_ Tháng
9 vừa qua, Đảng Cộng-sản Việt-Nam liệt tôi
vào danh sách 80 người phản động nhất, vì năm
1997 tôi đã viết một bài tiết lộ những
chi tiết tuyệt mật về cuộc viếng thăm
Trung-quốc của Tổng Bí-thư Đỗ Mười,
Thủ-tướng Võ Văn-Kiệt. Nhất là cuộc
họp mật của hai nhân vật này với
Chủ-tịch Trung-quốc Giang Trạch Dân. Tôi viết dưới
hình thức hai hước cho tờ báo Văn-nghệ
Tiền-phong ở Virginia, USA , số Xuân 1998. Nội dung
của bài đó là một phần bài thuyết trình
của tôi với Quý-vị cuối năm 1997. Như Quý-vị
biết về Cộng-sản, khi họ kết tội ai
phản động, có nghĩa là toàn đảng phải dùng
hết khả năng tiêu trừ người ấy.(2)
Chú
giải (2)
Tôi không tin chỉ với bài này mà họ kết
tội tôi nặng như vậy. Tôi biết rất rõ ai
chủ trương, ai kết tội tôi. Nhưng tôi chưa muốn nói
ra. Trong bài viết trên, tôi đã tiết lộ những
điều tuyệt mật về cuộc hội đàm,
khiến họ sợ hãi mà thôi. Điều tuyệt
mật đó là vụ: ông Lê Đức-Anh bị Trung-quốc
đánh thuốc độc, bị bán thân bất toại.
Rồi cũng do Trung-quốc trị cho. Nay tôi tiết
lộ thêm, những vụ đầu độc cùng một phương
pháp:
_ Một
ký giả Việt tên Tô Văn, thuộc loại
nghiện hút, vô tư cách, thường được gọi là
Cậu-chó. Ông ta từ Hoa-kỳ sang Pháp, theo tên Trương Như
Tảng, cùng kéo nhau sang Bắc-kinh, định dâng
Việt-Nam cho Trung-quốc (Nhưng Tảng không cho ông đi).
Trung-quốc biết là bọn lưu manh không nhận, bọn
họ trở về nói láo được Trung-quốc chi 4
tỷ đô la để đánh VC! Ít lâu sau Tô Văn được bán thân
bất toại để bảo mật.
_ Ông Lê
QT, một lãnh tụ kháng chiến có thực lực.
Lực lượng kháng chiến này do Trung-quốc yểm
trợ. Sau ông có ý ly khai Trung-quốc. Ông đang ở
tuổi trẻ, không bệnh tật,
(ông không hề bị huyết áp cao, đái đường cũng
như mỡ cao trong máu), ông cũng bị đột quỵ, tai
biến mạch máu não, rồi được Trung-quốc
trị khỏi. Sau đo ít lâu, ông từ trần đột
ngột khi ăn cơm tại một nhà hàng nhỏ ở
ngoại ô Paris.
_ Trong
kỳ đại hội 8, giữa đại hội, Lê Mai,
Thứ-trưởng Ngoại-giao, Đào Duy-Tùng ứng viên
Tổng Bí-thư đảng Cộng-sản cũng bị hạ
độc bằng cùng một phương thức. Nhưng tôi không
biết ai đã làm công việc đó.
_ Gần
đây nhất một Bác-sĩ Việt-Nam, tỵ nạn
tại Pháp, từng dính dáng với nhóm Trương Như
Tảng. Sau đó đã tỵ nạn lần thứ nhì
sang Canada, năm trước đây (2000), nghe tin Bác-sĩ Dương
Quỳnh-Hoa từ Việt-Nam qua Pháp. Ông lén từ Canada
sang Paris gặp bà này, mưu kiếm ít xôi thịt từ
Bắc-kinh. Khi trở về Canada, ông cũng bị đột
quỵ và tiêu dao miền Cực-lạc.
Tôi
chỉ cử mấy tỷ dụ, nếu tính tất
cả những người Việt bị giết bằng phương
pháp này, lên tới con số 37!
Ngắt
đoạn 1,
Có 2 câu đánh số 1-2, hỏi về những nhân vật
bị đầu độc, loại thuốc đầu độc. Không
phổ biến.
Kính
thưa Quý-vị:
Tuy tôi đã
tuyên thệ tại đây hồi tháng ba vừa qua (3-2001). Nhưng
hôm nay tôi xin tuyên thệ một lần nữa:
1. Những tranh chấp biến giới trong quá khứ,
Trước hết tôi xin trình bày một vài nét
về tranh chấp lãnh thổ Việt-Hoa trong quá
khứ gần đây nhất:
_ Trong
thời gian từ 1010 đến 1225, dưới triều Lý,
bên Trung-quốc là triều Tống. Đại-Việt là nước
nhỏ, hằng năm phải tiến cống Trung-quốc
một số sản vật tượng trưng: Voi,
ngà voi, hương liệu, đôi khi một vài vật
dụng bằng vàng, bạc. Trong thời gian trên, trước
sau có 18 lần đụng độ, tranh chấp biên giới.
Trong 18 lần đó, có sáu lần quân Việt vượt biên
đánh sang Trung-quốc. Quan trọng nhất là cuộc
tiến quân năm 1075-1076, quân Việt tiến tới vùng
thuộc Quảng-Đông, Quảng-Tây, Quý-châu, Hồ-Nam
hiện thời. Sau đó Trung-quốc mang 40 vạn quân và 50
vạn dân phu sang trả thù. Quân Trung-quốc đã
tiến chiếm lãnh thổ Đại-Việt tới cách
thủ đô Thăng-long (Hà-nội) có 25 cây số, rồi
bị đánh bật về biên giới. (3)
Chú
giải (3)
Về việc đánh Tống có sáu lần, thì
trong đó có năm lần đánh sang lãnh thổ Trung-quốc
và một lần kháng chiến chống quân Tống xâm-lăng.
1.1,
Lần thứ nhất,
Năm 1022, do vua Lý Thái-tổ ban chỉ, Khai-Thiên vương
tổng chỉ huy, đánh sang trại Như-hồng của
Tống đốt kho đụn rồi rút về. Cuộc
xuất chinh để trừng phạt quân Tống tại đây
thường vượt biên sang trấn Triều-dương của Đại-Việt
cướp bóc. Trấn Triều-dương nay thuộc tỉnh
Hạ-long. Trại Như-hồng thuộc Quảng-Tây
Nam-lộ. Đại-Việt toàn thắng. Cuộc chiến
tranh có tính cách trừng phạt một khê-động.
Tống triều im lặng.
1.2,
Lần thứ nhì ,
Năm 1028, tướng Tống là Lý Tự đem quân vượt
biên, cướp phá trên lãnh thổ Việt. Việt ra quân
đánh tràn sang châu Thất-nguyên của Tống. Cuộc ra
quân do Khai-Quốc vương lãnh đạo, tổng chỉ
huy là công chúa Lĩnh-Nam Bảo-Hòa và phò-mã
Thân Thừa-Quý. Mục đích chiếm lại mấy châu
động đã mất về Tống, do các biên thần
Tống chủ trương. Giết chết Lý Tự. Toàn
thắng. Cuộc chiến có tính cách tự vệ, dằn
mặt các biên thần Quảng-Tây. Tống triều không
chủ trương.
1.3,
Lần thứ ba,
Dưới thời vua Thái-tông, do Khai-Quốc vương lãnh
đạo (1053), mục đích chiếm lại lãnh thổ
thời vua Hùng, vua An-Dương, vua Trưng, bị người Hán
chiếm mất (Nay thuộc Quảng-Đông, Quảng-Tây, Vân-Nam,
Quý-châu, Hồ-Nam), rồi đẩy dân Việt về
sống ở vùng Bắc-cương thành 207 trang-động.
Cuộc khởi binh thành công, đưa Nùng Trí-Cao lên làm vua,
lấy lãnh thổ vùng Quảng-Đông, Quảng-Tây, Quý-châu
lập thành nước Đại-Nam. Cuộc ra quân này, đã
tôi đã thuật chi tiết trong bộ Anh-linh thần võ
tộc Việt. Nhưng khi Nùng Trí-Cao thành công, y lại
trở mặt với Đại-Việt. Nên khi quân Tống
đánh Cao, Đại-Việt không tiếp cứu, Cao bị
bại. Cuộc chiến tranh có tính cách toàn diện. Đại-Việt
không ra mặt khai chiến với Tống. Tống
biết, nhưng không dám trả thù.
1.4,
Lần thứ tư,
Cũng do Khai-Quốc vương lãnh đạo, diễn ra dưới
thời vua Thánh-tông. Vùng tấn công là Khâm-châu. Người
tổng chỉ huy là công-chúa Bình-Dương với phò
mã Thân Thiệu-Thái (1059-1060). Mục đích cuộc
Bắc phạt này là chiếm lại một số trang động
do các bộ tộc thiểu số tự trị; bị
Tống lấn chiếm, hoặc chiêu dụ các động
chủ phản Việt, đem cả đất lẫn dân theo
Tống. Sau khi chiếm lại các trang đã mất,
trả đất cho các tộc bị mất, quân Việt
tiến sâu vào vùng Tả-giang, Hữu-giang, chiếm hơn mười
ải, giết nhiều tướng Tống. Tống cực
kỳ phẫn uất, nhiều đại thần khuyên vua
Tống Nhân-tông đem quân sang đánh Đại-Việt để
trừng phạt; nhân đó chiếm nước đặt làm
quận huyện. Ngặt vì bấy giờ phía Tây,
Tống đang mắc họa với Hạ, phía Bắc thì
Liêu chiếm đất, đòi cống vàng lụa; vả
vua Tống cũng sợ binh hùng tướng mạnh của
Đại-Việt, nên bàn hòa. Công-chúa Bình-Dương đòi
nhiều điều kiện khắt khe mới chịu rút quân.
Tống cũng phải nhượng. Thắng toàn diện.
Chiến công oanh liệt trên thuật trong bộ
Nam-quốc sơn-hà. Đến đây chiến cuộc leo thang. Đại-Việt
ra mặt khai chiến với Tống, nhưng để cho công
chúa Bình-Dương, phò-mã Thân Thiệu-Thái làm.
1.5,
Lần thứ năm,
Diễn ra dưới thời vua Nhân-tông vào năm 1075, bấy
giờ vua mới chín tuổi, Linh-Nhân hoàng thái hậu
phụ chính. Vua còn thơ, chư sự lớn nhỏ đều
do Linh-Nhân hoàng thái hậu quyết định. Nguyên do: Vua
Tống Thần-tông dùng những cải cách về
kinh-tế, nông-nghiệp, binh-bị, tài-chánh của Vương
An-Thạch từ năm 1066, đã được chín năm,
khiến binh lực trở thành hùng hậu,
quốc-sản sung túc. Nhà vua muốn nhân đó tiến quân
lên Bắc đánh Liêu, chiếm lại đất cũ, để
rửa nhục. Nhưng Vương An-Thạch lại khuyên nên đánh
Đại-Việt trước. Sau khi bại Đại-Việt, thì
Chiêm-thành, Chân-lạp, Ai-lao, Xiêm-la, Đại-lý
phải quy hàng. Bấy giờ dùng nhân lực, tài lực
sáu nước, đem lên Bắc, thì thắng Liêu dễ dàng.
Vua nghe theo, bí mật cho các châu Nam biên luyện binh, tích
trữ lương thảo. Cuộc chuẩn bị được ba năm,
thì bị Đại-Việt biết được. Linh-Nhân hoàng
thái hậu quyết định: Ngồi yên đợi giặc,
sao bằng mình ra tay trước. Mục đích cuộc hành
quân là phá hết các kho lương thảo, vũ khí, thành trì,
cầu cống, diệt các đạo quân mới huấn
luyện của Nam thùy Tống. Thế là cuộc Bắc
phạt nổ ra vào cuối năm 1075. Quân Việt tiến đánh
18 ải dọc biên thùy Tống, rồi công phá các
châu Khâm, Liêm, Ung, Dung, Nghi, Bạch, cùng diệt
viện quân ở núi Đại-giáp (Nay thuộc lãnh
thổ Quảng-Đông, Quảng-Tây, Quý-châu, Hồ-Nam).
Nhiệm vụ chu toàn rồi, quân Việt rút về.
Thắng toàn diện. Đến đây Đại-Việt ra
mặt khai chiến với Tống. Cả hai bên cùng đem toàn
lực ra đối phó với nhau.
Cuộc
ra quân của Việt lần này quá lớn lao, phá nát
kế hoạch cải cách của Tống ở Giang-Nam. Quá
uất hận, Tống chịu nhục; nhường Hạ
ở phía Tây, cắt đất dâng cho Liêu ở phương
Bắc... để cho rảnh tay, rồi họ mang quân nghiêng
nước sang định chiếm Đại-Việt đặt làm
quận huyện (1076-1077). Nhưng Tống lại bị
thất bại phải rút quân về, và chịu hòa.
Người có hùng tâm, tráng-chí, lãnh đạo là một
thiếu phụ ở tuổi ba mươi, đó là Linh-Nhân hoàng
thái hậu (Ỷ-Lan). Còn người Tổng chỉ huy
cuộc vượt biên Bắc phạt là Lý Thường-Kiệt,
Tôn Đản, Lý Hoằng-Chân, Lý Chiêu-Văn, Lý
Kế-Nguyên. Tôi đã thuật trong bộ Nam-quốc sơn
hà.
1.6,
Lần thứ sáu,
Sau cuộc Bắc phạt, và giữa lúc cuộc kháng
Tống của Đại-Việt, chiến cuộc đang
diễn ra cực kỳ khốc liệt (1076), Vương
An-Thạch bị cách chức Tể-tướng, giáng
xuống tri Giang-ninh phủ, lĩnh Trấn-Nam quân tiết
độ sứ, Đồng-bình chương-sự. Lúc Vương độ
giang, bị một nhân sĩ bắt con sâu bỏ lên xe
rồi làm bài thơ mỉa mai như sau:
Thanh-miêu, trợ-dịch lưỡng phương nông,
Thiên
hạ ngao ngao oán tướng công.
Độc
hữu hoàng trùng thiên cảm đức,
Hữu tùy
xa giá, quá Giang-Đông.
Dịch
:
Thanh-miêu
trợ dịch hại canh nông,
Thiên
hạ nhao nhao oán tướng công.
Chỉ có
sâu vàng theo tiễn biệt,
Cùng trên
xa giá, quá Giang-Đông.
Có người ví cái thất bại của Vương
An-Thạch cũng đau đớn như cái thất bại
của Hạng Võ xưa, khuyên Thạch nên tự tử:
Khi
Hạng-Vương mưu đuổi hươu ở Trung-nguyên, bị
thất bại, lui về Nam; lúc qua sông này tự cảm
thấy xấu hổ, đã tự tử, mà hậu
thế kính phục. Tôi khuyên ông cũng nên tự tử
để lưu danh muôn thủa.
Nhưng
Thạch không đủ can đảm.
Tiếc
thay, một cuộc cải cách về kinh-tế,
binh-bị, tài-chánh, xã-hội, nông nghiệp như
vậy, đang trên đường thành công rực rỡ; bị
tan vỡ, bị hủy bỏ chỉ vì tham vọng đánh
Đại-Việt của Vương An-Thạch. Mà đau đớn
biết bao, khi người phá vỡ chỉ là một
thiếu phụ Việt ở tuổi ba mươi. Giá như
Thạch không chủ trương Nam xâm, chỉ cần mười
năm nữa, toàn bộ xã hội Trung-quốc thay đổi;
rồi với cái đà đó, thì Trung-quốc sẽ là nước
hùng mạnh vô song, e rằng muôn đời mặt trời
vẫn ở phương Đông, chứ không ngả về Tây như
hồi thế kỷ thứ 18 cho đến nay và bao
giờ..???...???
Sau cuộc ra quân của Đại-Việt, trên từ
vua Tống Thần-tông cho tới các quan đều uất
hận. Tống xuất quân nghiêng nước, 40 vạn binh,
50 vạn dân phu (phụ lực quân) sang đánh trả thù
(1066-1067). Nhưng khi quân Tống do Quách Quỳ, Triệu
Tiết, Yên Đạt, Tu Kỷ tiến đến cách Thăng-long
50 dặm (25 cây số) thì bị đánh bật về
Bắc. Sau đó Tống rút quân chịu hòa.
Tuy Tống chịu hòa, nhưng còn giữ
của Đại-Việt các châu Quảng-nguyên, Tô-mậu mà
bọn động trưởng Lưu Kỷ, Vi Thủ-An đem cả
dân lẫn đất theo Tống. Quan trọng nhất là châu
Quảng-nguyên có mỏ vàng. Năm 1078, Việt sai sứ sang
Tống đòi đất. Tống không trả. Mãi năm
1081, Việt trả tù binh trong trận 1075-1077, Tống
mới trả châu Quảng-nguyên. Năm 1084, Việt sai
Binh-bộ thị-lang Lê Văn Thịnh (Thị lang tương đương
với ngày nay là một giám-đốc) nghị hòa
với các đại thần Tống, Tống chịu trả
cho Việt thêm 6 huyện, 3 động. Việt tặng
Tống con voi lớn. Danh sĩ Trung-quốc nhân chuyện này
làm thơ than:
Nhân tham Giao-chỉ tượng,
Khước
thất Quảng-nguyên kim.
(Vì
tham voi Giao-chỉ,
Chịu
mất vàng Quảng-nguyên).
Hết
chú giải 3
2.
Vụ nhượng đất duy nhất trong lịch sử
_ Trong
suốt thời gian từ 1010 đến 1539, ngoại giao
Việt-Hoa khi đẹp, khi xấu. Hai bên xẩy ra nhiều
cuộc chiến, chính sự Đại-Việt khi thịnh,
khi suy, nhưng phía Việt chỉ chịu cống
Trung-quốc một số sản phẩm tượng trưng,
chứ không bao giờ nhượng đất, nhượng dân.
_ Cho đến
năm 1540, giặc Mạc Đăng-Dung cướp ngôi nhà Lê, nhà
Minh sai tướng Mao Bá Ôn, Cừu Loan đem 22 vạn quân
tới biên giới lấy lý do Hưng diệt kế
tuyệt (trung hưng triều Lê bị diệt, dựng
lại dòng họ Lê bị tuyệt). Mạc Đăng-Dung
đem một số tùy tùng lên ải Nam-quan, tự trói mình
sang Trung-quốc, quỳ lạy các tướng Minh, xin đầu
hàng, chịu lệ thuộc Minh, dâng nộp sổ sách
về đất đai, quân dân, quan chức. Lại cũng dâng
các động Tê-phù, Kim-lặc, Cổ-sâm, Liễu-cát, An-lương,
La-phù. Đây là lần duy nhất trong lịch sử
Việt, mà bọn Mạc cắt đất cho Trung-quốc.
Suốt từ năm 1540 cho đến nay, sử sách, cùng
tất cả người Việt đều nguyền rủa
Mạc Đăng-Dung bằng tất cả những lời
lẽ nặng nề nhất. Tuy Mạc dâng đất cho
Trung-quốc, nhưng vẫn giữ lại cửa ải
Nam-quan, làm ranh giới giữa Hoa-Việt. (4)
Chú
giải (4)
Về vụ việc này sách Khâm-định
Việt-sử thông giám cương mục (KĐVSTGCM), phần Chính-biên,
quyển 27 chép:
Canh Tý, năm thứ 8 (1540). (Mạc, năm Đại-Chính
thứ... Minh, năm Gia-Tĩnh thứ 19)
...
Trước
kia, tướng Minh là bọn Cừu Loan và Mao Bá-Ôn đã
đến Quảng-tây, trưng tập các lang binh của thổ
quan ở các tỉnh Lưỡng-Quảng, Phúc-kiến và
Hồ-quảng. Lại truyền hịch đi Vân-nam sai
tập họp binh lính, để chờ đợi nhật
kỳ xuất quân.
Bọn
Cừu Loan lại bàn:
"Chia chính binh làm ba đội tiểu binh, từ
Quảng-tây đi các xứ Bằng-tường, Long-châu và Tư-minh.
Chia
kỳ-binh làm hai toán tiểu binh: Toán xuất phát từ châu
Quy-thuận gọi là Sơn-tiểu, toán xuất phát từ núi
Ô-lôi gọi là Hải-tiểu.
Kể cả chính binh và kỳ binh trên đây cộng 22
(ChbXXVII, 32) vạn người.
Lại chia quân Vân-nam ở ghềnh Liên-hoa làm ba toán
Tiểu binh, mỗi toán gồm 21.000 người. Tất
cả đều lên đường đồng
thời xuất phát".
Lại
truyền hịch sang ta dụ bảo về nghĩa
phục hưng nước đã mất, nối lại dòng
họ đã tuyệt, sự đánh dẹp chỉ nhằm
một mình cha con Đăng Dung là kẻ có tội; còn
ai biết đem quận huyện nào ra hàng, thì liền
được trao cho chức quan ở quận huyện ấy để
cai quản. Ai bắt hay chém cha con Đăng Dung mà ra hàng, thì
cứ tính theo từng tên tội nhân một, mỗi tên là
được thưởng 2 vạn nén vàng và được cho làm quan
đến phẩm trật cao sang.
Tướng
Minh lại dụ bảo cha con Đăng Dung nếu tự trói
nộp mình đợi tội, thành khẩn dâng hết các
sổ sách về đất đai và nhân dân thì được
tha cho tội chết.
Bọn Bá-Ôn đóng quân dựng đồn ở gần
nơi biên giới.
Bấy giờ Đăng Doanh chết rồi, Đăng Dung được
tin, cả sợ, sai sứ giả đến cửa quân tướng
Minh, trần tình, nguyện xin ra khỏi bờ cõi,
đầu hàng, và kính cẩn vâng theo lịnh trên phân
xử.
Lời
lẽ của Đăng Dung rất là khiêm nhún, thiết tha.
Bọn Bá-Ôn vâng theo lời chiếu của vua Minh, ưng
thuận, hẹn đến mồng 3 tháng 11
cho Đăng Dung sang làm lễ đầu hàng.
Bọn
Bá-Ôn thiết lập MaÏc-phủ và tướng-đài ở
Nam-quan chờ đợi. Đến kỳ đã định, Đăng
Dung để Phúc-Hải ở lại coi giữ việc nước,
còn mình cùng với người cháu là Văn Minh cùng bè
đảng là bọn Vũ Như-Quế hơn 40 người do đường
Nam-quan đi sang: ai nấy buộc dây thao vào cổ , đi chân
không, gieo mình vào nơi Mạc-phủ tướng Minh, khúm
núm, phủ phục, khấu đầu lạy, dâng tờ
biểu xin hàng, nộp trình sổ sách, đất đai và
nhân dân do mình cai quản.
Đăng-Dung
lại xin dâng đất các động Tỳ-phù, Kim-lặc,
Cổ-sâm, Liễu-cát, La-phù, An-lương thuộc châu (ChbXXVII,
33) Vĩnh-an ở Yên-quảng để lệ thuộc vào Khâm-châu
nhà Minh. Lại xin nhà Minh ban cho chính sóc và ấn chương đã
ban từ trước để Đăng Dung coi giữ việc nước
trong khi chờ đợi mệnh lệnh có thay đổi
hoặc quyết định ra sao.
Bọn
Bá-Ôn vâng theo lời chiếu của vua Minh dụ bảo
Đăng Dung hãy cho đái tội, về nước, chờ đợi
mệnh lệnh phân xử sau.
Đăng-Dung lại sai Văn Minh và Nguyễn Văn Thái đem tờ hàng
biểu sang Yên-kinh.
Lời cẩn án - Sử cũ chép đầu hàng nhà Minh, xin
nộp các động Ty-phù, Kim-lặc, Cổ-sâm, Liễu-cát,
La-phù và An-lương thuộc châu Vĩnh-an ở (ChbXXVII, 34) Yên-quảng
cho lệ thuộc vào Khâm-châu. Nay xét Khâm-châu chí của
nhà Thanh, chỉ thấy chép đời Gia-Tĩnh (1522-1566),
Đăng Dung nộp trả năm động Ty-phù, La-phù, Cổ-sâm,
Liễu-cát và Kim-lặc mà thôi, chứ không thấy nói đến
động An-lương. Lại tra cứu đến Quảng-yên sách
thì thấy động An-lương hiện nay là phố An-lương
thuộc châu Vạn-ninh nước ta. Có lẽ về động
An-lương, Đăng Dung chưa từng dâng nộp, mà chỉ là do
sử cũ chép sai sự thật đó chăng?
Lại
xét- Trong năm Mạc Minh-Đức thứ 2, tức là năm Minh
Gia-Tĩnh thứ 7 (1528), sử cũ chép Đăng Dung sợ nhà
Minh hỏi tội, bèn tính chuyện cắt đất đem dâng
hai châu Quy, Thuận: vua Minh nhận. Từ đó, Nam, Bắc
lại cho sứ giả đi lại thông hiếu. Nhưng, nay
tra cứu bản đồ nước ta thì có Quy-hóa châu và
Thuận-châu. Hai châu này hiện nay thuộc tỉnh Hưng-hóa.
Trong Đại-Thanh nhất thống chí tuy có chép châu
Quy-thuận nguyên thuộc phủ Trấn-an tỉnh
Quảng-tây nhà Thanh đấy thật, nhưng hai châu mà sử
cũ gọi là Quy, Thuận có lẽ tức là Quy-hóa và
Thuận-châu đó thôi.
Lại
xét- Minh sử thông giám kỷ sự: hồi năm Mạc Đại-Chính
thứ 9 (1538), Mạc Đăng-Dung được tin quân Minh sang đánh,
cả sợ, sai sứ xin hàng, nói dối là họ Lê không
có người kế tự, cha con Đăng-Dung có công với nước,
được mọi người suy tôn. Còn Đăng-Dung sở dĩ
không dâng được biểu chương, cho sứ sang tiến
cống, là chỉ vì trước kia bị Trần Cung
chiếm cứ Lạng-sơn làm nghẽn đường, đến
sau lại bị quan giữ biên cương đóng cửa ải,
không tiếp nhận.
Nay,
từ năm Gia-Tĩnh thứ 7 (1528) đến năm thứ 17
(1538) trải hàng 10 năm chưa từng có sứ đi thông
hiếu, thế mà sử cũ ở năm Gia-tĩnh thứ
7, đã vội chép rằng: "Đăng-Dung tính chuyện
cắt đất dâng nộp hai châu Quy, Thuận, từ đó
Nam, Bắc lại cho sứ giả đi lại thông
hiếu". Về việc này, những điểm sử cũ
chép đó đều xa sự thực, nên nay rút bới đi mà chép
phụ vào đây để tham khảo.
(KHĐVSTGCM, bản dịch của viện Sử-học
Việt-Nam, NXB Giáo-dục, 1998, trg. 113-117)
Hết
chú giải (4)