Hình
chụp tháng 8-2001, trên núi Tô-thị, thành nhà Mạc con lưu
di tích
Nhờ dâng đất, được Minh triều bao che, con cháu
Mạc Đăng-Dung còn cát cứ vùng biên giới
Cao-bằng, Lạng-sơn một thời gian. Chiếu Vidéo
trong 5 phút về núi Tô Thị tại Lạng-sơn.

![]() |
Tượng
nàng Tô-thị tại quận Đồng-đăng,
tỉnh Lạng-sơn, ghi lại di tích người chinh
phụ bế con chờ chồng, rồi hóa đá.
Hồi Tổng bí-thư Lê Duẩn cầm quyền, để
xóa bỏ văn hóa tộc Việt, phát huy văn hóa Mác-xít,
tượng bị đem nung làm vôi. Hình chụp tượng
mới tạc lại. Ca dao có bài hát: Con
cò bay lả bay la,
|
![]() |
Không phải chùa Tam-thanh mà là động Tam-thanh. Hồi 1979, Hồng-quân sang "dạy" Việt-Cộng bài học, đã san bằng Lạng-sơn. Chưa hả giận, họ còn dùng đại pháo bắn phá động Tam-thanh. Cửa động trước ở chỗ cột cờ, với hàng trăm bài thơ lưu niệm của danh sĩ Việt. Nay cửa động bị phá, cửa động mới tụt lùi vào trong. |
Ngắt
đoạn 2, không có câu hỏi nào.
Kính thưa Quý-vị,
Tôi vừa lướt qua vài nét đơn sơ về biên
giới Hoa-Việt, về ngoại giao Hoa-Việt trong
thời gian 989 năm. Bây giờ tôi xin đi thẳng vào đầu
đề hôm nay, về việc:
_ Đảng Lao-động Việt-Nam lãnh
đạo nhà nước Việt-Nam Dân-chủ Cộng-hòa
(VNDCCH, 1945-1975).
_ Đảng Cộng-sản
Việt-Nam lãnh đạo nhà nước Cộng-hòa Xã-hội
Chủ-nghĩa Việt-Nam (CHXHCNVN, 1975-2001)
Nhượng lãnh thổ, lãnh hải cho Trung-hoa Nhân-dân
Cộng-hòa quốc gọi tắt là Trung-quốc.
3.
Vụ Việt-Nam dân chủ Cộng-hòa
3.1,
Kết quả của văn kiện 14-9-1958
Ngày 4-9-1958, chính phủ Trung-quốc tuyên cáo về lãnh
hải 12 hải lý kể từ đất liền
của họ, có đính kèm bản đồ rất rõ ràng.
Bản tuyên cáo này
chỉ có hai nước công nhận đó là VNDCCH và Bắc Cao
(Cộng-hòa Nhân-dân Triều-tiên). Việc VNDCCH công
nhận như sau: Ngay khi nhận được bản tuyên cáo do
sứ quán Trung-quốc tại Hà-nội trao,
Chủ-tịch Hồ Chí Minh triệu tập Bộ Chính-trị
đảng Lao-động Việt-Nam (tức đảng
Cộng-sản Việt-Nam ẩn danh). Trong buổi họp này
toàn thể các thành viên nhất trí chấp nhận
bản tuyên bố của Trung-quốc. Ngày 14-9-1958,
Thủ-tướng Phạm Văn-Đồng tuân lệnh
Chủ-tịch Hồ Chí-Minh, gửi văn thư cho Tổng-lý
Quốc-vụ viện Trung-quốc (Thủ-tướng) là Chu
Ân-Lai, trong đó có đoạn (Văn thư đính kèm 1):
" Chính-phủ nước Việt-Nam Dân-chủ Cộng-hòa
tôn trọng quyết định ấy, và sẽ chỉ
thị cho các cơ quan có trách nhiệm triệt để tôn
trọng hải phận 12 hải lý của
Trung-quốc, trong mọi quan hệ với nước
Cộng-hòa Nhân-dân Trung-hoa trên mặt biển".

Ngắt
đoạn 3,
Cử tọa thắc mắc, câu hỏi 3,
Ngoài bản văn này, liệu chúng ta có thể tìm
lại một vài chi tiết khác không?
Gs. TĐS,
Thưa Ngài nhiều lắm, nhưng tôi chỉ xin cử vài
tài liệu mà thôi:
1, Bản tin UPI-AFP ngày 23-9-1958 .
2, Vụ việc này báo chí Việt-Hoa đều có đăng
tải ngày 23-9-1958, Quý-vị có thể tìm
tại thư viện Paris, London và cả một số thư
viện Trung-quốc (Bắc-kinh), Việt-Nam (Hà-nội).
Nội dung UPI- AFP đều đánh đi đại lược:
"Ngày 22 tháng 9 năm 1958, Đại-sứ của VNDCCH
tại Trung-quốc là ông Nguyễn Khang, đã trao công hàm
cho ông Cơ Bằng Phi, Thứ-trưởng Bộ Ngoại-giao
Trung-quốc. Nội dung như sau:
Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa
ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm
1958 của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, quyết định
về hải phận Trung-quốc. Chính phủ nước
Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tôn trọng quyết
định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan nhà nước
có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải
phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi
quan hệ với nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa
trên mặt biển".
3, Tháng 5 năm 1976 (chúng tôi quên ghi ngày), nhật báo Sài-gòn
Giải-phóng, cơ quan ngôn luận của Thành-ủy Thành
phố Hồ Chí Minh viết một bài xác nhận
quần đảo Hoàng-sa, thuộc Trung-quốc. Nguyên văn có
câu:
"Trung-quốc vĩ đại đối với chúng ta không
chỉ là người đồng chí, mà còn là ông thầy
tin cẩn, đã cưu mang chúng ta nhiệt tình để
chúng ta có được ngày hôm nay, thì chủ quyền Hoàng-sa
thuộc Trung-quốc hay thuộc ta cũng vậy thôi.
Trung-quốc với là hai nước sông liền sông, núi
liền núi. Khi nào chúng ta muốn nhận lại quần
đảo này, Trung-quốc sẽ sẵn sàng giao lại".
4, Sau trận hải chiến
ngày 14 tháng 3 năm 1988 với Trung-quốc, cơ quan ngôn
luận chính thức của đảng Cộng-sản
Việt-Nam, tờ Nhân-dân, số ra ngày 26 tháng 4 năm 1988,
tự biện hộ về việc nộp lãnh hải
của Bộ Chính-trị thời Hồ Chí Minh như sau:
"Đúng là có những lời tuyên bố đó. Cần
phải đặt lại những lời tuyên bố này
trong bối cảnh lịch sử của nó...Trong
cuộc chiến đấu một mất một còn,
chống một kẻ thù xâm lược có sức mạnh quân
sự lớn hơn mình nhiều, Việt-Nam tranh thủ
được Trung-quốc gắn chặt với cục
chiến đấu của Việt Nam càng nhiều bao nhiêu và
ngăn chận Mỹ sử dụng hai quần đảo cũng
như vùng biển Đông chống lại Việt-Nam, thì càng
tốt bấy nhiêu".
Kính
thưa Quý-vị, tôi xin tiếp tục,
Theo bản tuyên bố này thì những nước liên
hệ là :
_ Trung-hoa Dân-quốc (Đài-loan),
_ Nhật-bản,
_ Hoa-kỳ (hạm đội 7),
_ Phi-luật-tân,
_ Mã-lai,
_ Brunei,
_ Indonésia,
_ VNDCCH và Việt-Nam
Cộng-hòa (VNCH).
Thế
nhưng từ hồi đó đến nay các nhà nghiên cứu Âu-Mỹ
cho đến các nước Á-châu Thái-bình-dương (ACTBD) không
hề để ý đến văn thư trên. Ngay VNCH, bấy
giờ cơ quan tình báo được gọi là Sở Nghiên-cứu
Chính-trị và Xã-hội, được chỉ đạo
bới một trí thức siêu việt, đào tạo tại
Pháp là ông Ngô Đình Nhu, mà cũng không để ý
tới. Vì đọc bản tuyên bố lãnh hải
kể từ đất liền, là 12 hải lý, đúng theo
công ước Liên-hiệp quốc họp tại San Francisco năm
1951, thì có chi bận tâm?
Vì sao một người tinh minh, mẫn cán như ông Ngô Đình
Nhu mà cũng bị sơ sót?
Bản tuyên bố chỉ đọc trên hệ thống
truyền thanh của Trung-quốc, rồi cũng được
các báo Trung-quốc đăng lại, mà không có bản đồ
đính kèm. Cả thế giới (kể cả Hoa-kỳ,
Trung Hoa Dân Quốc, VNCH) cứ nhìn trên bản đồ
Trung-quốc cũng như vùng Nam-hải phân định lãnh
hải từ 1887 mà cho
rằng: theo Quốc-tế công pháp thì lãnh
hải hầu hết các nước đều gồm 12 hải
lý, kể từ thềm lục địa. Vụ
Trung-quốc tuyên bố lãnh hải 12 hải lý
của họ là một sự bình thường. Cái tưởng
lầm tai hại đó cho đến nay (11-2001), những người
chống đối vụ nhường đất cho Trung-quốc
ở trong nội địa Việt-Nam, cũng như hải
ngoại chỉ kết tội vu vơ, không rõ ràng, không
chứng cớ vì nguyên do không bản đồ này.
Do
kết quả không có bản đồ đính kèm của
Trung-quốc tuyên bố lãnh hải của họ
(gần như trọn vẹn vùng biển Nam-hải, đính kèm),
Hoa-kỳ cũng như thế giới không biết (hay không công
nhận), nên suốt thời gian 1958-2001:
_ Hạm đội 7 của Hoa-kỳ tuần hành trong vùng lãnh
hải tuyên bố này, đầy đe dọa Trung-quốc, mà
Trung-quốc vẫn ngậm bồ hòn.
_ Chiến hạm của Pháp, Đức, Ý cũng như
một số nước Úc, Âu trong thời gian 1975-1980
vẫn tuần hành, hộ tống những con tầu
vớt người Việt trốn chạy trong vùng,
mà Trung-quốc đành im lặng.
Hôm
nay tôi cần phải trình bày trước các vị và làm
sáng tỏ nội vụ.
Kính
thưa Quý-vị,
3.2.
Những bí ẩn
Cái bí ẩn đó không có gì lạ cả, rất
rõ ràng, rất chi tiết.
_ Về phía các nhà nghiên-cứu Âu-Mỹ, ACTBD không có
bản đồ đính kèm bản tuyên bố ngày 4-9-1958
của Trung-quốc, họ cứ nhìn vào bản đồ
đã phân định từ 1887, giữa Pháp và triều
Thanh. Họ cũng cứ nhìn
bản đồ của các nước vùng Nam-hải, của
Trung-quốc, của Trung-hoa Dân-quốc cũ, rồi cho
rằng lãnh hải 12 hải lý thì đúng công
ước quốc tế.
Nhưng
nếu họ có bản đồ về lãnh thổ đính
kèm bản tuyên bố thì họ sẽ toát mồ hôi
ra. Vì bản đồ này bao gồm toàn bộ các đảo
trong vịnh Bắc-Việt, toàn bộ các đảo ở
biển Nam-hải như Tây-sa (Hoàng-sa) và Nam-sa (Trường-sa).
Như vậy nếu tính lãnh hải 12 hải lý, tính
từ các đảo này thì:
_ Lãnh hải Trung-quốc ở biển
Nam-hải, phía Tây sẽ sát tới bờ biển suốt
miền Trung, Bắc Việt-Nam.
_ Phía Đông sát tới lục địa Phi-luật-tân,
Brunei,
_
Phía Nam sát tới Indonésia, Mã-lai.
Trở lại với Chủ-tịch Hồ Chí-Minh, bộ
Chính-trị đảng Lao-động (Cộng-sản)
Việt-Nam và chính phủ VNDCCH hồi 1958, khi các vị
ấy có bản tuyên bố lãnh hải của
Trung-quốc, thìï cũng có bản đồ chi tiết.
Nhưng các vị ấy gửi thư chấp nhận bản tuyên
bố đó thì có nghĩa rằng:
Họ
đồng ý nhường cho Trung-quốc toàn bộ:
_ Các đảo của Việt-Nam trên biển Nam-hải.
_ Toàn bộ lãnh hải Việt-Nam cách các đảo đó
12 hải lý, nghĩa là toàn bộ biển Nam-hải.

Bản
đồ tuyên bố lãnh hải 12 hải lý của
Trung-quốc ngày 4-9-1958. Theo bản đồ này thì lãnh
hải của họ chiếm hết biển Nam-hải, cách
Phan-thiết, Quảng-Nam Mã-lai, Phi-luật-tân có 50
hải lý. Quyết định này được đảng
Cộng-sản VN tán thành.
Kính
thưa Quý-vị,
3.3,
Bí ẩn vụ Trung-quốc chiếm Hoàng-sa (Tây-sa)
Từ trước đến giờ, có nhiều vị
hiện diện hôm nay từng đặt câu hỏi với tôi
rằng:
_ Tại sao năm 1974, thình lình Trung-quốc đem quân
đánh quần đảo Hoàng-sa (Tây-sa) từ VNCH. Trận
chiến diễn ra ngắn ngủi, phía Trung-quốc bị
thiệt hại gấp ba VNCH (về nhân mạng, về
chiến hạm, tài liệu này tôi có từ phía
Trung-quốc). Nhưng VNCH vì quân ít, vũ khí chỉ có
đại bác, chiến hạm nhỏ. Trong khi Trung-quốc có
hỏa tiễn địa-địa, chiến hạm lớn đông
gấp bội VNCH. VNCH lại đang có nội chiến,
phải đương đầu với quân đội VNDCCH, vì
vậy VNCH phải bỏ kế hoạch tái chiếm Hoàng-sa.
Bấy giờ Hoa-kỳ với VNCH có hiệp ước
hỗ tương an ninh, Hoa-kỳ đang tham chiến tại
Việt-Nam, hạm đội 7 hùng hậu đang tuần hành
gần vùng giao chiến. Tại sao Hoa-kỳ không can
thiệp, không lên
tiếng bênh vực VNCH? Ngay việc
thủy thủ VN, tầu bị chìm, mà hạm đội
7 cũng không vớt theo luật hàng hải
Quốc-tế.
Cử
tọa hỏi, câu hỏi thứ 4,
_ Xin Gs cho biết trong trận hải chiến này, phía
Trung-quốc, VNCH, bên nào nổ súng trước?
Gs
TĐS,
_ Thưa VNCH. Hải-quân VNCH rất thiện chiến, tác
xạ rất chính xác, các sĩ quan đều được
huấn luyện theo tiêu chuẩn Âu-Mỹ, thêm kinh
nghiệm VN. Ngay loạt đạn đầu tiên khiến 4
hạm trưởng Trung-quốc tử trận.
Tôi
xin trở lại đầu đề:
Vì:
Trong-cuộc mật đàm giữa Hoa-kỳ (Kissinger) và
Trung-quốc (Mao Trạch Đông). Phía Trung-quốc trao cho ông
Kissinger bản tuyên bố lãnh hải 4-9-1958 cùng
bản đồ. Ông Kissinger đã công nhận bản tuyên
bố đó. Cho nên ông Kissinger vừa rời Trung-quốc hai
ngày, thì ngày 11 tháng 1 năm
1974, Trung-quốc tuyên bố hai quần đảo Tây-sa (Hoàng-sa)
và Nam-sa (Trường-sa) là của Trung-quốc, rồi
Trung-quốc đem hạm đội xuống
Hoàng-sa. Bấy giờ Hoàng-sa do VNCH trấn đóng.
Vì:
Văn thư của Phạm Văn-Đồng công nhận quần
đảo này là của Trung-quốc. Trung-quốc chiếm Hoàng-sa
chỉ là việc chiếm lại lãnh thổ được
văn thư 14-9-1958 công nhận. Nghĩa là Trung-quốc
chiếm lại lãnh thổ đã bị VNCH xâm lăng
16 năm.
Ngắt
đoạn 4,
Cử tọa hỏi, câu hỏi 5, cấm phổ biến
Về
nguồn gốc tài liệu cuộc
mật đàm giữa Chủ-tịch Mao Trạch Đông và
Cố-vấn Kissinger. Gs Trần trình bày chi tiết. Toàn
bộ cử tọa chấp nhận;
nhưng chúng tôi bị cấm không được phổ
biến.
Sau
khi Gs Trần trình bầy, một trong ba vị chủ
toa phát biểu:
Tôi
xin bổ túc những gì Gs Trần lướt qua. Bấy
giờ (1974) là thời điểm chiến tranh Đông-dương đang
diễn ra cực kỳ sôi động, mà tình hình
giữa Liên-sô với Trung-quốc cũng căng thẳng
cực kỳ. Qua những cuộc mật đàm giữa
Chủ-tịch Mao Trạch Đông với Cố-vấn
Kissinger; Trung-quốc, Hoa-kỳ đã đi đến những
thỏa thuận quan trọng. Rồi Tổng-thống
Richard Nixon thăm Trung-quốc.
Chúng
ta đều biết sự hiện diện, của Hoa-kỳ
tại Đông-dương là ngăn chặn hai mũi dùi
Cộng-sản từ Afghanistan, Đông-dương nối với
nhau. Bây giờ Hoa-kỳ biết chắc Trung-quốc, Liên-sô
không thể hàn gắn lại, khối Cộng bị
vỡ làm nhiều mảnh. Vì vậy sự hiện
diện của Hoa-kỳ trở thành vô ích, vừa tốn
tiền, vừa tốn máu. Cho nên họ muốn rút ra
khỏi Đông-dương, dùng Đông-dương làm bình xăng tưới
vào ngọn lửa đang thiêu đốt căn nhà ngoại giao
Trung-Sô.
Chìa
khóa của Đông-dương là Việt-Nam.
Mà tại Việt-Nam, mọi quyết định do
Bộ Chính-trị. Chủ-tịch Hồ Chí Minh chết 5
năm rồi, vấn đề tranh quyền đã ngã ngũ,
phe chạy theo Liên-sô Lê Duẩn, Lê Đức Thọ
thắng thế. Trung-quốc biết rất rõ.
Suốt bao năm Trung-quốc cưu mang cho Bắc VN, nay bỗng
dưng Trung-quốc mất hết, chỉ còn tay trắng
ư? Trung-quốc phải kiềm chế Bắc VN. Thế nhưng
Trung-quốc muốn kiềm chế mà không được. Mao tìm
cách nắm Cambodge mà bấy giờ Cambodge còn nằm
trong tay Bắc VN. Vì vậy Trung-quốc muốn tìm
cách dùng Nam VN (VNCH) làm bức tường cản Bắc
Việt-Nam (VNDCCH). Trung-quốc tìm cách gần Nam VN
bằng hai ngả:
Ngả
thứ nhất: Mật sứ của Trung-quốc
tại Londre gặp Đại-sứ Nam VN (VNCH) ngỏ ý
cho biết Hoa-kỳ đang muốn trao VNCH cho Bắc VN.
Nếu VNCH muốn, Trung-quốc sẽ giúp như sau:
Mặt Bắc, chặn con đường tiếp tế
từ đường bộ Liên-sô qua lãnh thổ
Trung-quốc. Trung-quốc đem đại quân ép Bắc biên.
Mặt Nam tiếp tế vũ khí cho VNCH. Như vậy
bắt buộc Bắc VN phải rút quân về.
Ngả
thứ nhì, Trung-quốc qua mấy nhân vật trí
thức VN trong Phong Trào Liên Bang Đông Nam Á (hội tư
luật 1901) tại Paris, trực tiếp nói cho
Tổng-thống, và Bộ Ngoại-giao VNCH biết
rằng: Việc Hồng-quân tiến xuống Trường-sa
chỉ là cái cớ để Trung-quốc với VNCH ngồi
vào bàn hội nghị. Nhưng không rõ VNCH có biết hay
không, mà lại khai hỏa trước.
Cử
tọa hỏi, câu hỏi 6,
_ Hồi đầu năm 1974, tôi có đọc trên một tờ báo
Anh-ngữ xuất bản tại Hương-cảng tường
thuật về trận đánh giữa VN (VNCH) và Trung-quốc
ngày 19-1-1974 trong vùng quần đảo Hoàng-sa. Giáo-sư có
thể cho biết: Lực lượng tham chiến của hai
bên ra sao? (Người đặt câu hỏi nguyên là Đô-đốc)
Gs
TĐS,
_ Thưa Ngài tôi xin chiếu lên màn ảnh để Ngài
thấy.
Về
phía VNCH,
1, Lực lượng tham chiến: 4 chiến hạm
_ Khu trục hạm
Trần Khánh Dư, ký số HQ4, hạm trưởng là
Trung-tá Vũ Hữu San.
_ Tuần dương hạm Trần Bình Trọng, ký
số HQ5, hạm trưởng là Trung-tá Phạm Trọng
Quỳnh.
_ Hộ tống hạm Nhật-tảo, ký số 10,
hạm trưởng là Thiếu-tá Ngụy Văn Thà. Khi
chiến hạm hỏng máy, bị chìm, trong khi tất
cả thủy thủ đoàn xuống xuồng chạy, thì
ông cương quyết ở lại, chết với tầu
của mình. Tuẫn quốc.
_ Tuần dương hạm Lý
Thường Kiệt, ký số HQ16, hạm trưởng là
Trung-tá Lê Văn Thự.
2, Lực lượng trừ bị,
_ Tuần dương hạm Trần Quốc Toản, ký
số HQ6,
_ Hộ tống hạm Chí-linh, ký số HQ11
_ Không quân: Phi -đoàn F5-A37.
Nhưng
lực lượng trừ bị Hải-quân ở quá xa chưa
kịp can thiệp thì trận chiến đã kết
thúc. Không quân thuộc Quân-khu I, không can thiệp. Vì
vậy sau trận đánh, Tư-lệnh Hải-quân ra lệnh
cho các sĩ quan tham dự, không thuyết trình cho Tư
lệnh quân khu I là tướng Ngô Quang Trưởng.
Về
phía Trung-quốc,
1,
Lực lượng tham chiến:14 chiến hạm
_ Hộ tống hạm Kronstadt, ký số 271, hạm trưởng
là Đại-tá Vương Kỳ Uy, tử thương.
_ Hộ tống hạm Kronstadt, ký số 274, hạm trưởng
là Đại-tá Quan Đức. Đây là soái hạm của
chiến dịch. Tư lệnh mặt trận là Đô-đốc
Phương Quang Kinh, Tư-lệnh phó hạm đội Nam-hải
của Trung-quốc với bộ tham mưu đi trên chiến
hạm này. Khoảng
giữa trận chiến, ông cùng bộ tham mưu tử thương
(1 Đô-đốc, 4 Đại-tá, 6 Trung-tá, 2 Thiếu-tá, và 7 sĩ
quan cấp úy).
_ Trục lôi hạm, ký số 389, hạm trưởng là
Trung-tá Triệu Quát, tử thương.
_ Trục lôi hạm, ký số 396, hạm trưởng là
Đại-tá Diệp Mạnh Hải, tử thương.
_ Phi tiễn đỉnh Komar 133, trang bị hỏa tiễn địa-địa
Styx hạm trưởng là Thiếu-tá Tôn Quân Anh,
_ Phi tiễn đỉnh Komar 137, trang bị hỏa tiễn
đĩa địa Styx, hạm trưởng là Thiếu-tá Mạc
Quang Đại,
_ Phi tiễn đỉnh Komar 139, trang bị hỏa tiễn địa
địa Styx, hạm trưởng là Thiếu-tá Tạ Quỳ,
_ Phi tiễn đỉnh Komar 145, trang bị hỏa tiễn địa-địa
Styx, hạm trưởng là Thiếu-tá Ngụy Như.
_ 6 Hải vận hạm chở quân.
2,
Lực lượng trừ bị,
_ 2 Tuần dương hạm,
_ 4 Pháo-hạm,
_ 4 Khu trục hạm trang bị hỏa tiễn Kianjiang.
_ 2 Phi đội MIG 19,
_ 2 phi đội MIG 21,
Do
chính Đô-đốc Tư-lệnh hạm đội Nam-hải
chỉ huy. Chúng tôi không biết tên ông.
Cử
tọa hỏi, câu hỏi 7,
_ Tổn thất
2 bên ra sao? (Vẫn vị cựu Đô-đốc trên)
Gs.
TĐS
_ Xin mời ngài
xem bảng so sánh, tôi chiếu lên.
Về
phía VNCH,
_
3 chiến hạm bị thương (HQ 4-5-16 bị thương
nhẹ, rút về Đà-nẵng, sau
khi sửa chữa, lại hoạt động như cũ.
_ HQ10 bị chìm.
_ Một hạm trưởng tử thương.
Về
phía Trung-quốc,
_
Tư lệnh mặt trận, bộ tham mưu (1 Đô-đốc, 4 Đại-tá,
6 Trung-tá, 2 Thiếu-tá, và 7 sĩ quan cấp úy)
và 4 hạm trưởng tử thương,
_ Hộ tống hạm 274
bị chìm.
_ Hộ tống hạm
271, hai trục lôi hạm
389-396 bị hư hại nặng phải ủi bãi,
sau đó phải phá hủy.
_ 4 ngư thuyền chở quân
bị chìm.
Cử
tọa hỏi, câu hỏi 8,
Cấm
phổ biến: Nội dung về nguồn gốc tài
liệu tổn thất về phía Trung-quốc.