Trở về Mục Lục Thơ
Đọc Thơ của Tuệ Minh.
Trước đây mấy năm, thỉnh thoảng tôi được đọc một vài bài thơ của Tuệ Minh đăng trong một tuần báo địa phương. Tứ thơ đẹp làm tôi chú ý, không nghĩ có ngày sẽ gặp tác giả. Nhưng ngày đó lại đến không ngờ, và tôi đã được hân hạnh gặp gỡ người thi sĩ thanh tao như thơ của ông vậy. Cũng không ngờ được cả quyển thơ như một tặng phẩm nghệ thuật của ông. Quyển thơ được trình bày trong một quyển tập cở nhỏ, đẹp và nhẹ nhàng như bóng dáng của một nàng thơ có tên "Loài Dị Thảo".
"Loài Dị Thảo" tuy mỏng mảnh, nhưng có được trên chín mươi bài, chín mươi chiếc áo trắng thêu hoa và thơm hương cỏ lạ. Nếu không gặp người thi sĩ, nếu đừng đọc thi hiệu của ông, khó ai tin rằng những bài thơ đầy tiết Xuân trong đó lại được viết từ một tu sĩ. Câu nói này có vẻ mâu thuẩn với cái chất đạo hiển hiện trong nhiều tựa bài: "Vô", "Không Không", "Luân Hồi Con Nước", "Ưu Đàm Bát", "Trứ Huyền", "Cánh Hư Vô",...
hay đầy dẫy trong lời thơ,
-"...Trăng chiếu vô cùng, chiếu tịch nhiên
Pháp thân thanh tịnh, pháp uyên nguyên
Sa la thị hiện, ngày nhập diệt
Ánh từ vi diệụ, tỏa vô biên..."
(Bốn Mùa Trăng)
và
".. hoa vô ưu đến bao giờ mới nở?
cho nhân sanh an hưởng cõi nhiệm mầu
tưới thương yêu lên những đóa hoa sầu
kinh giải thoát võng nhịp cầu đưa nhịp.."
(Cõi Mộng)
và trong ý thơ
"... thôi nữa nhé, đời như chòm sao bạc
vũ công ơi khắc nổi nét mà chi
dù trăm năm cũng như chiều cánh hạc
đến rồi đi luân chuyển đến rồi đi"
(Từ một Cõi)
có khi chất đạo có thể tìm thấy trong bố cục của thơ, đi từ hiện hữu đến vô thường như trong bài "Mĩm Cười", "Trăng rồi Tuyết", .v.v... Nhưng "đạo" thì có gì ảnh hưởng đến giá trị thơ?
Mặc dù nhiều khi thi sĩ cũng mượn thơ để gói ghém triết lý đạo hay Phật pháp, nhưng mục đích làm thơ của Tuệ Minh hẳn không phải để giảng đạo. Nếu chỉ có thuyết giảng đạo, thì nhà thơ chỉ cần dùng ngôn ngữ càng bình dân càng tốt để truyền đạt tư tưởng đạo cho đại chúng, giống như những bài kinh mà ta thường nghe các tín đồ Phật giáo Hòa hảo hay Cao Đài tụng niệm. Những loại thơ như thế, về mức độ bình dân, cũng không khác hơn những câu hò câu hát dân gian đã quá dư thừa để trêu đời,
-"Hạt tiêu nó bé nó cay
Đồng tiền nó bé nó hay cửa quyền",
dạy đời,
-"Ra khơi mới biết nông sâu
Ở trong ngòi lạch, biết đâu mà dò?"
hay lấp đầy những khoảng trống tâm lý trong xã hội.
-"Gió sao gió mát sau lưng
Bụng sao bụng nhớ người dưng thế này?
..vân vân.....
Cách nói bình dân: "cái hoa này đẹp, cô ấy xinh, mây nhiều quá, nó đói lắm rồi" nghe đơn giản, dễ hiểu, không cần phải nổ lực văn chương, nhưng suy cho kỹ, nó rất chủ quan,. Nếu bỏ thêm một chút công phu nữa để nói rõ hơn, kỹ hơn: "Cánh hoa buổi sáng còn đọng vài hạt sương;..sắc đẹp hoa nhường, nguyệt thẹn; mây xám giăng kín trời; cả hai ngày nó chưa có gì trong bụng,..." có thể tả rõ hơn, hoa đẹp thế nào, mây nhiều đến đâu, hay người đói thế nào...", và, nếu là thi sĩ theo đúng nghĩa của thi sĩ, nghệ thuật mô tả còn phải điêu luyện hơn nhiều.
Thí dụ, để định nghĩa tình yêu Xuân Diệu nói:
"...Có nghĩa gì đâu, một buổi chiều
Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt
Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu"
Một định nghĩa nghe như không dính líu gì đến tình yêu, nhưng quả đúng với tâm lý người đang yêu. Tác giả không hạn chế định nghĩa trong vấn đề trai gái, yêu đây có thể là tình yêu thiên nhiên, lời định nghĩa rất khách quan. Khi đang yêu, nắng và gió cũng đều đáng yêu.
Cũng thế, để tả sắc đẹp của Kiều, Nguyễn Du vẽ ra hẳn một bức họa của kiều nữ.
"Làn thu thủy, nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh".
Nhìn thấy những bức họa đó, tùy mỗi người muốn cho một định nghĩa về cái đẹp của cô gái như thế nào tùy ý. Như thế sự diễn tả mới khách quan và tài tình hơn.. Tuy kiểu thơ này đã xưa cũ, nhưng đó là một bằng chứng của sự khác biệt của văn chương với lời nói chưa được thăng hoa.
Trong một khuynh hướng tương tự, để diển tả những kỷ niệm nơi cố hương mà người tình còn ở lại, Cao Tần đã làm người ta thẩn thờ qua những câu:
"Kho tàng ta, em yêu nhìn xem
Dưới ghế công viên anh giấu thời thơ dại
Trên tháp nhà thờ anh giấu niềm tin
Trong vườn cũ, anh giấu thời hạnh phúc
Nơi nụ cười em, anh giấu trái tim" (Chia nhau ngày khốn khó)
Đó là những hạt châu của văn học. Và đó là lý do tồn tại của thơ phú.
Cũng trong chiều hướng khách quan hóa và thăng hoa hóa cảnh đẹp thiên nhiên hay cảm xúc của con người, Loài Dị Thảo của Tuệ Minh nhất định không phải và không thể chỉ có mục đích thuyết pháp hay giảng đạo. Lý do đơn giản là vì chúng cầu kỳ hơn loại thơ này gấp bội.
Thơ mặc áo mới, tắm hương xuân, gội lá thu, như :
-"...xòe tay hứng mảnh sao băng
bỗng loang lụa trắng sáng giăng đất trời..."
(Trong Hạt Cát)
-"lồng lộng giữa trời khối trăng thanh
mây trôi lãng đãng xuyên qua mành...
...tợ như phượng vĩ trưa hè nắng
phe phẩy bờ sông, nước sông xanh...
(Vầng Trăng Cũ)
Thơ bay lên dạo chín từng mây, rồi lại trốn ra dòng suối mát, hứng gió, vọc tuyết, dầm mưa, ngắm trăng:
-"...cô tô có núi sầu miên
trăng câu liêm rụng trời sương nửa vòng..."
(Vọng hàn Sơn Tự)
-"... mây trắng xóa thong dong du cánh hạc
suối trong veo róc rách vọng khách thiền
rừng thông xanh bao la xanh bát ngát
trăng tháng mười tỏa sáng, sáng uyên nguyên..."
(Dư Ảnh)
Thơ sà vào trước sân nhà ngắm lá ngửi hoa:
"..lan cho hoa giữa hạ,
thu về cúc khoe hoan,
mặt hồ thu tĩnh lặng,
chiếu mây trời thênh thang.."
(Dòng Sống)
Rồi thơ thả hồn quyện vào tiếng đàn:
"... lúc trầm lúc bổng cung sầu cung thương
nghe như một kiếp còn vương
cung trầm giaỉ nốt đoạn trường biệt ly,..
(Cung Đàn)
Và đôi khi ... thơ rớt lại buồn tênh một mình:
- "..khi nằm xuống là thu tàn nắng lụn
mái đầu xanh bạc nhẵn tuổi hoang sơ
mây cũng bạc, bạc lên màu trời xám
gió quên đưa chiều chạng vạng sương mù.."
(Tâm Sự Hồn Ai)
-"...nước xanh, xanh dạo mây hồng
dư âm phù thế ngoái trông nhạt mờ
về trong mấy kiếp bao giờ?
một thân chống chọi đôi bờ tử sanh..."
(Về Trong)
Thế đủ rồi, làm được cái chức vụ "tặng phẩm" chưa chắc đã dễ. Ngoài ra, có lẽ thơ không cần có nhiệm vụ gì khác, ngoại trừ đôi khi chuyên chở triết lý, phân biệt với "chất đạo" mà nhiều người đã phê bình thơ ông. Khác với những công trình của "Cục tâm Lý Chiến" hay "Nhà Cách Mạng", những tác phẩm nghệ thuật không "làm" gì to lớn cả, ngay cả không lên lớp dạy học. Thơ cũng không đi trước thời cuộc như những tiên tri. Thơ nghệ thuật cũng không phải là thuốc trụ sinh chữa bệnh cho đời. Phần đông, các thi phẩm nặng nghệ thuật được ra đời để đi "theo" sau những tang thương, là tiếng rên trong cơn đau khổ, tiếng cười trong vinh quang, hay hòa mình tận vui với thiên nhiên, nó đi sau thời cuộc để phản ảnh thế sự. Thơ do đó nhiều khi chỉ là làm một nghệ thuật văn chương, trở thành những tặng phẩm tinh thần cho người yêu thích nó. Hãy xem một vài tặng phẩm:
-"... nước vẫn trôi, cánh chim về bay mãi
lưu lại gì, bóng lặng ảnh phù du
trong thoáng chốc qua rồi không trở lại
có còn chăng ý nhạn vẽ thiên thu"
-"..loài dị thảo tìm về trong nắng trổ
để hương bay mang ướp thắm đôi bờ
chút mỏng manh thơm hoài từ thiên cổ
đã đọng thành sóng cuộn những bài thơ" (Loài Dị Thảo)
Có thể nói, khi mở gói những tặng phẩm này người ta thấy một luồng gió mát, những hương vị nồng nàn, những hạt Oxyen trong lành. Thơ, như thế đã là những liều thuốc bổ cho những con người yêu thích những cái đẹp. Có lẽ đó là công việc tuy khiêm nhượng nhưng rất quan trọng và cần thiết của thơ.
Thật ra cũng có một số người quan niệm khác. Một bức tranh hay một bài thơ, nếu không "cho biết" một tin tức nào đó, như đá banh, chạy loạn, đói ăn, hay cháy nhà,... thì vô nghĩa. Có nhiều người không tán thưởng được một chữ thơ, thí dụ "giọt nắng". Tại sao lại "giọt" mà không nói "tia". có phải đúng hơn hay không? Tôi tạm thời lên tiếng, chữ giọt cũng đúng chứ! Chữ "tia" rất đúng trong hình thái thấy được của mắt người, chưa chắc đúng trong vật lý học hiện đại. Khoa học có lúc gọi là quang tử, như một "hạt" ánh sáng, nay lại xem như nó chỉ là làn sóng, chỉ là một tần số. Do đó, ít nhất chữ "giọt" gần chữ "hạt quang tử "hơn là "tia". Nói biện minh mà chơi thôi, thật ra kinh nghiệm riêng cá nhân tôi cũng có một lần xem được "giọt nắng" qua cái mái nhà lá, thủng nhiều lổ ngày còn bé. Tôi đồng ý với cách gọi này khi tác giả muốn tả cái nhẹ nhàng của nó.
Dẫu sao, ta cũng nên tôn trọng ý kiến "không chấp nhận" của người nghe, và không nên bắt họ phải ngồi nghe "tao đàn", sẽ làm họ khổ sở. Thật ra, cũng có nhiều người làm thơ rất rỗng, cố gắng dùng chữ cho "kêu" mà không cần biết chữ đó có vai trò nào trong câu hay trong bài. Đọc những bài như thế thì tôi cũng đồng ý, ...ngũ sướng hơn.
Đã từng trao đổi và nghe nhiều cảm quan của một số văn hữu về thơ, tôi e dè hơn trong sự đánh giá thơ. Không phải ai cũng thưởng thức thơ giống nhau, và cũng không phải ai cũng có cảm tình với thơ, dù họ có thể đổ nhiều tiền bạc để đi nghe những bài hát được phổ từ những vần thơ bị bỏ quên. Tôi tin rằng kẻ yêu thích văn chương khi đọc thơ của Tuệ Minh sẽ tìm được người đồng cảm. Đó là vì Tuệ Minh thường lấy thiên nhiên làm chủ đề và triết lý là hồn thơ. Không ai có thể nói thương hay ghét thiên nhiên cả. Có thương hay ghét thiên nhiên như "Lòng buồn cảnh có vui đâu bao giờ" thì chỉ là do người buồn vì chuyện của người mà đem cảnh vật ra làm nạn nhân mà dày xéo, nhiếc móc. Khi thương nhau, đóa hoa hồng trao tặng sẽ là một thiên sứ se duyên. Cũng đóa hoa hồng mang đến nhau lúc giận dỗi, chắc sẽ bị vất vập một xó. Còn triết lý nói chung, thường được những vĩ nhân tiên thuyết, không dính dáng gì đến người hâm mộ nó. Ngoài ra, Tuệ Minh thỉnh thoảng làm ngạc nhiên người đọc bằng những mâu thuẩn cố ý:
"...giữa băng giá dậy bờ lau cỏ dại
giữa nắng vàng nghe ươn ướt hạt mưa
giữa trời xuân bao hàng cây chợt ngủ
giữa thiếu thời, tóc nhuộm ủ đong đưa
đôi nét lạ để còn mơ còn mộng..."
(Bừng)
Trong khi Tuệ Minh làm rất nhiều bài thơ có vẻ giũ sạch bụi trần, lòng thanh thản, vô tư trong trắng,
-"... gió thiếp đi giữa chiều thay nắng lục
hoa xuân về ươm nụ đón trời xuân"
(Hồn Xuân)
-".. ngoài song gió nhẹ rì rào
thoáng mùi lan ngọc thoảng vào nơi đây
hoa khoe sắc, mây vẫn bay
hương thơm bách thảo chan đầy lòng ta..",
(Khung Cửa Trời Tây)
-.....
thỉnh thoảng ông để lộ một tâm sự đau buồn của kẻ tha phương tỵ nạn:
"....tâm tư vọng mãi chuông chùa sớm
đáy dạ chưa nhòa vết đạn qua.
nhìn ra ngụm đắng thời chung cuộc
ngẫm đến thầm đau vận nước nhà"
(Thương Sông Núi)
và
"...đêm nay rồi ngắm lại đêm qua
viễn ảnh quê hương khó nhạt nhòa
cũng ánh trăng xưa từ vạn cổ
soi cùng đất khác lẫn quê nhà"
(Vầng Trăng Cũ)
để rồi trăn trở:
"... vào đêm trắng nghe vang dòng tâm sư
hồn du phương đến tận nẻo trời không
lần trở giấc gối đầu trên sóng bạc
rượu linh hồn uống cạn cả núi sông"
(Cạn Dòng)
thôi thì chỉ còn ngồi vuốt đầu ngao ngán:
"...quên gốc gác, quên cuộc đời hư huyễn
giấc nam kha với cát bụi gian truân
nhìn sâu hút một phương trời vận chuyển
vuốt tóc đời trước trán gội trầm luân..."
Càng đọc, ta càng tìm thêm những tia nắng bình minh, những lá thu chưa rụng, những giọt mật, và hương trà. Mong rằng sự tồn tại của những áng thơ đẹp, giống như những kho thuốc bổ tâm linh sẽ được giới thưởng ngoạn cất giữ đúng chỗ của nó.
Tiền-Giang, ngày đọc quyển
Loài Dị Thảo 11/11/00
|