Last Update: May. 2007

 

VÀI NHẬN ĐỊNH SAU KHI ĐỌC HAI TÁC PHẨM

KHI ĐỒNG MINH THÁO CHẠY VÀ
THÉP VÀ MÁU, THIẾT GIÁP TRONG CHIẾN TRANH VIỆT NAM

THANH VĂN

Ba mươi năm đã trôi qua từ khi cuộc chiến tại Việt Nam chấm dứt, hầu hết những nhân vật chính liên hệ đến cuộc chiến đó nay đã ra người thiên cổ, nhưng hàng chục, thậm chí hàng trăm vấn đề liên hệ đến cuộc chiến đó vẫn còn là đề tài thảo luận và cần tìm hiểu của các nhà nghiên cứu và của người Việt trong cũng như ngoài nước từ 3 thập kỷ nay.

Một quan điểm thông thường của con người bất kể sắc tộc, mầu da là chuyện gì đã qua lâu thì nên cho nó qua luôn, quên nó đi để nhìn vào hiện tại và hướng vào tương lai mà xây dựng. Đó là quan điểm rất hợp lý và đúng trong mọi trường hợp và với mọi dân tộc trên thế giới. Nhưng nó lại không hoàn toàn đúng với người Việt Nam. Thật vậy, cuộc chiến tàn bạo giữa người Việt với người Việt trong hơn hai thập niên từ sau khi có hiệp định ngưng bắn và chia đôi lãnh thổ vào năm 1954 đã vô cùng ác liệt và tàn bạo, khiến hàng triệu người đã thiệt mạng và nhiều triệu người khác thành tàn phế chưa kể hàng chục triệu người đã tán gia bại sản, gia đình tan nát vì cuộc chiến.

Với những người chiến thắng sau khi cuộc chiến chấm dứt vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, những tưởng họ hân hoan sau khi hoàn tất mộng ước đã theo đuổi trong suốt nhiều thập niên gian khổ, khi đạt mục đích thì họ sẽ thi hành một chính sách giống như ông cha từ ngàn xưa đã từng áp dụng là thực thi một chính sách hòa giải và hòa hợp thật sự để lập lại sự đoàn kết dân tộc đã bị chia rẽ trong cuộc chiến ngõ hầu cùng nhau bắt tay cùng xây dựng đất nước đã bị tan hoang trong cuộc chiến. Thực tế cho thấy họ không làm như vậy, họ thi hành một cuộc trả thù dai dẳng và tàn độc phủ trùm lên một nửa nước đã từng không đồng ý và chống lại họ. Họ thiết lập hàng loạt nhà tù ở khắp nước để giam giữ tất cả những người có liên hệ bất kể nhiều ít đến chính quyền ở miền Nam, chưa hết, họ còn nhân cơ hội bỏ tù và tìm cách loại bỏ cả những người tuy từng đứng chung chiến tuyến với họ nhưng không hoàn toàn đồng ý với họ, để dễ bề thực thi một đường lối độc tài theo cái chủ thuyết mà chính họ cũng đã nhận thấy là nay đã lỗi thời không còn thích hợp nữa nhưng nhờ vào nó họ vẫn nắm chặt được quyền hành cai trị đất nước và ngồi trên đầu trên cổ toàn dân mà hưởng lợi.

Với những người bại trận, một số sau những năm vất vả vật lộn với môi trường sống mới nơi xứ lạ quê người, số khác sau nhiều năm khốn khổ tù đầy ở khắp miền đất nước tiếp theo là những vất vả nơi xứ lạ quê người, đã vươn lên và thành công trong bước đường mưu sinh và nay khi cuộc sống nơi xứ người đã tạm ổn định, những tưởng vết thương trong qúa khứ có thể phai mờ để ngửng mặt cùng với thế hệ con em mới lớn nắm tay nhau cùng nhìn về tương lai của xứ sở. Thực tế cho thấy mọi sự không diễn ra suông sẻ như thế, hầu hết những cựu chiến binh miền Nam, những cựu viên chức các ngành của miền Nam Việt Nam và cả những người sống tại miền Bắc sau năm 1954 đã từng bị đối xử bất công đã không thể quên được vết thương mà những người thuộc phe chiến thắng đã gây ra cho họ.

Nỗi uẩn ức về sự xụp đổ của miền Nam trong một thời gian qúa ngắn làm cho những thành phần ghi trên cho đến nay dù đã 30 năm qua đi vẫn không thể nào chấp nhận và hoàn toàn thỏa mãn về những lý do đã được nhiều người đưa ra để giải thích cho sự xụp đổ đó. Nhân dịp kỷ niệm 30 năm ngày chấp dứt cuộc chiến tàn khốc “chiến tranh Việt Nam” hai tác phẩm tôi cho là “lớn” được phát hành tại Hoa Kỳ là các cuốn “Khi Đồng Minh Tháo Chạy” của Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, một cựu cố vấn của cựu Tổng Tống miền Nam Việt Nam Nguyễn Văn Thiệu, một cựu Tổng Trưởng, người có cơ may nắm được những tài liệu ngoại giao quan trọng nhất vào giai đoạn quan trong nhất của cuộc chiến tại Việt Nam và cuốn “Thép và Máu, Thiếp Giáp trong Chiến Tranh Việt Nam" của cựu Đại Tá Thiết Giáp Hà Mai Việt, một sĩ quan cao cấp từng tham dự các trận đánh trong suốt chiều dài của cuộc chiến, từng nắm giữ nhiều chức vụ quan trọng trong quân đội VNCH.

Tôi đánh giá hai tác phẩm này là “lớn” không phải vì nó được viết ra bởi hai nhân vật “lớn” của chế độ Miền Nam mà bởi tính cách xác thực và vô tư của hai tác phẩm trên. Cả hai tác giả đã cố gắng trong lãnh vực mà họ muốn trình bầy đưa ra những dữ kiện, những nhận xét vô tư, không bị chi phối bởi lòng thù hận cá nhân hay mặc cảm riêng tư cho người đọc qua tác phẩm của họ thấy được sự thật của một giai đoạn lịch sử đau thương của dân tộc Việt.

Tiến Sĩ Hưng trong “Khi Đồng Minh Tháo Chạy”, với một lối hành văn sáng sủa ông đã trình bầy cho độc giả thấy những tài liệu hết sức đặc biệt, trước đây chưa từng được tiết lộ cùng với các cuộc phỏng vấn các nhân vật chủ chốt cả Mỹ lẫn Việt khiến cho cuốn sách trở nên một tập tài liệu lịch sử vô cùng quan trọng về một giai đoạn có thể nói là đen tối nhất của dân tộc Việt. Qua tác phẩm của ông độc giả có cơ hội nhìn rõ một đường lối ngoại giao bí mật, dối trá và lạm dụng quyền hành của người Hoa Kỳ, đặc biệt là của viên ngoại trưởng Mỹ gốc Do Thái Henry Kissinger, người từng nắm giữ trọn vẹn chính sách ngoại giao của nước Mỹ trong một thời gian dài chiếm 2/3 thời gian quân Mỹ tham chiến ở Việt Nam và dưới triều đại của liên tiếp hai Tổng Thống Mỹ.

Theo tiến sĩ Hưng, lập trường của Henry Kissinger về Việt Nam không phải chỉ kiên định vào việc rút quân Mỹ khỏi Việt Nam cho nhanh, làm sao thu hồi hết những tù binh Mỹ bị CSVN bắt và mặc kệ VNCH sống chết ra sao không cần biết từ sau khi có hiệp định đình chiến vào ngày 27 tháng 1 năm 1973 mà thực sự nó đã tiềm tàng và thực sự điều hướng cho dường lối chính sách của Hoa Kỳ tại Việt Nam vào những năm cuối của cuộc chiến, nó cũng phần nào giải thích rõ tại sao miền Nam xụp đổ qúa nhanh chỉ trong khoảng 50 ngày như thế.

Ba điểm chiến lược mà Henry Kissinger xây dựng và tâm đắc theo đuổi là :

1/ Chắc chắn Hoa Kỳ phải dứt khoát rút hết và bỏ rơi miền Nam Việt Nam.

2/ Chỉ cần một khoảng thời gian coi cho được, từ lúc Mỹ rút đi đến khi xụp đổ;

3/ Khi miền Nam xụp đổ thì nên tiến hành cho lẹ, vì nếu cứ sống vật vờ mãi là kẹt cho Mỹ.

Về diểm chiến lược thứ nhất tức giải pháp “Mỹ đơn phương rút khỏi Việt Nam” là tư tưởng Kissinger đã nuôi dưỡng từ lâu, ngay từ khi mới tiếp cận với vấn đề Việt Nam trong tư cách là một tư vấn không chính thức của chính phủ Johnson (Chính phủ của đảng Dân Chủ Mỹ, trước chính phủ Nixon của đảng Cộng Hoà), Kissinger đã bí mật liên lạc với cộng sản Hànội qua trung gian của hai người Pháp là Hervert Marcovich và Raymond Aubrac. Hai người này là chỗ quen biết với Hồ Chí Minh từ 1946 lúc họ Hồ đi họp hội nghị Fontainebleau.

Về điểm chiến lược thứ hai “Một khoảng thời gian coi cho được” (a decent interval) được tiến sĩ Hưng viện dẫn bằng sự trình bầy của David Landau trong cuốn “Kissinger: Sử dụng quyền lực”(Kissinger:The use of Power) như sau:

Kissinger cho rằng giải pháp duy nhất của Hoa Kỳ năm 1967 là dùng chính sách “một khoảng thời gian coi cho được”. Nói cho đơn giản hơn, chính sách dó có nghĩa là sự xụp đổ của chính phủ miền Nam - điều ông cho là rất có thể xẩy ra - phải được trì hoãn một thởi gian kể từ lúc Hoa Kỳ triệt thoái để Hoa Thịnh Đốn khỏi bị chỉ trích là đã không bảo vệ đồng minh của mình.

Như vậy, điều quan trọng chính yếu của cuộc chiến - vấn đề phe nào sẽ cai trị miền Nam - thực ra chỉ là một điểm không đáng để ý. Điều quan trọng không phải là nên hay không nên triệt thoái mà là triệt thoái như thế nào và vào bao giờ.

Về điểm chiến lược thứ ba “khi xụp đổ nên tiến hành cho lẹ” tiến sĩ Hưng đã chứng minh bằng lời nguyền rủa của chính Kissinger: “Sao chúng không chết phứt cho rồi?” Ông ta rên lên trong xe.”Điều tệ hại nhất có thể xẩy ra là chúng cứ sống dai dẳng hoài.” (Why don’t these people die fast? He moaned in the car. The worst thing that could happen would be for them to linger on.) Đây là câu nói mà Kissinger buột miệng nói ra trên chuyến xe đến trung tâm báo chí hiện diện trên xe có phụ tá báo chí Tổng Thống là Ron Nessen sau khi họp nghe tường trình của Tướng Weyand về tình hình Việt Nam cho Tổng Thống Ford và Kissinger tại Palm Springs. Câu nói trên Nessen đã kể lại trong cuốn hồi ký “Đằng sau hậu trường thì thật là khác” (It Sure Looks Different From The Inside).

Những minh chứng rõ ràng hơn về 3 điểm chiến lược trên còn tìm thấy trong đề nghị về Việt Nam do Kissinger soạn cho ứng cử viên Tổng Thống của đảng Cộng Hòa Rockerfeller đăng trên tờ New York Times tháng 8 năm 1968 gồm 4 điểm chính như sau:

1) Mỹ đơn phương rút 75,000 quân; (số 75,000 chỉ là buớc mở đầu để tạo ra một hướng đi);

2) Thiết lập một lực lượng quốc tế giám sát hòa bình;

3) Sau đó Mỹ sẽ rút hết; rồi để cho

4) Hai phía Việt Nam hòa hợp hòa giải với nhau.

Từ ngày 4 tháng 8 năm 1969 Kissinger bắt đầu đàm phán sau hậu trường với Bắc Việt thì cũng từ thời gian đó quân Mỹ đang ở mức cao nhất là 537,000 đã liên tục rút khỏi Viêt Nam cho đến tháng 7 năm 1971 chỉ còn 225,000 mà thôi.

Mạnh mẽ nhất là ngày 28 tháng 2 năm 2002 tờ báo New York Times đăng tải tài liệu động trời, ký giả Elaine Sciolino cho biết nội dung tài liệu mới được giải mật do National Security Archive đưa ra gồm biên bản cuộc họp ngày 9 tháng 7 năm 1971 giữa Kissinger và Chu Ân Lai, Thủ Tướng Trung Cộng. Trong buổi họp đó Kissinger đã cho Trung Cộng biết chi tiết về sự thay đổi cơ bản của chính sách Hoa Kỳ đối với Đài Loan, nhằm đổi lấy sự ủng hộ của Trung Quốc hầu giúp chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Ông ta nói với họ Chu: “Dù có thương thuyết hay không thương thuyến với Bắc Việt đi nữa, rồi chúng tôi cũng sẽ rút quân - một cách đơn phương.”

Rồi cũng trong tài liệu này Kissinger còn nói với họ Chu rằng: “Lập trường của chúng tôi là sẽ không duy trì bất cứ chính phủ nào ở miền Nam cả, và nếu nếu như chính phủ miền Nam không được nhiều người ưa chuộng như ngài nghĩ, thì khi quân đội chúng tôi rút đi càng nhanh nó sẽ bị lật đổ càng lẹ. Và nếu nó bị lật đổ sau khi chúng tôi rút, chúng tôi cũng sẽ không can thiệp nữa”.

Một minh chứng nữa về sự xụp đổ của miền Nam là lời John Ehrlichman, Đổng Lý Văn Phòng của Tổng Thống Nixon thuật lại trong hồi ký “Nhân Chứng Của Quyền Lực: Những Năm Thời Nixon” (Witness to Power, The Nixon Years). Ngày 24 tháng 1 năm 1973, chỉ một ngày sau khi Kissinger ký vào bản Hiệp Định và về tới Washington, Ehrlinchman gặp Kissinger trước phòng Lincoln trong Bạch Cung đã hỏi:

“Theo ông, miền Nam Việt Nam còn tồn tại được bao lâu nữa?”
Kissinger đáp lại: “Tôi nghĩ rằng họ may mắn thì được một năm rưỡi!”

* * *

Trong cuốn Thép và Máu Thiết Giáp Trong Chiến Tranh Việt Nam Cựu Đại Tá Hà Mai Việt kể lại cho người đọc thấy qúa trình hình thành và phát triển của quân chủng Thiết Giáp trong quân lực VNCH, những trận đánh từ những ngày mở đầu cuộc chiến và cuối cùng của cuộc chiến, cả thắng và bại không tô son vẽ phấn thêm, cũng không bôi đen hay xóa mờ những chiến tích của các chiến sĩ đã tham dự các trận đánh. Với gần 600 trang khổ lớn tác giả đã phân chia tác phẩm thành 5 phần riêng biệt:

Phần 1 : Chiến Sử gồm 4 chương :

Chương 1 : Những trận đánh khốc liệt : Trong chương này tác giả đã kể lại từ trận đánh khởi đầu có thiết giáp binh tham dự là trận Ấp bắc đến trận Bắc Việt Tổng Công Kích năm 1975.

Chương 2 : Việt Nam Hóa Chiến Tranh : Tác giả kể lại những trận đánh của Thiết Giáp binh từ sau Tết Mậu Thân đến trận giải tỏa tiền đồn Đức Huệ của Tướng Thiết Giáp Trần Quang Khôi là trận chiến thắng oai hùng của Thiết giáp binh VNCH trong cuộc chiến VN.

Chương 3 : Tổng Tấn Công Ba Mặt Trận: Trong chương này tác giả kể lại những trận chiến mà Thiết giáp binh đã tham dự từ khi cộng quân mở chiến dịch tổng tiến công ba mặt trận từ năm 1965 đến trận chiến thắng của sư đoàn 23 trước quân đoàn 3 của quân Bắc Việt tại mặt trận Kontum.

Chương 4 : Xâm Chiếm Miền Nam: Chương này thuật lại chiến dịch Tây Nguyên năm 1975 của Bắc quân, các trận đánh tại Ban Mê Thuột, cuộc triệt thoái trên liên tỉnh lộ 7B cho đến 10 ngày cuối cùng của VNCH.

Phần 2 : Vì Nước kể lại những trận đánh của các chiến sĩ Kỵ Binh Thiết giáp cho đến bảng liệt kê các tử sĩ thiết giáp mà tác giả ghi nhận được trong suốt chiều dài cuộc chiến.

Phần 3 : Quân Sử Trong phần này với sự sưu tầm công phu tác gỉa đã trình bầy cho người đọc thấy rõ sự hình thành của cơ cấu chính quyền Việt Nam quốc gia từ lúc sơ khai đến sự hình thành của quân đội quốc gia rồi VNCH và binh chủng Thiết Giáp.

Hai phần chót 4 và 5 không mấy quan trọng ghi lại những tưởng lệ và các tài liệu cùng những tạp văn liên hệ đến thiết giáp cũng như hình ảnh các loại chiến cụ và tiểu sử tác giả.

Trong toàn bộ tác phẩm của Hà Mai Việt tôi chú ý nhất đến hai phần :

1/ Chương 4 của phần 1: tác giả kể lại những biến cố chính trong cuộc xâm chiếm miền Nam của Bắc quân mở đầu bằng chiến dịch Tây nguyên vào tháng 3 năm 1975, thuật lại tỉ mỉ trận đánh tại Ban Mê Thuột cũng như cuộc lui quân không có kế hoạch của quân đoàn 2 theo đường 7B theo lệnh của tướng Tư Lệnh Phạm Văn Phú sau quyết định “lịch sử” tại Phan Rang ngày 14 tháng 3 năm 1975 của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Qua những dữ kiện mà tác gỉa Hà Mai Việt viết lại độc giả thấy rằng:

Trước hết khả năng của cấp chỉ huy quân sự của quân đoàn 2 thật là yếu kém. Ngay từ vị Tư Lệnh đã ước tính sai lầm khả năng tấn công của địch quân, đến các cấp chỉ huy kế cận khi được giao nhiệm vụ thi hành đã không biết sử dụng các phương tiện có sẵn trong tay, chỉ thi hành lệnh trên một cách máy móc và ngu dốt khiến dẫn đến tan rã cả một quân đoàn và khởi đầu cho một cuộc xụp đổ dây truyền dẫn đến hoàn toàn xụp đổ cả miền Nam trong vòng có 50 ngày ngắn ngủi.

2/ Phần 3 Quân Sử: Nhất là các chương viết về Bối cảnh Lịch Sử và sự hình thành và phát triển QLVNCH. Qua những trang giấy này người đọc phát giác ra rằng ngay trong cuộc chiến Việt Nam lần thứ nhất (từ 1945 đến 1954) cộng sản Việt Nam đã khôn khéo nắm được chính nghĩa “đánh đuổi ngoại xâm giành độc lập và thống nhất cho xứ sở”. Trong khi phe “Quốc Gia” tuy tìm được con đường giành độc lập ít tốn kém xương máu của nhân dân nhưng đã không biết phát huy “chính nghĩa” của mình. Mặt khác hầu hết các “lãnh tụ” quốc gia đều ỷ lại vào ngoại bang (trước là Pháp sau này là Hoa Kỳ). Thậm chí đã xây dựng một đạo quân hoàn toàn lệ thuộc vào trang thiết bị và tiếp tế của ngoại bang. Một đạo quân chiến đấu theo kiểu nhà giầu nhưng thực sự vốn trong nhà chẳng có tài sản gì để nuôi dưỡng đạo quân “lệ thuộc” đó.

Lịch sử thế giới đã chứng minh cho chúng ta thấy rằng không phải chỉ có con đường duy nhất là chiến đấu võ trang mới giành được độc lập, thống nhất cho xứ sở. Ấn Độ, Indonesia, Philippine, Nhật Bản (sau Thế chiến Thứ hai), Đức v..v..là những minh chứng không thể chối cãi.

Nhìn lại lịch sử Việt Nam trong suốt 30 năm của hai cuộc chiến liên tiếp ngăn cách và chấm dứt bởi hai hiệp định đình chiến 1954 và 1973 thì sự thất bại của miền Nam không phải chỉ ló rạng từ khi có bàn tay lông lá của viên ngoại trưởng lưu manh Kissinger nhúng vào từ năm 1967 mà thật sự nó khởi đầu từ ngay sau khi hiệp định Geneve 1954 chia đôi đất nước lận. Ngày đó sự phản bội và đánh mất “chính nghĩa” đánh đuổi thực dân giành độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Công Sản Việt Nam đã lộ rỏ qua việc bắt tay với kẻ thù chia cắt đất nước là một cơ hội bằng vàng cho người quốc gia vạch rõ cho toàn dân thấy dã tâm chỉ muốn chiếm chính quyền của đảng cộng sản để bè lũ chúng ngồi trên đầu trên cổ nhân dân mà thôi. Nhưng phe quốc gia đã không thành công trong mục đích này, thậm chí còn “lạc” vào con đường gia đình trị, độc tài đảng trị, khiến mất hết sự ủng hộ rộng rãi của toàn dân miền Nam. Cái chết của anh em ông Diệm cũng chính là bước mở đầu cho sự xụp đổ của miến Nam Việt Nam sau này. Các Tướng Lãnh thay nhau đảo chính mặc dù cho đến khi Tướng Nguyễn Văn Thiệu lên làm Tổng Thống nền đệ nhị cộng hòa đã cố gắng phát triển đất nước, tìm tài nguyên để cố tiến tới tự tức tự cường nhưng lúc đó miền Nam đã lún qúa sâu vào vòng lệ thuộc của người Mỹ. Bản chất của ông Thiệu lại thiếu quyết đoán và phải nói là đã dùng “quân tử tầu” để đối phó với đường lối lưu manh đâm sau lưng bạn bè của tên lưu manh Kissinger. Đúng như Tiến Sĩ Hưng đã nêu giả thuyết: “Nếu như miền Nam và miền Bắc đã dàn hòa được với nhau từ năm 1963, không có 12 năm chiến tranh khốc liệt thì đến nay Việt Nam sẽ như thế nào?” Ngay từ thời tiền chiến Saigon đã là “viên ngọc của Á Đông”, lúc Đài Loan còn là Formosa và Singapore chưa thành một nước. Thế mà nay họ đều là những con rồng kinh tế của Á Châu, trong khi Việt Nam là một trong những nước chậm tiến nhất trên thế giới!

Câu kết luận về sự xụp đổ và thảm họa mà hàng triệu người dân Việt phải chịu trong suốt chiều dài cuộc chiến là: Chẳng qua đó là vận nước đến hồi như thế thì nó phải thế ! Chỉ là cách nói để tự an ủi của những người trong cuộc đã bó tay không làm gì được trước những biến đổi qúa nhanh hay vượt qúa tầm tay của những người đó.

Ba mươi năm đã trôi qua vết thương chiến tranh tuy chưa lành hẳn nhưng hiển nhiên không còn mưng mủ và có thể làm độc được nữa.

Một thực tế không thể phủ nhận hiện nay là Việt Nam hiện là một nước chậm tiến cần được cải thiện về mọi mặt: Chính trị, xã hội, văn hóa, kinh tế để có thể theo kịp các lân bang cũng như các quôc gia khác trên thế giới. Một mặt khác thể chế mà Việt Nam hiện đang theo là một thể chế lỗi thời không thể nào thích hợp và làm cho đất nước “cất cánh” trên đường phát triển. Đừng nhìn vào thành công của Trung Quốc trong những năm qua để tưởng rằng Việt Nam cũng có thể bắt chước mà đi theo. Ngay chính Trung Hoa con đường họ đang theo cho đến nay cũng đã bắt đầu lỗi thời, chính họ cũng cần phải sửa đổi nếu không họ sẽ tụt hâu và vấp ngã nặng nề trong tương lai.

Người Việt trong nước cũng như người Việt ở hải ngoại ai cũng thật sự mong muốn thù xưa nên quên đi để thực sự bắt tay cùng nhau xây dựng một tương lai tươi đẹp cho xứ sở. Nhưng gần đây qua những hành động của nhà cầm quyền Việt Nam hiện nay như áp lực các nước Indonesia và Malaysia phá bỏ các tấm bia kỷ niệm các thuyền nhân đã bỏ mình trên biển ở Galant và Bidong cho chúng ta thấy rõ là chính phía cộng sản Việt Nam còn mang nặng hận thù với những người bất đồng chính kiến với chúng nhiều hơn phía những người chiến bại trong cuộc chiến đã qua. Sự kiện xóa bỏ hận thù, hòa hợp hòa giải thực sự như thế không phải sẽ do những người “thua trận” phải khởi đầu mà chính là những người “thắng trận” phải thành thực bầy tỏ ra trước bằng những hành động cụ thể như sửa đổi hiến pháp: hủy bỏ điều 4 dành độc quyền cho dảng CSVN và chấp nhận đa nguyên đa dảng, chính thức và thực sự tôn trọng các quyền tự do căn bản của con người như tự do tư tưởng, tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do cư trú và đi lại, tự do sinh hoạt dảng phái, hội đoàn và tôn giáo v..v.. thì lúc đó mới có thể có sự đoàn kết thực sự giữa đại khối người Việt trong nước và hải ngoại, mới thúc đẩy các nhà đầu tư người Việt ở hải ngoại mạnh dạn đem tiền về đầu tư và phát triển đất nước cũng như lôi kéo được đội ngũ các chuyên gia kỹ thuật gia hùng mạnh người Việt hiện đang sống ở hải ngoại về giúp nước. Ước mong sao những những điều viết ra trên đây không phải chỉ là ước vọng của một cá nhân mà sẽ được mọi người trong cũng như ngoài nước cứu xét cẩn trọng ngõ hầu trong một tương lai gần cận người Việt dù ở đâu trên quả địa cầu này cũng sẽ hãnh diện ngửng mặt nhìn thiên hạ và hãnh diện xưng là con rồng cháu tiên vậy.

Chu Van An/Aust. © 2005 -

 All rights reserved
website maintained by clickondot
Hosted by www.Geocities.ws

1