Last Update: May. 2007

 

PHILLIPPE: LÃO HUYNH VUI TÍNH…

CHẾT VẪN CƯỜI

Viết để nhớ lão huynh Hoàng Hải Vân.
Vì tính trung thực của câu chuyện xin thông
cảm việc dùng những tên thật trong bài viết
NGUYỄN ĐÌNH MẠNH

Làng báo Úc châu nói riêng và hải ngoại nói chung vừa mất đi một ký giả lão thành Phillippe de Chaunac – Hoàng Hải Vân, tên thật là Lương ngọc Hải, bút hiệu Tống Ngọc, Phan Quân, Trần Quân, Hà Mỹ Hạnh, Người Sydney, Người Trong Phủ… Đặc biệt, Đại gia đình Bưởi-Chu Văn An Úc châu đã mất đi một huynh trưởng lão niên, người đã hết lòng tận tụy với tập thể anh chị em Bưởi-Chu Văn An từ những ngày đầu Hội Ái Hữu Trường Bưởi-Chu Văn An / NSW được thành lập. Phillippe, là tên gọi thân thương mà mọi giới ở Úc đều dùng, ra đi đã để lại nhiều tiếc thương trong lòng nhiều người.
Nhà báo Nguyễn vi Túy đã nói: “Hoàng Hải Vân người mải vui… quên chết” trong một bài viết tưởng nhớ đến anh trên Báo Văn Nghệ số ra ngày 09-02-2006, và để rồi khi sực nhớ lại thì anh đã “chạy thật nhanh như sợ trể chuyến xe về trời” vào lúc 7giờ 30 tối ngày 02-02-2006 (nhằm ngày mồng 5 tháng Giêng năm Bính Tuất) trong lúc tuổi đời vừa mới… 92 tuổi Tây và là 93 tuổi Ta. Ở cái tuổi 92 mà anh vẫn an nhiên sinh sống, tự săn sóc lấy mình, vẫn đi lại, “la cà” từ nơi này qua nơi khác, mắt vẫn tỏ, tai vẫn thính, óc vẫn minh để hàng ngày quan sát và viết bài cho các báo với một ngòi bút thật sâu sắc. Trước khi từ giả cõi trần vài ngày, anh đã có hai bài viết cuối cùng “lăng xê” anh chị em trong Đại gia đình Bưởi-Chu Văn An trên hai tờ Báo Nhân Quyền, Melbourne và Văn Nghệ, Sydney.
Tôi được hân hạnh quen biết anh Phillippe trong khoảng 1982-1983 qua một người bạn phụ giúp tôi trong hãng ủi quần áo kỹ nghệ do tôi làm chủ. Một buổi cuối tuần, Sâm hẹn vợ chồng tôi cùng nhau đến gặp và làm quen một người mà Sâm cho chúng tôi biết là rất “đặc biệt”…
Trước khi đi, Sâm dặn chúng tôi rằng: - Khi gặp ông ấy, nhớ gọi là anh. Nếu gọi cách khác thì ông ấy sẽ buồn và sẽ không tiếp tục gặp gỡ nhau nữa. Nhớ đấy.
Tôi hỏi lại Sâm: - Nhưng mà ông ấy đã 68-69 tuổi mà tôi mới 32-33 tuổi thôi. Nếu gọi như vậy thì có quá đáng không?
Sâm trả lời: - Tại tính ông ấy thích như thế. Anh cứ nghe lời tôi đi.
Chúng tôi đến nhà “ông” ở Tempe. Nhà “ông” có một cái “view” nhìn xuống vòng đua lòng chảo xe mô-tô thuộc khu vực Tempe. Đón tiếp chúng tôi một cách niềm nở, thân thiện. “Ông” dọn ra đãi chúng tôi một đĩa khô mực giã sợi và một chai rượu chát đỏ. “Ông” bảo chúng tôi cứ tự nhiên, rượu còn cả hầm dưới nhà. Từ lúc đầu gặp mặt, tôi vì ngại ngùng nên chưa biết gọi “ông” như thế nào, nên chỉ nói chuyện một cách trống không.
Được vài tuần rượu, tôi vừa mới nói: - Thưa… chú…
“Ông” đã ngắt lời tôi: - Này cậu, mình hãy gọi nhau là anh em với nhau đi. Còn nếu cứ chú, bác… cháu thì… sẽ kém tự nhiên.
Tôi vội vả lã: - Nếu “anh” cho phép thì mới dám.
“Ông” chỉ cười nhẹ, nâng ly rượu lên uống cạn, khà một tiếng mạnh nói: - Vậy mới vui.
Thế là Phillippe và vợ chồng chúng tôi coi nhau là anh em. Lúc đầu cũng thấy gượng gạo trong cách xưng hô, nhưng dần dà rồi cũng quen. Gặp nhau, thường, Phillippe là người hỏi tôi trước: - Thế nào? Chú mày độ này ra sao?
Tôi chưa kịp trả lời thì anh đã quay qua vợ tôi hỏi: - Còn cô em dâu? Thế nào?
Qua buổi gặp gỡ này, lần đầu tiên vợ chồng chúng tôi được thưởng thức lại món khô mực và rượu chát kể từ sau ngày mất nước 30-04-1975 cho đến ngày được định cư tại Sydney. Đặc biệt, là chúng tôi có thêm một người anh, là một “lão ngoan đồng”, già mà vẫn trẻ tính. Từ đó, khi thì anh đến nhà tôi, lúc thì tôi đến nhà anh chỉ để trò chuyện, lan man đủ mọi vấn đề. Nếu không gặp nhau thì lâu lâu lại gọi điện thoại hỏi han nhau. Nhất là thời gian sau này, khi anh cho biết sức khỏe anh bị xuống khá nhiều, được năm nào hay năm ấy, cứ vài tuần không nghe anh gọi, thì vợ tôi lại thúc tôi gọi hỏi thăm anh, để xem anh thế nào. Nghe tiếng anh trả lời vững vàng thì chúng tôi an tâm, còn nếu tiếng anh nói khó nhọc, thì lại lo lắm. Thế nhưng, sức khỏe của anh thì cứ trồi sụt như vậy hết năm này qua năm khác, cho nên chúng tôi cứ nghĩ rằng… chắc anh còn dai lắm…!!!
Có một điều thích thú nữa là ngày tôi đến gia nhập Hội Ái Hữu Trường Bưởi-Chu Văn An / NSW (Hội CVA / NSW) trong ngày thành lập Hội, 22-04-2001, tôi mới biết anh cũng là một đồng môn với tôi khi anh cũng đến ghi danh gia nhập. Nhưng anh lại là một lão niên đồng môn vì anh đã xong Trường Bưởi, Hà Nội (tiền thân của Trường Chu Văn An) từ những năm đầu của thập niên 1930s. Thời gian đó thì tôi đang ở đâu? Không biết?! Nhưng chắc chắn là không có trên cõi trọc này.
Một tháng đầu năm 2002, sau một chuyến Holiday trở về, vợ chồng tôi được tin anh bị tai nạn xe hơi cùng với anh Học, Hội Trưởng CVA / NSW nhiệm kỳ 2001-2003, trên đường trở về nhà sau khi đi điếu tang đồng môn Đồng văn An. Tôi vội vã điện thoại hỏi thăm anh nhiều lần, nhưng rất tiếc không gặp được. Tôi gọi cho anh Học, thì được biết anh vẫn bình an và đã khỏe rồi, mặc dù tai nạn đụng xe thật là ghê rợn. Chiếc xe do anh Học lái bị đụng bẹp dúm ngay chỗ anh Phillippe ngồi, Ban cứu thương phải dùng máy cắt chiếc xe mới đem anh ra được. Thế mà anh chẳng bị gì trầm trọng, chỉ bị trầy sướt chút đỉnh. Thật là số anh cao quá. Sau này tôi còn nghe đã nhiều lần, tưởng anh đã đi, nhưng… anh vẫn trở về. Như hôm làm Thánh lễ An táng cho anh tại St Brendons’ Catholic Church, Bankstown, 09-02-2006, một vị linh mục đồng tế đã cho biết có lần linh mục đã làm lễ “xức dầu” cho anh, thế mà anh vẫn chẳng chịu đi, rồi anh khỏe trở lại để vẫn tiếp tục viết báo. Bởi thế, anh Túy gọi anh là người mải vui… quên chết, cũng phải.
Đối với Đại gia đình Bưởi-CVA, anh là một người huynh trưởng cao niên nhất, là một trong những huynh trưởng có lòng với Hội CVA / NSW. Như rất nhiều anh em khác, anh đã nồng nhiệt đóng góp công, của một cách thoải mái trong việc xây dựng và phát triển Hội từ những ngày sơ khai mới thành lập cho đến tận ngày anh như sực nhớ ra là… phải về trời. Trước ngày “bắt buộc” vĩnh viễn từ giã anh em, anh đã đến họp mặt chung vui với anh em CVA từ sáng đến chiều trong Ngày Họp Mặt Tất Niên Ất Dậu (2005), ngày 26-01-2006. Qua hôm sau, anh gọi điện thoại cho biết đại ý các bài tường thuật Ngày Họp Mặt Cuối Năm của CVA gởi Báo Nhân Quyền, Melbourne đăng trong số 1031 ngày 07-02-2006 và Báo Văn Nghệ, Sydney đăng trong số 145 ngày 09-02-2005.
Anh còn dặn thêm: - Này, cậu nhớ chuyển hình này (hình chụp trong Ngày Họp Mặt cuối năm) cho Báo Nhân Quyền, hình này này cho Báo Văn Nghệ giùm để họ cho vào các bài viết của anh.
Ngày, Thứ Hai 30-01-2006, ngày định mệnh…, ngày anh đích thân đem bài viết cho Báo Văn Nghệ, anh đã ngã quỵ, rồi ba ngày sau… anh vĩnh viễn ra đi.
Hai bài viết cuối cùng này của anh là hai món quà Tết đầu Xuân Bính Tuất (2006) anh tặng cho anh chị em Bưởi-Chu Văn An thuộc Hội CVA / NSW - Úc châu nói riêng và cho toàn thể anh chị em Bưởi-Chu Văn An toàn thế giới nói chung. Một Nhà văn / Nhà báo lão thành tận tụy với nghiệp dĩ, một lão huynh vui tính của Bưởi-Chu Văn An, Phillippe - Hoàng Hải Vân trước phút lâm chung vẫn nghĩ đến và cống hiến cho Đại gia đình Bưởi-Chu Văn An. Thật là quý lắm thay.
Nhớ lại, thời gian trước Ngày Đại hội Mừng Đệ Ngũ Chu Niên Ngày Thành Lập Hội CVA / NSW và phát hành Đặc san 3 CVA 2005, anh là một trong những người sát cánh với tôi nhiều nhất cho đại lễ này của Hội. Anh cũng đã góp ý và bàn thảo với tôi khá nhiều trong việc vận động thành lập Liên Hội Ái Hữu Trường Bưởi-Chu Văn An / Liên Bang Úc Châu. Anh rất nôn nóng nhìn thấy Liên Hội thành hình. Rất tiếc, Liên Hội còn đang trong vòng vận động thì anh đã… ra đi.
Thời gian này, cứ vài ngày anh lại ghé nhà tôi hoặc gọi điện thoại hỏi han về tiến trình của Đại hội, vé phân phối được bao nhiêu rồi, bài vỡ cho Đặc san thế nào, chi phí in ấn Đặc san được ủng hộ tới đâu v.v… Anh tha thiết, lo lắng cùng với anh chị em trong Ban Cố Vấn, Ban Chấp Hành và các Ban Chuyên Môn trong việc tổ chức Đại hội. Cứ sáng sáng vào khoảng 9 giờ 30, điện thoại cho tôi, câu đầu tiên anh nói là: - Này, “Chủ tịt” (tiếng anh gọi đùa với tôi) ơi, công việc tiến hành ra sao rồi? Anh lo cho cậu và anh em CVA quá. Ráng đừng để “èo uột” thì “bể” lắm đó. Cần giúp gì, cho anh biết.
Hoặc những khi nửa đêm về sáng, điện thoại vang dội, nhấc lên là tiếng anh “reo” trong máy: - “Chủ tịt” ơi, anh có ý này hay lắm, cậu xem được thì làm, còn không được thì bỏ qua nhá.
Rồi thì anh huyên thuyên có cả hàng giờ, còn tôi thì mắt nhắm, mắt mở ghi ghi, chép chép. Trước khi chấm dứt cuộc điện đàm, anh luôn luôn hỏi: - Này, mẹ bọn nhỏ có khỏe không? Rồi anh cười hỏi tiếp: - “Bà Chủ tịt” có cằn nhằn không? Tôi chưa kịp trả lời thì anh lại tiếp: - Ráng mà chịu đựng nha!
Xong, anh gác máy sau một tiếng cười thật to, chẳng thèm nghe tôi trả lời. Tính anh luôn luôn là thế, thật thoải mái, vui vẻ, trẻ trung. Chẳng hờn trách, chẳng buồn giận ai, chẳng tranh hơn thua với ai. Trong những cuộc chuyện trò, ai nói “hơn” anh chỉ làm thinh, ai nói “quá” anh cũng chỉ làm thinh, dễ dãi. Anh dễ dàng làm bạn với mọi người. Anh thường nói với tôi: - Hôm trước, mới ngồi uống cà-phê tán chuyện với người bạn trẻ. Con trai trưởng của cậu đấy.
Có những lúc, nghe tôi nói có anh này nói thế này, thế nọ… Anh cười và thản nhiên nói một câu chẳng một tí gì trách móc hay bực bội cả: - Mấy anh già đó, già chẳng hơn anh sao mà khó thế nhỉ?!
Khi nghe tôi nói, anh Ngọc, Trưởng Ban Thông tin – Báo chí, cho biết bài vỡ cho Đặc san còn “yếu” quá. Anh nói: - Được rồi, để anh giúp. Thế là anh đích thân vận động người này hoặc bảo tôi gọi người nọ “thúc” viết bài. Sau đó, thì bài vỡ tràn về quá nhiều, anh em Ban Biên Tập (BBT) phải “lọc” ra bớt.
Lúc nghe tôi báo cho biết là mặc dù có nhiều Mạnh thường quân ủng hộ cho chi phí in ấn Đặc san, nhưng vẫn còn thiếu vài trăm bạc, anh bảo: - Được rồi, để đó cho anh.
Tối hôm đó, anh gọi bảo tôi đón anh về nhà có việc bàn. Tới nhà, anh lôi ra một mớ lỉ
nh kỉnh, nói: - Này, cậu sắp xếp một trang màu cho thương nghiệp của Trung Hoa Dược Hãng, ông chủ này ủng hộ 400 dollars cho chi phí in Đặc san.
Thế là anh cùng ngồi xuống với tôi trước cái computer để “design” và xếp đặt cho trang giới thiệu thương nghiệp ấy. Xong xuôi, anh dặn tôi in ra và gởi fax ngay cho ông chủ Trung Hoa Dược Hãng để ông ấy duyệt, rồi bảo tôi chở anh về. Nhưng nghĩ sao, anh lại với tay cầm theo cái bản in đó, nói: - Thôi, để mai anh gặp thẳng ông ấy, chắc ăn.
Trưa hôm sau, anh gọi tôi và cho biết: - Ông chủ hãng nói bản đen trắng nhìn không được rõ, gởi cho ông ấy một bản màu.
Anh còn dặn thêm: - Này, nhớ đó. Các trang giới thiệu thương nghiệp (nôm na là các trang quảng cáo trong Đặc san) quan trọng nhất là số điện thoại và địa chỉ của họ. Nếu sai là “công cốc”, là “đi đoong” tiền ủng hộ ngay. Cẩn thận đấy.
Tôi in ra một bản màu và gởi bằng bưu điện cho ông chủ hãng. Hôm sau anh điện thoại cho tôi biết là ông chủ ấy rất hài lòng.
Khi nghe tôi nói là ngày Thứ Năm anh em BBT họp lại lần chót để hoàn tất phần “layout” (trình bày) cuối cùng cho cuốn Đặc san để chậm lắm là Thứ Bảy phải đưa cho nhà in cho kịp ngày phát hành cũng là Ngày Đại Hội CVA / NSW, 26-08-2005, anh cho biết là sẽ đến để tiếp một tay với anh em BBT. Đúng ngày, mới 8 giờ sáng anh đã gọi tôi đón anh đến nhà trong khi anh em BBT hẹn nhau là 10 giờ. Đến 10 giờ tối hôm ấy, sau khi các anh Ngọc, Học và Quang (anh Quang chiều hôm đó đến trao tặng phẩm cho Hội để mở xổ số trúng thưởng trong Ngày Đại hội và thăm viếng anh em BBT làm việc) ra về vì phần bài vỡ nhờ có sự làm việc cật lực của hai anh Ngọc và Học coi như xong, riêng hơn hai mươi trang quảng cáo chưa sắp xếp xong nên anh vẫn ở lại tiếp tục làm việc với tôi. Làm “layout” cho Đặc san, tôi đặt trọng tâm vào bài vỡ và nghĩ rằng phần quảng cáo chắc dễ ăn hơn. Thế nhưng, khi làm thì phần bài vỡ lại kết thúc nhanh; trái lại, phần quảng cáo lại khá nhiêu khê và mất khá nhiều thời giờ. Nếu không có anh giúp đỡ phần “layout” cho quảng cáo thì tôi sẽ lúng túng và mất nhiều thời gian hơn nữa.
Gần 5 giờ sáng hôm sau, mỏi mệt quá tôi nói với anh: - Thôi, em đi nằm một tí đây. Em chịu hết nổi rồi. Kéo nữa là em “gục” đấy.
Quay lại thấy anh vẫn ngồi điềm nhiên đọc lại bài viết của anh. Nghe tôi nói vậy, anh đáp lại: - Ừ, thì anh em mình đi nghỉ.
Thế là tôi nhanh chân phóng về phòng mình, còn anh thì ra nằm nghỉ ở sa-lông như thường lệ. Đến 8 giờ sáng, anh lại gọi: - Này, cậu ơi, dậy làm tiếp cho xong để anh còn đi làm việc khác.
Anh và tôi lại bắt tay vào làm việc tiếp. Đến 1 giờ trưa, thì mọi việc coi như tạm ổn. Anh lại cho biết vẫn chưa hài lòng cho bài viết của anh Lưu tường Quang vì còn thiếu một tấm hình của TT Thiệu chụp với TT Nixon của Hoa Kỳ trong Hội nghị Thượng đỉnh Việt – Mỹ Midway, Hawaii. Thế là anh và tôi lục tìm. Tìm mãi, không có, anh nói với tôi: - Thôi, khỏi tìm nữa. Để anh đi tìm ở nơi khác. Khi có hình thì cậu nhớ cho vào chỗ này trong bài nha.
Sau khi anh đã chỉ cho biết chỗ cho hình vào trong bài viết, tôi lấy xe đưa anh ra ga xe lửa. Khoảng hơn 5 giờ chiều thì anh gọi và cho tôi biết tấm hình cần đã được anh Thủy ở Báo Dân Việt gởi đến Email của tôi rồi. Tôi trích ra và cho hình vào bài viết như anh đã dặn.
Sáng hôm sau, anh lại gọi điện thoại cho tôi, hỏi: - Thế nào, xong cả chứ?
Tôi đáp: - Rồi, em đang chuẩn bị cho qua đĩa đây.
Anh bảo: - Cậu nên duyệt lại cẩn thận rồi hãy cho qua đĩa.
Tôi đáp: - Vâng, đúng vậy, em và bà xã đang đọc lại các số điện thoại và địa chỉ cho đúng kẻo lại “xôi hỏng bỏng không”.
Sau cùng, tôi chuyển qua đĩa rồi vợ chồng tôi trực chỉ xuống Cabramatta giao cái đĩa cho nhà in đúng hẹn.
Có những lúc ngồi bàn chuyện văn chương với anh, khi vui miệng, tôi hỏi: - Tại sao anh lấy bút hiệu là Hoàng Hải Vân vậy?
Anh cho biết: - Vì thích Nhà văn Hoàng Hải Thủy nên anh lấy tên như thế.
Tôi đùa: - Nếu vậy, thì em sẽ tập viết và lấy tên là Hoàng Hải Phong cho đủ “bộ tam” được không?
Anh cười: - Chú mày “láo”, định làm “loạn” mây, nước lên sao?
Tôi cũng cười, đáp: - Em đâu dám thế! Em chỉ mong được “vân du” cùng với các anh thôi.
Anh vỗ vai tôi: - Thế thì ráng lên. Cố gắng đi. Nếu có “duyên” thì được thôi.
Nói đùa với anh cho vui vậy thôi, chứ tôi biết rằng chẳng bao giờ tôi hân hạnh có được cái “duyên” như anh nói vậy!!!
Khoảng giữa năm 2005, trong một buổi hai anh em ngồi uống trà tán gẫu, tôi nói với anh: - Anh Phillippe ơi, sao anh không viết lại hồi ký đi?
Anh đáp: - Viết làm chi để mấy anh vớ vẩn “xăm xoi” mình, có ích gì!
Tôi cãi lại: - Không hẵn vậy. Anh là người đã “sống thực” xuyên suốt cả thế kỷ, anh viết lại những gì “mắt thấy, tai nghe” về lịch sử thăng trầm của đất nước từ báo chí, văn nghệ, đến cả những cuộc cách mạng “xanh, đỏ, vàng…” để cho người đời sau tham khảo, thì cũng nên lắm chứ.
Sau vài phút trầm ngâm, anh nhỏ nhẹ: - Không biết thời gian có cho phép anh không?!
Lúc khác, vui miệng, anh nói với vợ tôi: - Anh đang chuẩn bị viết một bài phóng sự về những khó chịu, khổ sở, chịu đựng, bất đắc dĩ… phải giúp chồng cho những bà “may mắn” có chồng “được” làm “chủ tịt” của các Hội đoàn, Đoàn thể, Cộng đồng người Việt Tự do tại Úc, để tặng riêng cho cô.

*
* *

Khoảng 9 giờ sáng Thứ Ba 31-01-2006, anh Lãng, Thủ Quỹ Hội, gọi điện thoại cho tôi, giọng lo lắng: - Mạnh ơi, có biết tin anh Phillippe chưa?
- Chưa. Tin gì vậy?
- Anh Phillippe bị ói mửa ở ga xe lửa Cabramatta, được anh Hoàng X-ray đưa đến phòng mạch BS. Tiến khám, rồi được anh Túy đón đi. Không biết đi bệnh viện nào. Đang cố liên lạc với anh Túy mà không được. Số điện thoại anh Túy đây, Mạnh và tôi cứ liên tục gọi để biết thêm tin tức nha.
Tôi lo lắng: - Anh ấy có nặng lắm không?
- Nghe anh Tiến nói chắc là nặng đấy!
Sau khi gác máy, tôi nói sơ qua cho vợ tôi biết rồi gọi anh Túy. Nhưng điện thoại không thông. Khoảng nửa tiếng sau, anh Lãng gọi lại cho biết đã liên lạc được với anh Túy và cho biết thêm anh Phillippe hiện đang ở tòa soạn Báo Văn Nghệ. Thế là tôi vội thu xếp cho xong công việc rồi cùng với vợ tôi chạy xe xuống Tòa soạn Báo Văn Nghệ ở Cabramatta.
Đón chúng tôi ở cửa, anh Túy cho biết anh có vẻ yếu lắm, nhưng cứ nhất quyết không chịu đi bệnh viện. Không biết tại sao?! Vào trong, thấy anh nằm khô hóc, nhỏ thó trong lòng chiếc ghế sa-lông, hai mắt nhắm nghiền sâu thẳm với hai quầng thâm lớn, đậm rõ nét. Lòng chúng tôi se lại. Anh Túy cho biết anh mới vừa ngủ đấy.
Tôi khẽ ra hiệu cho vợ tôi rồi cùng anh Túy qua phòng làm việc của anh Túy ngồi nói chuyện để yên anh nằm nghỉ. Thời gian trôi qua khá lâu. Thỉnh thoảng chúng tôi lại qua phòng anh nằm để xem động tĩnh. Thấy anh nằm yên nên chúng tôi cứ để yên anh nằm nghỉ như vậy.
Tôi kể cho anh Túy nghe là sáng Chủ Nhật 29-01-2006, mồng một Tết, anh gọi cho tôi: - Này, cậu này, tối nay có trận chung kết quần vợt Giải Úc Mở Rộng anh muốn được xem với màn ảnh lớn. Anh chọn một trong ba chỗ. Trước nhất là nhà cậu. Nếu không được thì nhà Túy. Nhà Túy không được thì Casino. Ý cậu thế nào?
Tôi nói với anh: - Theo thông lệ, chúng em có một ngày xum họp của tất cả anh chị em, con cháu trong gia tộc vui chơi trong ngày mồng Một Tết, tụi em sẽ không có ở nhà. Anh đến em thì không sao cả, anh cứ ở nhà một mình xem T.V., khuya lắm tụi em mới về. Như thế được không?
Anh nói: - Thôi! Thế thì để anh đến Túy vậy.
Tôi nói: - Vâng, em nghĩ anh đến nhà anh Túy thì tốt hơn. Có gì thay đổi thì cho em biết.
Tôi nói vậy vì nghĩ rằng anh đến nhà anh Túy để có người “trò chuyện” tốt hơn là đến nhà tôi, rồi lại ở nhà một mình.
Vợ tôi bỗng hỏi anh Túy: - Thế hôm mồng Một anh ấy có đến nhà anh không?
Anh Túy lắc đầu, trả lời: - Không. Tôi bận việc.
Sau đó, khi nói chuyện với anh, chúng tôi mới biết anh ở tại nhà hôm mồng một Tết. Đến sáng Thứ Hai, mồng Hai Tết, anh đi xe lửa xuống Tòa soạn Báo Văn Nghệ thì “ngộ” bệnh.
Đến một lúc, thấy anh cứ nằm im lìm, không động đậy gì cả. Vợ tôi lo quá, hỏi anh Túy: - Sao anh ấy nằm im quá vậy?
Tôi ra hiệu cho vợ tôi ngưng nói. Như thông cảm, anh Túy bảo chúng tôi: - Chúng ta qua đánh thức anh dậy, xem sao?
Chúng tôi qua phòng anh nằm và anh Túy khẽ lay anh, nói: - Anh Phillippe ơi, có khách đến thăm anh kìa.
Anh nhẹ mở mắt. Khi nhìn thấy chúng tôi, anh nhỏ nhẹ: - Cô cậu đến đấy à.
Anh tỏ ra rất tỉnh táo khi trò chuyện với chúng tôi. Tôi hỏi: - Anh thấy thế nào? Tụi em đưa anh đi bệnh viện nha?
Anh lắc đầu: - Không cần nữa. Có lẽ anh ăn sai đường. Tối hôm qua đau bụng quá và đi cầu nhiều, nhưng anh đã vận nội công chữa lành rồi.
Tôi nhìn anh nghi ngại. Như hiểu ý, anh thêm: - Cậu biết rồi, lúc ở bên Tàu anh được một ông thày Tàu truyền cho phương cách vận dụng nội công giữ gìn sức khỏe. Tối qua anh đã ra sân sau, vận nội công để tự chữa bệnh. Bây giờ thì hết đau rồi.
Tôi hỏi anh:- Để em thông báo cho anh em CVA biết đến thăm anh?
Anh trả lời: - Thôi, đừng làm phiền anh em trong ngày Tết nhất.
Trong thời gian đó có nhiều cú điện thoại gọi đến hỏi thăm anh qua điện thoại cầm tay của anh Túy. Anh đã tiếp chuyện với họ một cách tỉnh táo, giọng nói rõ và khỏe. Trong đó có điện thoại của một ông thày thuốc Bắc, anh đã nhờ ông ấy bổ cho anh ba thang thuốc khỏe thật nhanh. Vừa lúc đó, điện thoại bàn làm việc của anh Túy lại reo hỏi thăm anh. Anh nhờ tôi đỡ dậy để qua nói chuyện. Tôi định dìu anh đi sau khi đã đứng dậy, nhưng anh nói để anh tự đi mình ên. Trả lời điện thoại xong, anh rất vui vẻ, còn làm những điệu bộ nhúng nhảy theo điệu nhạc vui phát ra từ máy hát đặt ở góc phòng. Có lẽ để chúng tôi yên tâm.
Thấy anh vui, tôi đùa: - Ngọc hoàng đã xóa tên anh trong xổ tử rồi, anh cứ việc điềm nhiên vui sống đi. Với lại anh còn nợ anh em CVA một bài thuyết trình về “nghệ thuật sống lâu” như anh đã hứa trong Ngày Họp Mặt cuối năm đó. Không dễ bỏ qua được đâu.
Anh cười, trở lại nằm trên ghế sa-lông. Một lúc sau, tôi nói với anh: - Để tụi em đưa anh về nhà?
Anh đáp: - Con bé (con gái anh) nó gọi bảo chút nữa nó ghé tiệm thuốc Bắc lấy thuốc rồi đến đón anh về. Anh chờ nó vậy.
Chúng tôi lại ngồi lại trò chuyện tiếp với anh. Khoảng hơn 5 giờ chiều thì anh Phan, chồng chị Đăng Lan, đến đón anh về nhà anh Phan và cho biết đã liên lạc với con gái anh. Nó sẽ đến đón anh tại nhà anh Phan. Nghe thế, anh trỗi dậy, sửa soạn để về. Anh còn hỏi lại anh Phan cho chắc: - Có chắc là đã liên lạc với con bé? Kẻo nó đến đây lại không có.
Anh Phan phải nhắc lại một lần nữa là đã nói điện thoại với con bé rồi. Anh tỏ ra vui vẻ, nói, cười.
Lúc đi ra xe, anh Phan và tôi định “đỡ” anh đi, nhưng anh từ chối: - Để anh tự đi một mình ra xe.
Thấy anh đi đứng, chuyện trò “ổn định” như vậy. Chúng tôi thấy yên tâm và nghĩ chắc rồi anh sẽ được bình thường trở lại.

*
* *

Khoảng hơn 7 giờ tối Thứ Năm, 02-02-2006, anh Phan gọi điện thoại cho biết: - Không xong rồi anh Mạnh ơi! Anh Phillippe bết lắm! Anh ấy lại đi cầu nhiều lắm! Con gái anh nói bố nó vẫn không chịu đi nhà thương, nó khóc quá trời!!!
Tôi lo quá, định đến nhà anh ngay lúc đó để khuyên anh đi bệnh viện chữa chạy. Nhưng bận việc phải làm trong giờ đó nên nói với vợ tôi sáng hôm sau sẽ đến anh. Khoảng hơn 10 giờ khuya, vừa về tới nhà nhận được điện thoại, anh Hồ Lãng Bạc báo: - Anh Mạnh ơi! Bác Phillippe chết rồi!!!
Tôi sửng sờ!!! lạnh cả người!!! Không nói được gì cả. Hồ Lãng Bạc tiếp: - Tôi vừa nói chuyện với anh Phan xong. Đã gọi xuống Melbourne cho anh Long Quân; nhưng không gặp nên báo cho chị Long Quân biết tin rồi.
Tôi chỉ biết im lặng, rồi gác máy không nhớ cả cám ơn Hồ Lãng Bạc.
Tôi hối vợ ra xe và chạy ngay đến nhà anh ở Strathfield. Tới nơi, gặp Thắng (con trai anh) và Hòa Dung (con gái anh) cho biết cảnh sát vừa đến lập biên bản. Chúng tôi đành đứng ngoài trò chuyện với bà người Úc hàng xóm của anh để chờ. Độ nửa giờ anh chị Phan – Đăng Lan, mẹ và dượng hai cháu Thắng và Dung tới. Cảnh sát cũng vừa làm việc xong. Họ cho biết ra xe gọi nhân viên nhà xác đến để đưa thi hài anh đi giữ ở nhà xác. Tất cả chúng tôi cùng vào nơi anh đang nằm. Dáng điệu anh nằm như ngủ, thoải mái, không có vẻ gì đau đớn, hai mắt nhắm. Chỉ có con mắt trái hơi hé mở. Chúng tôi phải ra ngoài vì các nhân viên cảnh sát lại trở vào làm việc nữa.
Đến 12 giờ sáng, cảnh sát cho biết nhân viên nhà xác sắp tới. Chúng tôi vào thăm anh lần nữa trước khi thi hài anh được đem đi. Thật là lạ lùng! Hai mắt anh lúc này lại mở ra trừng trừng? Thân quyến của anh thay nhau vuốt nhưng hai mắt anh vẫn không chịu nhắm lại???!!!
Có người nói dùng rượu mạnh để vuốt. Chị Đăng Lan hỏi tôi: - Làm sao bây giờ anh Mạnh?
Tôi chưa biết trả lời sao thì nhân viên nhà xác đã tới nơi. Chúng tôi phải rời khỏi để họ làm việc. Thi hài anh được đưa đi vào khoảng 12 giờ 15 sáng.

*
* *

Sáng Thứ Ba 07-02-2006, chị Đăng Lan gọi báo cho biết: - Vì anh chết tại nhà lại không có giấy chứng nhận của bác sĩ nên phải chịu giảo nghiệm. Chiều nay có lẽ xong và thi hài anh sẽ được đưa về Nhà quàn Vạn Thọ, Fairfield. Khoảng 6 giờ chiều, tôi đến Nhà quàn Vạn Thọ thì thi hài của anh cũng vừa được đưa đến, còn bao trong túi nylon đặt trên băng ca đẩy stainless steel. Có mặt trước tôi đã có ông Nguyễn duy Cần, anh Vi Túy, anh Thành Quang và hai anh nữa mà tôi không biết tên.
Kế đó một nam và một nữ người Úc tắm rửa và mặc quần áo cho anh. Tôi hơi ngạc nhiên là sao thân thể anh lại mềm dịu một cách kỳ lạ. Cứ giống như là làm bằng plastic vậy. Hai mắt anh vẫn mở lớn như trông chờ một chuyện gì…???
Sau này anh Túy cho biết là họ dùng thuốc nên thân thể anh mới mềm dịu như vậy. Anh Túy còn cho biết thêm: - Theo Ban Giám đốc Nhà quàn cho biết nhờ anh chết lúc tuổi quá cao nên không bị giảo nghiệm.
Đó là điều may mắn cho anh và thân quyến. Kế đó anh em chúng tôi đứng quanh thi hài anh, ông Cần làm dấu thánh giá rồi khấn: - Anh Phillippe, trước khi anh ra đi mấy ngày, gặp nhau ở Cabramatta, anh có nói với tôi rằng: “Khi nghe tin tôi mất thì anh nhớ đến vuốt mắt cho tôi, tôi mới nhắm được”. Tôi xem đó là di ngôn nên hôm nay tôi đến đây làm theo lời anh. Kính xin anh hãy bằng an nhắm mắt đi về nước Chúa. Cầu xin Chúa đón rước linh hồn anh.
Khấn xong, ông Cần vuốt hai mắt cho anh. Hai mắt anh từ từ nhắm lại theo cái vuốt. Anh đã bằng an ra đi với nguyện ước cuối cùng đã được thỏa mãn.
Tôi còn đang bồi hồi, xúc động, bỗng anh Túy lắc vai tôi nói: - Anh Mạnh này, xem anh Phillippe cười kìa.
Tôi nhìn lên thì quả gương mặt anh có vẻ vui tươi, hai khóe mép trễ xuống tạo nên một cái cười nhẹ nhàng như thỏa nguyện. Gương mặt này hoàn toàn khác hẳn với gương mặt lúc tối anh vừa từ trần.
Sau đó, hai nhân viên nam nữ đặt anh vào áo quan. Anh được đội lại cái mũ da đen, đeo mắt kính râm và tay cầm cái ống tẩu. Những vật quen thuộc gắn liền với anh lúc còn sinh thời tạo cho anh một hình dáng đặc biệt của riêng anh và chỉ có nơi anh.

*
* *

Dự tang lễ và tiễn đưa anh lần cuối đi về miền miên viễn, có hầu như đầy đủ những thân nhân, những anh em, những bằng hữu trong và ngoài báo giới Úc châu. Có những người đến từ Melbourne, Queensland, Wollongong… Riêng anh chị em Chu Văn An đã có khoảng 30 người đến chào vĩnh biệt anh. Có những anh em không đến được vì bận công vụ, công việc nhưng tấm lòng vẫn đặc biệt dành cho anh trong ngày tiễn biệt. Mọi người đã không kềm được cảm xúc, lòng thương tiếc anh. Những điều đó đã biểu lộ ra từ những lời tiễn biệt, những ánh mắt, những cành hoa đặt trên áo quan bao bọc hình hài của anh v.v… Càng rõ nét hơn khi tấm màn nơi đặt quan tài từ từ khép lại để đưa thân xác anh đến chỗ cuối cùng: hỏa táng.
Anh là người sống đã đặc biệt, khi chết cũng đặc biệt: được làm lễ an táng với cả hai nghi thức Phật giáo và Thiên Chúa giáo. Dẫu cho linh hồn anh có về Đất Phật hay Nước Chúa thì cũng là siêu sinh tịnh độ hay được an nhiên cõi vĩnh hằng.
Thôi thì “nghĩa tử là nghĩa tận”. Những gì anh còn nợ với đời, với thân nhân, với huynh đệ bằng hữu, với những đồng môn CVA… cũng xin được cho theo bầu bạn cùng anh, để anh được an vui như anh đã cười khi nhắm mắt.
Có còn chăng là những gì anh đã cống hiến cho đời và nỗi thương tiếc của những người còn ở lại từ nay sẽ không còn thấy một lão huynh 92 tuổi tàng tàng nhưng luôn luôn minh mẫn, dáng dấp phong trần, miệng ngậm ống tẩu đi lại trên phố thị.
Vĩnh biệt Phillippe!!! Vĩnh biệt Hoàng Hải Vân!!! Vĩnh biệt Tống Ngọc - Lương ngọc Hải!!!

Sydney, Đầu năm Bính Tuất (2006)
NGUYỄN ĐÌNH MẠNH

Chu Van An/Aust. © 2005 -

 All rights reserved
website maintained by clickondot
Hosted by www.Geocities.ws

1