Kính
thưa Ngài ...
Kính thưa Quý Ngài...
Kính thưa ông Giám-đốc...
Kính thưa Quý-liệt-vị,
Thực là hân hạnh, khi mới ngày 17-3 vừa qua,
chúng tôi được cử đến đây để trình
bầy những vụ việc đang diễn ra tại vùng Á-châu
Thái-bình dương. Hôm nay chúng tôi lại được gửi
tới trình bầy về diễn biến trong vụ
việc chính phủ Cộng-hòa Xã-hội
Chủ-nghĩa Việt-Nam (CHXHCNVN) cắt nhượng lãnh
thổ, lãnh hải cho Trung-hoa Nhân-dân Cộng-hòa
quốc (THNDCHQ), gọi tắt là Trung-quốc. Đây là
một việc cực kỳ tế nhị, cực kỳ
khó khăn cho tôi, làm thế nào giữ được tính chất
vô tư. Vì:
_ Thứ
nhất, tôi gốc là người Việt, hơn nữa
thuộc giòng dõi một vị Vương đứng hàng
đầu trong lịch sử Việt, vì ngài thắng Mông-cổ
liên tiếp trong ba lần, vào thế kỷ thứ 13. Mà
nay tôi phải nói về những người đem lãnh
thổ Việt nhượng cho Trung-quốc, khó mà diễn
tả lời lẽ vô tư cho được.
_ Thứ nhì, ngoài
chức vụ giáo-sư Y-khoa ra, tôi là một tiểu
thuyết gia, đã viết trên mười bốn nghìn
trang, thuật huân công của các anh hùng tộc Việt
trong việc dựng nước, giữ nước. Mà suốt
trong năm nghìn năm lịch sử, chỉ duy năm 1540,
giặc Mạc Dăng-Dung cắt đất dâng cho triều Minh
của Trung-quốc; bị tộc Việt đời đời
nguyền rủa. Vậy mà nay phải chứng kiến
tận mắt lãnh thổ Việt bị cắt cho
Trung-quốc.
_ Thứ ba, các sinh viên
Việt-Nam muốn du học Pháp, thường bị vài
tổ chức đòi phí khoản 20 nghìn USD mỗi
đầu người. Một vị Đại-sứ của
Việt-Nam tại châu Âu, mời tôi về nước,
(tất cả chi phí do tiền của IFA) để giúp sinh
viên Việt-Nam du học Pháp. Với sự hướng
dẫn của tôi, từ nay sinh viên muốn du học Pháp,
họ đã biết rất rõ những gì
phải làm, những gì phải chứng minh. Họ không
phải tốn một đồng nào cả. Thế nhưng khi
trở về Pháp, lúc lên phi cơ tại phi trường Tân-sơn-nhất,
tôi bị ba sĩ quan cao cấp của Công-an chờ
sẵn, hạch sách, khám xét trong hoảng 98 phút, bằng
những câu hỏi có tính cách nhục mạ, ngớ
ngẩn, lời lẽ cục súc. Tôi cho đây là một hình
thức khủng bố, khủng bố tôi, và khủng
bố cả người bạn tôi đang là một Đại-sứ
của VN, đã mời tôi. Ông Đại-sứ này được
Quý-vị kính trọng về tư cách và về kiến
thức . Thưa Quý-vị, hôm đó tôi chỉ cười
nhạt, khinh rẻ, vì tôi biết rất rõ
kiến thức, mục đích của họ. Trong khi họ
không đủ khả năng bịa ra
bất cứ tội gì để kết tội tôi.
Hơn nữa tôi giữ trong tay một ủy nhiệm thư,
theo Công-pháp Quốc-tế, họ không thể công khai
vị phạm.(1)
Chú
giải 1.
(1),
Trong lần về Việt-Nam này, chúng tôi thuê xe đi
Lạng-sơn. Khi tới trạm biên giới mới, chúng tôi
xin sang lãnh thổ Trung-quốc mới (Nam-quan cũ) thì
bị Công-an Việt-Nam từ chối. Chúng tôi đặt
vấn đề: Chúng tôi mang thông hành Liên Âu, có visa hợp
pháp vào Việt-Nam, thì chúng tôi có quyền ra khỏi
Việt-Nam chứ? Công-an cửa khẩu trả lời
rằng: Ông có visa ra vào cửa khẩu Tân-sơn-nhất,
Nội-bài, chứ không có quyền rời Việt-Nam
bằng cửa Hữu-nghị. Chúng tôi xin chụp hình
cửa khẩu mơí, thì họ không cho. Chúng tôi đành
trở về, rời Tân-sơn-nhất,
đi Quảng-châu. Từ Quảng-châu đi Nam-ninh. Từ
Nam-ninh thuê xe tới Bằng-tường là đất
Trung-quốc với ải Nam-quan. Rồi vào Nam-quan cũ.
Đứng trước vùng đất thiêng của tổ tiên, nay
vĩnh viễn trở thành đất của người.
Tự nhiên tôi bật lên tiếng khóc như trẻ con. Viên
sĩ quan Công-an Trung-quốc tưởng tôi là người Hoa.
Anh ta hỏi:
_ Tiên
sinh có thân nhân tử trận trong dịp mình dạy
bọn Nam-man bài học à?
Tôi
lắc đầu, khóc tiếp. Anh an ủi:
_ Thôi, người
thân của Tiên-sinh đã hy sinh dưới cờ thực,
nhưng nay bọn Nam-man đã dâng đất này tạ tội
rồi. Tiên sinh chẳng nên thương tâm nhiều.
Tôi kiếm tảng đá ngồi ôm đầu khóc. Anh Công-an bỏ mặc tôi. Khóc chán, tôi trở sang Bằng-tường, kiếm một cơ sở mai táng ( xây mộ, làm mộ chí). Tôi mượn họ khắc trên một miếng đá bóng nhân tạo (granite) bài thơ bằng chữ Hán xin phiên âm như sau:
Nam-quan
khi chưa xẩy ra cuộc chiến răng cắn môi
1979 (Hình của Lửa Tự-do) |
Trường
hận Nam-quan Đại-Việt
vong quốc nhân Trần Đại-Sỹ
|
Tôi đem tảng đá này, gắn vào một vách núi ngay cạnh đường, chỗ núi Kẹp, trên độ cao khoảng 2-3m. Công-an, cán bộ Trung-quốc xúm lại xem. Nhưng họ chỉ hiểu lơ mơ ý trong thơ mà thôi. Xin tạm dịch:
|
1.Đất này xưa gọi Nam-quan, (Người
nước Đại-Việt vong quốc tên Trần Đại-Sỹ,
|
![]() |
Câu
5,. Vua Tống Triệu Quang-Nghĩa sai Hầu Nhân Bảo, Tôn
Toàn Hưng sang đanh VN, bị vua Lê (Hoàn) đánh bại.
Câu 6, Năm 1076, vua Tống
Thần-tông sai bọn Quách Quỳ, Triệu Tiết mang quân
sang đánh Đại-Việt, bị Thái-úy Lý Thường
Kiệt đánh đuổi.
Câu 8, Tước của Vương Thông là Thánh-sơn hầu.
Câu 10, Vua Quang-Trung còn có tước phong là Bắc-bình
vương.
Câu 14, Hồi 1947-1969 Chủ-tịch Trung-quốc là Mao
Trạch Đông, Chủ-tịch Việt-Nam là Hồ Chí Minh
kết thân với nhau. Việt-Hoa ví như răng với môi. Vì
sợ môi hở răng lạnh nên ông Mao phải giúp ông
Hồ. Năm 1978, Đặng Tiểu Bình đem quân tàn phá các
tỉnh biên giới phía Bắc Việt-Nam, nên người ta
đổi câu trên thành: Răng cắn môi máu chảy ròng ròng.
Tôi
chợt nhớ một chuyện, mấy năm trước,
mỗi khi qua đây tôi đều tìm đến suối
Phi-Khanh.
Tôi lò mò đến suối Phi-Khanh. Ngọn suối
Phi-Khanh này không xa Nam-quan làm bao, không nổi tiếng
bằng Ải Nam-quan, nhưng đối với dân địa phương
thì lại là một vùng đất linh của lịch
sử. Nhìn thấy suối Phi-Khanh bây giờ thuộc
Trung-quốc, tôi khóc như một người điên. Anh sĩ
quan Công-an nói với nhân viên phụ trách quan thuế:
_ Tội nghiệp cho vị tiên sinh này! Chắc con của
ông ấy tử trận trong lần mình dạy
tụi Nam-man bài học! Ông ấy thương tâm quá rồi.
Tôi nghe anh ta nói, lại khóc to hơn. Cái suối Phi-Khanh này
ra sao?
Câu
chuyện suối Phi-Khanh như thế này:
Nhà Minh
lấy cớ giặc Hồ Quý Ly cướp ngôi vua
Trần (1400), sai bọn Trương Phụ, Mộc Thạnh sang
đánh (1406). Thăng-long( Đông-đô) thất thủ, rồi Tây-đô
(Thanh-hóa) cũng thất thủ. Cha con giặc Hồ
chạy đến cửa biển Ky-la. Có một lão ông
ra bái yết nói:
"Chỗ này tên Ky Lê, trên núi có động Thiên-cầm;
đều là điềm không tốt, xin đừng lưu ở đây".
Hai
cha con họ Hồ giết ông lão ấy, rồi
quả nhiên bị bắt.
Chữ Ky có nghĩa là trói,
buộc. Nguyên tổ tiên Hồ Quý Ly là con nuôi ông Lê
Huấn, mới đổi ra họ Lê. Nay gặp cửa Ky Lê
nghĩa là trói bọn Lê. Còn hang Thiên-cầm thì
Thiên là trời, cầm là đàn. Cái hang này khi gió thổi vào
tạo thành âm thanh như tiếng đàn. Nhưng ông lão đó
khuyên Hồ Quý Ly rời đi vì cầm tuy viết
khác, nhưng cùng âm với cầm là bắt. Hang Thiên-cầm
nghĩa là hang trời
Tháng 6 năm Đinh Hợi, 1407, Trương Phụ sai Hoành-hải
tướng quân Lỗ Bân, Đô-đốc thiêm-sự Liễu Thăng
bắt giải Quý-Ly, Hán Thương, Nguyên Trừng,
Triệt, Uông, cháu là Nhuế, Mỗ, Phạm, em là Quý-Tỳ;
con Quý-Tỳ là Vô Cữu, ngụy tướng quân
Hồ Đỗ, Đoàn Bồng; ngụy Hành-khiển Nguyễn
Nghiện Quang, Lê Cảnh Kỳ, Nguyễn Phi Khanh sang Kim-lăng.
(Thời
còn niên thiếu, nho sinh Nguyễn Phi Khanh được quan
Tư-đồ Trần Nguyên-Đán tuyển làm gia sư cho các con.
Trong các con của quan Tư-đồ có cô Trần Thị Thái
đang tuổi dậy thì. Lửa Phi-Khanh gần rơm Thái
thì phải bén là lẽ thường. Thế rồi cô
Trần Thị Thái mang bầu. Nho sinh Phi-Khanh sợ tội
bỏ trốn. Quan Tư-đồ sai người đi bắt về,
rồi gả con gái cho. Bà Thái ông Khanh sinh ra Nguyễn
Trải. Thời thơ ấu Nguyễn Trãi được ông
ngoại yêu thương dạy dỗ tận tình
hơn tất cả các cháu. Sau khi giặc Hồ Quý-Ly
cướp ngôi nhà Trần, Nguyễn Phi Khanh ứng thí,
rồi được bổ làm quan).
Nguyễn Trãi thương xót cha, đi theo đoàn tù binh để
phụng dưỡng. Lúc tới Nam-quan thì quan nhà Minh đuổi
những người theo tiễn sang Trung-quốc trở
lại. Cha con khóc lóc tiễn biệt nhau, Phi-Khanh khuyên con
hãy trở về lo phục quốc. Tương truyền, bình
nước Nguyễn Trãi mang theo để cho cha uống đã
hết, tại cửa ải không tìm đâu ra nước,
ông lang thang vào bãi cỏ bên đường, ngửa
mặt nhìn trời, rồi khấn:
" Nếu trời xanh chưa nỡ hại nước Việt
tôi, cho tôi đuổi được giặc, phục hồi
cố thổ thì xin cho tôi bầu nước tiễn
cha".
Uất khí
bốc lên ông dậm chân, thì dưới chân vọt ra
một nguồn nước. Ông uống nước đó, rồi
hứng đầy bầu dâng cho cha. Từ đấy dân Nam-quan
gọi suối ấy là suối Phi-Khanh. Khi vụ án
Lệ-chi viên xẩy ra, Nguyễn Trãi bị tru di tam
tộc, thì suối ấy đổi tên là Thiên-tuyền.
Rồi khi vụ án được vua Lê Thánh-tông giải oan,
suối ấy lại mang tên Phi-Khanh truyền đến nay.
Suối vẫn còn đây! Phi-Khanh ở đâu? Nguyễn Trãi ở đâu? Trên không mây vẫn bay, sương mờ vẫn giăng trên núi, nước vẫn chảy. Nhưng đất đã đổi chủ. Tôi cảm ứng cầm bút vạch trên tảng đá bài thơ cổ phong (quá buồn tôi làm thơ, để bầy tỏ sự đau đớn, chứ tôi không phải là thi sĩ), rồi lại trở sang Bằng-tường khắc bài thơ lên mảnh granite, và gắn lên tảng đá trong vách núi gần suối. Bài thơ như sau:

Phi-Khanh tuyền. Tạm dịch:
|
1.
Ngụy Hồ thất nhân tâm, Đại-Việt,
vong quốc nhân Trần Đại-Sỹ, |
Giặc
Hồ làm mất dân tâm, (Người
nước Đại-Việt vong quốc tên Trần Đại-Sỹ, |
Hết Chú Giải 1, trở lại bản điều
trần: