|
Vài
nét về một anh hùng:
Đại-tá
Hồ Ngọc-Cẩn.
Đại-tá
Hồ Ngọc-Cẩn sinh ngày 24 tháng 3 năm 1938,
tại Cần-thơ. Thân phụ là một hạ sĩ
quan trong quân đội Quốc-gia Việt-Nam. Thủa
nhỏ ông rất khỏe mạnh, không hề bị
bệnh tật gì. Năm 10 tuổi ông bị
bệnh quai bị, cả hai bên. Tính tình
hiền hậu, giản dị, trầm tư, ít nói. Khi
ông bắt đầu đi học (1945) thì chiến
tranh Pháp-Việt bùng nổ, nên sự học bị
gián đoạn. Mãi đến năm 1947 ông mới được
đi học lại. Ông học không lấy gì làm
giỏi cho lắm, thường thì chỉ đứng
trung bình trong lớp. Năm 1951, phụ thân nộp
đơn xin cho ông nhập học trường
Thiếu-sinh-quân.
Thời điểm này, trên toàn lãnh thổ VN có 7
trường TSQ, phân phối như sau :
Hồ Ngọc Cẩn được thu nhận vào lớp
nhì trường TSQ đệ
nhất quân khu niên khóa 1951-1952. Trường này dạy
theo chương trình Pháp. Ông đỗ tiểu học năm
1952. Cuối năm 1952, trường TSQ đệ nhất quân
khu di chuyển từ Gia-định
về Mỹ-tho.
Khi hiệp định Genève ký ngày 20-7-1954, thì
ngày 19 tháng 8 năm 1954, trường TSQ đệ tam quân khu
di chuyển từ Hà-nội vào,
sát nhập với trường TSQ đệ nhất
quân khu ở Mỹ-tho. Niên học 1954-1955, trường
TSQ đệ nhất quân quân khu bắt đầu dạy
chương trình Việt, và chỉ mở tới
lớp đệ ngũ. Hồ
Ngọc-Cẩn học lớp đệ lục A, giáo sư
dạy Việt-văn là ông Nguyễn Hưũ-Hùng,
từ Bắc di cư vào. Thực là một điều
lạ, là giữa một số bạn học chương
trình Việt từ Bắc vào, mà Hồ
Ngọc-Cẩn lại tỏ ra xuất sắc về
môn Việt-văn. Trong năm học, có chín kỳ luận văn, thì bài của
Cẩn được tuyển chọn là bài xuất
sắc, đọc cho cả lớp nghe bảy kỳ. Nhưng
bài của Cẩn chỉ đứng thứ nhì
trong lớp mà thôi. Năm này Cẩn bắt đầu làm
thơ. Thơ của Cẩn không có hùng khí, đa số
những bài thơ này cực kỳ lãng mạn.
Ghi chú.
Ông Hùng bấy giờ mới đỗ tú tài. Trong
thời gian dạy tại trường TSQ, ông tự
học, đỗ cử nhân luật. Sau khi đỗ
cử nhân luật, ông được bổ làm thẩm phán
ở Tuy-hòa, rồi làm bộ trưởng Lao-động,
rồi thẩm phán ở Phước-tuy, rồi lại
làm bộ trưởng Lao-động. Sau 1975 ông sống
tiềm ẩn ở Huston, bang Texas, Hoa-kỳ và
từ trần năm 2000.
Hết năm
học, Cẩn đã 17 tuổi. Theo học quy
của trường TSQ, thì khi một học sinh mười
bẩy tuổi, mà chưa học hết đệ ngũ,
sẽ được gửi đi học chuyên môn. Còn
như mười bẩy tuổi, mà học hết đệ
ngũ, lại tỏ ra xuất sắc thì được
giữ lại học đệ tứ, rồi... cho
học lên cao nữa. Niên khóa 1955-1956, Hồ
Ngọc-Cẩn được gửi lên học tại Liên-trường
võ khoa Thủ-đức, về vũ khí. Sau ba tháng,
Cẩn đậu chứng chỉ chuyên môn về vũ
khí bậc nhất với hạng ưu. Sáu tháng sau đó,
Cẩn lại đậu chứng chỉ bậc nhì,
và bắt đầu ký đăng vào quân đội
với cấp bậc binh nhì.
Quy chế dành cho các TSQ Việt-Nam thời ấy là
quy chế dành cho các TSQ Pháp trong thời bình.
Một học sinh ra trường, thì ba tháng đầu
với cấp bậc binh nhì, ba tháng sau
với cấp bậc hạ sĩ, ba tháng sau thăng
hạ sĩ nhất, và ba tháng sau nữa thăng trung sĩ.
Chín tháng sau Cẩn là trung sĩ huấn luyện viên
về vũ khí.
Chiến tranh tại miền Nam VN tái phát vào năm 1960
tại một vài vùng. Sang năm 1961 thì lan
rộng. Để giải quyết nhu cầu thiếu sĩ
quan, bộ Quốc-phòng cho mở các khóa sĩ
quan đặc biệt. Được nhập học trường
này, tất cả các hạ sĩ quan có trên năm năm
công vụ, có bằng Trung-học đệ nhất
cấp. Với sự nâng đỡ đặc biệt
của đại tướng Lê Văn-Tỵ Tổng-tham mưu
trưởng, nguyên là một cựu TSQ, các hạ sĩ
quan xuất thân từ trường TSQ, không cần
phải hội đủ trình độ học
vấn, cũng như thâm niên công vụ, đều được
nhập học.
Nào ai ngờ, với sự nâng đỡ đặc
biệt này, đã cung cấp cho đất nước VN
không biết bao nhiêu sĩ quan gương mẫu, anh hùng
trên chiến trường.
Hồ Ngọc-Cẩn tốt nghiệp khóa 2 ( ?) sĩ
quan đặc biệt với cấp bậc chuẩn úy.
Dường như có một mật lệnh của
Tổng-thống Ngô Đình-Diệm hay đại tướng
Lê Văn-Tỵ, các tân chuẩn úy, xuất thân từ
trường TSQ, đều được đưa về phục
vụ tại các binh chủng : Dù, Thủy-quân
lục chiến (TQLC) , Biệt-động quân (BĐQ), Quân-báo,
An-ninh quân đội, và Lực-lượng đặc
biệt (LLĐB).
Sau khi ra trường, Hồ Ngọc-Cẩn theo học
một khóa huấn luyện BĐQ, rồi thuyên
chuyển về phục vụ tại khu 42 chiến
thuật, với chức vụ khiêm tốn là trung đội
trưởng. Lãnh thổ khu này gồm các tỉnh
Cần-thơ (Phong-dinh), Chương-thiện, Sóc-trăng (Ba-xuyên),
Bặc-liêu, Cà-mâu (An-xuyên). Về sau, vì tình
hình chiến tranh thay đổi, quân
Cộng-sản từ du kích chiến, chuyển sang đánh
cấp tiểu đoàn và trung đoàn, các đại đội
BĐQ cũng phải kết hợp thành tiểu đoàn.
Các đại đội BĐQ của khu 42 chiến thuật
kết thành hai tiểu đoàn. Tiểu đoàn mang số
42, đơn vị mà Cẩn phục vụ, được
tặng mỹ danh là tiểu đoàn Cọp ba đầu
rằn. Tiểu đoàn mang số 44 được tặng
mỹ danh là Cọp xám U-minh hạ.
Tôi đã gặp Hồ Ngọc-Cẩn bao giờ ?
Tại đâu ? Câu truyện như thế này :
Năm 1966, khi đọc trong Đại-Nam chính biên liệt
truyện, Đại-Nam nhất thống chí viết
về " Ngụy Tây-sơn ", có rất nhiều
nghi vấn trong những trận đánh giữa vua
Quang-Trung, với vua Gia-long tại rừng U-minh. Tôi
nảy ra ý xuống vùng tận cùng của đất
nước này tìm hiểu thêm. Bấy giờ đang
xẩy ra vụ biến động miền Trung,
" các thầy mang bàn thờ xuống đường
" , chiến cuộc tại miền Tây cực
kỳ sôi động, mẹ tôi, bà má má (vú nuôi)
cực lực phản đối, vì đi như vậy
dễ tiêu dao miền Cực-lạc lắm. Nhưng
bố tôi, sau khi tính số Tử-vi của tôi,
cụ lại khuyên tôi nên đi. Cụ nói " Con đi
lần này sẽ có thêm nhiều bạn tốt, hơn
nữa có dịp biết về vùng đồng lầy
Cà-mau ". Tôi nhất quyết đi, bà má má tôi khóc
khốn khổ, nhưng cũng không cản được cái
tính phiêu lưu và mê sưu tầm của tôi.
Nhưng làm
thế nào để có thể được vào tất
cả những làng, những xã, mà không gặp
trở ngại ? Làm sao có phương tiện di chuyển
? Chỉ một cú điện thoại, ông bố tôi đã
kiếm cho tôi cái giấy giới thiệu của
tờ tuần báo trung lập lớn nhất ở
Paris. Bà má má kiếm cho tôi giấy giới thiệu
của tờ nhật báo Hoa-văn tại Hương-cảng.
Thế là tôi bỗng trở thành ký giả
bất đắc dĩ . Tôi đến bộ tư lệnh
MACV xin giúp phương tiện làm phóng sự chiến trường
ở vùng 4 chiến thuật. Tôi chỉ mong tìm
hiểu lịch sử, chứ nào có chủ tâm làm ký
giả !
Nhưng sau chuyến đi ấy, quá súc động về
cuộc chiến tranh thê thảm, tôi đã viết
rất nhiều bài ký sự chiến trường,
đăng trên một số báo ngoại quốc. Khởi
đầu, uất hận trước cái chết của
một cô bạn gái tên Đặng-thị Tuyết,
mới hai mươi tuổi, làm nữ cán bộ Xây-dựng
nông thôn tại kinh Tắc-vân, Cà-mau. Tôi là thầy
thuốc, mà cô bị trúng đạn, chết trên tay tôi.
Tôi viết bài " Giang biên hoa lạc " gây xúc
động mạnh cho độc giả Hương-cảng và
giới Hoa-kiều tại VN. Sau tôi có dịch bài này
sang tiếng Việt với tên là " Hoa rơi bên
bờ kinh Tắc-vân " . Tôi gửi bài này dự
thi giải ký sự chiến trường của
Cục Tâm-lý chiến năm 1967. Bài của tôi được
giải nhì. Giải nhất về Trang-Châu cũng
là một bài ký sự của y sĩ tiền
tuyến. Một trong các giám khảo nói với tôi " Về nội dung, bài
của cháu với Trang-Châu cùng nói lên niềm mơ ước
của tuổi trẻ quên mình cho quê hương. Nhưng
bài của Trang-Châu trung thực, còn bài của
cháu thì ướt át quá, thê thảm quá, dù răèng
đó là sự thực ".
Sau đây, tôi
xin trích nguyên văn một đoạn tôi viết về
Hồ Ngọc-Cẩn, trong bài " Ngũ hổ
U-minh thượng ", kể chuyện năm tiểu đoàn
trưởng nổi danh can đảm, có máu văn nghệ,
nhất là phong lưu tiêu sái, tại chiến trường
cực Nam năm 1966. Ngũ hổ là :
Đai-úy Hồ Ngọc-Cẩn, tiểu đoàn trưởng
tiểu đoàn 1/33,
Ghi chú
Ngày19 tháng
4 năm 1966, tôi tới phi trường Vĩnh-lợi
bằng phi cơ Caribou của quân đội Hoa-kỳ. Người
đón tôi là thiếu tá Raider, của cố vấn đoàn
42. Tại bản doanh của cố vấn đoàn 42, đại
tá cố vấn trưởng Hathaway không biết gì
về chủ đích chuyến đi của tôi. Ông
chỉ căn cứ vào giấy giới thiệu do hai
chủ báo cấp, mà đoán rằng tôi là tên thầy
thuốc trẻ, thích phiêu lưu, nên đi làm ký
giả. Ông cho tôi biết tình hình địch
rất chi tiết. Về tình hình quân đội
VN tại năm tỉnh tận cùng của đất nước,
ông nói : _ " Khu 42 chiến thuật, do sư đoàn 21, thuộc quân đoàn 4 trấn nhậm. Sư đoàn có ba trung đoàn mang số 31, 32, 33. Trung đoàn 31 đóng tại Chương-thiện. Trung-đoàn 32 đóng tại Cà-mau. Trung-đoàn 33 đóng tại Ba-xuyên. Ngoài ra còn có hai tiểu đoàn Biệt-động quân mang số 42 và 44. Tiểu đoàn 42 đóng tại Bặc-liêu, tiểu đoàn 44 đóng tại Ba-xuyên ".
|