|
Ông
ca tụng quân đội VN như sau :
" Lương bổng
cho người lính VN, chỉ gọi là tạm đủ
ăn. Doanh trại không có, trang bị thiếu thốn.
Nhưng họ chiến đấu như đoàn sư tử. Tuy
vậy vẫn có những điều đáng phàn nàn. Ông
là thầy thuốc cầm bút, xin ông lướt qua
những cái đó ".
Bốn hôm sau, có cuộc hành quân cấp sư đoàn. Tôi
được gửi theo tiểu đoàn 42 Biệt-động
quân. Tiểu đoàn trưởng là thiếu-tá Lưu
Trọng-Kiệt, tiểu đoàn phó là trung-úy Hồ
Ngọc-Cẩn. Cái tréo cẳng ngỗng là đối
với cố
vấn đoàn thì tôi là ký giả. Còn
Kiệt với Cẩn lại tưởng tôi là bác sĩ
tình nguyện ra mặt trận. Tiểu đoàn
được đặt làm trừ bị tại phi trường
Vĩnh-lợi, từ bẩy giờ sáng, chuẩn
bị nhảy trực thăng vận. Nếu khi
nhảy, thì tiểu đoàn sẽ nhảy làm hai cánh.
Cánh thứ nhất gồm đại đội 1, 2 do
Hồ Ngọc-Cẩn chỉ huy. Cánh thứ nhì
gồm đại đội 3 và đại đội chỉ
huy, do thiếu tá Lưu Trọng-Kiệt chỉ huy. Tôi
với Kiệt, Cẩn ngang ngang tuổi nhau. Tôi có máu
giang hồ của người tập võ, coi
trời bằng vung, lại cũng có học qua quân
sự, nên chúng tôi thân cận nhau dễ dàng. Đại-úy
cố vấn tiểu đoàn muốn tôi nhảy theo
bộ chỉ huy. Anh hỏi tôi :
_ Lần đầu tiên ra trận, " sơ " có
sợ không ?
Tiểu đoàn cũng có sĩ quan trợ y. Anh biệt
phái cho tôi một y tá cấp trung sĩ, với đầy
đủ thuốc cấp cứu. Trên lưng tôi chỉ có
bộ đồ giải phẫu dã chiến.
Khoảng mười giờ thì có lệnh : Một
đơn vị địa phương quân chạm địch
tại Vĩnh-châu. Địch là tiểu đoàn Cơ-động
Sóc-trăng. Tiểu đoàn phải nhảy trực thăng
vận đánh vào hông địch. Địa điểm
nhảy là một khu đồng lầy.
Sau khi Kiệt họp các sĩ quan, tóm lược
vắn tắt nhiệm vụ, tình hình trong
mười phút. Cẩn dẫn tôi ra phi đạo. Hai đại
đội đã lên trực thăng từ bao giờ. Chúng
tôi cùng leo lên một trực thăng. Hai mươi lăm
chiếc trực thăng cùng cất cánh. Trực thăng
bay khoảng bẩy phút, thì Cẩn chỉ vào
khu làng mạc trước mặt :
_ Kìa, chỗ chúng mình đáp kìa.
Trực thăng hạ cánh. Thoáng một cái hơn hai trăm
người từ trực thăng lao ra. Một cảnh tượng,
mà không bao giờ tôi quên : Những người lính dàn
ra thành một hàng ngang. Họ núp vào cái những cái
bờ ruộng, mô đất, tay thủ súng, mắt
đăm đăm nhìn về trước. Đó là một làng,
lưa thưa mấy ngôi nhà tranh, ẩn hiện dưới
những cây dừa xanh tươi. Mặc dù súng trong làng
bắn ra, nhưng những người lính ấy, vẫn
chưa bắn trả. Tôi đưa mắt nhìn một lượt,
các sĩ quan, người thì nằm, người thì
quỳ, cũng có người đứng.
Từ lúc nhảy xuống, Cẩn không hề
nằm, quỳ, mà đứng quan sát trận mình,
quan sát trận địch. Một là điếc không
sợ sấm, hai là tự tin vào số Tử-vi
của mình thọ, tôi cũng đứng.
Hơn mười phút sau, cánh quân thứ nhì đã
nhảy xuống trận địa. Trận vừa dàn
xong, thì sĩ quan đề lô xin pháo binh nã vào
những chỗ có ổ moọc-chiê, trung liên, đại
liên trong làng. Một lệnh ban ra, hơn bốn trăm con
cọp dàn hàng ngang, vừa bắn, vừa xung phong vào
trong làng. Trong khi súng trong làng bắn ra, đạn
cầy các ụ đất, trúng vào ruộng nước,
bụi, nước bắn tung.
Hàng quân tới bờ ruộng cuối cùng, cách bìa
làng không đầy năm mươi thước, thì súng
nhỏ từ trong mới nổ. Cả hàng quân đều
nằm dài ra sau cái bờ ruộng. Giữa lúc đó, sĩ
quan pháo binh trúng đạn lật ngươc. Tôi chạy
lại cấp cứu, thì không kịp, viên đạn
xuyên qua sọ anh. Thế là pháo binh vô hiệu.
Trực thăng võ trang được gọi đến.
Cố vấn Mỹ
báo về trung tâm hành quân. Cố vấn tại trung
tâm hành quân ra lệnh cho phi công trực thăng nã
xuống địa điểm có địch quân.
Tôi đứng cạnh Cẩn tại một mô đất.
Cẩn không thực tiếp cầm máy chỉ huy, mà
ra lệnh cho các đại đội, trung đội qua
hiệu thính viên.
Sau khi trực thăng võ trang nã ba loạt
rocket, đại liên, thì lệnh xung phong truyền
ra. Cả tiểu đoàn reo lên như sóng biển, rồi
người người rời chỗ nằm lao vào làng.
Không đầy mười phút sau, tiếng súng im hẳn.
Bây giờ là lúc tôi hành nghề. Những binh sĩ,
tù binh bị thương nặng được băng bó, cầm máu,
rồi trực thăng tải về quân y viện. Còn
như bị thương nhẹ thì được điều
trị tại chỗ. Tôi ngạc nhiên vô cùng, khi
thấy những binh sĩ bị thương khá nặng,
nghe tôi nói rằng : Nếu họ muốn, tôi có
thể gắp đạn, may các vết thương đó cho
họ, mà không phải về quân y viện. Họ
từ chối đi quân y viện,
xin ở lại để tôi giúp họ. Tôi cùng sĩ
quan trợ y, bốn y tá làm việc trong hơn giờ
mới xong. Tôi hỏi Cẩn :
_ Tôi tưởng, thương binh được về quân y
viện chữa trị, nghỉ ngơi, thì là điều
họ mong muốn mới phải. Tại sao họ
muốn ở lại ?
_ Bọn cọp nhà này vẫn vậy. Chúng tôi
sống với nhau, kề cận cái chết với
nhau, thì xa nhau là điều buồn khổ vô cùng.
Đấy chúng nó bị thương như vậy đấy, lát
nữa anh sẽ thấy chúng chống gậy đi chơi
nhông nhông ngoài phố, coi như bị kiến cắn.
Tôi đi một vòng thăm trận địa. Hơn hai trăm
xác chết, mặc áo bà ba đen, quần đùi .
Những xác chết đó, gương mặt còn non
choẹt, đa số tuổi khoảng 15 đến 20, cái
thì nằm vắt vẻo trên bờ kinh, cái thì
bị cháy đen, cái thì mất đầu. Cũng có
cái nằm chết trong hầm. Không biết, trong khi
họ phơi xác ở đây, thì cha mẹ, anh em,
vợ con họ có biết không ?
Sau
trận đó thì Cẩn được thăng cấp đại
úy. Cuối năm 1966, Cẩn từ biệt
tiểu đoàn 42 BĐQ đi làm tiểu đoàn trưởng,
tiểu đoàn 1 trung đoàn 33 (Sư đoàn 21). Việc đầu
tiên của Cẩn khi làm tiểu đoàn trưởng là
xin sư đoàn cho tất cả các sĩ quan, hạ sĩ
quan xuất thân trường TSQ về chiến đấu
cùng với mình. Cẩn đã được
thỏa mãn một phần yêu cầu. Tôi
hỏi Cẩn :
_ Anh đem các cựu TSQ về, với mục đích gì
?
_ Một là để dễ sai. Tất cả bọn
cựu TSQ này đều ra trường sau tôi. Chúng là đàn
em, dù tôi không phải là cấp trên của chúng nó,
mà chúng no lộn xộn, tôi vẫn hèo vào đít chúng
nó được. Nay tôi muốn chúng về với tôi, để
tôi có thể dạy dỗ chúng nó những gì mà
tại quân trường không dạy. Hai là, truyền
thống của tôi khi ra trận là chết thì
chết chứ không lùi, vì vậy cần
phải có một số người giống mình,
thì đánh nhau mới đã. Bọn cựu TSQ đều
như tôi cả.
Suốt năm 1967, Cẩn với tiểu đoàn 1/33 tung hoành
trên khắp lãnh thổ năm tỉnh Hậu-giang,
khi Đại-ngãi, khi Tắc-vân, khi Kiên-hưng, khi Thác-lác,
khi Cờ-đỏ. Sau trận tổng công kích
Mậu-Thân, Cẩn được thăng thiếu tá. Năm
1968, Cẩn là người có nhiều huy chương nhất
quân đội. Thời gian này tôi bắt đầu
viết lịch sử tiểu thuyết, nên tôi đọc
rất kỹ Lục-thao, Tam-lược, Tôn-Ngô binh pháp,
cùng binh pháp của các danh tướng Đức, Pháp,
nhất là của các tướng Hồng-quân. Tôi dùng
kiến thức quân sự trong sách vở để đánh
giá những trận đánh của Cẩn từ 1966. Tôi
bật ngửa ra rằng, Cẩn không hề đọc,
cũng không hề được học tại trường
sĩ quan, những binh pháp đó. Mà sao từ cung cách
chỉ huy, cung cách hành xử với cấp dưới,
cấp trên, nhất là những trận đánh
của Cẩn bàng bạc xuất hiện như
những lý thuyết trong thư tịch cổ ?
Năm 1970, Cẩn thăng trung tá, rời tiểu đoan 1/33
đi làm trung đoàn trưởng trung đoàn 15 thuộc sư đoàn
9. Năm 1972, Cẩn được lệnh mang trung đoàn 15
từ miền Tây lên giải phóng An-lộc. Cuối
năm 1973, Cẩn được trở về chiến trường
sình lầy với chức vụ tỉnh trưởng,
kiêm tiểu khu trưởng Chương-thiện. Lần
cuối cùng tôi gặp Cẩn vào mùa hè năm 1974
tại Chương-thiện. Tôi hỏi Cẩn :
_ Anh
từng là trung đoàn trưởng, hiện làm tỉnh trưởng.
Anh có nghĩ rằng sau này sẽ làm sư đoàn trưởng
không ?
Đây là cuộc gặp gỡ cuối cùng của tôi
với Cẩn.
Ghi chú.
Tại Sài-gòn 9 giờ
bẩy phút, tiếng súng kháng cự tại các đơn
vị dù chấm dứt. Tại bộ chỉ huy
tiểu khu Chương-thiện kéo dài tới 15 giờ.
Trong khi đó, tiếng súng kháng cự của các
Thiếu-sinh-quân còn kéo dài tới 19 giờ
bốn mươi lăm phút tại Vũng-tầu. Nếu tôi
không lầm thì các TSQVN là những người
chiến đấu cuối cùng của miền Nam.
Cuộc xử Cẩn do hai nhân chứng thuật
lại :
Một là Trung-tá Bùi Văn Địch (Hiện sống
ở Berlin, Đức), xuất thân trường
Thiếu-sinh-quân Hà-nội, sau di vào Mỹ-tho. Trung-tá
Địch đã sống với Cẩn 2 năm tại
trường Thiếu-sinh-quân Mỹ-tho. Thời gian 1972,
cả hai từng cùng phục vụ tại sư đoàn 9
bộ binh.
Hai là phu nhân của Trung-tá bác-sĩ Jean Marc Bodoret, nhũ
danh Vũ-thị Quỳnh-Chi (Hiện sống ở
Marseille), em ruột của cựu Thiếu-sinh-quân Vũ
Tiến Quang. Quang là người nạp đạn cho
Cẩn xử dụng khẩu đại liên 30, bắn
đến viên đạn cuối cùng trong công sự
chiến đấu tiểu khu Chương-thiện. (Xin xem bài
Cái bóng của Hoài-văn vương Trần Quốc Toản
trong sách này). Bà Bodoret chứng kiến tận
mắt hai cuộc xử án Cẩn.
Cuộc xử án như sau :
Ngay khi Cẩn bị bắt, người ta để
Cẩn lên một chiếc xe mui trần, chở đi
khắp thành phố Chương-thiện cho dân chúng xem
chiến lợi phẩm. Ngồi trên xe, Cẩn
thản nhiên mỉm cười, vẫy tay chào dân chúng.
Cái gọi là Tòa án nhân dân được lập ngay
trước tòa hành chánh. Sau khi quan tòa kết
tội Cẩn bằng những từ ngữ hiếm
hoi thấy trong các đạo luật trên thế
giới. Người ta kêu gọi dân chúng, ai là nạn
nhân của Cẩn thì đứng lên tố cáo,
rồi muốn đánh, muốn chửi tùy thích. Nhưng
chỉ có vài cán bộ nội thành tố cáo
Cẩn là ác ôn có nợ máu. Dân chúng không có ai lên
tiếng cả. Người ta hỏi : Những ai đồng
ý xử tử Cẩn thì dơ tay lên ! Lại
cũng chẳng có ai dơ tay. Thế là cuộc xử
án ngừng lại.
Rồi, ba tuần sau, cuộc xử án Cẩn
lại diễn ra ở sân vận động thể
thao Cần-thơ. Lần này người ta chuẩn bị
kỹ hơn, người ta cho tụi bò-vàng xen
lẫn với dân chúng. Cũng bản cũ soạn
lại, nhưng người ta khôn khéo hơn, người ta không
hỏi xem Cẩn đã nợ máu với ai, thì
hãy ra mà xỉ vả, đánh đập. Người ta
chỉ hỏi : Ai đồng ý xử tử
Cẩn thì dơ tay. Bò vàng dơ tay, một
số dân chúng dơ tay. Số đông vẫn cứng đầu,
không đơ tay.
Người ta hỏi Cẩn có nhận những tội
mà tòa án nêu ra không ? Cẩn cười nhạt :
" Nếu tôi
thắng trong cuộc chiến, tôi sẽ không kết
án các anh như các anh kết án tôi. Tôi cũng không làm
nhục các anh như các anh làm nhục tôi. Tôi cũng
không hỏi các anh câu mà các anh hỏi tôi. Tôi
chiến đấu cho tự do của người dân. Tôi
có công mà không có tội. Không ai có quyền kết
tội tôi. Lịch sử sẽ phê phán đoán các anh
là giặc đỏ hay tôi là ngụy. Các anh muốn
giết tôi, cứ giết đi. Xin đừng bịt
mắt ".
Rồi Cẩn hô:
" Đả đảo Cộng-sản. Việt-Nam muôn năm
"
Sau khi Cẩn bị băn chết, dân chúng hiện
diện khóc như mưa như gió. Trời tháng năm, đang
nắng chói chang, tự nhiên sấm chớp nổ
rung động không gian, rồi một trận mưa như
trút xuống.
Nắng mưa là hiện tượng bình thường
của trời đất. Nhưng dân chúng Cần-thơ thì
cho rằng, trời khóc thương cho người anh hùng,
gặp cơn sóng gió của đất nước.
Khi tôi
gặp Cẩn, thì tôi chưa khởi công viết
lịch sử tiểu thuyết. Thành ra cuộc đời
Cẩn, cuộc đời các cựu TSQ quanh Cẩn, in
vào tâm não tôi rất sâu, rất đẹp. Vì
vậy sang năm 1968, khi bắt đầu viết, thì
bao giờ tôi cũng khơỉ đầu bằng
thời thơ ấu của những nhân vật chính.
Trong bộ nào, cũng có những thiếu niên, khi ra
trận chỉ tiến lên hoặc chết, chứ không
lùi.
Có rất nhiều người đặt câu hỏi :
Giữa tôi và Cẩn như hai thái cực . Cẩn
chỉ học đến đệ lục, tôi được
học ở nhà, ở trường đến trình độ
cao nhất. Cẩn là người Nam, tôi là người
Bắc. Cẩn theo đạo Chúa, tôi là cư sĩ
Phật-giáo. Tôi thì sống trong sách vở, hay
đi trên mây, Cẩn thì lăn lộn với thực
tế. Tôi không biết uống rượu, Cẩn thì
nổi danh tửu lượng cao nhất sư đoàn 21
bộ binh. Tôi thấy người đẹp là chân tay run
lẩy bẩy, Cẩn thì rửng rưng. Thế mà
khi gặp nhau, chúng tôi thân với nhau ngay. Thân đến
độ giãi bầy cho nhau tất cả những
tâm sự thầm kín nhất, không một người
thứ nhì biết được. Tại sao ? Cho đến
nay, tôi mới trả lời được rằng :
Cẩn cũng như những người quanh Cẩn, là
những hình bóng thực, rất quen thuộc mà
trước kia tôi chỉ thấy trong lịch sử.
Nay được gặp trong thực tế.
Hai mươi mốt năm qua, đúng mười hai giờ trưa,
ngày 30 tháng tư, dù ở bất cứ nơi nào, tôi cũng
mua bó hoa, đèn cầy, vào nhà thờ đốt nến,
đặt hoa dưới tượng đức mẹ, và
cầu xin cho linh hồn Cẩn được an lành trong vòng
tay người.
Tôi lược thuật về cuộc đời Cẩn mà
không phê bình, vì Cẩn là bạn thân
của tôi. Vả tôi không đủ ngôn từ đẹp
đẽ để tặng Cận.
Viết tại Paris ngày 30 tháng tư năm 1996 |