Xuyên tạc, ác ý do mặc cảm chiến tranh Việt Nam.
Một số hãng phim người Mỹ đã làm phim trên xác chết của quân bạn VNCH và cả trên xác người lính Mỹ chiến đấu ở Việt Nam

                                                                 
 
Việt Nam là nơi mà người Mỹ đã tham dự một cuộc chiến để đời. Họ đến đó và chiến đấu bên cạnh quân lực Việt Nam Cộng Hòa để giữ cho miền Nam được tự do, ít ra là trên danh nghĩa – Và quân sử đã cho thấy Quân Lực VNCH đã chiến đấu chống Bắc quân trước ngày quân Mỹ đổ bộ vào chiến trường Việt Nam năm 1965 với tư cách là một người bạn đồng minh chiến đấu bên cạnh quân VNCH. Thực tế này đã được nhà văn quân đội Phan Nhật Nam trình bày khá rõ trong cuộc hội luận quốc tế tại Tokyo, Nhật Bản về đề tài “Chiến tranh Việt Nam” trong đầu tháng 1/2002. Quân dân miền Nam đã chiến đấu trước khi quân Mỹ đổ bộ vào Đà Nẳng năm 1965, và đã tiếp tục một mình chiến đấu sau khi quân Mỹ bắt đầu rút năm 1973 sau cái gọi là “Hiệp Định Hòa Bình Ba Lê 1973.”

Thế nhưng, đối với quần chúng Mỹ, nhất là giới truyền thông, phim ảnh, họ đã gần như vô tâm, vô trách nhiệm và bất công khi nhậm chìm vai trò chiến đấu chính yếu của quân dân miền Nam chống Bắc quân, để họ tự coi như chỉ có người Mỹ đảm nhiệm vai trò chính đối đầu với cộng sản miền Bắc và đẩy vai trò chính yếu của những người lính miền Nam chiến đấu tự vệ vào bóng mờ lịch sử. Và đều đó hoàn toàn phù hợp với nhu cầu “tự đề cao vai trò người lính Mỹ trong cuộc chiến – những vết đâm sau lưng nhau của truyền thông Mỹ nhắm vào người lính của họ và của Việt Nam trong cuộc chiến” – Và cùng lúc lại phù hợp với thủ đoạn tuyên truyền của cộng sản Hà Nội trong chiêu bài “chống Mỹ cưu nước.” Đó là lý do tại sao báo chí, nhất là giới làm phim của Mỹ, cho đến cả sau 1975 và lúc này, hầu như lúc nào cũng đưa vai trò quân đội Mỹ lên trước trong cuộc chiến tại Việt Nam. Họ đã tạo ra những điều không thực và bất công đối với quân lực Việt Nam Cộng Hòa, mà dưới mắt chúng tôi, “nhiều hảng phim Mỹ đã làm phim trên xác chết của quân bạn và ngay cả trên xác chết của người lính Mỹ”.

Đã mấy lần, trên màn ảnh nhỏ của hảng HBO và TNT chiếu những đoạn phim về chiến tranh Việt Nam, tôi đã gặp những hình ảnh quen thuộc của một J. P. Vann lúc nào cũng hăng say, nổ lực trong những nhiệm vụ quan trọng được giao phó, và trong đó, liên quan đế các trận đánh then chốt hầu như tôi (LTB) và Vann đều có mặt.
Nhìn lại thời gian của trận Ấp Bắc, từ một đại đội trưởng Đại Đội 7 M113 lần đầu tiên được tổ chức và đưa ra tác chiến trắc nghiệm tại Khu Chiến Thuật Tiền Giang với Sư Đoàn 7 của QLVNCH ở Mỹ Tho của những năm 1961 – 1964 – Sau đó trở thành Tỉnh trưởng kim Tiểu Khu Trưởng Bình Dương năm 1965 – 1968 thuộc Khu Chiến Thuật 32 Quân Đoàn 3 Quân Khu 3, và tiếp theo là Tư lệnh Sư Đoàn 23 BB tại Quân đoàn 2 Quân Khu 2 ở Pleiku – Ban Mê Thuột. Trong cả ba thời kỳ trên, tôi và J. P. Vann đã hoạt động cận kề bên nhau như hình với bóng.  Vì thế, có thể nói, hơn ai hết, tôi là người hiểu rõ con người J. P. Vann. Không biết bao nhiêu lần, từ Bình Dương, Nha Trang đến Pleiku...  chúng tôi đối mặt thẳng thắn thảo luận bất cứ vấn đề gì liên quan đến hoạt động chung và chiến tranh Việt Nam... trong đó, nhiều lần Van đến ôm tôi, vỗ vai xin lỗi tôi về những hiểu lầm của ông ta đối với tôi trong trận Ấp Bắc năm xưa, trong những lúc ấy, Vann luôn miệng một cách thành thật: “ Ba! Let forget it!”

Thế nên, vào thời đó, nhìn vào những gần gũi, thân tình giữa tôi và Vann, một số người Mỹ cũng như Việt thường nói “ Bá là người của ông Vann” – hoặc giả “ Vann là người đứng sau lưng Bá và nghe theo Bá...”.  Trong cái rừng lầm lẫn, xuyên tạc có ác ý đó, có lần Việt cộng và những kẻ xấu mồm còn tung tin thất thiệt mà một thời dư luận có nghe đến, là “tướng Bá thắng trận Kontum năm 1972 là vì người vợ Việt Nam của Vann là bà chị vợ của Bá. Vì sự liên hệ “cột chèo’ đó nên Vann đã phải tìm mọi cách, kể cả việc xử dụng tối đa các phi vụ B52 để cứu Bá cho bằng được trong trận Kontum...” 

Sự thực, người ta đã cố tình không hiểu chiến thắng trong trận Pleiku 1972 là kỳ tích thần kỳ của toàn thể các quân binh chủng thuộc Sư Đoàn 23BB và Tiểu Khu Kontum. Trong trận này, quân ta đã bất chấp sức mạnh vây hãm của địch với tỷ lệ chênh lệch về quân số, địch 3 ta 1. Quân ta đã bám chặc và giữ vững vị trí từ trận đánh khởi đầu tại đồi 501 cách thị xã Kontum chỉ vài dậm, nơi Sư Đoàn 23 BB đặt bản doanh... đến những đợt tấn công khác của địch quanh vòng đai chu vi phòng thủ cũng như những trận ác chiến ngay trong trung tâm thị xã Kontum. Có lần quân ta và địch gần như cận chiến lẫn lộn nhau hay chỉ cách nhau có một dãy phố, một mé lộ hay một vĩa hè mà quân đối chiến chỉ có thể dùng lựu đạn và lưỡi lê quần thảo với nhau... Hình ảnh này được kể rõ nét trong tác phẩm Anh ngữ “Trial by Fire” của sử gia Dale Andrade.

Trong những phút giây quyết liệt sau cùng của trận chiến, quân ta đã phải nhiều lần tấn công, phản công, hoặc có đơn vị được lệnh rời vị trí phòng thủ chu vi, bất ngờ hình thành mũi dùi tấn kích quay ngược về trung tâm thành phố nhắm vào các vị trí địch cùng lúc với các lực lượng Trừ Bị Lưu Động  có chiến xa yễm trợ từ các trung tâm phòng thủ đánh ra... tạo thành các gọng kềm chẽ nát các đơn vị Bắc quân xâm nhập thành phố của tướng VC Hoàng Minh Thảo trong suốt 7 ngày đêm. Ba sư đoàn 320, SĐ 10 và SĐ 2 Sao Vàng dưới tay Hoàng Minh Thảo, chưa kể một đại đội chiến xa T54 và T59 cùng một pháo đội bị tiêu diệt hay bắt sống – bị đánh bật ra khỏi thị xã Kontum cùng những thương vong vô cùng nặng nề. Trong tình huống chiến trường giữa thành phố dành từng tất đất, làm gì có chuyện B52 tiếp sức quân ta giữa trùng trùng lửa đạn cận chiến theo từng góc phố đó để “ hà hơi tiếp sức “ cho 3 Trung Đoàn 44, 45 và 53 của SĐ 23 được đại đội 1/8 chiến xa M41 của Thiết Đoàn 8 của mũ đen Lê Quang Vinh yễm trợ chiến đấu bên cạnh  - tôi nói lại cho rõ điều này để trả lại vinh dự cho anh em SĐ23 và các đơn vị cùng chiến đấu - chứ không như trong bài viết của Đại Tá Trịnh Tiếu, trưởng phòng 2 Quân Đoàn 2 khi ông viết không chính xác rằng  SĐ23 được Quân Đoàn 2 tăng viện cho một số thiết giáp nào đó... Thật ra là Lữ Đoàn 2 Thiết giáp có tiến lên Kontum nhưng chỉ khi cuộc chiến đánh bật Bắc quân ra khỏi thị xã Kontum đã kết thúc – và nó chỉ nên được coi như một cuộc hành quân biểu dương lực lượng để các cô gái trẻ Kontum choàng vòng hoa qua cổ Trung tướng Nguyễn văn Toàn, Tư lệnh Quân Khu 2 trước mắt cố vấn J. P. Vann và tôi tại đầu cầu sông Dabla.

Thời gian trôi qua, nay thì những chiến tích hào hùng của quân lực chúng ta bây giờ chẳng được ai nhắc hay nói đến. Mà quả tình, ngay cả trận Ấp Bắc cũng chẳng có gì quá ghê gớm, chỉ vì cái hăng say chủ quan và vụng về của J. P. Vann mà Ấp Bắc bị coi là một chiến bại cho quân ta, môt chiến thắng cho phe địch để VC dùng nó làm đòn bẫy cho chiến dịch tuyên truyền tâm lý chiến về sau này. Đâu có ai biết được sự thật đã xẩy ra như thế nào ngoài bài viết sai lạc một chiều Neil Sheehan trong quyển the Bright Shinny Lie mà tác giả của nó đã căn cứ vào các tin tức và dữ kiện một chiều, sai lệch từ phía cố vấn Mỹ, trong khi chính tôi là người chỉ huy trực tiếp Đại Đội 7 M113, mũi dùi chính lăn lộn trong trận đánh, biết rõ tình tiết của trận đánh... lại chưa một lần được tham khảo ý kiến trước khi họ viết bài và đưa trận đánh trên các cột báo Mỹ của họ. Vì thế, chỉ căn cứ vào một số những khó khăn và trở ngại bất ngờ của Đại Đội 7 M113 trên chiến trường nước đọng sình lầy miền Nam để suy diễn từ các dữ kiện chủ quan, không thực của phía cố vấn Mỹ lần đầu tiên tham dự chiến trường du kích chiến tại Việt Nam để viết bài. Và vì thế họ viết sai và lệch lạc so với thực tế. Họ hoàn toàn không biết các diễn biến quan trọng sau đó của trận đánh Ấp Bắc, theo đó, trong đợt xung phong cuối cùng, Đại Đội 7 M113 đã đánh bật VC ra khỏi vị trí cố thủ, địch tháo chạy, bỏ lại 8 xác  trong đó có cả một sĩ quan chỉ huy. Riêng chi tiết này, Neil Sheehan cũng không thể phủ nhận khi ông ta viết trong  bài “ When the war was over” đăng trên Nguyệt San The New Yorker phát hành ngày 18 tháng 11 năm 1991.

                                                                                                                  

Hosted by www.Geocities.ws

1