Cử
tọa hỏi, câu hỏi 9,
_ Tôi nghe Hoa-kỳ
trang bị cho VN (VNCH) những vũ khí, cũng như
chiến hạm tối tân nhất. Trong khi Giáo-sư chiếu
hình 4 chiến hạm tham chiến đều thuộc
loại hạ thủy vào thập niên 1940, quá cũ
kỹ. Vũ khí cũng vậy. Tại sao VN (VNCH) không đem
những chiến hạm, vũ khí
tối tân ra tham chiến? (Người đặt câu
hỏi nguyên là kỹ sư hàng
hải).
Gs
TĐS,
_ Thưa quả đúng như
Ngài nhận xét. Tất cả chiến hạm Hoa-kỳ
viện trợ cho VNCH đều thuộc loại phế
thải. Thay vì Hoa-kỳ phá hủy, họ tân trang
lại rồi trao cho VN. Bốn chiến hạm tham dự
trận đánh đều là những chiến hạm tốt
nhất mà VN nhận được. HQ4 hạ thủy năm 1943.
(Cử tọa bật cười). HQ5 hạ thủy năm 1944.
HQ10 hạ thủy năm 1942. HQ 16 hạ thủy năm 1942. Còn
vũ khí, cũng có chiến hạm trang bị loại đại
bác bắn liên thanh. Nhưng khi trao cho VN thì Hoa-kỳ tháo
đi. Dường như Hoa-kỳ đoán trước có cuộc hải
chiến này, nên một chiến hạm trang bị loại
đại bác trên, tuy đã trao cho VNCH, nhưng bị tháo đi
trước đó mấy tháng. Bằng không phía Trung-quốc
bị thiệt hại còn nặng hơn nhiều.
Quý vị có biết không? Hộ tống hạm
ký số HQ10, giữa trận đánh, máy bị hỏng,
do cũ quá chứ không phải bị trúng đạn, vì
vậy không di chuyển được, làm bia lĩnh đạn,
sau đó bị chìm.
Cử
tọa hỏi, câu hỏi 10,
_ Trong quá khứ,
giữa VN với Trung-quốc đã xẩy ra những
trận thủy chiến nào? Kết quả ra sao? (Người
hỏi nguyên là giáo sư sử Đông-Á)
Gs
TĐS,
_ Thưa Ngài trong
lịch sử 5000 năm của Hoa-Việt, chiến tranh liên
miên. Về bộ chiến, kị chiến thì cả
hai bên khi khi thắng khi bại. Duy thủy chiến, bao
giờ Việt cũng thắng.
Cử
tọa hỏi câu hỏi 11,
_ Xin cho biết
những trận nào?
Gs
TĐS,
_ Trận cổ
nhất vào năm 42 sau Tây-lịch.
Chiến địa xẩy ra ngoài biển Đông. Đô-đốc
Trung-quốc là Đoàn Chí. Đô-đốc Việt là Trần
Quốc, một nữ tướng. (Cử tọa ồ lên).
Kết quả hạm đội Trung-quốc bị đánh chìm
hết. Đoàn Chí bị giết.
_ Hồi đó người Việt theo chế độ mẫu
hệ ư?
_ Thưa không. Nhưng vị Hoàng-đế cai trị là một
phụ nữ. Trong suốt năm nghìn năm lịch sử,
đời nào VN cũng có những nữ tướng kiệt
hiệt.
_ Hiện có còn chứng tích nào về vị nữ Đô-đốc
này không?
_ Nếu Ngài du lịch VN, xin tới Hà-nội, thuê xe,
bảo tài xế đưa đến làng Hoàng-xá, xã Kiêu-kỵ,
huyện Gia-lâm là nơi có đền thờ bà. Tôi xin chiếu
vidéo về đền thờ này. (chiếu vidéo 5 phút).
_ Thưa Ngài trận thứ nhì do Vua Ngô (938), trận
thứ ba do vua Lê (981), trận thứ tư do Hưng Đạo vương
(1288). Cả ba trận sau đều diễn ra trên sông
Bạch-đằng, Trung-quốc đều bị bại.
Trận 1288 là trận khủng khiếp nhất, bên
Trung-quốc do vua Mông-cổ là Hốt Tất Liệt
ở ngôi. Kể từ đó cho đến năm 1974, mới có
trận Hoàng-sa.

Đền
thờ công chúa Gia-hưng Trần Quốc, đại đô đốc
thời Lĩnh-Nam (vua Trưng), tại làng Hoàng-xá, xã Kiêu-kỵ,
huyện Gia-lâm, Hà-nội. Bốn chữ đại tự trên
là VẠN CỔ ANH PHONG. Có 3 câu đối ở mặt
tiền, câu thứ 2 nói lên huân nghiệp của ngài:
Tô khấu tước bình trực bả quần thoa
đương kiếm kích,
Trưng vương dực tải hảo tương cân quắc hộ sơn
hà.
( Bình giặc Tô Định, đem quần thoa, chống
với kiếm kích.
Phò Trưng vương, đem khăn yếm giữ non sông)
Đền Kiếp-bạc, thờ Hưng Đạo vương. Bốn chữ đại tự trên là: DỮ THIÊN VÔ CỰC . Bốn chữ dưới là TRẦN HƯNG ĐẠO VƯƠNG TỪ.

Cử
tọa hỏi, câu hỏi thứ 12
_ Xin cho biết
lực lượng hải quân Trung-quốc và Việt-Nam
hiện giờ?
Gs
TĐS,
_ Trình bày chi
tiết, cử tọa chấp nhận. Nhưng chúng tôi
bị cấm không được phổ
biến.
Tôi
xin trở lại với bài điều trần:
_ Cũng có vị hỏi tôi rằng: Tại quần đảo
Trường-sa (Nam-sa) hiện có quân của Trung-hoa Dân-qước
(Đài-loan), Phi-luật-tân, Mã-lai, Việt-Nam. Thế sao
hải quân Trung-quốc luôn khai hỏa vào hải quân
Việt-Nam. Quan trọng nhất là trận chiến
14 tháng 3 năm 1988. Việt-Nam chỉ phản đối
lấy lệ?
Nay
tôi xin thưa:
Do văn thư của Phạm Văn-Đồng công nhận
quần đảo này là của Trung-quốc.
Lập
luận phía Trung-quốc là: Thủ-tướng Phạm Văn-Đồng
đã công nhận vùng này là lãnh hải
Trung-quốc, tại sao quân đội Việt-Nam còn
hiện diện tại đây? Như thế là Việt-Nam xâm
phạm lãnh thổ Trung-quốc. Quân đội
Trung-quốc phải đánh đuổi quân xâm lăng, bảo
vệ đất nước là lẽ thường. Quân đội Đài-loan
đóng tại đây, mà Trung-quốc không tấn công vì quân
Đài-loan thì cũng là quân đội Trung-quốc đóng trên
lãnh thổ Trung-quốc. Còn Phi, Mã-lai với
Trung-quốc đang tranh chấp trên quần đảo này chưa
ngã ngũ; thì quân đội của họ hiện
diện là lẽ thường. Trung-quốc không thể
tấn công họ, vì như vậy là Trung-quốc ỷ
lớn hiếp nhỏ.
Đối
với vụ việc tranh chấp Trung-quốc, Việt-Nam
trên đảo Trường-sa (Nam-sa) đã giải quyết
bằng văn thư của Việt-Nam ngày 14-9-1958. Chính vì
lý do này mà Trung-quốc chỉ chấp nhận đàm phán
về vùng đảo với từng nước, mà không
chịu đàm phán chung với tất cả các bên liên
hệ. Có nghĩa họ gạt Việt-Nam ra ngoài, vì
Việt-Nam đã công nhận các đảo này là của
Trung-quốc.
Cử
tọa hỏi, câu hỏi thứ 13
_ Giáo-sư
có thể cho biết chi tiết về trận đánh ngày
14-3-1988 không? Tổn thất hai bên như thế nào?
Gs
TĐS,
_ Về phía
Trung-quốc dường như không có ai tử thương. Cũng không
có chiến hạm nào bị chìm. Về phía VN, thì:
_ 1 Chiến hạm Thượng-hải do Trung-quốc viện
trợ cho trước đây, bị chìm.
_ 1 Tuần dương hạm của VNCH để lại, bị chìm.
_ 1 Một hải vận hạm do Nga-sô viện trợ
bị chìm.
_ Nhân mạng khoảng trên 300 chết.
Kính
thưa Quý-vị,
tôi xin trở lại phần điều trần.
3.4,
Về hoàn cảnh Mạc Đăng-Dung năm 1540
Ta
có thể hiểu tại sao giặc Mạc lại làm công
việc táng tận lương tâm, ô danh bậc nhất
cổ kim trong lịch sử tộc Việt ấy. Vì:
_ Bấy giờ tuy Dung và con cháu đang cai trị Đại-Việt.
Nhưng tại Thanh-hóa con cháu nhà Lê đã thiết lập
triều đình mới, đang tiến quân về Thăng-long.
_ Phía Bắc bị 22 vạn quân Minh dàn ra định tràn
xuống đánh. Vì tính mạng bản thân và gia đình,
họ hàng bị đe dọa, nên Mạc Đăng-Dung phải đầu
hàng Minh triều, rồi cắt đất dâng cho Minh.
3.5,
Về hoàn cảnh đảng Cộng-sản Việt-Nam năm
1958, và chính phủ VNDCCH
Tất
cả những vị trong bộ Chính-trị đảng
Cộng-sản, trong Chính-phủ đều biết rằng:
_ Kể từ năm 1540, sau khi dâng đất cho Trung-quốc,
giặc Mạc Đăng-Dung bị lịch sử Việt-Nam
kết tội, bị toàn dân nguyền rủa, đến
bấy giờ trải 418 năm, chính họ cũng nguyền
rủa bọn Mạc.
_ Giữa VNDCCH và Việt-Nam Cộng-hòa (VNCH), cả
hai bên đều đang lo củng cố xây dựng lại vùng
đất của mình sau chiến tranh (1945-1954). Cả hai
bên cùng chưa chính thức gây hấn với nhau. VNDCCH không
có ngoại thù.
_ Trung-quốc không có chiến tranh với VNCDCH. Không có áp
lực ngoại xâm.
_ Năm 1958, là lúc thịnh thời nhất của
Chủ-tịch Hồ Chí Minh, của Đại-tướng Võ
Nguyên Giáp. Thời kỳ này, miền Bắc Việt-Nam
vừa trải qua cuộc Cải cách ruộng đất,
246.578 người hầu hết là phú nông, địa chủ,
trung nông, các cựu đảng viên không phải của đảng
Lao-động (Cộng-sản), dân chúng... bị giết. Nghĩa
là toàn miền Bắc dân chúng kinh hoàng, cúi đầu răm
rắp tuân lệnh đảng. Không còn kẻ nội thù,
_ Nhất là lúc ấy VNDCCH đang kéo cao cờ nghĩa đánh
Pháp, chống Mỹ cứu nước. Họ kết tội
VNCH là Việt-gian, là Ngụy. Họ phải hết
sức giữ gìn để khỏi mất chính nghĩa.
_ Thế sao đảng Cộng-sản lại làm cái việc
thân bại danh liệt, trở thành tội đồ muôn năm
của tộc Việt?
_ Bàn về việc ký thỏa ước với nước
ngoài, việc nhận đất, nhượng đất phải thông
qua Quốc-hội. Bấy giờ VNDCCH cũng có
Quốc-hội. Nhưng Quốc-hội không được hỏi
đến, không được bàn đến và nhất là không được
thông tri. Quốc dân cũng thế. Tất cả thắc
mắc này, tôi xin để Qúy-vị suy đoán và trả
lời.
3.6,
Một câu hỏi được đặt ra:
Vậy
thì vì lý do gì mà đảng Cộng-sản
Việt-Nam lãnh đạo Chính-phủ VNDCCH lại nhượng
lãnh hải cho Trung-quốc quá dễ dàng?
Cho
đến nay, tôi cũng không tìm ra lý do thỏa đáng.
Tôi
không tìm ra vì:
_ Tất cả những vị trong bộ Chính-trị đảng
Cộng-sản Việt-Nam dự buổi hội quyết định
nhượng lãnh hải, đều đã từ trần.
Các vị trong nội các Phạm Văn-Đồng hồi
ấy, không biết nay có ai còn sống hay không? Tôi
chỉ biết chắc rằng Đại-tướng Võ
Nguyên-Giáp, vừa là Bộ-trưởng bộ Quốc-phòng,
vừa là ủy viên Bộ Chính-trị là còn tại
thế. Đại-tướng là người có học thức cao
nhất bộ Chính-trị, từng là giáo sư
Sử-học. Bấy giờ lại là lúc uy tín, quyền
hành của Đại-tướng lên tột đỉnh. Vụ Phạm Văn-Đồng ký văn kiện này Đại-tướng
phải biết. Nay Đại-tướng đang đi vào những ngày
cuối cùng của đời người. Nếu sĩ khí, dũng
khí của Đại-tướng còn, xin Đại-tướng
cho quốc dân biết không? (5)
Chú
giải (5)
Sau cuộc cải cách ruộng đất. Thấy dân chúng,
cán bộ quá bất mãn. Chủ-tịch Hồ Chí-Minh
sợ có biến, vội đưa vụ sửa sai. Nhận
thấy bấy giờ duy có Đại-tướng Võ Nguyên
Giáp là có uy tín nhất, Bộ Chính-trị tập hợp
dân chúng, cán bộ, rồi mời ông ra thay Đảng... xin
lỗi.
_ Nếu nói rằng khi ký văn kiện trên, là tự
ý Thủ-tướng Phạm Văn-Đồng thì không
thể nào tin được. Vì chính Phạm Văn-Đồng
từng than rằng: Ông là một Thủ-tướng lâu năm,
nhưng không có quyền hành gì, ngay cả việc
muốn thay một Bộ-trưởng cũng không được.
Vậy thì đời nào ông dám ký văn kiện dâng
đất cho Trung-quốc!
_ Ví thử ông Phạm Văn-Đồng tự ý ký văn
kiện trên, thì năm 1977 văn kiện ấy lộ ra ngoài.
Người Việt hải ngoại từng đem đăng báo, ông
Phạm Văn-Đồng hãy còn sống, sao Bộ Chính-trị,
Quốc-hội và Chính-phủ không truy tố ông ra tòa
về tội phản quốc? Tội này trong hình
luật Việt-Nam phải xử tử hình. Thế mà
ông ấy vẫn ung dung sống thêm bốn chục năm
nữa, đầy quyền hành?
_ Liệu những tài liệu, biên bản về buổi
họp này có nằm tại văn phòng Bộ Chính-trị,
văn phòng bộ Ngoại-giao CHXHCNVN không? Các vị trong
Bộ Chính-trị hiện thời có thể công bố cho
quốc dân biết không? Nếu quý vị im lặng,
thì muôn nghìn năm sau, lịch sử còn ghi: Đảng
Cộng-sản bán nước, mà không cầu vinh, cũng
chẳng cầu tài; chứ không phân biệt rằng
Bộ Chính-trị 1958 bán nước, chứ Bộ Chính-trị
2001 không hề làm việc này.
Không có câu hỏi nào.
Kính
thưa Quý-vị,
Bây
giờ tôi xin điều trần sang phần thứ nhì,
đó là:
4.
Vụ nhượng lãnh
thổ mới đây
*
Hiệp định về biên giới trên đất liền
Việt-Nam, Trung-quốc ngày 30-12-1999, ký tại Hà-nội
giữa bộ trưởng Ngoại-giao Việt-Nam là
Nguyễn Mạnh-Cầm với bộ trưởng
Ngoại-giao Trung-quốc là Đường Gia-Truyền.
*. Hiệp định phân định vịnh Bắc-bộ
giữa Việt-Nam, Trung-quốc ngày 25-12-2000, ký
tại Bắc-kinh giữa bộ trưởng Ngoại-giao
Việt-Nam là Nguyễn Dy Niên và bộ trưởng
Ngoại-giao Trung-quốc là Đường Gia Truyền, dưới
sự chứng kiến của Chủ-tịch Việt-Nam
Trần Đức Lương và Chủ-tịch Trung-quốc Giang
Trạch Dân.
4.1,
Ai chịu trách nhiệm về hai hiệp định
Hai
hiệp định này đều ký trong thời gian
1999-2000. Vào thời kỳ này tại Việt-Nam thì:
_
Lê Khả-Phiêu làm Tổng Bí-thư đảng Cộng-sản
ViệtNam,
_ Trần Đức-Lương làm Chủ-tịch nhà nước,
_ Nông Đức-Mạnh làm Chủ-tịch Quốc-hội,
_ Phan Văn-Khải làm Thủ-tướng.
_ Nguyễn Mạnh Cầm làm Bộ trưởng
Ngoại-giao.
Ai
chịu trách nhiệm khi ký hai hiệp định trên? Cá
nhân thì tôi không biết, nhưng có một điều
tập thể thì ai cũng khẳng định là Bộ
Chính-trị của đảng Cộng-sản Việt-Nam.
Không cần biết người ký là Chủ-tịch
Trần Đức-Lương, Thủ-tướng Phan Văn-Khải hay
Bộ-trưởng Ngoại-giao Nguyễn Mạnh-Cầm,
Nguyễn Dy Niên. Tôi xin khẳng định: Ai ký cũng
chỉ là người tuân lệnh Bộ Chính-trị đảng
Cộng-sản Việt-Nam.
Nhưng
người quyết định là ai?
Phan Văn-Khải, Nguyễn Mạnh-Cầm ư ? Hai ông này không
có quyền, dù có quyền các ông ấy cũng không dám
quyết định. Lê Khả-Phiêu quá yếu, không thể
quyết định một mình. Trần Đức-Lương, Nông
Đức-Mạnh càng không có quyền gì.
Vì
vậy tôi mới quyết đoán rằng vụ này do Bộ
Chính-tri đảng Cộng-sản chủ trương. Hiện
tất cả các ông trong Bộ Chính-trị thời Lê
Khả-Phiêu vẫn còn sống, rất khỏe
mạnh. Khi quyết định nhượng đất, biển cho
Trung-quốc các ông ấy đều biết rất rõ
rằng:
_ Tinh thần dân chúng bây giờ không phải như dân chúng
hồi 1540. Trình độ dân chủ, phương tiện thông
tin của đảng viên, của dân chúng vượt xa hồi
1958. Uy tín của Tổng Bí-thư Lê Khả-Phiêu không
thể so sánh với Chủ-tịt Hồ Chí-Minh năm 1958.
Mỗi vị trong Bộ Chính-trị bây giờ là một
mảng, chứ không thể là một khối như Bộ Chính-trị
hồi 1958. Các vị trong Bộ Chính-trị thời Lê
Khả-Phiêu điều biết trước rằng: Ký
hiệp ước nhượng lãnh thổ trong lúc này không
thể bịt miệng, dấu diếm đảng viên cũng
như dân chúng. Thế nhưng các ông ấy vẫn làm! Vì
vậy phải có nguyên do gì trọng đại lắm.
Liệu các ông có thể công bố cho quốc dân biết
không?
Đến
đây một cử tọa nói bâng quơ, câu hỏi 14
_
Không lẽ trong Bộ Chính-trị, mà tìm
chẳng ra một người yêu nước ư ?
Gs
TĐS đáp:
Tôi tin
rằng có rất nhiều người đầy tâm huyết.
Song họ không thể bơi ngược dòng thác đổ.
Nếu như ở Tây-phương, người nào không đồng
ý, có thể từ chức. Nhưng ở các nước
Cộng-sản thái độ này bị coi là phản động,
tính mệnh khó toàn. Chính những vị này đã
tiết lộ tin tức vụ nhượng đất ra ngoài.
Kể
từ khi ký, dân chúng, đảng viên không được
biết nội dung Hiệp-ước nói gì.
Mãi tới tháng
2-2001, Thứ-trưởng Ngoại-giao Lê Công-Phụng, người
trực tiếp vụ này mới công bố trên Tạp chí
Cộng-sản, Quý-vị có thể tìm thấy bài
này trên Internet.
(http://www.cpv.org.vn/tccs/022001/6-lecongphung.htm)
(Phụ bản 1)
Tạp-chí Tư-tưởng
Văn-hóa số 3-2001 cũng tóm lược sự kiện. Quý
vị có thể tìm trên Internet.
(http://www.cpv.org.vn/anpham/tutuong/032001/13-kyhiepdinh.htm)
(Phụ-bản 2) (5)
Ghi
chú (5) cuả IFA, dành cho bản Việt-Ngữ
Sau
khi bài điều trần của
chúng tôi bị tiết lộ, báo chí, Internet bình
luận sôi sục, thì hai bài này bị xóa bỏ).
_ Thời gian ấy (1999-2000) đảng Cộng-sản
lấn át Chủ-tịch Nhà-nước, cũng như Thủ-tướng
nhất. Đến nỗi Chánh-văn phòng Thủ-tướng
chỉ vì nói một câu không mấy lịch sự
với người đàn bà có thế lực trong đảng, mà
bị bắt giam không lý do, Thủ-tướng không
thể can thiệp cho ông ta tại ngoại.
_ Quyền gần như nằm trong tay ba ông Cố-vấn là
cựu Tổng Bí-thư Đỗ Mười, cựu
Chủ-tịch nhà nước Lê Đức-Anh và cựu
Thủ-tướng Võ Văn-Kiệt. Ba ông này như ba Thái-thượng
hoàng thời Trần. Tuy mang danh Cố-vấn, nhưng ba ông
vẫn còn uy quyền tuyệt đối. Chắc Quý-vị
còn nhớ bản điều trần của tôi vào tháng
9-1997, về vụ Tổng-bí thư Đỗ Mười và
Thủ-tướng Võ Văn Kiệt mật đàm với
Chủ-tịch Giang Trạch Dân.
_ Cũng trong thời gian ấy, cả thế giới
(trừ Trung-quốc) đều có chính sách ngoại giao
rất đẹp với Việt-Nam: Hoa-kỳ
(Tổng-thống Bill Clinton), Liên-Âu, các nước ASEAN đang
theo đuổi chính sách ngoại giao rất mềm dẻo
với Việt-Nam. Nhất là Tổng-thống Clinton ký
sắc lệnh bỏ cấm vận Việt-Nam, mở
cửa cho sinh viên Việt-Nam sang du học Hoa-kỳ, mở
cửa cho hàng Việt-Nam được nhập vào Hoa-kỳ. Nói
tóm lại thời gian từ nửa năm 1999 cho đến
cuối năm 2000, Việt-Nam không bị một áp lực
quốc tế nguy hiểm nào, đến độ phải nhượng
đất, nhượng biển cho Trung-quốc để được
viện trợ vũ khí, để được che chở.
_ Cũng thời gian trên, Trung-quốc, Việt-Nam không có
tranh chấp lãnh thổ, không có đụng chạm biên
giới, không có căng thẳng chính trị, không có
chiến tranh.
Vậy
vì lý do nào mà các ông ấy cắt đất,
cắt biển cho Trung-quốc?
4.2,
Chi tiết vụ cắt đất,
Vụ cắt đất ký ngày 30-12-1999, thì tôi
được biết tin chi tiết, do hai ký giả
Trung-quốc là bạn với tôi thông báo vào ngày 9-1-2000.
Nghĩa là 10 ngày sau. Hai anh thuật, theo tinh thần bản
hiệp định thì:
_ Việt-Nam nhường cho Trung-quốc dọc theo biên
giới, 789 cây số vuông (chứ không phải 720 như tin
lộ ra trong nươc), quan trọng nhất là vùng thuộc hai
tỉnh Cao-bằng, Lạng-sơn.
_ Có mấy hiệp định thư (Photocol) đính kèm
về việc thi hành. Quan trọng nhất là :
_ Nhượng vùng Cao-bằng, sát tới hang Pak-bó, nơi
Chủ-tịch Hồ Chí Minh ẩn thân lãnh đạo
cuộc kháng chiến. Hang này trở thánh địa của
đảng Cộng-sản Việt-Nam. Trước kia nằm
rất xa biên giới (khoảng 50 km), nay nằm sát biên
giới.
_ Nhượng vùng đất bằng phẳng thuộc
tỉnh Lạng-sơn nơi có cửa ải Nam-quan. (6)
Ghi
chú (6) của IFA.
IFA
chúng tôi có nguyên văn hai bản Hiệp-định này
bằng Hoa-văn, Việt-văn. Hiện đảng
Cộng-sản cũng như nhà nước VN, giữ kín 2
bản văn này, đến nỗi cấp Bộ-trưởng, Đại-sứ,
Ủy-viên Trung-ương đảng bộ cũng không có.
Nhiều vị không biết. Nhiều người Hoa-Việt
gửi thư xin hai bản Hiệp-định này, chúng tôi cũng
như Gs. Trần không thể thỏa mãn, vì cho thì
vi phạm tác quyền. Vậy Quý-vị muốn có xin
hỏi tác giả là bộ Chính-trị đảng CS
Trung-quốc và Việt-Nam.
Đây
là cuộc điều trần rất vô tư, Gs Trần giữ
đúng ngôn từ ngoại giao, không hề có lời lẽ công
kích, hay nhục mạ đối với đảng
Cộng-sản và nhà nước Việt-Nam. Mục đích
của cuộc điều trần chỉ để thính chúng
hiểu uyên nguyên sự thực mà thôi. Đường lối
ngoại giao của Liên-Âu và của chính phủ Pháp đối
với Việt-Nam rất mềm dẻo, chưa từng có hành
động hay ý tưởng gây khó khăn cho nước Pháp
thoại này. Chúng tôi (IFA), và Gs. Trần cũng phải tuân
hành nghiêm chỉnh.
Về
con số lãnh thổ
Ngày 1-2-2002, Lê Công Phụng, Thứ trưởng
Ngoại-giao VN, đặc trách vụ việc đàm phán với
Trung-quốc có lên tiếng với báo chí qua cuộc
phỏng vấn của nữ ký giả xinh đẹp
Thu-Uyên (trên Web. Vasc Orient, http://www.Vnn.Vn) rằng giữa
Hoa-Việt có 227 km2 cần giải quyết tranh chấp. Chúng
tôi hiểu là Lê Công-Phụng muốn nói 227 km2
hiện phải thảo luận. Còn những vùng mà
Trung-quốc đóng quân, được nhượng dần dần
từ 1947 đến giờ thì không tính. Nay hiệp định
ký chỉ để hợp thức hóa truyện đã
xẩy ra mà thôi. Có lẽ cách tính này của Lê Công-Phụng
cao minh hơn, giản dị hơn chúng tôi. Vì chúng tôi tính
theo hiệp ước Pháp-Thanh 1887 và 1895, cho nên con số
của chúng tôi là 789 km2. Sai biệt tới 562
km2. Khi công bố con số này, sở Kỹ-thuật
của chúng tôi đã phải tính toán chi li, kiểm đi
kiểm lại. Cách tính căn cứ vào ba bản đồ:
_ Ngay khi có bản hiệp định 30-12-1999
Hoa-Việt, sở Kỹ-thuật của chúng tôi đã căn
cứ vào bản đồ mới nhất của
Trung-quốc đính kèm Hiệp-định.(Đã chỉnh thành
tỷ lệ xích 1/25000).
_ Lại so sánh với bản đồ của Sở địa
chánh thời Pháp (1900-1955) tỷ lệ xích 1/25000. Tức là
bản đồ theo hiệp ước Pháp-Thanh 1887 và 1895, sau đó
được thi hành nghiêm túc suốt thời gian 1987-1955.
Bản đồ này rất đúng, bằng cớ là trong
chiến tranh Đông-dương, quân đội Pháp và Quốc-gia
Việt-Nam đã dùng cho Pháo-binh, Không-quân tác xạ,
rất chính xác.
_ Trong chiến tranh 1960-1970, VNCH có hẳn một trung tâm
Địa-dư tại Đà-lạt. Trung tâm này căn cứ vào đường
phân ranh của Pháp, rồi sửa
đổi những biến đổi do thời gian, do khí
hậu, được vệ tinh Hoa-kỳ chụp không ảnh
trao cho để vẽ lại. Hồi trước 1975 quân đội
VNCH, Hoa-kỳ, Đại-hàn, Thái-lan, Úc-đại-lợi, Tân-tây-lan;
đã dùng cho Pháo-binh tác xạ, Không-quân oanh tạc
rất chính xác.
Sau khi đo, chúng tôi tìm thấy có
789 Km2 trước kia thuộc lãnh thổ Việt,
nay theo hiệp ước 30-12-1999 thuộc Trung-quốc . Trong
khi những bài công kích của đối lập
ở trong nội địa VN gửi ra là 720 km2, sai
biệt với con số của chúng tôi là
69 km2. Còn theo Đại-tá Quân-đội CHXHCNVN Bùi Tín
thì con số là 900 km2. Phải hiểu rằng Đại-tá
Bùi Tín là người từng qua lại biên giới
Hoa-Việt nhiều lần, ông lại lớn tuổi, không
thể đưa ra con số hàm hồ. Nhưng tại sao lại có
sự sai biệt:
_ Con số của Lê Công-Phụng và Đại-tá Bùi Tín
673 km2 (227-900).
_ Con số của Lê Công-Phụng và đối lập
trong nước 493 km2 (227-720).
_ Của chúng Lê Công Phụng với chúng tôi (IFA) 562
km2 (227-789).