Trở ra Mục Lục
Thủy Thủ và Nhà Sư

(cám ơn Ngô Võ chuyển gửi)

Phần I : Đi Hải Quân.

Từ lúc còn niên thiếu, An thường mơ tưởngđến một cuộc sống hải hồ, lang bạt rày đây mai đó. HÌnh ảnh của một lãng tử với mái tóc bồng trong bộ quần áo bạc màu sương gió luôn đeo đuổi trong trí óc của An. Lớn lên trong buổi chiến chinh, An thuộc thành phần phải bảo vệ đất nuớc. Để thỏa mãn mộng uớc hải hồ và cũng đáp ứng nhu cầu của tổ quốc, An tình nguyện gia nhập binh chủng hải quân của quân lực Việt Nam Cộng Hòa.

Những ngày đầu ở quân trường, An hết sức ngỡ ngàng trong cuộc sống mới. Bao nhiêu mộng uớc hải hồ tan biến theo những đợt sóng biể Nha Trang. Những tuần lễ Huấn Nhục khiến An như đang rơi xuống một vực thẩm không thấy đáy. Phải mất một thời gian An mới quen với nếp sống mới. Từ cung cách đến ý niệm đều được cải bién dần trong khuôn khổ của môi trường mình đang sống. Và sự biến đổi này đã thâm nhập ý thức của An mỗi ngày một chút mà An không hề hay biết, cho đến khi gặp lại bạn bè cũ còn đang tiếp tục con đường bút nghiên, An thấy mình đang thực sự trưởng thành. Chàng không còn là An của ngày xưa nữa. Đối với lũ bạn xét về khía cạnh tình cảm thì không sứt mẻ tí nào mà còn có phần đậm đà hơn nhưng ở góc cạnh suy tư thì An thấy có một hố ngăn cách với chúng bạn. Mọi sự vật chung quanh An và trong An tuy có đổi thay nhưng mộng hải hồ của An vẫn không suy giảm.

Lúc chọn đơn vị An tình nguyện đi biển để thoả mãn mộng uớc của mình. Ngày đáo nhậm đơn vị, khi đặt chân chân lên chiếc tàu, An đang biết sống dấn thân đang bắt đầu.

Trong những chuyến hải trình đầu tiên An thực sự bập bềnh theo nhịp sóng của trùng dương. Những hôm sóng to gío lớn An bị say sóng nôn mủa dù cố gắng áp dụng những điều học hỏi ở quân trường,An cũng không thể nào đè nén đuớc những cơn quặn thắt của dạ dày. An thực tế không giống như mộng tuởng. Nhưng rồi việc gì cũng trôi qua. An quen dần và quen dần. Thời gian của cuộc hải trình kéo dài khiến An thấy nhớ đất liền, nhớ đến gia đình và bạn bè, nhất là nguời yêu bé nhỏ đang trông ngóng từng ngày dõi đôi mắt về một phương trời xa thẩm.

Bấy giờ, những uớc mơ của An hết sức giản dị và lạ lùng. An chỉ mong sao tàu cập bến để đuợc tung tăng chạy nhảy trên đất, đuợc nâng niu nắm đất trong tay và không cần biết đất đó ở đâu. An không còn thấy khó chịu bởi những nhịp điệu bồng bềnh của sóng biển nữa An sống trên tàu tự nhiên như trên đất liền nhưng An vẫn thấy rất thèm thuồng đuợc đi bộ.

An chuẩn bị sẳn sàng cho buổi đi bờ đầu tiên sau một thời gian khá lâu lênh đênh trên mặt sóng nuớc của trùng dương. Một hứng khởi dâng lên trong lòng An. Khi chân An lần theo những nấc thang bên hông tàu để buớc lên bờ, An bỗng nhiên cảm thấy một cái gì đó đang chụp phủ lấy mình. Khi chân An hoàn toàn đặt chân lên đất liền, sau bao ngày trông đợi, An cảm thấy đầu óc bị quay cuồng, trời đất bị đảo lộn, và mọi vật chung quanh như bập bềnh khi nhô lên lúc hụp xuống, buớc chân An sieu vẹo, chân thấp chân cao. Ý nghĩ đầu tiên đến với An là có thể An đang bị trúng gío hay bị cảm bất ngờ, nhưng trực nhớ lại những điều đã học An mới biết mình đang bị Say Đất.

Cuối cùng thì An cũng trở lại trạng thái bình thuờng nhưng cảm giác say đất vẫn đeo đuổi trong tâm mình. Kiến thức quân trường nhắc nhở An rằng trong đầu chúng ta khoảng giữa hai tai, có một bộ phận tựa như "Cái bọt nuớc cân bằng " nếu bộ phận này gặp trở ngại thì sẽ tạo cho ta một cảm giác tương tự như say đất. Tuy những sở học này có lý riêng của nó, nhưng An vẫn thấy chưa thỏa mãn với lối giải thích này. Ngoài ra An còn biết rằng vì lâu ngày sống trên mặt biển, cơ thể tự thích ứng dần với môi trường chung quanh. Lúc đầu, nhịp độ nhồi của sóng biển sẽ làm ta bần thần ngầy ngật, nôn mửa. Khi nhịp độ nhấp nhô của những luợn sóng không thay đổi và qúa sai biệt, cơ thể chúng ta dần dần thích ứng với những hiện tượng đó ; vì thế chúng ta không còn cảm thấy khó chịu khi sống trên tàu. Đến khi về trên đất liền thì cơ thể chúng ta lại gặp phải một sự thay đổi đột ngột trái nguợc. Sống trên tàu, ta là vật đứng yên và biển trong trạng thái động. Cơ thể đã quen với trạng thái đó rồi, bây giờ khi trở về Đất liền ta trở thành động mà đất lại trở thành yên. Chủ thể là đối tượng thay thế vị trí cho nhau, và cảm giác bập bềnh và say lại đến với chúng ta, khác chăng là danh từ bị thay đổi từ " Say Sóng " thành " Say Đất " An còn biết rằng cơ thể ta có khả năng thích ứng với những điều kiện thiên nhiên chung quanh như thời tiết, phong thổ. Rồi mọi việc cũng trôi qua tất cả đì vào quên lãng.

Phần II : Đi Chùa.
Lần này, phép đi bờ của An nhằm vào dịp gần tết Nguyên Đán. Để làm vui lòng mẹ, An đưa mẹ đi chùa. Từ lâu, với An đi chùa là một việc hết súc hủ lậu, mê tín. Chàng thường nghĩ, tại sao mình là con người, là một sinh vật thượng đẳng trong vũ trụ như thế này mà lại xùy sụp lạy những tượng đất vô tri giác để cầu xin một ơn phước, một sự cứu rỗi. Những trò xin xăm trước tượng Quán Thế Aạm Bồ Tát là những mê tín không chấp nhận được. Hơn nữa các ông sư, trong có vẻ ít hiểu biết ; làm sao tin được những lời thuyết pháp của các ông ấy. Nhất là hiện tượng phe phái, tranh chấp những ông sư với nhau khiến An không có mấy thiện cảm với mấy ông tăng ; đó là chưa kể nhiều ông sư làm chánh trị làm lợi cho cộng sản ; những ông tăng cạo đầu trốn lính, những thầy tu chạy theo những hào nhoáng của danh vọng và vật chất thế tục.
Giờ đây, sau một thời gian lăn lóc với đời, An mới thấy sự hy sinh cao quí của mẹ chàng. Là một người đàn bà góa, mẹ chàng đã buôn tảo bán tần để An và các anh chị em được cắp sách đến trường sau một thời gain lăn lóc với đời, An mới thấy sự hy cao quí của mẹ chàng. là một người đàn bà góa bụa mẹ chàng đã buôn tảo bán tần để An và các anh chị em được cắp sách đến trường. Mẹ chàng phải thức khuya dậy sớm để kiếm từng đồng cho các con đóng tiền trường. Mọi ước mơ khiêm nhường nhất của người đàn bà bình thường đều bị lãng quên trong cuộc sống của mẹ chàng. Bà đã hy sinh quá nhiều cho các con và hy sinh đến độ bà không còn biết rằng mình đang hy sinh. Chỉ khi nào các con bà biết những thành quả trong việc học vấn của chúng thì bà mới thấy mãn nguyện, trong ánh mắt, nụ cười của bà. Hôm tiễn chân An vào quân trường, mẹ An không cầm được giọt lệ và nghẹn ngào chỉ nói được một câu : “ con cố gắng nên người “ ! chỉ bấy nhiêu lời nhưng chan chứa biết bao nhiêu là tình thương của người mẹ. Do đó An dẹp bỏ những thành kiến xấu về đạo Phật, khi mẹ bảo chàng đưa mẹ đi chùa.

Ngôi chùa mà mẹ An muốn đến, tọa lạc ở vùng ngoại ô. Chùa sậm màu cũ kỹ, vườn cây chung quanh làm tăng thêm vẻ tĩnh mịch. Phong cảnh quanh chùa rất là thanh tịnh và êm đềm. An theo mẹ vào chùa. Tuy là ngày lễ kỷ niệm Đức Thích Ca thành đạo, nhưng nơi đây lại không tấp nập Phật tử như những ngôi chùa trong thành phố. Vị trụ trì là một sư ông tuổi khoảng sáu mươi. Mẹ chàng kính cẩn vái sâu vị trụ trì, và được ông chào lại một cách khoan hòa. Nét mặt nhà sư hiền từ, gương mạt hồng hào, giọng nói nhẹ nhàng nhưng ấm lòng người nghe. Đặc biệt là đôi mắt trong sáng, tia nhìn tràn ngập tình thương. An cảm thấy niềm an lạc trong đôi mắt. Vị sư đi đứng trông rất khoan thai và thanh thoát. Tự nhiên chàng nhận ra sự khác biệt, giữa vị sư này với chư bậc đại đức, thượng tọa hòa thượng chức sắc mà chàng đã gặp.

An theo mẹ lên chánh điện lễ Phật. Hôm nay chàng mới có dịp nhìn kỹ một tượng Phật. Thế ngồi của tượng Phật trông rất vững vàng, khuôn mặt rất là người, đôi mắt của tượng chỉ khép hờ, trông có vẻ hững hờ với thế gian. Nhìn kỹ hơn trong đôi mắt của tượng đất, An thấy dụng ý của người nắn tượng, đó là một niềm an lạc.
An định bụng sẽ vấn nạn vị trụ trì về tượng Phật. An sẽ hỏi vị sư về việc cứu độ, ban phước, phán xét của tượng đất đối với những thỉnh cầu, van xin của các Phật tử. Và tượng đất có quyền năng gì đối với chúng sinh. Nếu tượng có quyền năng.. thì ai ban cho tượng đất cái quyền lực siêu hình ấy... có phải chăng là ông thợ nắn tượng ?.
Bao nhiêu thắc mắc cứ lởn vởn trong đầu. Chàng kiên nhẫn tham dự hết buổi lễ. Những tiếng tụng kinh hòa lẫn với tiêng chuông mõ càng khiến An phân vân và thắc mắc thêm. Sau khi hành lễ xong,vị trụ trì bắt đầu tuyết pháp. Vị sư dẫn giải và nguồn gốc về xuất xứ của đạo Phật từ lúc thái tử Sĩ Đạt Ta xuất gia cho đến đắc đạo. Giọng nói của nhà sư chậm rãi, rõ ràng, nội dung rành mạch giúp người nghe lãnh hội dễ dàng.

Phần III: Những Câu Hỏi cho vị sư.
An mê say theo dõi bài thuyết pháp của vị sư và chàng học được nhiều điều mới nơi bài giảng, tuy vẫn còn nghi ngờ về tính cách huyền hoặc của câu chuyện. Nhưng chàng không tiện hỏi vị sư ngay lúc đó vì vậy sẽ làm va chạm tới sự tín ngưỡng của mẹ chàng và các tín đồ. An kiên nhẫn chờ dịp thuận tiện để vấn nạn nhà sư. Khi các tín đồ ra về bớt, nhân lúc vị sư không bận tiếp khách An đến thưa hỏi :
- Bạch hòa thượng, tôi có vài điều muốn thưa hỏi, xin hòa thượng vui lòng giải thích.
Vị sư ôn tồn đáp lại :
- Cậu có điêu chi thắc mắc xin cứ nêu lên, chúng ta cùng thảo luận, nếu trong nhất thời tôi không thỏa mãn được những câu hỏi của cậu, tôi sẽ tra cứu lại trong kinh sách để giải tỏa những nghi ngờ của cậu.
An thưa: -
Tôi thường nghe nói Phật gi�áo là đạo giải thoát. Vậy giải thoát là giải thoát những cái gì ? và những gì khi tụng kinh cầu nguyện như vậy thì đức Phật sẽ làm gì để đáp ứng những cầu xin của chúng sinh ?.

Vị sư già nở nụ cười rất cởi mở và với giọng nói hiền hòa,ông trả lời : -
Giáo lý của Phật rất phong phú ý nghĩa rất cao siêu và mầu nhiệm. Nhiều tu sĩ phải trải qua nhiều năm có khi còn chưa lãnh hội được ý của đức Phật. Điểm đặc biệt trong đạo Phật là không phải có bằng cấp cao, học nhiều hiểu rộng rồi nghĩ mình hiểu đạo. Giáo lý nhà Phật không phải để hiểu mà chỉ là phương tiện để giúp hành giả chứng nhập tự tánh của chính mình. Trong buổi mạn đàm thế này, chúng ta không thể soi sáng hết đuoc vấn đề mà cậu thắc mắc. Tôi cố gắng trong phạm vi hiểu biết của mình, trình bài vài nét chính yếu của giáo lý. Phần cậu, cậu cũnng nên dàng chút thời giờ để suy tư những điều đó, và nếu có thể, cũng nên thực hành thì mới mong lãnh hội được những tinh yếu của đạo nhiệm mầu.

Trong thắc mắc của cậu có hai phần, đối tượng của sự giải thoát trong đạo Phật và quyền năng của đức Phật đối với chúng sinh. Tôi trả lời phần thứ hai trước.
Vị sư già nhấm chút trà trước khi tiếp lời : -
Chủ đích của người Phật tử khi công phu là phát nguyện làm điều lành, tránh điều sai quấy, sám hối và tự nguyện sửa đổi những lỗi lầm sai trái mà mình đã phạm phải trong quá khứ qua các hành động, lời nói và ý nghĩ. Người Phật tử phát tâm vị tha bằng cách tự gánh chịu các khổ não của cuộc đời để cho tất cả chúng sinh được an lạc. Người Phật tử quyết tâm nương theo giáo lý của đức Phật để tự tu sửa bản thân mình chứ không phải người Phật tử đến chùa để van xin đức Phật cứu độ, ban ơn phước hoặc phán xét các tội lỗi của chúng sinh, khen thưởng và ban niết bàn cho những Phật tử ưu tú.
Tôi xin minh định với cậu rằng đức Phật không có khả năng đó vì đức Phật chỉ là một con người bình thường như cậu và tôi. Đức Phật không phải là thượng đế ; đức Phật không có khả năng sáng tạo, phán xét ngài thấy thực trạng xã hội loài người là những chuỗi khổ đau xuất phát chính từ ý niệm của con người. Những cái mà con người cho là hạnh phúc, sung sướng chỉ là những sản phẩm của ý niệm. Mà ý niệm là gì ? Là khi những giác quan của chúng ta tiếp xúc với trần cảnh bên ngoài, tư tưởng của chúng ta sẽ nổi lên những so sánh, chọn lựa và phán đoán ; từ đó mới có sự ưa thích hoặc ghét bỏ. Những gì chúng ta ưa thích, thì chúng ta cho là hạnh phúc, và nếu ngược lại thì chúng ta cho là đau khổ.

Vị sư dừng lại, như để cho lời nói đó thấm nhập vào trí óc của An. Thật vậy, những gì nhà sư vừa nói quả là quá mới đối với An. Có thể nào giáo lý của một tôn giáo lại tách rời khỏi những van xin, cầu khẩn, ban phước ? Trong khi An đang phân vân với những khám phá mới mẻ này, An có cảm tưởng như đức Phật lâu nay chểnh trệ ngự trên ngôi cao của một cõi nơi xa xăm nào đó bỗng nhiên rớt xuống một cái bộp trước mắt An, với ánh mắt chan hòa tình thương và nụ cười cởi mở, một đức Phật rất là người !.
Vị sư già tiếp tục :
Giáo lý nhà Phật vạch cho chúng ta nhiều con đường để tự chúng ta ra khỏi những rừng rậm tà kiến. Ra khỏi những móng vuốt của khái niệm, điều phục được những sự ham muốn, chế ngự được ngoại cảnh thì gọi là giải thoát. Đây là giải đáp phần thứ nhất của câu hỏi.
Vạn vật vô thường bị chi phối bởi định luật, Thanh, Trụ, Hoại, Diệt. Và tự đồng hóa thể tánh chân thường của mình - vốn bất sinh bất diệt - với sự vô thường của thế giới hữu vinên con người cảm thấy khổ trước những đổi thay của cuộc đời. Nếu đi sâu vào sinh hoạt của tâm thức, chúng ta sẽ thấy rằng những ý niệm của chúng ta chạy theo ngoại cảnh nên mới bị điên đảo.
Lục Tổ Huệ Năng dạy rằng : ngoài dứt các duyên, trong không vọng niệm tức là mình làm chủ lấy mình. Trần cảnh tự nó không có thể tánh, chạy theo nó tức là ta chạy theo cái hư dối nên phải chịu trần lao.

An bắt đâu cảm thấy choáng váng, trước những lý luận của nhà sư nơi thôn dã, An vội ngắt lời :
-Cái mà hòa thượng gọi là trần cảnh vốn không có tự thể đó, dù lý luận như thế nào chăng nữa thì chúng vẫn là những hiện thực dính liền với đời sống của con người ; làm sao tách rời khỏi nó được để diệt những ý niệm móng khởi ?

Vẫn với giọng nói nhẹ nhàng ông đáp:
Ý kiến của cậu rất xác thực. Cái gọi là trần cảnh đó, nhà Phật gọi chung là sắc. Cậu hãy quan sát xem tất cả vật chất trong cõi đời nầy, có cái gì mà nó tự phát sinh nó được không ? Bất cứ những gì mà cậu thấy nghe hay biết đều được cấu tạo những yếu tố khác nó và những nhân duyên.

Nếu thiếu những yếu tố ngoại lai nhân tố nội tại thì mọi vật ở đời nầy đều không thành hình. Lý luận nầy được đưa ra để chúng ta cùng nhận thức rằng sắc không có thể hay nói khác tự thể của sắc là KHÔNG, chứ giáo lý nhà Phật không hề bảo rằng, Không Có Vật Chất.
Cậu nghĩ xem, nếu vũ trụ nầy không có sắc tướng thì lấy gì làm thế giới ? vậy xác tuy vô thường, nhưng vẫn hằng hiện hữu.

Để cậu không phải rối trí, tôi đề nghị cậu nên dành tí thời giờ để suy tư, và tôi tin rằng chúng ta sẽ có cùng cái nhìn là Tâm và Pháp – tức là sắc – là những thứ thường hằng và bản nhiên thanh tịnh. Co’ – Không, Đau Khổ – Hạnh Phúc- Thương và Ghét... nó xuất phát từ niệm vô minh của chính mình. Nếu chúng ta buông bỏ "thành kiến, khái niệm, qui ước... tức là niết bàn tại thế vậy".

Phần IV: Hiện Tượng Say Đất.

Nhà sư có vẻ như thông cảm với những cảm tưởng mới trong An nên đã không dài dòng làm An rối trí. Riêng An cảm nhận nơi lời nói của nhà sư có những gì gần gần với niềm thắc mắc của mình về cảm giác say đất mà người đi biển được nếm mùi. An kể lại cho nhà sư nghe chuyện say đất của mình và lễ phép hỏi : -
Thưa hòa thượng, trong trườ�ng hợp này thì nhà Phật sẽ giải thích ra sao ?

Nhà sư vẫn ôn tồn, ông nói : -
Vấn đề cậu đưa ra có vẻ� phức tạp, và sâu sắc. Âu cũng là cơ duyên để cậu đi vào đạo lý cao siêu của đức Phật. Như tôi vừa trình bày, thành kiến cũng như khái niệm của chúng ta phát sinh qua một chuỗi dài duyên nhau của ngoại cảm không ra ngoài các thứ : Sắc, Thanh, Hương,Vị, và Xúc. Các trần cảnh này thông qua năm giác quan : Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi và Thân Tạo. Nên năm cái biết trong tâm thức : Nhãn, Nhĩ, Tỉ, Thiệt và Thân Thức.

Cảm giác say đất đó không thuộc các trần cảnh vừa kể. Hiện tượng trên tuy vẫn thuộc sắc tướng và không ra ngoài cảm nhận của giác quan nhưng được xếp vào chuỗi liên hệ sau : Pháp duyên với ý gây nên cái biết thuộc về ý gọi là ý thức.
Thật vậy, sự việc sóng nhồi, nếu thuộc về sắc thì khi duyên với con mắt của cậu, thì con mắt của cậu sẽ bị say sóng. Cái say đó thuộc vè con mắt, thì có dính dấp gì đế chân của cậu, thế mà sao chân của cậu lại có bước cao bước thấp ? Thế thì cái say đất của cậu không do con mắt duyên với sắc mang lại.

Tương tự, hiện tượng sóng nhồi đó không liên hệ gì đến thanh, hương, vị, xúc cả ; do đó tai, mũi luỡi,thân không phải là trung gian gây cảm giác “ SAY ĐẤT “của cậu. Chính ý của cậu duyên với sự bềnh bồng, mà trong nhà Phật gọi là pháp, góp phần tạo nên cảm giác say đất trong cậu. Mỗi ngày ý niệm của cậu duyên với pháp đó không biết bao nhiêu lần và sau nhiều ngày duyên nhau thì sự huân tập đó ăn sâu vào tiềm thức của cậu, khiến cậu có cảm tưởng cân bằng sinh lý trong thời gian sống trên tàu.

Giả sử cậu sống trong cùng một điều kiện như vậy trên tàu trong khoảng thời gian lâu hơn, như là : hai mươi năm, ba mươi năm,hoặc năm mươi năm thì cậu khó mà hội nhập trở lại đời sống trên đất liền. Lúc đó cậu sẽ thắc mắc tại sao con người trên đất liền sống trong tình trạng cây cối nhà cửa lúc nào cũng nhảy múa. Nhưng cậu có biết đâu sự nhảy múa quay cuồng đó là ý niệm của cậu quay cuồng chứ nhà cửa cây cối có phải là sóng biển đâu mà bảo nó bập bềnh nhấp nhô ?.






Hosted by www.Geocities.ws

1