HOA
XUÂN
THANH
VĂN
Mùa
Xuân đến vạn vật đều tưng bừng vui sống. Chim hót
ca vang lừng, thú chạy nhẩy tung tăng. Người người
vui vẻ, nhà nhà hân hoan. Tại sao vậy ? Bởi mùa Xuân
là mùa khởi đầu của một năm, mùa bắt đầu sự hồi sinh
của muôn loài sau mấy tháng chịu lạnh lẽo của mùa
Đông. Mùa Đông lạnh lẽo khiến người cũng như thú vật
cây cỏ để chống lại cái lạnh có khi đông cứng chết
chóc, muôn loài phải tự co rút lại để tự bảo vệ, phải
tìm chỗ trốn tránh cái lạnh của khí trời, phải tìm
các phương tiện giúp sưởi ấm mà sống còn trong suốt
mùa Đông tháng gía. Khi mùa lạnh qua đi, mùa Xuân
đến khí trời trở nên ấm áp trở lại, cây cối đâm chồi
nẩy lộc, chim chót thú hoang rời nơi trốn tránh, người
ta ra khỏi những nơi trốn lạnh, trước là để thở hít
không khí trong lành của mùa Xuân, sau là vui ca hưởng
thụ sau nhiều ngày bị giam hãm vì thời tiết. Chính
lúc này vì cây cỏ đâm chồi nẩy lộc rồi hoa lá theo
với sự ấm áp dần dần của trời đất cũng đua nhau nở
rộ, trước là khoe sắc khoe hương sau là tô điểm cho
không gian thêm xinh đẹp.
Không biết từ bao giờ loài người bắt đầu biết thưởng
thức cái đẹp của hoa và dùng hoa để tô điểm cho cuộc
sống nhất là cuộc sống vào mỗi dịp Xuân về thêm phần
tươi đẹp. Người ta thường nói nếu cuộc đời không có
hoa có lẽ sẽ giảm đi rất nhiều thú vị và sẽ trở thành
nhạt nhẽo. Hoa trang điểm cho cuộc sống, hoa đem lại
nguồn vui cho con người. Hoa cũng làm cho lộng lẫy
những nơi u tối rồi hoa xen vào cuộc đời của con người
trong mọi sinh hoạt của đời sống con người.
Ngày nay dù ở đâu trên địa cầu này dù là nơi thâm
sơn cùng cốc, xứ chậm tiến nghèo hèn, văn minh tiến
bộ, đâu đâu ta cũng thấy có sự hiện diện của hoa.
Hoa xuất hiện dưới nhiều hình thức: Ở các thành phố
người ta trồng hoa trước cửa nhà, trước bệ cửa sổ,
trong vườn sau nhà, dọc các con đường xe chạy, trong
các công viên, trước các công thự v..v.. Ở thôn quê
người ta trồng hoa trong vườn trong trong những khu
trồng hoa để cung cấp cho các người thích chơi hoa
v..v..Trong nhà người ta còn chưng hoa trong các bình
cắm hoa đủ lọai, đủ kiểu. Hoa không những chỉ dành
riêng cho người đang sống mà còn cho cả người đã chết,
hoa hiện diện ở các nghĩa trang nơi chôn cất người
chết, trong các nghi lễ cúng tế người qúa cố, trong
mọi lễ lạc tôn giáo. Tóm lại là hoa hiện diện ở mọi
nơi, mọi chốn, trong mọi sinh họat của loài người.
Riêng về mùa Xuân thì việc chơi hoa đã từ rất lâu
trở thành một thú chơi tao nhã của con người. Nhiều
người đã mất rất nhiều công phu và thời giờ để chăm
chút cho vườn hoa. Nhiều bà, nhiều cô đã không tiếc
thời giờ và công sức học hỏi để có thể cắm một bình
hoa sao cho vừa đẹp, vừa có nghệ thuật dùng trang
trí nơi phòng khách, nhất là phòng khách lúc Xuân
về.
Nói đến hoa ta phải phân biệt hai loại hoa: Một lọai
có mùi thơm và một lọai chỉ có mầu sắc nhưng không
có mùi thơm. Do đó chơi hoa cũng vì thế mà có nhiều
nhóm: Nhóm chỉ chơi hoa thơm và nhóm chỉ chơi hoa
theo mầu sắc, cũng có nhóm chơi cả hoa thơm lẫn hoa
chỉ có mầu sắc.
Riêng vào mùa Xuân và đặc biệt với người Việt Nam
ta thì Mùa Xuân khởi đầu từ tháng Giêng mà tháng Giêng
là tháng ăn chơi ! Đã không chơi thì thôi, chơi thì:
“Chơi cho lịch mới là chơi,
Chơi cho đài các cho người biết tay!”
Người xưa chơi hoa chuộng hương hơn chuộng sắc, bởi
thế các lọai hoa dù có mầu sắc lộng lẫy nhưng nếu
không có mùi thơm thì các cụ đều chê là “hữu sắc vô
hương”.
Với các hoa có hương thì hoa thường có vẻ đẹp kín
đáo, không lộng lẫy. Bông hoa càng có vẻ kín đáo bao
nhiêu, hương thơm càng ngào ngạt chừng nấy. Tỷ như
bông dạ lý hương, mùi thơm thường tỏa ngào ngạt vào
ban đêm, bông ngâu vàng thường ẩn trong đám lá xanh
rậm rạp. Bông sói trắng nhỏ như những hạt tấm, e lệ
thẹn thùng trên đầu mỗi nhánh lá. Những bông hoa Thủy
Tiên cánh trắng nhụy vàng, lả lướt trên những cánh
lá dài xanh mướt làm sao có thể sánh với những bông
thược dược về vẻ hào nhoáng quyến rũ, cũng chẳng thể
sánh kịp với vẻ sáng lạn của các bông Glaieul hay
mầu sắc rực rỡ như vạn thọ hoặc mào gà. Những bông
mai chiếu thủy mầu trắng nhỏ thoang thoảng mùi hương
vào lúc sáng sớm hay lúc chiều tà làm sao sánh kịp
vẻ đẹp của một cành mai rừng mầu vàng rực rỡ nhưng
không hương. Tuy nhiên cũng có nhiều lọai hoa vừa
có hương lại có cả sắc như hoa hồng, hoa sen, hoa
huệ, hoa lan. Chơi hoa vì hương nhưng nếu có cả hương
lẫn sắc thì càng được ưa chuộng hơn và càng thích
thú hơn.
Nói đến hoa thì thật ra mùa nào cũng có hoa không
chỉ có vào mùa Xuân. Trong một bài cổ thi người viết
còn nhớ được như sau :
Xuân du phương thảo địa,
Hạ thưởng ngọc hà trì,
Thu ẩm hoàng hoa tửu,
Đông ngâm bạch tuyết thi.
Người xưa đã dựa vào bốn câu thơ trên mà vẽ ra những
bức tứ bình : Bức “Xuân du phương thảo địa” vẽ một
cây hoa đào với đôi chim hoàng oanh. Bức “Hạ thưởng
ngọc hà trì” vẽ cây hoa sen với đôi vịt. Bức “Thu
ẩm hoàng hoa tửu” vẽ bụi trúc với đôi bướm và bức
“Đông ngâm bạch tuyết thi” vẽ một cây mai với con
gà trống. Đây là một trong những bộ tứ bình khá phổ
biến của người xưa cũng như bộ tứ bình “Mai, Lan,
Cúc, Trúc” vẽ 4 lọai hoa tượng trưng cho 4 mùa trong
năm.
Hoa nở quanh năm, cây cảnh nhiều nơi cũng xanh tốt
quanh năm. Người chơi hoa chơi cảnh lúc nào cũng mến
hoa mến cảnh, nhưng mỗi năm Xuân sang và Tết đến muôn
hoa như tưng bừng khởi sắc, muôn cây cảnh như thắm
đượm màu tươi. Tết với hoa dường như có duyên tao
ngộ. Mùa Xuân là mùa của trăm hoa đua nở. Thử tưởng
tượng mùa Xuân mà không có hoa thì cảnh Xuân sẽ ra
sao? Tiêu điều u ám buồn nản biết bao và nhất la Tết
sẽ chẳng còn là Tết nữa sẽ lạt lẽo vô duyên biết bao.
Các thi nhân gặp lúc Xuân về thường làm thơ ngâm vịnh
:
Xuân tàn, Hạ cỗi, cảnh Thu sầu,
Mờ mịt hơi Đông ám ngọn lau,
Xuân tới cành hoa đào lại nở,
Mong chàng mỏi mắt chẳng thấy đâu ?
J.Leiba
Cụ Nguyễn Công Trứ một nhà nho sống vào triều nhà
Nguyễn, một vị quan rất nổi danh về nhiều họat động
ở nhiếu lãnh vực khác nhau mà bất cứ người Việt nào
từng cắp sách đến trường đếu không ít thì nhiều cũng
biết đến danh ông, cũng từng làm thơ về hoa và mùa
Xuân :
Ngồi thử ngắm trăng hoa ai nhuốm,
Một hoa là riêng một sắc hương,
Khi chúa Xuân khép nép bên tường,
Còn phong nhụy đợi Đông hoàng về cáng đáng.
Nguyễn Công Trứ
Vào mấy ngày Tết dù giầu nghèo gì, quê hay tỉnh, sang
hay hèn người ta cũng kiếm mấy bó hoa về cắm vào bình
trên bàn thờ và trang hoàng trong nhà.
Trước năm 1954 vào mỗi dịp Tết đến thì tại Hà nội
một chợ hoa được thành hình ở trước khu chợ Đồng Xuân,
Quán Thánh, Phùng Hưng cả chung quang bờ hồ Hoàn Kiếm.
Khu Ngọc Hà, khu đê Yên Phụ cũng là những nơi tràn
ngập hoa đào, hoa cúc, hoa vạn thọ, quất tứ đại và
cả hoa mai, hoa thược dược v..v... Sau này ở Saigon
trước năm 1975 khu chợ hoa ở đường Nguyễn Huệ hàng
năm vào dịp Tết đến hàng trăm lọai hoa được bầy bán
ở khu chợ hoa này. Vào những ngày cuối năm, người
ta đi chợ hoa không những chỉ để ngắm hoa tươi đủ
lọai, đủ mầu mà còn để ngắm “hoa biết nói”, đó là
nhửng nàng kiều nữ áo dài đủ mầu đủ kiểu lượn qua
lượn lại trong các hàng hoa vừa đi ngắm hoa vừa đi
phô vẻ đẹp của chính các nàng và tô điểm thêm vẻ lộng
lẫy của chợ hoa ngày sắp Tết.
Gần đây nghe nói ở khu Little Saigon bên Cali xứ Hoa
Kỳ hàng năm cũng có chợ hoa vào dịp cuối năm và nghe
nói chợ hoa này còn lớn và nhiều hoa hơn chợ hoa ở
đường Nguyễn Huệ SaiGon ngày xưa nhiều nhưng người
viết bài này chưa có dịp được thăm lần nào nên thật
sự không biết nó đẹp cỡ nào mà mô tả.
Với đà tiến bộ của khoa học kỹ thuật người ta không
chỉ chơi hoa thật vì hoa thật đòi hỏi công phu săn
sóc và thường chỉ tồn tại một thời gian nào đó. Hơn
nữa vì còn muốn tiết kiệm, người ta chơi cả hoa giả,
hoa giả có khi làm bằng giấy, có khi làm bằng vật
liệu từ phó sản của dầu hỏa được chế tạo giống như
hoa thật nhìn gần có khi vẫn tưởng là hoa thật chỉ
đến khi sờ tay vào mới biết chắc là hoa giả.
Bây giờ xin viết về một số loại hoa người Việt Nam
thích chơi vào mùa Xuân:
HOA THỦY TIÊN
 
Đây là loại hoa rất quý, chỉ xuất hiện vào dịp Tết.
Hoa này trước kia không trồng được ở Việt Nam vì thiếu
khí lạnh, giống hoa này là giống của xứ lạnh. Vào
dịp Tết đến người ta mua hoa Thủy Tiên từ Trung Hoa
mang sang. Hoa Thủy Tiên được người Trung Hoa mệnh
danh là “kim trản ngân đài” bông hoa trông như chiếc
chén vàng đặt trên chiếc đài bạc. Hoa Thủy tiên thơm
một cách đài các, dịu dàng, hoa Thủy Tiên có lọai
đơn, có lọai kép, nhưng thứ đơn trông thanh nhã hơn
thứ kép. Nhụy hoa mầu vàng tua tủa thành hàng đều
đặn như hợp thành một chiếc chén nhỏ, bao quanh là
những cánh hoa mầu trắng muốt. Lá cây hoa khi sờ vào
có cảm giác hơi cứng nhưng nhìn thì thấy rất lả lướt
chẳng khác chi những giải áo lụa xanh của các nàng
tiên nữ. Hoa Thủy Tiên tên tiếng Anh là Daffodil,
ở xứ Úc hàng năm có một ngày vào dịp Xuân về được
gọi là ngày Daffodil người dân Úc tôn vinh lọai hoa
này và dùng làm biểu tượng cho một họat động từ thiện.
Hương Thuỷ Tiên thơm dìu dịu, nhẹ nhàng quện với mùi
hương trầm trên bàn thờ gia tiên vào ngày Tết tạo
nên một không khí ấm cúng đặc thù của ngày Tết Việt
Nam. Ngày xưa các cụ ta chỉ chơi có lọai Thủy Tiên
cánh trắng nhụy vàng, thật ra hoa Thủy Tiên có nhiều
mầu khác nhau, có thứ mầu phấn hồng, có thứ mầu nâu
nhụy vàng nhưng chỉ những ai sống ở các nước Tây phương
ngày nay mới có cơ hội thấy các lọai Thủy Tiên này
mà thôi.
Hoa Thủy Tiên là lọai hoa đẹp và đài các trong ngày
Tết thường chỉ thấy xuất hiện ở các gia đình phong
lưu khá giả, vẻ đẹp và hương thơm của hoa thật thanh
qúy, nhiều thi nhân đã làm thơ vịnh loại hoa này :
Hoa Thủy Tiên
Bồn đảo thiên hương khách đấy à ?
Giao trì hoàng phủ đến đây mà,
Nhị nàng bông trắng hương thơm phức,
Lá biếc thân trong vẻ nõn nà.
Đài các phong lưu ưa chuộng lạ,
Phàm phu tục tử hãy trông xa,
Có duyên có phúc thường hay gặp,
Báo tín Đông quân sẽ lại ra.
Tam Nguyên Yên Đổ
Nhà thơ Chiêu Dương trong tác phẩm Bút Linh Động cũng
có làm bài thơ vịnh hoa Thủy Tiên như sau:
Từ nơi nhược thủy chốn bồng lai,
Những khách tầm phương đón Xuân chơi,
Đống trải sương pha thân ngọc chuốt,
Xuân sang nắng dịu mặt hoa tươi,
Chén vàng đĩa ngọc bao tiên kính,
Sắc nước hương trời cửa động khai.
Tục tử miên man hồn thưởng thức,
Tưởng chừng lạc bước cõi thiên thai.
Chiêu Dương
Cụ Chu Mạnh Trinh (1862-1905) một nhà nho nổi tiếng
cũng có mấy câu thơ tập Kiều tả hoa Thủy Tiên như
sau :
Thương ơi sắc nước hương trời,
Chơi hoa đã dễ mấy người biết hoa,
Rõ ràng trong ngọc trắng ngà,
Đào nguyên lạc lối đâu mà đến đây !
Chu Mạnh Trinh
Nghề chơi cũng lắm công phu, hoa Thủy tiên không phải
cứ để tự nhiên là đủ, người chơi hoa phải biết gọt
tỉa củ sao cho hoa nở vào đúng lúc giao thừa mới gọi
là “đạt”. Nghệ thuật gọt củ Thủy tiên để cho cây nở
hoa vào đúng lúc giao thừa là một kỹ năng rất phổ
biến trong các gia đình có nền nếp nho phong thủa
trước. Thường thì kỹ năng này được truyền cho các
cô con gái trong gia đình và vào dịp Tết đến các cô
sẽ trổ tài gọt tỉa củ Thủy Tiên (trông giống như củ
hành) sao cho khi cây nở hoa vào đúng giờ giao thừa.
Người Việt xưa tin rằng những bông Thủy Tiên nở đúng
lúc giao thừa và tiếp theo trong những ngày đầu năm
sẽ đem đến cho gia chủ và gia đình sự vui vẻ thịnh
vượng suốt năm. Người viết còn nhớ thủa nhỏ được biết
trong gia đình có bà cô (nay đã mất khỏang giữa thập
niên 1980) rất giỏi tỉa Thủy tiên. Đáng tiếc là các
con cháu không ai học được kỹ năng này của bà trước
khi bà quy tiên.
Thường thì củ Thủy Tiên được giữ trong bồn Thủy tinh
hay trong bồn xứ, nước phải là loại tinh khiết, được
thay luôn và tùy theo thời tiết nước đó có khi phải
làm cho lạnh đi hay châm thêm nước nóng làm cho ấm
lên để giữ cho hoa không nở sớm hay giục cho hoa nở
đúng hạn đã định.
Ngày xưa tại trấn Ba Đình Hà nội, hàng năm có cuộc
thi hoa Thủy Tiên. Các giò hoa đem đến dự thi không
những phải đẹp mà còn phải nở hoa đúng vào lúc giao
thừa mới là khéo. Mỗi giò hoa đem đi dự thi là cả
một công trình của người thiếu nữ đã tỉa và trưng
bầy. Ngày xưa chưa có tủ lạnh người ta khi muốn giữ
cho hoa nở muộn, người ta phải cho hoa xuống hầm cho
lạnh. Ngày nay có tủ lạnh làm ra nước đá, muốn làm
cho lạnh thật dễ dàng chỉ cần bỏ vào bồn hoa vài cục
nước đá là xong.
HOA ĐÀO

"Hoa Đào năm ngoái còn cười gió Đông", câu
thơ của cụ Nguyễn Du cho ta biết là hoa đào nở vào
lúc gió Đông còn thổi lúc Xuân sang. Hoa đào là một
biểu tượng vào dịp Tết ở miền Bắc Việt Nam. Vào dịp
Tết nhà nào cũng có một cành đào chưng hoặc trong
bình hoặc trong chậu bầy trong phòng khách để khoe
cái phong lưu lịch sự thậm chí có khi cả một cây đào
đầy hoa trong một chậu cảnh thật lớn chiếm một khoảng
không gian thật to trong phòng khách, cây đào vươn
cao gần đụng tới trần nhà. Với nhà nghèo thì cành
đào nho nhỏ được cắm trong bình bầy trên bàn thờ gia
tiên,
Ngày xưa người ta chơi hoa không những chỉ để thưởng
thức cái đẹp của hoa mà còn để bảo tồn một cổ tục
dùng cành đào để trừ ma quỷ. Đây là một mục đích thiêng
liêng có sự tích như sau:
Xưa ở núi Sóc (Sóc sơn), có một cây đào lớn, dưới
gốc có hai vị thần trú ngụ là thần Trà và thần Uất
Lũy. Hai vị này cai quản một đàn quỷ. Mỗi khi có con
quỷ nào đi quấy nhiễu dân gian, dân gian kêu đến hai
vị thần này, con quỷ đó lập tức bị trừng phạt ngay.
Rồi để ngăn ngừa quỷ khỏi đến quấy nhiễu, lộng hành
và tranh cướp đồ cúng tổ tiên trong mấy ngày Tết,
người ta cắm trên bàn thờ một cành đào. Lũ quỷ trông
thấy cành đào thì không dám bén mảng tới. Tục cắm
cành đào trên bàn thờ có từ đó và dần dần biến thể
trở thành thú chơi cành đào vào dịp Tết.
Hoa đào cánh mầu hồng dịu, mềm mại thanh cao. Vỏ cây
đào mầu nâu xẫm, đôi khi có mầu tía. Lá nhỏ hơi dài,
đài hoa mầu xanh, cả lá và đài hoa đều cùng trông
dịu dàng mềm mại. Cành đào khi chặt từ cây ngoài vườn
vào, muốn giữ cho hoa được bền và tất cả nụ hoa đều
nở ra hoa, trước khi cắm vào bình có nước phải đem
đốt chỗ chặt và phần cuối cành cạnh chỗ chặt, như
vậy nhựa trong cành hoa sẽ không chảy xuống chỗ chặt
và tan vào nước trong bình cắm cành, trái lại cành
sẽ hút nước đưa lên nuôi các cành nhỏ và hoa lá. Thường
người ta chặt cành đào khi chưa ra hoa, chỉ mới có
nụ nhỏ hơi nhú nhú. Sau khi được đốt cành và cắm vào
bình vài ngày sau nụ lớn dần mới nở ra hoa dần dần
và cả lá cũng ra nhiều dần. Thường thì cành đào có
thể giữ cho đến sau lễ Thượng Nguyên (tức rằm tháng
Giêng).
Người xưa chơi hoa đào thường kén chọn, có lọai sau
khi ra hoa thì ra quả, có lọai chỉ ra hoa mà thôi.
Lọai sau này xưa các cụ ta gọi là “đào thất thốn”
tức là cây đào không cao quá bẩy tấc, hoa thường đỏ
đậm hơn các giống khác và nhiều hơn các giống khác.
Nhưng nhà vườn chuyên trồng đào để bán vào dịp Tết
thường tháp đào thất thốn với cây đào thường, lọai
đào lông có trái rất dễ trồng để cho phần cành đào
thất thốn trở nên mạnh hơn. Mầu đỏ và tươi thắm của
hoa đào rất hợp với cảnh Xuân lạnh của Miền Bắc Việt
Nam. Hoa đào không có hương nhưng sắc hoa hòa hợp
với khung cảnh Tết làm tăng hương vị ngày Tết cổ truyền
của người Việt Nam ta.
Đời nhà Đường bên Tầu có thi sĩ Thôi Hộ nhân tiết
Thanh Minh đi chơi đến một khu vườn đào thấy hoa nở
đẹp quá bèn dừng chân đứng ngắm, lát sau khát nước
vào một nhà kế đó gõ cửa xin nước uống. Cửa mở có
một mỹ nhân ra tiếp một cách ân cần, đôi bên tuy e
lệ nhưng xem ra đã có lòng cảm mến nhau. Rồi Thôi
Hộ ra về nhưng không quên mỹ nhân và nàng cũng hằng
nhớ đến chàng văn nhân xin nước uống. Năm sau cũng
tiết Thanh Minh nhớ cảnh nhớ người Thôi Hộ tìm đến
cảnh cũ, thấy cửa đóng then cài bèn đề một bài thơ
lên cánh cửa :

Đề tích sở kiến xứ
Khứ niên kim nhật thử môn trung,
Nhân diên đào hoa tương ánh hồng,
Nhân diện chí kim hà xứ khứ,
Đào hoa y cựu tiếu Đông phong.
Nhà thơ Lan Đàm một nhà thơ gốc QGHC dịch ra như sau:
Đề nơi gặp gỡ lần trước
Năm qua cửa cũ ngày này
Má người đua sắc hoa hây hây hồng,
Người giờ biết nẻo nào trông
Hoa như xưa vẫn gió Đông cợt đùa
Đề thơ xong chàng Thôi bỏ đi. Cách một thời gian chàng
lại tìm đến thì nghe trong nhà có tiếng khóc thống
thiết vang ra, bèn gõ cửa hỏi thăm, có một ông già
ra hỏi :
- Ông có phải là Thôi Hộ hay không ? Con gái tôi thấy
thơ ông đề trên cửa, sinh ốm bỏ ăn mà chết.
Nghe vậy Thôi cảm động lắm xin vào nhà rồi ôm lấy
áo quan khóc lớn lên mà rằng : “Thôi Hộ đã đến đây.”
Người con gái nằm trong quan tài nghe tiếng khóc của
Thôi Hộ đã sống lại.
Hoa đào có tên khoa học là Prunus persica là một vị
thuốc Nam có vị đắng, hơi ngọt, không độc, tính ôn.
Họat chất có chất béo, amidaline, tannin, curamine,
men emucine. Hạt có chất dầu béo amidaline. Có dược
năng uống sống lá đào chủ trị tán huyết tụ, thông
kinh, trị ho, táo bón. Uống chín họat huyết, trị lở
ngứa, đau mắt đỏ. Hoa dùng chữa bệnh thông tiểu tiện,
đại tiện, tiêu thũng. Sách y học cổ có dạy là hoa
đào trị được bách bệnh. Nhân của hạt đào trị ho, sốt
rét lâu ngày, trị hôn mê, xán khí, thối tai cùng các
chứng kinh thống như: ứ huyết, nóng huyết, căng máu..
Xử dụng bắng cách lá đào phơi khô sao vàng, nấu uống
riêng hoa và hạt không cần sao vàng. Có điều các toa
có hoa hay lá, qủa đào đều cấm kỵ các bà có thai.
HOA MAI

Nếu ở Miền Bắc hoa Đào là tương trưng cho ngày Tết
thì tại Miền Nam hoa Mai cũng là tương trưng cho ngày
Tết ở Miền Nam.
Hoa Mai trông tương tự như hoa Đào, cũng cùng vẻ thanh
lịch và dịu dàng, hoa mai có lọai cánh hoa mầu vàng
là Hoàng mai, cánh hoa mầu trắng là Bạch mai. Nhị
hoa cũng mầu vàng. Ngoài ra Mai cũng còn có lọai cánh
đơn và lọai cánh kép (tức hai tầng cánh hoa). Cành
mai thường mềm mại và mảnh khảnh nên có câu “mình
hạc xương mai” để chỉ người thiếu nữ có thân hình
mảnh khảnh đẹp đẽ thanh lịch.
Hoa mai vàng có hai thứ một lọai chỉ có sắc không
có hương thơm, một lọai có cả sắc và hương thơm dịu,
lọai này rất hiếm, nhưng hoa mai trắng lại luôn có
mùi thơm thoang thoảng nhẹ nhàng. Hoa mai vàng rực
rỡ lúc Xuân sang trông thật nên thơ:
Hoa cười nắng đổ hân hoan,
Mây theo cánh gió trần gian xum vầy.
Lan Đàm (Lục bát mùa Xuân 2)
Rồi cũng có khi vì nỗi buồn xa cố hương phải sống
nơi đất khách quê người nhà thơ cũng tức cảnh sinh
tình mà làm thơ:
Đất
Khách
Núi xa tuyết trắng lênh đênh
Phố xa nhớ nắng đế kinh thủa nào
Mai buồn lan huệ gầy hao
Rượu say quên cả xôn xao Xuân thì.
Lan Đàm
Tết đến từ vùng ngũ Quảng trở vào miền Nam không nhà
nào không có một cành mai, hoa mai giữ được lâu ngày
lại có mùi thơm dịu làm cho không khí trong nhà thơm
dịu và thêm ấm cúng. Mai vàng hay trắng cũng đều giữ
được lâu nên nếu không có loại mai có hương thơm thì
người ta dùng mai vàng không có hương thơm thay thế.
Ở Miền Nam vì không có loại mai có hương thơm nên
thường chỉ chơi Mai vàng loại không có hương thơm,
nhà nào cầu kỳ thì gửi mua tận ngoài Trung cành mai
loại có hương thơm về chưng Tết.
Nhắc tới hoa mai phải nhớ tới một bài thơ cổ chỉ có
10 chữ; “Vị tình lai ký nhất chi mai hữu biệt hoài”;
mười chữ này sắp đặt lộn đi lộn lại thành một bài
tứ tuyệt như sau:
Vị tình lai ký nhất chi mai
Ký nhất chi mai, hữu biệt hoài
Hoài biệt hữu mai chi nhất ký
Mai chi nhất ký vị tình lai.
Gần đây ở trong nước có một bài thơ Xuân khá hay được
phổ biến nhưng không rõ ai là tác giả, có điều đọc
xuôi. đọc ngươc đều được, bớt 2, 3, 4 chữ ở đầu hay
cuối đọc vẫn thành thơ.
Cảnh
Xuân
1. Đọc
xuôi
Ta mến cảnh Xuân ánh sáng ngời
Thú vui thơ rượu chén đầy vơi
Hoa cài giậu trúc cành xanh biếc
Lá quyện hương Xuân sắc thắm tươi
Qua lại khách chờ sông lặng sóng
Ngược xuôi thuyền đợi bến đông người
Xa ngân tiếng hát đàn trầm bổng
Tha thướt bóng ai mắt mỉm cười
2. Đọc
ngược
Cười mỉm mắt ai bóng thướt tha
Bổng trầm đàn hát tiếng ngân xa
Người đông bến đợi thuyền xuôi ngược
Sóng lặng sông chờ khách lại qua
Tươi thắm sắc Xuân hương quyện lá
Biếc xanh cành trúc giậu cài hoa
Vơi đầy chén rượu thơ vui thú
Ngời sáng ánh Xuân cảnh mến ta
3. Bỏ
2 chữ đầu mỗi câu- Đọc xuôi
Cảnh Xuân ánh sáng ngời
Thơ rượu chén đầy vơi
Giậu trúc cành xanh biếc
Hương Xuân sắc thắm tươi
Khách chờ sông lặng sóng
Thuyền đợi bến đông người
Tiếng hát đàn trầm bổng
Bóng ai mắt mỉm cười
4. Bỏ
2 chữ cuối mỗi câu - Đọc ngược
Mắt ai bóng thướt tha
Đàn hát tiếng ngân xa
Bến đợi thuyền xuôi ngược
Sông chờ khách lại qua
Sắc Xuân hương quyện lá
Cành trúc giậu cài hoa
Chén rượu thơ vui thú
Ánh Xuân cảnh mến ta
5. Bỏ
3 chữ đầu mỗi câu - Đọc ngược
Cười mỉm mắt ai
Bổng trầm đàn hát
Người đông bến đợi
Sóng lặng sông chờ
Tươi thắm sắc Xuân
Biếc xanh cành trúc
Vơi đầy chén rượu
Ngời sáng ánh Xuân
6. Bỏ
3 chữ cuối mỗi câu - Đọc xuôi
Ta mến cảnh Xuân
Thú vui thơ rượu
Hoa cài giậu trúc
Lá quyện hương Xuân
Qua lại khách chờ
Ngược xuôi thuyền đợi
Xa ngân tiếng hát
Tha thướt bóng ai
7. Bỏ
4 chữ đầu mỗi câu - Đọc xuôi
Ánh sáng ngời
Chén đầy vơi
Cành xanh biếc
Sắc thắm tươi
Sông lặng sóng
Bến đông người
Đàn trầm bổng
Mắt mĩm cười
8.
Bỏ 4 chữ cuối mỗi câu - Đọc ngược
Bóng thướt tha
Tiếng ngân xa
Thuyền xuôi ngược
Khách lại qua
Hương quyện lá
Giậu cài hoa
Thơ vui thú
Cảnh mến ta
Trở lại với hoa Mai thì ngoài hai loại mai vàng và
mai trắng ghi trên còn có mai tứ quý, mai chiếu thủy,
mai chiếu thủy có mùi thơm dịu mầu trắng khi nở bông
hướng xuống dưới nên có tên là mai chiếu thủy. Mai
tứ quý là giống mai cây nhỏ, hoa mầu vàng, nhị hoa
cũng vàng, lá dầy hơn các lọai mai kia và có răng
cưa và mầu xanh đậm hơn. Hoa mai tứ quý thường nở
vào buổi sáng, rất mau tàn chỉ đến chiều là bắt đầu
rụng. Cánh hoa rụng nhưng đời hoa chưa hết vì đài
hoa cúp lại vài ngày sau lại nở, lần này đài hoa biến
thành những cánh hoa mầu đỏ thẫm và nhị hoa thì biến
mất và xuất hiện những hạt hoa mầu xanh rồi dần dần
biến thành mầu đen khi hạt đã chín. Hạt này rụng xuống
đất sẽ mọc thành cây mai nhỏ mới. Mai tứ quý chỉ có
sắc và cũng không có hương nhưng có nhiều người vẫn
thích trồng vì hoa có quanh năm và cũng tươi thắm
trang nhã. Đặc biệt giống hoa này ở xứ Úc mọc khá
nhiều, hầu như vùng nào cũng có.
HOA HUỆ

Huệ là lọai thân thảo, lá xanh hoa trắng nhị vàng.
Hoa Huệ chi chit thành chùm trên đầu mỗi nhánh hoa.
Lá huệ xanh và dài, mỗi cành hoa huệ mọc cao vút nhưng
trông vẫn mềm mại với một vẻ ẻo lả thướt tha. Huệ
có giống đơn, giống kép và mùi thơm đậm đà. Huệ là
lọai hoa thường được người ta dùng cắm trên bàn thờ
Phật và bàn thờ gia tiên. Nếu phơi khô các bông huệ
có thể dùng xào lên bằng dầu thảo mộc thành một món
ăn chay khá ngon. Nhà thơ Chiêu Dương có làm 4 câu
thơ vịnh hoa huệ như sau:
Hình dung yểu điệu lại cao thanh,
Bông trắng như ngà sắc vẻ xinh
Kẻ chuộng người ưa, hương mát dịu
Sống nơi trong sạch đượm mầu xanh.
Hoa huệ là một vị thuốc Nam huệ ta có tên khoa học
là Polianthes tuberosa. Huệ Tây có tên khoa học là
Lilium longiflorum. Hoa có vị ngọt, hơi chát, thơm,
không độc, có tính mát. Họat chất có tinh dầu thơm
chứa glucose, protide, chất béo và sinh tố C. Huệ
có dược năng giải khát trừ nhiệt, bổ phổi tăng cường
sinh khí. Chủ trị chứng ho có nhiều đàm, sốt rét và
thổ huyết. Đặc biệt trị các chứng thần kinh suy nhược.
xử dụng bằng cách dùng hoa phơi khô nấu nước uống,
mỗi lần 10grams. Nấu tươi thì dùng 30grams và nên
sao vàng trước.
HOA SEN
Người ta thường cho sen là lọai hoa quân tử tuy mọc
ở nơi bùn lầy mà không nhuốm mùi tanh hôi, vẫn giữ
được sự thanh khiết. Ca dao có câu như sau:
Trong đầm gì đẹp bằng sen,
Lá xanh bong trắng lại chen nhị vàng,
Nhị vàng bông trắng lá xanh,
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.
Hương sen rất thơm, chính vì hương thơm mà hoa sen
thường được dùng trong việc cúng Phật và lễ bái. Sen
có lọai bông trắng, có lọai mầu hồng hơi ngả sang
tím gọi là “hồng cánh sen”. Hoa sen có hai lớp cánh,
lớp ngoài lớn, lớp trong nhỏ. Chính lớp cánh nhỏ này
khiến người ta dễ phân biệt với một lọai hoa tương
tự cũng mọc trong đầm lá cũng giống như lá sen nhưng
hoa không có mùi thơm gọi là hoa qùy. Theo các cụ
ngày xưa nói loại sen nào có đủ 100 cánh cộng chung
ở cả lớp trong và lớp ngoài mới là thật quý và gọi
là hoa sen bách diệp. Hạt sen thường được dùng để
nấu chè, làm mứt, làm thuốc. Hoa sen còn được dùng
để ướp trà thành trà sen là một loại trà rất phổ thông
và quý được dùng vào dịp Têt.
Sen còn là một vị thuốc Nam, tên khoa học của sen
là Nelumbo nucifera hoặc Nelumbium speciosum. Hoa
sen có vị đắng, chát, thơm, không độc, tính mát. Họat
chất có chất béo, sinh tố C và protide. Ngó sen có
asparagine, argine, glucose và vitamin C. Đài sen
có chất tannin, vitamin C và protide. Lá sen có tannin
và alcaloide.Sen có dược năng trị cầm máu, giúp làm
đẹp da và dễ tiêu hóa. Lá sen và đài sen có cùng dược
tính. Hoa sen trị mất ngủ, giúp ăn ngon đặc biệt chữa
chứng xuất huyết và băng huyết. Đài sen trị bệnh đại
tiện ra máu. Lá sen có công dụng như đài sen. Xử dụng
nếu nấu tươi hoa, đài và lá thì dùng 30-40gr khô thì
10-15gr uống ngày hai lần. Toa thông dụng dùng để
bổ dương, an thần: hoa sen tươi 30gr. Lá dâu nuôi
tầm tươi 40gr sao vàng và cam thảo 5gr tất cả nấu
với ½ lít nước uống mỗi ngày 2 lần.
CÚC VẠN THỌ

Có thể nói là hoa cúc vạn thọ là loại hoa bình dân
và được trồng rất phổ thông ở Việt Nam. Cúc vạn thọ
được trồng quanh năm. Hoa có thứ có mầu vàng thẫm
như nghệ, có thứ có mầu vàng nhạt. Có cây ra hoa đơn,
có cây ra hoa kép. Lọai hoa kép thường được ưa chuộng
hơn nhất là vào ngày Tết. Cúc vạn thọ có mùi thơm
hăng hắc vào dịp Tết người dân Miền Nam Việt Nam không
nhà nào không có một cặp chậu hoa vạn thọ vì tên hoa
làm cho người ta mong ước chưng trong nhà vào dịp
Tết sẽ khiến cả nhà tăng thọ. Hoa cúc vạn thọ còn
là một vị thuốc có tên khoa học là targetes erecta,
vị đắng không độc, tính mát. Họat chất có tinh dầu
crisanterine, có dược năng giảm đau, giải nhiệt, giải
độc. Chủ trị cảm mạo, các chứng hoa mắt, chóng mặt,
nhức đầu, nóng mắt, ù tai, các chứng đau bụng tiêu
chảy, các chứng đinh độc và áp huyết cao. Hoa phơi
khô dùng nấu nước uống, có thể dùng tươi nhưng vì
có mùi hắc nên hơi khó uống. Đặc biệt lá và hoa tươi
giã ra trộn với chút muối đắp vào những chỗ xưng bầm
sẽ tan máu bầm rất nhanh, nếu dùng trị nhọt độc lấy
nước cốt uống và bã đắp vào chỗ nhọt xưng sẽ khỏi.
HOA LAN
Hoa Lan được các cụ ta cho là lọai hoa vương giả,
quý phái và lịch sự. Lan có đủ cả hương lẫn sắc, có
nhiều mầu thay đổi tùy theo lọai hoa nhưng lọai nào
trông cũng thướt tha mềm mại yểu điệu kiều diễm. Hương
lan kín đáo nhè nhẹ tỏa nhưng bền và mùi thơm dịu
dàng quyến rũ. Viết về hoa lan nếu muốn viết hết thì
phải vài cuốn sách mới đủ. Trong phạm vi bài này vì
chỉ muốn điểm qua những loại hoa Xuân mà người Việt
ta thích chơi vào mùa Xuân nên sẽ chỉ lướt qua về
hoa lan mà không đi vào chi tiết.
Lan được phân chia ra ba lọai là Phong lan, Thạch
lan, Địa lan (Thổ lan).
Phong lan là lọai hoa lan mọc hoang
trong rừng bám vào các thân cây lớn, những cành cây
mục để hút màu do rêu cây tạo nên. Người ta đem về
phải săn sóc rất kỹ mới trổ hoa. Ở Việt Nam riêng
tại vùng Dalat và cao nguyên Trung phần người ta đã
tìm ra khoảng 2000 loại phong lan khác nhau. Nghề
chơi hoa lan là nghề chơi đòi hỏi nhiều công
phu và thời gian và cũng tốn kém không ít.

Các nhà thảo mộc học phân chia phong lan thành 4 loại
chính :
1/ Hạng có củ ngắn
2/ Hạng có củ dài
3/ Hạng mọc thành khóm
4/ Hạng có rễ ăn khí trời, có lá hai bên đối nhau
như chữ nhân.
Thạch lan là loại lan mọc trên kẽ
đá, nơi các hang động hay núi đá.
Địa lan (hay Thổ lan) là loại lan
trồng dưới đất và trong chậu, loại này hiện nay khá
thông dụng ở các nước Tây phương. Riêng tại Úc, hiện
tại nhiều Tiểu bang có các hội đồng thành phố có ngày
hội hoa lan hàng năm thường trưng bầy rất nhiều loại
hoa lan, có cả các cuộc thi hoa đẹp và có giải thưởng
rất gía trị cho những nhà trồng hoa nữa.
Ở Việt Nam hồi trước thập niên 1970 nhà văn Nhất Linh
Nguyễn Tường Tam đã nổi tiếng là một nhà chơi lan
sưu tầm được nhiều loại lan qúy. Cựu Đại Tướng và
là vị Tổng Thống cuối cùng của Miền Nam Việt Nam Dương
Văn Minh cũng nổi danh là một người sành chơi lan.
Ngày nay thì không rõ ở Việt Nam có ai là nhà chơi
lan danh tiếng hay không thì không biết.
Tóm lại là Hoa Xuân có nhiều loại nhưng theo cổ tục
cũng có, theo thói quen cũng có, những loại hoa vừa
trình bầy trên là những loại mà người Việt ta thường
chưng vào dịp Tết làm cho Tết Viêt Nam có một sắc
thái đặc thù không giống bất cứ dân tộc nào khác vậy
Nhân dịp Tết đến mong rằng bài viết giới hạn về một
số hoa thường được dân chúng dùng trong ngày Tết.
Ngoài những thứ hoa kể trên trong thực tế hiện nay
người ta còn chưng nhiều loại hoa khác như hoa mồng
gà, hoa thược dược, đôi khi cả hoa giấy (tức là hoa
có tên tiếng Pháp là hoa Gambier do viên Đại Úy người
Pháp tên là Gambier tìm thấy ở Phi Châu đem về Pháp
trồng và sau đem sang các thuộc địa của Pháp trồng
sau này). Hy vọng bài viết về Hoa Xuân này đã cung
cấp cho độc giả một số dữ kiện vừa để giải trí nhân
dịp Xuân về vừa để nhớ lại Hoa Xuân của đất nước ta
vậy. |