về núi non, về sông ngòi,
về cuộc chiến, về gương anh hùng. Chính quyền
các triều đại đều tuyên dương công lao của
họ, họ từng hãnh diện đời nọ sang đời
kia. Bây giờ vùng này trao cho Trung-quốc, kẻ thù năm nghìn
năm của họ. Họ bị mất mát quá nhiều
về tinh thần. Họ phải cúi mặt chịu sự
cai trị của kẻ thù. Bao nhiêu di tích lịch sử,
huyền sử phải phá bỏ, không được nhắc
tới. Thương tổn tinh thần quá lớn
Gần đây nhất, trong chiến tranh 1979, phía Việt cũng như Trung-quốc, chôn trên lãnh thổ mình, dọc theo biên giới mấy chục vạn quả mìn. Sau chiến tranh mới đào lên. Phía Việt lập rất nhiều đồn, hầm, công-sự chiến đấu dọc biên giới thành 4 vòng đai. Mấy chục nghìn chiến sĩ Việt tử trận tại đây. Hiện những cơ sở đó vẫn còn. Trong khu vực này dân chúng, gia đình liệt sĩ đã ghi dấu tưởng niệm thân hân họ. Nay trao cho Trung-quốc, dĩ nhiên các di tích này bị phá hủy. Dân chúng đang là lực lượng chong mặt với kẻ thù, bảo vệ lãnh thổ, nay họ bỗng trở thành những người Trung-quốc bất đắc dĩ. Các vòng đai phòng thủ bị mất. Dân tộc Việt-Nam mất mát về an ninh quá nhiều.
Phụ Ðính 1
Bản đồ biên giới vùng Nam-Quan theo
hiệp ước Pháp-Thanh 26 tháng 06 năm 1887
(Tài liệu của báo Song ngữ Tin-tức, Xb tại Paris)


4.4,
Vụ cắt lãnh hải,
Hiệp
định phân định lãnh hải Việt-Nam,
Trung-quốc ngày 25-12-2000.
Từ giữa thế kỷ thứ 19 về trước,
chưa từng có việc ấn định rõ lãnh
hải Việt-Hoa. Tuy nhiên vào thế kỷ thứ 15,
Việt-Nam đã định lãnh hải qua vụ nhà
vua sai vẽ Hồng-đức bản đồ. Theo bản đồ
này thì các quần đảo Hoàng-sa (Tây-sa) và Trường-sa
(Nam-sa) thuộc Đại-Việt. Và hai quần đảo đó
đều thuộc Việt-Nam cho đến khi Bộ Chính-trị
thời 1958 trao cho Trung-quốc (trên lý thuyết).
Vào những thời kỳ ấy (1500-1887) , Thủy-quân
cũng như thương thuyền, tầu đánh cá của cả
Hoa lẫn Việt chỉ là những thuyền nhỏ, không
ra xa bờ biển làm bao, nên chưa có những đụng
chạm.
Sau khi triều Nguyễn của Việt-Nam ký hòa
ước năm 1884, công nhận quyền bảo hộ của
Pháp; thì người Pháp mới định rõ lãnh
hải. Nước Pháp với tư cách bảo hộ
Việt-Nam, đã ký với Thanh-triều hòa ước
1887, định rõ lãnh hải trong vùng vịnh
Bắc-Việt. Đối với hòa ước này,
Việt-Nam đã chịu khá nhiều thiệt hại, vì
mất một số đảo, mà dân chúng là người
Việt, nói tiếng Việt, mặc y phục Việt,
sống trong văn hóa Việt. Cho đến nay (2001), dân trên các
đảo này vẫn còn nói tiếng Việt, ẩm
thực theo Việt, và dùng y phục Việt. (Chúng tôi đã
từng thăm vùng này hồi 1983).
Tuy nhiên với hòa
ước 1887, lãnh hải vịnh Bắc-Việt được
phân chia như sau:
Trung-quốc 38 %
Việt-Nam 62%
Đối với người Pháp, thời đó họ chưa
hiểu rõ tình trạng giữa Trung-hoa và
Việt-Nam, họ thấy Thanh-triều chấp nhận 38%,
thì cho rằng mình thắng thế. Còn
Thanh-triều khi đạt được 38%, họ coi như một món
quà trên trời rơi xuống. Vì trong quá trình
lịch sử, Trung-quốc vẫn coi vịnh
Bắc-Việt là của Việt-Nam.
Chứng
cớ:
_ Vùng đất Hợp-phố là đất cực Nam
của Trung-quốc, thế nhưng lại có hải cảng
Bắc-hải. Bắc đây chỉ có thể là Bắc đối
với Việt-Nam. Nếu là đất của Trung-quốc
họ phải gọi là thị xã Nam-hải chứ? Rõ
ràng vùng này là đất cũ của Việt-Nam.
_ Vùng vịnh nằm ở phía Nam Trung-quốc, phía Tây
đảo Hải-Nam, phía Đông Bắc Việt-Nam mà Pháp-Hoa ký
hòa ước 1887 đó, Việt-Nam gọi là vịnh
Bắc-Việt. Trung-quốc cũng gọi là vịnh
Bắc-bộ. Cho đến nay (2001), họ cũng vẫn dùng
tên đó. Vậy thì rõ ràng vịnh này của
Việt-Nam. Nếu của Trung-quốc thì họ
phải gọi là vịnh Nam-bộ chứ?
Cử
tọa hỏi, câu hỏi thứ 15,
Có sách Tây-phương nào viết về vấn đề này không?
Gs
TĐS
Nhiều lắm, tôi xin cử ra vài tài liệu mới đây:
Edward
H.H, Schafer trong Shore of Pears (châu Nhai)
(Berkley-London 1970),
Tác giả căn cứ vào
khai quật, cũng như khảo cổ đã kết
luận rằng:
Vào thời Hán, đảo Hải-Nam không có đường
thông thương với Trung-quốc. Đảo này thuộc
Giao-chỉ. Tất cả thương thuyền đều từ
Giao-chỉ tới. (TĐS ghi chú dành riêng cho người
Việt: Tôi đã tới Hải-Nam nghiên cứu 2
lần. Tại đây tôi tìm ra nhiều di tích thời
vua Trưng, nên trong bộ "Cẩm-khê di hận" tôi đã
thuật lại trận chiến giữa Hán-Việt.
Nhiều "học giả" ngu dốt, công kích tôi,
thấy họ ngu quá tôi không trả lời.)
Cử
tọa hỏi câu hỏi thứ 16,
_ Xin cho biết việc phân chia lãnh hải Hoa-Việt
theo hiệp ước 1887?
Gs
TĐS,
Tôi xin chiếu lên để Ngài thấy.

Ðảo
Hải Nam, lãnh thổ thời Lĩnh-Nam (vua Trưng) về trước.
Hình vẽ trong sách cuả E.H. Schafer
Bản đồ Hiệp Ước Pháp-Hoa 1887

Cử
tọa hỏi, câu hỏi thứ 17,
_ Tôi thấy bản
đồ đính kèm bản tuyên bố 1958 của Trung-quốc,
chỉ ấn định vùng
biển Nam-hải, mà không đề cập đến vịnh
Bắc-bộ. Như vậy có nghĩa rằng họ công
nhận lãnh hải trong vịnh theo Hiệp-ước Pháp-Thanh
1887?
Gs
TĐS
_ Quả đúng như
Ngài suy đoán. Nhưng chỉ
vì gần đây Trung-quốc biết được trong
vịnh có trữ lượng dầu lửa lớn, nên
mới đòi VN, cắt vùng này cho họ.
Cử
tọa hỏi, câu hỏi thứ 18
_ Cho chúng tôi
chứng cớ.
Gs
TĐS
_ Thưa có rất
nhiều.
Trước hết là những hoạt động của
Trung-quốc trong vùng vịnh này.
_ Ngày 19 rồi 30-8-1992,
Trung-quốc đưa hai tầu tìm dầu lửa trong
vịnh Bắc-bộ.
_ Ngày 30-9-1992 tầu Nam-hải 6 của Trung-quốc xâm
nhập vùng cách Đông-Nam cửa biển Ba-lạt của VN
112km.
_ Tầu Phấn-đấu 5 nghiên
cứu tại cửa biển Hải-phòng, cách bờ
biển Thái-bình 70 dậm.
Phía
VN phản đối, nhưng Trung-quốc chối rằng họ
đâu có nhập hải phận VN.
_ Trung-quốc tự định lãnh hải trong vịnh
Bắc-bộ, vượt ranh giới lãnh hải ấn
định bởi Hiệp-ước Pháp-Thanh, họ tự đặt
tên là Tây-thủ (Main de l'Est, Hands off area), rồi cấm ngư
phủ, Thủy-quân Việt đi vào.
_ Về phía chúng ta, từ năm 1970, người Hoa-kỳ đã
thăm dò tìm dầu lửa trong biển Nam-hải, và
vịnh Bắc-bộ. Tài liệu của
báo Petroleum News
(USA,Feb.1984), đăng bản đồ của Selig S. Harrison chỉ
rõ khu có dầu lửa.

Khu
vực Trung-quốc tự ấn định mới đây (1983)
rồi cấm Hải-quân, Thương-thuyền, thuyền đánh
cá Việt-Nam đi vào mang tên Tây-thủ (Hands off area)