Trở ra


Nguyễn t. Phúc





Tha Hương ngày 4 tháng 4, năm 2004

Sau kỳ nghỉ phép thường niên trở về, đọc được thư của thầy Nhân đề ngày 16/03/2004 trên diễn đàn "RG Trăm Nhớ Ngàn Thương", chúng tôi cảm thấy cần phải lên tiếng. Nếu không có thư đáp lại, đâm ra thư của thầy trở nên … thế nào ấy (chúng tôi nhường lại cho đọc giả tìm chữ thích đáng). "Thế nào ấy" vì thư thầy đề là "Phú và Hào thân mến", nhưng thầy không gửi thẳng cho hai người đó, ít nhất là Lý Minh Hào chưa hề nhận được trước khi thầy đăng lên và công bố như một thông cáo. "Thế nào ấy" là vì theo chúng tôi nghĩ, nếu có thầy cô nào tham dự trong ban tổ chức, chắc họ sẽ chỉ đứng làm sợi dây nối kết, chuyện lớn làm ra nhỏ, và chuyện nhỏ làm cho không có gì. Đối với những tổ chức hoạt động mà họ không tham dự, họ sẽ lui vào hàng khán thính giả để xem các thế hệ trẻ hơn ra tài lãnh đạo tổ chức cho mọi người gặp nhau trong yêu thương.

Xin lỗi tất cả quí thầy cô, và các bạn đáng kính mến. Trước khi tiếp tục phát biểu, thiết tưởng chúng tôi cần xác định vị trí và chỉnh danh. Chúng tôi gọi "thầy" Nhân trong thư này, không phải vì chúng tôi là học trò của ông Nhân, mà vì chức nghiệp của ông đã từng dạy ở trường Nguyễn Trung Trực (cũng như rất nhiều thầy cô khác, trong thế hệ trước ông, thế hệ cùng với ông, và thế hệ sau ông), và nhất là vì chính ông đã dùng chữ "người Thầy cũ" trong bài viết.


Phong cách của một lá thư.

Khác với thái độ trong thư của thày Nhân, thiết nghĩ chúng tôi không có tư cách để đòi này đòi nọ với ban tổ chức, chỉ đặt vấn đề trao đổi ý kiến với thư thầy Nhân mà thôi. Với danh nghĩa một người trong nhóm thân hữu thầy trò Rạch Giá Kiên Giang, tư cách của chúng tôi trong lá thư này cũng giống như vị thế của thầy Nhân trong lá thư của thầy vậy thôi. Nghĩa là, cũng không phải là chính trị gia, không phải là nhà cách mạng, không phải là đại diện của trường nào, không phải là già nhất, cũng không phải là trẻ nhất. Và quan trọng nhất, cũng không phải là người trong ban tổ chức. Đây chính là điểm chúng tôi muốn nhấn mạnh.

Lá thư thầy ký tên là "người thầy cũ", là có ý xử dụng uy thế trong mối tương quan thầy trò để trám miệng mọi người. Nếu thầy đã ở trên một đất nước dân chủ tự do khá lâu, có lẽ thầy nên hiểu điều này rõ rệt hơn, sẽ lấy làm tiếc và hối hận về cung cách thầy đã biểu lộ trong lá thư vừa qua. Chữ thầy, đàng sau học đường, chỉ còn ý nghĩa liên hệ kỷ niệm, mối dây ân tình và đạo nghĩa. Ở bên ngoài lớp học, chữ Thầy không có nghĩa là thầy biết hơn trò ở các lãnh vực chuyên môn khác, không có nghĩa là luật lệ hay mệnh lệnh, càng không có nghĩa là "nể vì" trong các vấn đề tự do tư tưởng. Nhiều bậc thầy cô đã hãnh diện và khiêm nhượng tuyên bố rằng nhiều cô cậu học trò bây giờ đã có trình độ học vấn rất cao, có người đã thành học giả, bác sĩ, chuyên gia,… đã làm cho họ phải nể phục.

Người dân ở nước dân chủ cho rằng, dùng sự vị nể, dùng cái liên hệ tình nghĩa, để áp đặt ý muốn của mình lên người khác, là một sự lạm dụng. Tình cảm tự nhiên của con người bình thường là thương kính thầy như cha mẹ. Nhưng lạm dụng liên đới thầy trò để áp lực lên việc làm của trò là một hành động không đáng kính nể chút nào. Việc này cũng giống như người cha lấy uy quyền làm cha để ép duyên con cái. Việc này giống y như một cô gái lợi dụng sự yêu thích của người yêu để nũng nịu đòi mua hạt kim cương làm cháy túi người si tình. Không có gì khác nhau cả.

Xin trở lại điểm "không phải là thành phần trong ban tổ chức". Nếu tìm hiểu các hoạt động trong các ngành nghề trong xã hội dân chủ Âu Mỹ, có lẽ thầy sẽ biết qui luật dân chủ rõ hơn. Khi có nhiều chương trình hoạt động, mỗi chương trình sẽ bầu ra một nhóm người lãnh đạo. Người nào thích lãnh đạo sẽ phải chờ đến khi có cơ hội, sẽ tranh đua với những ứng cử viên khác một cách dân chủ để biểu dương tài năng của mình. Và mọi quyết định đều tùy theo nhóm đó biểu quyết, những người khác không được xen vào đòi "lãnh đạo". Ứng dụng cho những việc tổ chức hội ngộ thầy trò RG, mỗi địa phương đều đã có cơ hội , hoặc sẽ có cơ hội để đứng ra tổ chức theo khả năng, tinh thần, và sáng kiến của mình. Trước khi nhận nhiệm vụ, thiết nghĩ dân địa phương đều có cơ hội tình nguyện ghi tên vào thành lập ban tổ chức. Những người hy sinh vì công việc chung này đã họp nhau nghiên cứu những bài học và kinh nghiệm của nhóm trước, sửa đổi để tránh những khuyết điểm mà các tổ chức trước phạm phải. Những kinh nghiệm này có thể là những kinh nghiệm thành công, có thể là những thất bại. Ban tổ chức có lẽ đúc kết những kinh nghiệm trước để tránh những vấn đề hay nhược điểm của người đi trước. Không có lý do gì những người không phải là ban tổ chức phải đường đột cho ý kiến, nhất là thái độ đưa ý kiến một cách độc đoán, một chiều, chưa kể là thiển cận, hẹp hòi.

Có lẽ thầy còn nhớ câu "Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân". Giả dụ thầy tổ chức hay ở trong ban tổ chức, và bị người bên ngoài đòi "đưa ý kiến một cách không thân thiện" thầy sẽ cảm thấy thế nào? Thật ra, sự việc xảy ra còn tệ hơn thế gấp bội. Không phải chỉ đưa ý kiến không thân thiện, mà một số những người ở ngoài còn xuyên tạc, gán ghép, dè bĩu, rỉ tai, khiêu khích, và vận động mọi người tẩy chay. Thầy sẽ gọi những người đó là gì, nếu không phải là "đánh hôi, và phá đám"? Và thầy lại chen vào trong nhóm người đó, và tự xem là "đa số". Thày có thấy rõ tính cách thiếu dân chủ của hành động đó chưa? Nếu chưa, xin nhắc lại cho thầy một điểm. Những người "không ồn ào" không phải là ít. Nếu họ không lên tiếng, không có nghĩa là họ đồng ý với những người "ồn ào". Làm sao thầy có thể nói ý thích và hành động của những người mà thầy thường tiếp xúc là đa số? Chúng tôi cũng cảm thấy quan điểm của chúng tôi cũng đa số, và chúng tôi cùng có thái độ "không ồn ào" một cách giống nhau. Vậy có cần làm một cuộc thăm dò như cuộc vận động chính trị cho việc tổ thức "thân hữu" này không?

Hãy đợi đến phiên mình trổ tài, như vậy có phải công bằng và tiến bộ không? Ở trên, chúng tôi dùng chữ "không thân thiện" khi thầy viết lá thư vừa qua, vì thầy đã không có thiện chí và thiện tâm. Không thiện tâm vì thầy chưa từng hỏi thăm trò Lý Minh Hào để tìm hiểu thực hư khi có trò khác thóc mách sự việc. Thầy chỉ nghe có một chiều, một tiếng chuông, thế là thầy xuống bút phê ngay lập tức. Phán đoán một việc mà chỉ nghe có một đàng thì sự phán đoán đó có giá trị thế nào, thưa thầy, nếu không phải là "hàm hồ"? Còn chữ "không có thiện chí" là vì thầy đã gieo một không khí gây hấn trong những người mà đáng lẽ ra phải tìm nhau trong ấm cúng mà nhóm tổ chức nào cũng muốn tạo dựng. Họ đang đổ hết thời giờ và nhân lực để tìm cách tạo ra cái không khí đó.

Khi thầy nói "Nếu bạn không muốn nhìn nhận mình là dân tị nạn chính trị nữa, không muốn chào cờ thì cứ việc ở ngoài ", có phải chăng thầy vô tình hay cố ý "chụp mũ" tư tưởng, vạch thêm ranh giới chia rẻ, kỳ thị, nghi ngờ, và hiềm khích vì những quan điểm chính trị khác nhau? Thày có nghĩ đến câu nói như thế sẽ ảnh hưởng ra sao trong tương lai chưa? Thay vì xem nhẹ sự bất đồng quan điểm chính trị, thì thầy lại phân biệt thái độ theo tiêu chuẩn và định nghĩa một chiều như thế, thì việc xảy ra trong tương lai gần hay xa, là phe này không thèm đi tổ chức của phe khác, chưa kể đến những cuộc chiến tranh lạnh cứ ăn mòn gậm nhấm trong đồng hương và thân hữu Rạch Giá Kiên Giang. Thay vì thầy tìm thái độ thích ứng để giảng cho nhau câu "Hoà Nhi Bất Đồng" theo lối sống dân chủ, thì thầy lại ép người ta làm "hòa theo điều kiện của một bên". Có nghĩa là thầy tiếp tay với những người phá đám đó, trực tiếp và công khai chặt đứt sợi dây thân hữu mà các tổ chức đều lấy đó là điểm tựa duy nhất cho việc tổ chức.

Mục đích của chúng tôi không phải là để chỉ trích thầy Nhân, mà là để phân tách vài vấn đề, mong có được nhiều người hiểu thêm một vài sự kiện, hầu có thể đi đến tôn trọng tư tưởng của nhau trong tương lai. Người Việt ta vốn quen sống trong lề lối kém dân chủ, cho nên mỗi khi nói "họ bất đồng chính kiến", có nghĩa là họ không thể ngồi chung bàn để nói chuyện với nhau. Nhưng đối với người Mỹ (quen với tinh thần dân chủ), chuyện bất đồng chính kiến là chuyện quá tầm thường, không làm cho họ trở thành thù nghịch. Ở quê người đất khách trong giai đoạn bất ổn về tâm lý, chúng ta cần phải nổ lực thực tập lối sống dân chủ, châp nhận ý tưởng bất đồng, để sống trong hòa thuận, lấy câu "bất đồng mà không bất hòa" làm châm ngôn cho thái độ.

Chúng tôi xin tạm gác lại phần hình thức của lá thư thầy Nhân, để thử phân tích những điểm về nội dung trong lá thư của thầy.


Nội dung

Thoạt vào đầu, thầy nói "Tôi được biết dư luận …", chứng tỏ cách làm việc của thầy không có căn bản chắc chắn. Có lẽ thầy còn nhớ câu chuyện "Tăng Sâm giết người" được kể trong "Cổ Học Tinh Hoa" có ý dạy người đừng nghe dư luận hoặc những lời đồn đãi như thế nào chứ? Dựa trên dư luận thì làm sao phán đoán minh mẩn và chính xác ?

Có rất nhiều chỗ trong thư Thầy viết đã áp đặt tư tưởng lên đối tượng. Thói quen này đi ngược với tinh thần dân chủ, nói khác đi, đó là cách nói chuyện của những người có quyền lực ở những nước kém mở mang, không khác chế độ cộng sản bao nhiêu. Hãy thử đọc lại từ đầu thư của thầy để xác nhận điều này. Khi dùng chữ "định bỏ chào quốc kì", thầy đã đặt trước một giả thiết, cho rằng việc chào cờ là một việc đương nhiên phải có trong buổi họp mặt. Rồi từ đó suy ra rằng hễ tổ chức nào không chào cờ có nghĩa là họ đã bỏ "thông lệ". Trong thư, thầy phê rằng "Mấy chữ phi chính trị rất hàm hồ ". Thầy khẳng định phải đem chính trị vào việc làm, vậy chúng tôi thử đem ra vài nhận xét về chính trị để thưa với thầy, để gọi là có xướng có họa, và để xem sự lựa chọn thái độ "phi chính trị" có "hàm hồ" như thầy nói hay chăng. Thầy muốn đem chính trị vào chuyện hội ngộ, vậy xin thầy cố gắng nghe những lời thật mất lòng nhé, để khỏi mang tiếng là độc thoại, và độc đoán.


Quốc Kỳ và lá cờ.

Vào bài, đoạn thứ nhất trong phần định nghĩa, thầy giảng: "Việc chào quốc kì là tỏ lòng tôn kính đối với hồn thiêng sông núi, đối với anh hồn của những người đã xây dựng nên quốc gia, và đã chiến đấu để bảo vệ quốc gia đó." Hoan nghênh thày. Vâng, ý nghĩa này thật là cảm động. Với ý nghĩa này, ta phải chào các quốc kỳ từ thời lập quốc, đó là thời các vua Hùng, đến thời đánh đuổi quân Tàu ra khỏi bờ cõi nước nhà như Ngô Quyền, rồi Đinh, Lê, Lý, Trần, v.v.…và gần nhất là những lực lượng nghĩa quân đã dánh đuổi Pháp, Nhật, và các thế lực liên minh với các đế quốc này. Và ta phải chào những cờ đó trong mỗi cuộc họp mặt có tính cách dân tộc trên lãnh thổ mà chúng ta đáng lẽ đang được sống, đó là lãnh thổ Việt Nam, thày ạ. Có điều là không phải "chào hoài đâm nhàm " như thày nói. Lúc nên chào, chỗ phải chào, như ở công sở, thì việc chào mỗi sáng vẫn không ai dám gọi là nhàm cả.

Đứng trên lập trường dân tộc, oái oăm thay, lá cờ vàng ba sọc đỏ "kỷ niệm" của chúng ta chẳng có áp dụng được vào cái ý nghĩa nào trong câu thầy giảng ở trên cả. Xin nhường cho quí đọc giả tìm hiểu. Và cũng rất oái oăm thay, hiện nay, lá cờ mà ta ghét cay ghét đắng ở bên nhà, lại là lá cờ đáp ứng được hết ý nghĩa mà thầy nói. Dưới bóng cờ đó, quá nhiều sinh mạng phải mất đi, nhiều dòng máu tươi đã đổ ra, gấp bội lần số sinh mạng của quân miền Nam ta, để đánh đuổi được quân Pháp và sau này là Mỹ, một cường quốc lớn nhất thế giới. Oái oăm lắm, phải không thầy.

Khi chúng tôi vừa đặt chân lên Hoa kỳ trong hoàn cảnh tức tưởi xót xa của năm 1975, tôi có thư cho một người Pháp, đã từng có liên hệ với song thân ngày xưa, để nhờ bà này viết thư cho gia đình chúng tôi biết rằng chúng tôi được an toàn, chưa mất mạng trong cuộc chạy loạn. Người đàn bà Pháp trả lời một cách phủ phàng (đối với tâm trạng chúng tôi lúc đó) rằng " Mầy than van gì vậy? Nước VN của mày ngày nay là nước mà cả thế giới đều kính nể". Đó là sự thật, dù là sự thật rất đau lòng. Trận chiến Điện Biên Phủ đã làm cho Pháp phải rút bàn tay nhám nhúa ra khỏi Việt Nam. Và 21 năm sau, đệ nhất cường quốc Hoa kỳ phải bàng hoàng cuốn gói chào thua.

Dù có phủ nhận bằng cả trăm ngàn giấy mực,lá cờ của miền Bắc đã trở thành quốc kỳ Việt Nam ngày nay với đầy đủ ý nghĩa hào hùng của một quốc kỳ, đã giành lại độc lập tự chủ cho cả đất nước. Dù chúng ta có muốn nhắm mắt bịt tai, thì cái thực tế, lá cờ vàng ba sọc ngày xưa gọi là quốc kỳ ở miền Nam, giờ chỉ còn là kỷ niệm, một kỷ niệm đau buồn. Chúng tôi biết rõ, sự thật này chưa ai trong chúng ta dám nói. Vì nếu ai nói ra thì lập tức sẽ bị những người tự cho là tranh đấu cho "nhân quyền", "tự do" giáng tai hoạ đủ thứ ngoài việc sẵn sàng chụp cho cái mũ CS lên đầu. Những người này chỉ có thể và thích thú làm như thế, vì khi đổ tội và chụp mũ xong thì khỏi cần phải trực diện với những luận lý, khỏi phải suy xét đúng hay sai vì họ đạp bừa lên lịch sử để được thong dong, cùng những người có "cùng tần số" ca ngợi tuyên dương nhau một cách thoải mái. Được thể, những người này tự cho mình là chính nghĩa, và nói như học thuộc lòng.

Lý và tình.

Trước pháp lý, và trước tiền đồ của dân tộc, chúng ta chẳng có công trạng gì để tự hào với hậu thế. Trái lại quân đội miền Bắc đã chiếm được danh dự này. Đó cũng là lý lẽ và là một sự thật. Nhưng nói đến tình, nghĩa là nói đến chế độ đối với dân chúng, thì sự hà khắc của chế độ độc tài cộng sản không thể kéo dài mãi mà không có một biến chuyển thích hợp, êm ái hay không êm ái. Đó là chuyện ắt có và sẽ có. Điều quan trọng là sự khắc nghiệt của miền Bắc đã không làm cho chính quyền miền Nam trở thành chính nghĩa, bởi vì chế độ ở miền Nam lại có những con vi khuẩn tệ hại khác, dưới hình thức khác mà thôi. Do đó chế độ của miền Bắc không dính líu gì đến căn cước chính trị của người tỵ nạn.

Ngày xưa, chúng tôi cũng như những người trong hàng ngũ miền Nam, giữa một bên là chế độ cộng sản hà khắc quá mức chịu đựng của con người, và một bên tự do được bảo đảm bởi chính sách người Mỹ chủ trương, đã tham dự hăng say chiến đấu chống lại miền Bắc, chỉ mong cho toàn dân được thoát nạn khổ ải. Giả như sự thống nhất đất nước về phía ta, và nếu lãnh tụ của ta khá hơn, có lẽ ta sẽ được tân tiến như Nam Hàn. Nhưng lãnh tụ của ta (miền Nam) không được trong sạch, không lo cho việc an nguy nước nhà. Một chế độ thì lo độc tài tôn giáo, một chế độ khác thì lo vơ vét của công. Cả hai chế độ đều ăn gian của viện trợ. Viện trợ cho đám người như thế, thì núi cũng lỡ, chớ làm sao làm được việc gì. Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu tuyên bố không đánh nữa khi người Mỹ rút quân năm 1973. Với những lãnh đạo như thế, có thắng được miền Bắc thì cũng chưa chắc hơn Phi Luật Tân, làm sao so với Nam Hàn hay Nhật Bản được. Thật là nhục nhã khi ta có các nhà lãnh đạo như thế!. Trong khi đó, miền Bắc không có quân đội ngoại quốc tiếp tay, không có tiền viện trợ dồi dào như tiền Mỹ cho miền Nam, họ vẫn kiên trì chiến đấu. Không có tài liệu lịch sử nào chứng tỏ rằng quân đội Pháp, quân đội miền Nam, và quân đội Mỹ bắt được một tù binh ngoại quốc nào từ bên phe miền Bắc cả. Vậy chiến thắng của họ có xứng đáng không?

Chưa nói đến nếu thời Đệ Nhất Cộng Hòa mà thống nhất được hai miền, thì liệu dân Việt Nam có tránh được thảm họa như ở Rwanda (tàn sát người khác đạo, gần 1 triệu trong số 6 triệu dân) cách đây 10 năm. Trong thời đệ Nhất Cộng HOà, ở các tỉnh thuộc liên khu 5 đã bị sát hại tới 300,000 (ba trăm ngàn) (xem chú thích 1) người trong những chiến dịch mệnh danh là tố cộng. Tài liệu đăng tải ở ngoại quốc (cũng may, nhờ sang Mỹ mới tìm được bộ mặt thật của các cuộc tố cộng) cho biết nạn nhân không phải là cộng sản, mà chỉ là những Phật tử không chịu theo đạo. Chắc thầy có thể tự tìm lấy tài liệu để chứng minh điều này chứ. Có cần bàn cãi về mục này không?

Ngày nào chúng ta làm một cuộc họp mặt ở miền Nam Việt Nam, chúng ta sẽ cùng chào lá cờ (ba sọc) ngày xưa mà chúng ta cùng chào, để thương tiếc những người chiến sĩ miền Nam đã bỏ mình cho chúng ta được tiếp tục sống sung sướng (?) trong sự bảo an chính trị của Pháp, và tiếp đến là Hoa Kỳ. Ít nhất là lúc về đó, đôi chân chạm lên mặt đât, may ra cái ý nghĩa của lá cờ xưa mới còn vương vương một ít linh hồn. Ngày nào chân của ta còn đứng trên đất khách, không phải là quê hương, là ngày đó ta còn nhớ đến cái hận của những kẻ cầm quyền miền Nam đã phè phởn trên máu xương của những chiến sĩ đã chết đi trong oan uổng, trong đó có nhiều người là quân đội Hoa kỳ. Nói đến đây, lẽ ra ta phải chào lá cờ Mỹ quốc mới hợp tình hợp lý hơn, vì họ đã chỉ đạo dân chủ, tự do, cố vấn, tiếp tế, viện trợ cả mọi mặt, kể cả đem quân đội sang để chôn xác, đổ máu lên đất ta, cho ta được sống thoải mái hơn gấp trăm lần người lính, người dân miền Bắc. Chính cái nhóm lãnh đạo thối nát của miền Nam đã làm cho chúng ta đánh hoài không thắng nổi miền Bắc. Ngày nay, và trong tương lai, lá cờ đó cũng chỉ còn là một lá cờ kỷ niệm, chứ không phải là một quốc kỳ. Do đó, nói rằng " chào quốc kỳ " thì phải chào cái lá cờ nào là "quốc kỳ " cơ chứ! Thực sự, có nhiều người trong chúng ta không muốn bàn về lá cờ vì ý nghĩa của nó quá bẽ bàng như thế.

Một Chút lịch sử

Nếu bàn rộng hơn nữa về lá cờ, cộng thêm vấn đề chính nghĩa, tự do, dân chủ, và những danh từ dao to búa lớn khác, thì tại sao chúng ta không tham khảo sách sử, hay những người có tư cách hơn chúng ta, qua những công trình nghiên cứu của họ, để nói những nhận xét đúng đắn về lịch sử của lá cờ vàng từ lúc khai sanh của nó? Đó là lúc Pháp thống chiếm miền Nam, mượn danh nghĩa cựu hoàng đế Bảo Đại, lập ra lá cờ vàng ba sọc đỏ. Chính phủ Ngô Đình Diệm, do Mỹ đem về, lật đổ chính phủ Bảo Đại vì cho rằng đó là chế độ bù nhìn. Quái lạ, là ông không dám đổi lá cờ bù nhìn đó, có lẽ vì tuy không phải là bù nhìn với Pháp, nhưng lại lệ thuộc Mỹ. Lá cờ này tiếp tục tiêu biểu cho chính phủ ở miền Nam cho đến khi bị miền Bắc thâu về một mối. Ngắn gọn lại, cờ vàng ba sọc đỏ đối với lịch sử mấy chục năm, đánh dấu phân nửa nước Việt trong giai đoạn Pháp thuộc và kéo dài qua tay Mỹ. Những ai được ở trong giới người sáng sáng cà phê, tối sửa bò, sống đời tiểu tư sản thì cho rằng đó là giai đoạn vàng son, tự do dân chủ của đất nước, bất kể có bao nhiêu phần trăm dân được sang như thế hay chăng, bất kể mặt mũi của ta trên trường thế giới có sáng lạn hay không. Đó là giới người phải than "Ôi, thời oanh kiệt nay còn đâu". Thêm một vấn đề nữa, có cần bàn cãi ở đây chăng?

Căn Cước tỵ nạn

Thầy nói: "Khi các bạn bỏ nước ra đi thì ra đi với tư cách gì : du học sinh ? Di dân vì kinh tế ? Hay vì bạn là công dân nước Việt Nam tự do, không muốn sống dưới chế độ Cộng Sản. Nếu vậy thì bạn đã có một thái độ chính trị rồi ". Thưa thầy Nhân, Hoa kỳ đem chúng ta qua tỵ nạn là vì chúng ta đã theo phe Hoa kỳ, cho nên căn cước tỵ nạn là do Hoa kỳ chấp nhận như một hành vi phải chăng, bảo vệ những người đã hợp tác với họ trong cuộc chiến. Căn cước tỵ nạn không có nghĩa là chúng ta phải chống cộng, lại càng không có nghĩa là chào cờ vàng ba sọc đỏ. Thầy hãy xem có bao nhiêu phần trăm dân Mỹ đứng ra chống cộng? Ngay cả ngày xưa trong cuộc chiến, chữ VC chỉ là để phân biệt đối phương mà thôi. Và ngày nay, Mỹ đem quân sang đánh Iraq, một quốc gia không theo chế độ cộng sản, có phải Mỹ lầm lẫn chăng? Hơn nữa, giả như vì một lý do nào đó, chính quyền Hà Nội đột nhiên thay đổi chính sách, tôn trọng các quyền tự do căn bản của người dân, thì căn cước tỵ nạn của chúng ta lúc tỵ nạn cũng vẫn không vì thế mà thay đổi, lại càng không liên quan đến việc chào cờ cũ hay không. Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này sau. Có lẽ thầy bận bịu quá không theo dõi thời sự, ngày nay, có rất nhiều cựu chiến binh Mỹ trở qua thăm Việt Nam với một thái độ xoa dịu sự đau khổ mà dân ta gánh chịu trong hơn 20 năm chiến tranh. Nhiều cơ quan thiện nguyện đã mở ra, nuôi con nuôi, giúp các trung tâm khuyết tật, tất cả đề nhằm xua đi cái mặc cảm rải chất hóa học da cam. Sao thầy có thể làm ngơ trước những thảm họa này? Nó đã làm tiêu mất đất màu của đất nước ta, không thể trồng trọt được, chưa kể làm hại các thai nhi trở nên khuyết tật. Ngoài ra còn các vụ bắn giết lung tung của họ ngày xưa. Thật ra họ có quan tâm gì đến chủ nghĩa cộng sản, nhất là sau này chế độ đó đã sụp đổ trên bình diện quốc tế, không đáng cho họ lo ngại gì cả. Điều này có làm cho chúng ta suy nghĩ chăng?

Tình trong lý

Trong đoạn thứ 3 thầy viện dẫn " Khắp nơi trong nước biết bao nhiêu khu mộ và đài kỷ niệm liệt sĩ. Chắc chắn các bạn đều biết những liệt sĩ đó là những người nào, trong khi nghĩa trang Quân Đội VN Cộng Hòa thì bị Cộng Sản phá bỏ. Thương binh, tử sĩ, trước đây vốn cha, anh, bè bạn của các bạn bị bạc đãi ở trong nước. Đọc những tên đường, đi qua những đài liệt sĩ tôi không khỏi đau lòng nghĩ tới những người chiến sĩ VN Cộng Hòa, những người đã đổ xương máu bảo vệ miền Nam..." để làm lý do sự đau lòng của những quân nhân còn sống và hiện ở tha hương và "Các bạn hãy tưởng nhớ đến họ lúc làm lễ chào cờ Quốc Gia VN". Thiết tưởng, tuổi đời càng cao, lẽ ra cái nhìn phải càng sâu xa hơn, tầm nhìn phải càng rộng hơn mới phải. Nếu chỉ nghĩ đến giai cấp quân đội của một bên và một thời, thì đó chỉ là sự ích kỷ của một phe nhóm. Một ít trăm năm năm sau, những ngôi mộ, những đài kỷ niệm của họ hay của ta có còn mãi chăng? Sao thầy không nghĩ đến nấm mộ chung của Việt Nam khi những người ngoại quốc cướp chùa để xây cất những nhà thờ, thu thuế của dân ta đem về làm giàu cho mẫu quốc, hay cho tòa thánh Vatican? Con cháu chúng ta có còn lịch sử Việt nam hay chăng, có còn miền Nam miền Bắc, có còn ai ác hơn ai, có còn màu vàng màu đỏ được chăng nếu phải lọt vào tay ngoại bang? Hãy bước ra khỏi cái phe phái để nhìn vào cục diện chung của đất nước thì sẽ hiểu cái chữ quốc gia phải trải dài bao xa, chữ anh hùng phải hiểu như thế nào, và gồm những ai. Chẳng lẽ lịch sử nước ta phải bỏ tên những người đánh đuổi giặc ngoại bang, để nhớ những người "anh hùng" cộng tác với ngoại quốc?. Ta là ai, hãy can đảm nhìn nhận. Không bị lên án thì chớ, còn đòi làm anh hùng thì hơi quá đáng và trơ trẽn lắm, thầy ạ. Nếu muốn chứng minh những điều chúng tôi nêu ra đây, thì e rằng ta đi lạc đề quá xa, và chắc chắn không còn ai muốn nghe hai bên cãi nhau nữa. Đó cũng là lý do người ta không muốn đem chuyện chính trị vào không khí tao ngộ ngắn ngủi.


Tình Nước bị đồng hóa

Hãy bỏ cái tôi ra mà nhìn những gì cao thượng hơn. Hãy đặt chữ tình ở đây là tình nước dười mái nhà lịch sử, chứ không phải tình thù hay ích kỷ trong một giai đoạn, hay cùng phe, phe Nam phe Bắc trong một giai đoạn hổn mang, di lụy do thời Pháp thuộc gây ra. Sở dĩ phong trào Việt Minh được khai sanh và trưởng thành được là do sự chiếm đóng của người Pháp trên đất Việt Nam. Và phe miền Bắc đã có lý do thống nhất đất nước khi lãnh thổ bị phân chia, vì miền Nam từ chối không chịu tổng tuyển cử như hiệp định Geneve đã đề ra. Chẳng may ta ở trong giai đoạn đen tối đó, cho nên tình nước nhiều khi bị đồng hóa vào trong tình thù hận ích kỷ.

Nước Việt Nam ta đã qua nhiều thời kỳ nội chiến, anh em cùng dòng máu cấu xé với nhau đã nhiều phen. Nhưng rồi, trước cái đe dọa của ngoại bang, kẻ yêu nước thực sự sẽ hy sinh tự ái cá nhân hay phe nhóm để lo giữ gìn giang sơn. Đó là những kẻ để lại cho hậu thế những bài học về lòng ái quốc. Câu chuyện Mạc Ngọc Liễn khi đại bại trong trận chiến với Nam Triều (nhà hậu Lê) chạy sang Tàu tỵ nạn. Ông để lại di ngôn dặn con là Mạc Kính Cung rằng: "Nay họ Lê lại dấy lên được, ấy là số trời đã định. Còn dân ta thì có tội gì mà ta nỡ để khổ sở mãi về việc chiến tranh? Vậy ta nên đành phận lánh mình ở nước ngoài, chứ đừng đem lòng cạnh tranh mà lại mời người Tàu sang làm hại nước mình." Nói như thế tôi không hề có ý can ngăn một ai có ý định làm việc đại sự. Chỉ là việc làm có vì dân thực sự hay chỉ nói miệng, ngồi không mà mong nhờ tay kẻ cường quốc (nếu có thể) mà đem về dày xéo cho tan tác nước Việt mới thỏa lòng.

Khi ta viết kể lại cho nhau những đau khổ của gia đình, của đồng đội, những người con gái làm đĩ nuôi gia đình, những em bé nhặt rác kiếm ăn, ... là những cảnh đời của xã hội nạn nhân chiến tranh, thực sự đã có từ mấy chục năm về trước. Trong lúc đó, miền Bắc cũng có những nỗi khổ vì chế độ cộng sản. Hai miền đều có những nổi khổ, có lẽ khác nhau. Sau khi thống nhất bờ cõi về một phía, chắc chắn kẻ thua phải bị thiệt hại. Chẳng may chúng ta thuộc phe chiến bại, đành phải chịu nhục mà thôi. Đó là lẽ tất nhiên. Ta có chắc rằng nếu ta thắng, ta sẽ đối xử với các tù nhân thuộc quân đội ngoài kia tử tế hơn không? Quá khứ đã cho thấy rằng "không", thì làm sao giả sử khác được nhỉ?

Thôi nhé, dường như chúng ta đã nói đến những chi tiết khá tế nhị của vấn đề chính trị hơi nhiều phải không thầy? Đó là một trong những lý do mà nhiều buổi họp mặt, người ta không muốn nói đến quốc kỳ, vì nó "rắc rối" như thế đó, thày ạ.

Hãy đọc vài câu trong bài thơ "Bài Thơ Tháng Tư" của thi sĩ Trần Trung Đạo để xem nhóm người có trách nhiệm ở miền Nam mà quân đội ta phải phục tùng, có xứng đáng cho ta ghi ơn chăng:
…..
Phải chăng tôi nên bắt đầu
Khi những chiếc trực thăng
Sắp sửa rời thành phố
Trong đám người đang bon chen lố nhố
Tôi thấy dường như
Nhiều con chuột cống ở Sài Gòn
Cũng cố kiếm đường đi
Chúng cõng trên mình những chiếc va li
Chứa đầy đô la vàng bạc
Dành dụm từ thời đi buôn gạo lậu
Dấu diếm từ thời lo bão lụt miền Trung
Tôi thấy chúng nghiêng mình
Hai gối run run
Trước những anh cảnh binh người Mỹ
Chúng nói những gì tôi nghe không kỹ
Chỉ thấy họ lắc đầu
Rồi bước vô trong
Có lẽ lại là chuyện hối lộ
Để dược đi đông
Ngòai chuyện ấy chúng còn biết gì hơn nữa
Tôi đứng nhìn qua đôi cánh cửa
Cầu mong cho chúng được đi mau
Những con chuột cống nầy
Gặm nhấm đã lâu
Và bán nước từ khi còn rất trẻ
Thuở Tây qua chúng đầu quân rất lẹ
Tây bỏ đi chúng theo Mỹ vì đô-la
Những chuyện về chủ nghĩa quốc gia
Hay dân tộc thiêng liêng
Chúng đọc biết bao lần
Nhưng chưa hề hiểu nghĩa

……….
Từ tình đến lý

Tình cảm biến đổi theo quan niệm, quan niệm tùy kiến thức, kiến thức tùy dử kiện

Thưa thầy, chúng tôi cùng học những chữ anh hùng, chữ yêu nước, chữ tổ quốc, chữ dân tộc,… trong cùng một sách vỡ, cùng một thời, một miền với thầy. Gia đình chúng tôi cũng đã qua những năm dài hăng say tham gia vào cuộc chiến, tưởng rằng ý thức hệ, cũng vừa chống độc tài trắng, độc tài đen, vừa chống độc tài đỏ. Có bài hát nào thương tiếc các anh linh chiến sĩ miền Nam đã đổ máu hay chết trong những trận chiến ngày xưa, hãy đem ra cùng hát. Nhưng phải hát như thế nào đây?. Dẫu sao, đừng trộn lẫn sự hy sinh của họ với cái chính quyền không có gì đáng ca ngợi hơn là đáng nguyền rủa của ngày xưa. Đừng trộn lẫn nhọc nhằn gian lao của họ với sự nhục nhằn của ta khi bị tù đày trong giai đoạn đổi đời. Những năm dài ấy đã qua, và sự thật từ từ hiện ra cùng với rất nhiều tài liệu chứng minh bộ mặt chính trị của chiến tranh.

Qua 30 năm, chính trị ở thế giới đã khác, ở Việt Nam cũng đã khác. Qua 30 năm, được sồng trong một xã hội tự do, chúng ta được đọc những tài liệu giá trị mà cả đời trong nước chúng tôi không thể đọc thấy vì bị "ém nhẹm" cả. Chúng tôi khám phá ra rằng ý thức hệ vẫn là cái cớ để cho những thế lực, nằm bên ngoài dân tộc, dùng để kéo dài sự cấu xé của dân Việt Nam mà thôi. Thầy có cần phải chứng minh những điều này thêm chăng? Tại sao có những người nhắm mắt hả miệng cả ba mươi năm, đóng cửa xem lại những cuộn phim cũ, vốn đã bị cắt xén, kiểm duyệt, không tìm hiểu gì thêm cả?. Đại khái, nếu ta chịu bỏ đi cái ích kỷ của phe nhóm, và nhìn nước Việt Nam như một đại khối dân tộc thì những ai là anh hùng thực sự sẽ trở nên rõ rệt hơn.


Quốc kỳ và chế độ

Thầy viện dẫn "đối với tất cả những người Việt Nam đã bỏ nước ra đi sau khi chế độ Miền nam sụp đổ, cũng như những người quốc gia đang tranh đấu chống chế độ độc tài, toàn trị trong nước thì nó (cờ vàng ba sọc đỏ) vẫn hiện hữu. Bởi vì họ không thừa nhận lá cờ đỏ sao vàng là biểu tượng của quốc gia VN. Coi nó là cờ của Cộng sản, một chủ nghĩa quốc tế đã sụp đổ". Thầy dùng chữ "tất cả" trong câu nói này có phải quá ôm đồm chăng? Xin nhắc lại trong đoạn trước, thầy đã nói rằng "vấn đề rất tế nhị", ngầm hiểu là có những quan niệm và thái độ khác nhau trong vụ cờ xí này, ít nhất là ngay ở nước ngoài. Như vậy chữ "tất cả" thầy dùng ở đây lại mâu thuẩn với chính thầy rồi. Tiếp theo, thầy bỏ qua ý nghĩa đúng đắn của chữ "quốc kỳ", để tìm lý do khác cho việc chào lá cờ cũ, viện dẫn (cho một số người, không phải tất cả nữa nhé) rằng đó là vì lá cờ hiện nay tượng trưng cho chế độ độc tài toàn trị của CS.

Tôi không có ý phủ nhận giá trị kỷ niệm của lá cờ vàng trong lòng người miền Nam trong đó có tôi, chỉ là phân tích về pháp lý của nó không có giá trị dân tộc, độc lập hay dân tộc tự quyết. Từ lúc khai sinh cho đến lúc chết yểu, lúc nào nó cũng nằm trong tay bảo hộ của người ngoại quốc. Thưa thầy, trong sự phân tích đó, lá cờ vàng ngày xưa đã làm cho một số đông người ta nhớ lại những sự đàn áp, giết chóc trong chế độ độc tài tôn giáo gia đình trị trong thời đệ nhất cộng hòa. Có lẽ nhiều người chưa phải là nạn nhân nên không thấy mà thôi. Người ta cũng có thể nhớ lại sự nhục nhã làm một nước thuộc địa của Pháp thời quốc trưởng Bảo Đại, và nhục nhã khi chính phủ Nguyễn văn Thiệu bỏ chạy theo Mỹ để lại quân dân bơ vơ khốn đốn trong buổi giao thời. Và như thế, khi người ta chạy ra khỏi nước, là dịp cho người ta bỏ quên những cái nhục đó. Có cần bàn cãi vấn đề này chăng? Vậy ta hãy nhờ những nhà nghiên cứu về cuộc chiến này đứng ra thuyết giảng chứ !

Nạn nhân độc tài, có nhiều thứ

Độc tài có nhiều thứ, chứ không riêng gì cộng sản. Trên đất Mỹ này có bao nhiêu nhóm người di tản, chạy bỏ các thứ độc tài, độc tài tôn giáo, và độc tài cộng sản, chẳng riêng gì Việt Nam. Những người tỵ nạn ở xứ Mỹ này đến từ hàng chục quốc gia khác nhau. Có phải tất cả người này phải chào cờ gì đó, hát quốc ca gì đó để chứng minh, xác nhận với người đồng hương là họ chống chính quyền ở quê hương của họ, và mới xứng đáng tỵ nạn chăng ? Có lẽ có một số người làm thế. Nhưng họ là những ai, có tiêu biểu cho đại đa số những người tỵ nạn chăng ? Thật là buồn cười , chính quyền Mỹ cưu mang hết tất cả, và không có đòi hỏi một ràng buộc tinh thần đối với phe phái, trừ khi quí vị làm gián diệp hay nằm vùng cho kẻ địch. Trái lại, người ở đậu đi hà hiếp người ở đậu. Và cách hành xử của một số người hoạt động tích cực hiện nay, mà họ gọi là tranh đấu, đã thể hiện tính cách độc tài đó .

Sự hà khắc và độc tài của chế độ cộng sản là những sự kiện rõ ràng trên thế giới này ai cũng phải công nhận. Nhưng còn những trường hợp những quốc gia trên thế giới này nổi tiếng độc tài, lại không phải là cộng sản. Thí dụ điển hình là Chế độ Saddam Hussein nước Iraq, ông hoàng ở Saudi Arabia, Pakistan, Mu'ammar Al-Qadhafi ở Lybia, Thái Lan, Miến Điện, … những nước theo chính thể cộng hòa nhưng cũng độc tài như rươi, gọi là độc tài trắng, họ đâu phải là cộng sản? Vấn đề, do đó không phải là chỉ có cộng sản, mà là đặc tính độc tài là chế độ chẳng ai ưa. Và chế độ miền Nam của ta từ Đệ Nhất Cộng hòa cũng là chế độ độc tài tôn giáo, và vì không thể có tự do bầu phiếu thực sự, quân đội ta phải bao lần lật đổ trong gian lao. Thầy có cho rằng những quân nhân đó là cộng sản không? Lại có cần bàn cãi về vấn đề này chăng?

Hai việc khác nhau.

Có nhiều người không phân biệt hai sự việc khác nhau. Một đàng là khát vọng thống nhất đất nước, mà bất cứ người dân nào biết ý thức quyền dân tộc tự chủ đều phải có. Về việc này, phe miền Bắc đã có công với tiền nhân và hậu thế. Nói như thế không có nghĩa là tôi bênh vực chế độ cộng sản. Chuyện dân chúng muốn chống lại chính quyền là chuyện dài của những quốc gia bị cai trị bởi chế độ độc tài, không riêng gì cộng sản. Nhưng, cái sai quấy của bên kia về mặt đối nội không làm cho cái chính quyền thối nát ở miền Nam trở thành chính nghĩa. Cho nên, việc chống chính quyền độc tài hiện tại hoàn toàn không dính líu với việc chào cờ cũ.
Ngoại trừ phe nhóm chính quyền cũ muốn phục hồi thế lực chính trị của họ, còn quí vị muốn làm cách mạng chính trị chống lại chính quyền độc tài thì hoàn toàn có lý tưởng riêng, tôi hoàn toàn bái phục nếu quí vị thực sự dấn thân. Nhưng nếu quí vị thực sự vận động cho một cuộc cách mạng để lật đổ chính quyền Việt Nam hiện tại, có lẽ quí vị không phải là những người đi vặn nài bẻ ống mỗi nơi, để làm một chuyện thiếu chính trị như thế này. Người đi tranh đấu cho lý tưởng thực sự chắc hẳn đã có cờ đảng phái riêng, có người lãnh đạo, và chắc chắn lựa chọn một lá cờ khác. Nhưng dù có thế đi nữa, việc làm đó cũng chẳng dính dáng gì đến việc họp thân hữu.

Khi thầy tóm tắt trong thư rằng: 1 là chào cờ vì "ở Canada chúng tôi " ai cũng làm thế, hai là không chào thì có nghĩa là "không muốn nhìn nhận mình là dân tỵ nạn chính trị nữa ", chúng tôi nghĩ rằng lời nói này quá hời hợt, nông cạn, vội vả, nếu không muốn nói là "chụp mũ", hay dùng lại chữ của thầy đã dùng cho người ta: hàm hồ. Thật ra, như thày đã cảm thấy "việc tế nhị", việc chào cờ hay không đối với hoàn cảnh chúng ta hiện nay có rất nhiều ý nghĩa, tùy theo trình độ hiểu biết về chính trị và tầm mức nghiên cứu về chính trị của mỗi người, nó sẽ rất đa dạng, như đã trình bày ở trên.

Sự kiện nhiều tổ chức phải chào cờ cũng có thể hiểu được rằng những ý kiến của những người ồn ào lúc nào cũng ồn ào. Cho nên muốn tổ chức những nhóm thân hữu thường muốn tránh để cho những người đó khỏi ồn ào nữa. Nghĩa là phải kiêng cử họ, cúng tế cho họ khỏi phiền nhiểu, như sợ ma quỉ về phá vậy. Nhiều lần, không ai suy nghĩ gì cho rắc rối, cho nên có thể làm theo thói quen mà thôi. Cũng có thể hiểu rằng, đa số những người thường tổ chức này nọ thuộc về những người "ồn ào" như nói trên.

Tóm lại,

Nói chuyện chính trị, với bản chất phức tạp của vấn đề, phải mất bao nhiêu lâu cho phỉ nếu muốn có sự đối đáp công bằng. Hai ngày có là bao so với cuộc đi đường vạn dặm, lướt gió băng ngàn để tìm đến nhau. Thời giờ có bao nhiêu mà ta bàn cãi những vấn đề này? Như thầy đã thấy, đại khái đã có biết bao nhiêu vấn đề để bàn cãi như trên tùy theo sự hiểu biết của một người về một vấn đề. Nếu không nghe có kẻ nói khác, nhiều khi trong một nhóm giao tiếp hàng ngày chỉ trao đổi một loại lý luận, một số kiến thức xoay tròn với nhau, làm cho ta phát biểu như là một định đề toán học. Khi có kẻ tuyên bố khác đi, ta sẽ thấy ngỡ ngàng và lẽ đương nhiên ta muốn có kiểm chứng. Đó là truờng hợp những người nói chuyện biết tôn trọng nhau trong sự trao đổi ý kiến về những vấn đề chính trị. Nhưng thật ra đã có những người chưa thể hay chưa biết phát biểu bằng lý luận, họ bị xúc cảm lấn át, và lý trí lập tức bị đóng cửa. Nếu không dằn lòng, họ sẽ không ngại dùng mọi thủ đoạn hạ cấp, đưa đến hăm doạ, đánh đấm, hoặc hay kết bè đảng để bêu xấu nhau. Kết quả đi ngược với mục đích của các tổ chức hội ngộ. Đó là lý do chính mà nhiều người, nhiều tổ chức hay nhóm họp không muốn mất công phiền toái bàn đến, thường chỉ đưa tới mất lòng, đành né tránh, để giữ lại cho nhau những gì đẹp còn sót lại bên ngoài vấn đề chính trị muôn mặt. Vậy thì, thưa thầy Nhân, tổ chức "phi chính trị" chẳng những không có gì là hàm hồ mà là một thái độ giao tiếp rất tế nhị, và đứng đắn vậy.


Chú Thích

(1)Tài liệu:
- Pentagon Papers, tr 82 (Sách linh mụcc Trần Tam Tỉnh, Sđđ, trang 130-131);
- Avro Manhattan, Sđđ, trang 117;
- Chu Bằng Lĩnh, Đảng Cần Lao (Sann Diego, CA: Mẹ Việt Nam, 1993) trang 133.
1
Hosted by www.Geocities.ws