Trong chiến tranh, một cách công bình, khách quan mà nói, trong những cuộc chạm trận với địch quân VC, kể cả thời chiến tranh Việt Pháp đến sau này, việc tổn thất ít nhiều giữa đôi bên là chuyện rất bình thường. Người ta không thể đem tổn thất của một trận đánh để suy diễn thành sự thất bại của một cuộc chiến rộng lớn. Có một điều chắc chắn không thấy ai đề cập tới, và tôi xin được nói rõ là kể từ năm 1961 cho đến đầu năm 1965, ngoài trận Ấp Bắc mà quân VC cũng đã bị đánh bại trong những giây phút cuối cùng thì không có bất cứ một trận nào khác, quân VC có thể giữ được vị trí của họ lâu dài trước những lần xung phong của các đơn vị M113 do tôi và những sĩ quan nối tiếp thay thế tôi chỉ huy, đó là chưa kể những trận đánh và chiến tích tại Đồng Tháp Mười, Mỹ Tho VC đã bỏ lại chiến trường hàng trăm vũ khí các loại, có cả đại bác 57 và 75 ly lần đầu tiên được VC đem ra sử dụng tại chiến trường miền Nam. Sự thật trên đây, tôi đặt ra cho bất cứ ai, từ Mỹ tới Việt có thể đánh đổ được bằng chứng liệu.

Trong lúc vinh quang của người lính Việt Nam Cộng Hòa bị cả địch cố tình lẫn bạn vô tình dìm xuống... thì chẳng ai, nhất là báo chí và giới làm phim Mỹ, biết được một số sự thật không lấy gì làm vinh dự trong  chiến đấu khi phải kể lại. Tôi bất đắc dĩ phải viết lại chuyện này và lý do sẽ đề cập phần sau:

Trong lúc Đại Đội 7 M113 ngang dọc với đủ loại vũ khí trên xe tấn công mục tiêu VC chỉ cách mình vài chục thước, trên xe có đại úy cố vấn J. Scanlon.  Thượng sĩ Nguyễn Văn Hào của chiến xa chỉ huy bị tử thương trong lúc giao chiến, xác anh được đặt nằm trong chiến xa bên cạnh hai chiến sĩ bị thương, máu chảy lên láng trên sàn chiến xa. Vừa chỉ huy xa trận tác chiến, bất ngờ tôi thấy J. Scanlon hoảng hốt mở cửa sau chiến xa chạy thoát ra... và may mắn anh ta còn sống và trở lại đơn vị ngày hôm sau, sau trận đánh. Trước đây, tôi coi chuyện này nhỏ, và là “chuyện riêng tư” của cố vấn nên tôi không cần nói và để ý đến.  Nhưng bây giờ thì tôi phải nói. Lý do?

Sau những năm tháng tù tội trong ngục tù Bắc quân, qua Mỹ năm 1991, tôi mới biết Sheehan đã viết bài về trận Ấp Bắc với những dữ kiện và tình tiết bịa đặt thu nhận từ đại úy J. Scanlon ( mà tôi cho là một sĩ quan cố vấn tệ nhất của đơn vị tôi so với các cố vấn giỏi khác làm việc chung với tôi.) Đọc bài họ viết sai lệch gần như xuyên tạc về trận Ấp Bắc, tôi chỉ biết lắc đầu cay đắng. Tôi bị mang cái cảm tưởng mình là người lính bại trận của 30/4/1975 thì làm sao bẻ lại cho thẳng ngòi bút của Sheehan + Scanlon trên các trang báo Mỹ một chiều đầy ảnh hưởng. Tôi biết rõ, vì là người chiến đấu, chỉ huy trong cuộc, họ viết sai, nhưng độc giả Mỹ biết gì về sự thực tôi biết, nên cái sai họ viết trên báo có thể được tin là đúng, theo kiểu “cuốn theo chiều gió” – vì chưa có ngọn gió nào thổi ngược về chủ đề đó trên báo Mỹ.

Từ những bài báo, những quyển sách viết không đúng sự thật đó, nhiều phim về chiến tranh Việt Nam được dựng nên dùng tài liệu do VC cung cấp, và mới đây, hảng HBO và TNT tung ra một phim nói về chiến tranh Việt Nam nói về cuộc đời của J. P. Vann với những tình tiết bịa đặt, xuyên tạc quân lực VNCH ( Cuốn A Bright Shinning Lie) . Nó trở thành cơn bão nhỏ trong nhiều gia đình cựu quân nhân QLVNCH sống ở Mỹ, nó gây ra những cơn bảo giữa cha con, giữa hai thế hệ: cha, người lính chiến VNCH, con, đứa bé sinh ra và trưởng tành trên đất Mỹ, xem phim thấy cái quân đội mà cha mình một đời tự hào, hãnh diện... nó tàn tệ, chẳng ra gì trong cuốn phim. Cha con tranh luận và cãi nhau...

Chúng tôi thương cho những người cha, và làm sao trách mấy đứa con. Chúng tôi nhìn thẳng vào giới báo chí, phim ảnh thiên tả, một chiều của Mỹ để nhìn ra thủ phạm và trách nhiệm của họ. Họ đã tiếp tay cho Hà Nội trong suốt cuộc chiến tại Việt Nam. Và sau hơn thế kỷ sau khi Sài Gòn sụp đổ, cái cung cách thiên tả của họ vẫn không thay đổi mấy, và sự có mặt của người Việt tỵ nạn cộng sản ở Mỹ hơn 25 năm qua cũng không làm gì để thay đổi góc nhìn lệch lạc của họ.  Các loại phim như phim nói về cuộc đời của J.P.Vann với những sai lầm và bịa đặt cứ tiếp tục tung nộc độc, lừa bịp dư luận... chỉ có tác dụng đem lại tiếng cười hả hê cho cộng sản Việt Nam và ném bùn lên xác chết của những người lính Mỹ và VNCH chiến đấu cho tự do, cả trên lưng những người lính Mỹ và cựu quân nhân QLVNCH hiện còn sống trên đất Mỹ.  Những loại phim này, nhân danh tự do thương mại và thông tin, họ tiếp tục bào mòn đạo đức và danh dự của một nước Mỹ bao dung và anh hùng.

Riêng về  J. P. Vannn, đối với tôi, Vann là người trọng danh dự, cương trực, anh hùng và vô cùng quyết liệt trong thái độ và hành động chống cộng sản. Sống và làm việc gần gũi với Vann, tôi biết Vann không bao giờ muốn thấy miền Nam Việt Nam lọt vào tay cộng sản. Tôi nhớ một câu tâm sự để đời của Vann cho riêng tôi trước ngày Vann tử nạn tại Cao nguyên – và câu tâm sự đó theo tôi suốt đời:

“Anh Bá! Nếu sau này, vì một bất hạnh nào đó xẩy ra cho miền Nam để miền Nam lọt vào tay cộng sản, tôi và anh sẽ đưa quân vào mật khu chiến đấu!...”
Tôi xúc động nhìn Vann... và nghĩ đến số phận của đất nước.  Tại sao Vann lại nói cái câu mà sau khi Vann chết, năm 1975 đã trở thành ứng nghiệm? Phải chăng Vann đã nhìn thấy bóng mây đen trên nền trời tương lai miền Nam Việt Nam?  Và miền Nam đã sụp đổ, Vann đã không có dịp cùng tôi rút quân vào rừng. Vann đã tử nạn, nằm trong lòng đất trước ngày Sài Gòn sụp đổ – và tôi trở thành vị tướng tù binh cuối cùng của một cuộc chiến – một cuộc chiến u khuất mà về mật quân sự chưa chắc nó thất bại theo như trong ý nghĩa của tác phẩm “Victory Lost”/ “Cuộc chiến thắng bị bỏ lỡ” của GS Stephen Young mà bản Việt ngữ vừa mới phát hành trong năm 2002.

Và nay, cuộc chiến dường như chưa thật sự chấm dứt. Những dòng cuối này xin gửi đến bạn tôi: J. P. Vann... với những kỷ niệm không bao giờ quên. 

AET. Lý Tòng Bá

Hosted by www.Geocities.ws

1