poetry

Việt Điển
tạp chí tư tưởng và văn hoá

thi ca



 


BÀI CA SIÊU THOÁT

Nguyễn Thùy

 

          Trước đây, Nguyễn Du cảm nhận cảnh phù du tại thế, xót xa bao cái chết thảm thương dù bất cứ lý do nào, đã viết nên thiên trường thiên ‘Văn tế Thập loại chúng sinh’.  Bài thơ biểu lộ lòng nhân đạo của nhà thơ (cũng là nhà tư tưởng), không phải bi quan trước cái chết mà xót thương cho thân phận con người dù cuộc sống gặp toàn bất hạnh hay đã từng thời nên danh nên phận. Nguyễn Du đã mượn ‘lẽ giải thoát’ của nhà Phật, theo cách hiểu phồ thông của thời đại, cầu mong mọi kẻ đã chết, dù thuộc thành phần nào (thập loại) được siêu thăng, tịnh độ, được yên nghỉ nơi an lạc thường hằng.

          Thời Nguyẽn Du, trước cảnh thế tao loạn của Việt Nam, đau khổ đã nhiều. Nhưng, những đau khồ đó còn giới hạn nơi một địa bàn nhỏ hẹp (Việt Nam) hoặc có xa hơn đến những vùng ngoài Việt Nam thì thời đại vẫn còn giới hạn vì lịch sử nhân loại đang ở vào trạng thái nông nghiệp, thủ công. Ngày nay, xã hội ‘công nghiệp hoá’, ‘thương mãi hoá’ trên qui mô lớn rộng, cái chết (ngoài những trường hợp thường hằng xày ra) cũng mặc lấy những kích thước mới.

           Cái chết nhấp nháy cùa mấy trăm ngàn dân Nhật vì hai quả bom nguyên tử; cái chết của sáu triệu người Do Thái trong những lò thiêu Ðức Quốc Xã; cái chết tập  thề vì chiến tranh hay vì nạn đói cùng tai nạn thiên nhiên liên miên xảy ra; cái chết bi thảm trong những cuộc đấu tố giai cấp tại các nước Cộng Sản; cái chết  đau thương của  trăm ngàn người Việt Nam vượt biền bị hải tặc hãm hiếp, sát hại hay làm mồi cho cá biển; cái chết mõi mòn trong các trại tập trung ở Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam Cộng sản; cái chết vô cớ vô can của hàng triệu người bỡi bàn tay của chế độ Pôn-Pốt; kể cả ‘những cái sống như chết’ trong những chế độ độc tài; những cái chết vì tai nạn xe cộ, tàu thủy, máy bay càng lúc càng gia tăng; cái chết lẻ tẻ vì bị hãm hiếp, giết hại do đạo đức suy đồi, do xã hội bất an thường hằng diễn ra mà con số tổng kết cũng lớn lao vô cùng. Hiện nay, đã vào Thiên niên kỷ III, cái chết thảm khốc của hàng loạt người vẫn liên tiếp diễn ra  tại nhiều nơi trên thế giới cùng những thủ đoạn khủng bố rùng rợn  (như tại Hoa Kỳ ngày 11 tháng 9/2001), những loại vũ khí khủng khiếp, những phương thế chiến tranh tân kỳ càng lúc càng  đe dọa mạng sống sinh linh khắp mặt địa cầu. Phải chăng ‘bản chất con ngườI là gian ác, bạo tàn’.

           Thời đại Nguyễn Du chưa xảy ra những ‘cái chết’ đó. Nó cũng không có những chúng sinh bị đọa đày vì những ma nghiệt mới của thời đại sau ông. Hơn nữa, trong thời đại nầy, không chỉ có những chúng sinh bị đọa đày mà ngay cả những kẻ gây ra đọa đày cho trăm họ cũng đang ‘chết treo’ trong những chủ trương, chính sách của họ. Lịch sử hầu như đang tiến hành ‘cuộc phán xét cuối cùng’ suốt dọc dài sinh hóa trước nay của chủng loại người : Nghị viện Pháp đã lên án vụ Thổ Nhĩ Kỳ ‘diệt chủng’ dân Ukraine cách đây những trên 80 năm; chính người Pháp cũng tự lên án mình đã sát hại tàn bạo người Algérie trước đây; Giáo Hội Thiên Chúa giáo cũng nhìn nhận mọi  bạo ngược của các triều đại Giáo Hoàng trước và đã xin lỗi loài người ; bao nhiêu tên độc tài khát máu như Pinochet, Milesovic, …bị đưa ra Pháp đình quốc tế,…Nay mai, có thể hàng loạt hàng loạt bạo chúa, quỉ vương, hàng loạt quốc gia (Nga, Mỹ, Anh, Pháp, Nhật, Trung Hoa, Việt Nam, Do Thái, Ả Rập,…) với những chủ trương, chính sách thâm độc tàn sát sinh linh cũng sẽ được đưa ra phán xét, lên án. Cùng với những chủ trương xét lại lịch sử đó, các tổ chức từ thiện, nhân đạo ngày càng thêm nhiều; các phong trào đòi hỏi Dân chủ, Tự do, Nhân quyền, Nhân phẩm, bảo vệ môi sinh,…càng lúc càng phát triển. Liệu các sự kiện nầy có là báo biểu cho giờ ‘tĩnh thức’ của con người, của cả chủng loại người để lương tri thay tà ý, trí tuệ thay trí khôn, tình thương thay thù hận, hòa bình thay chiến tranh, tự do thay  nô lệ, dân chủ thay độc tài, công bình thay áp bức, hổ tương thay cho chiếm hữu?

           Lịch sử nhân loại đang tiến đến thời kỳ mà các thành tựu qui mô về mọi mặt  cũng như mọi tàn phá, gảy đổ gây ra cho nhau hàng thiên niên kỷ sẽ đưa nhân loại vào một khủng hoảng lớn rộng và đều khắp nhân quần để từ đó bừng tĩnh xoay chiều tư tưởng  sao cho Văn minh và Văn hóa, Tiến bộ và Tiến hóa luôn luôn  kết hợp, đồng hành thuận hảo. Nhân loại đang đối diện với một ‘xung kích của tương lai’, một ‘xung kích của các nền văn minh’, thế giớI đang trên đà ‘toàn cầu hóa’và ‘chống toàn cầu hóa’, phải chăng đang bước vào thời diểm  của cơn “quặn thắt cuối cùng” để “ sinh thành” trở lại?

           Trong cái nhìn đó, theo chân Nguyễn Du, ‘Bài Ca Siêu thoát’ gọi tất cả mọi ‘Hồn sống’ ‘Hồn chết’  cùng ‘Sống lại để cùng xây dựng ‘kỷ nguyên mới cho loài người’. Thời gian trôi qua, lịch sử có già nhưng người trẻ lại (ngườI nơi đây chỉ chung nhân loại). ‘Sống lại’ hay ‘Lai sinh’ (nơi câu cuối bài thơ)  không là từng người sống lại mà cả nhân loại hồi sinh để làm nên trang sử mới cho chủng loại mình như lời Phật ‘Hồi đầu thị ngạn’ (quay đầu thấy bến) và lời Jésus: ‘Ta làm mới lại tất cả’. (Không thể kể hết được mọi cái chết, người viết xin mượn địa bàn Việt Nam làm bối cảnh cho thời đại).

 

BÀI  CA  SIÊU  THOÁT         (1)

Thuở  trời đất mưa sầu gió thảm
Cõi nhân hoàn quỷ ám ma trêu
Nước non từng trận tiêu điều
Ngày phơi xác rũ, đêm treo hồn tàn!

Ta từng phút chứng nhân lịch sử      (2)
Ta từng giờ tư lự mê cung
Thảm thương  trời đất vô cùng
Thánh nhân lệ nhỏ, anh hùng lụy sa!

 Ta xin nhập vào ma vào quỷ
 Ta xin làm gió dị mưa điên
 Mười phương tám hướng diện tiền
 Dẫn từng sông máu lại miền nguyên sơ

 Ta xin đứng nơi bờ vực thẳm
 Ta xin trèo lởm chởm dốc cao
 Cười trên nghìn cuộc bể dâu
 Ðạp tan thành quách, xóa màu tang thương.

 Thơ ta đấy chập chùng máu lệ
Thơ ta đây dâu bể trùng trùng
Nghìn muôn vạn kiếp lao lung

Bài ca chung cục’, hội mừng tiễn đưa.   (3)
Sầu một phút dây dưa vạn kỷ
Vui một giờ hoan hỷ bao thu ?
Từ bi độ giải oán thù
Nẻo về bến giác, ta ru lời thiền !

Ðêm thanh vắng giờ thiêng cầu nguyện
Khắp mọi miền khí quyển sương sa
Khói hương ngút cõi ta bà
Vang vang thập điện tâm ca gọi hồn !

Hồn hỡi hồn !
‘Nào đâu chốn cô đơn hồn ngự
Nào đâu nơi lữ thứ hồn đi
Phóng tâm ta đón hồn về’                     (4)
Chia nhau cơn nấc, tiếng thề quặn đau !

Hồn hỡi hồn !
Hồn có sống đêm thâu ngày héo
Hồn có hờn lạnh lẽo dung nhan
Nhạt nhòe sông núi quan san
Võ vàng nhật nguyệt điệu tàn ố phơi ?!
Hồn có thấy chơi vơi vạn cõi
Hồn có nghe vòi vọi ngàn khơi
Bập bùng đỏ lửa nơi nơi
Tiếng gào quỷ dị, giọng cười cuồng điên ?
Bày tiệc máu say liên hoan hận
Dựng cờ xương dàn trận mê cung
Mười phương tám hướng mịt mùng
Giăng giăng màu đổ, trùng trùng mưa tuôn
Ðiệu kèn quỷ gieo buông thảm họa
Giọng đàn ma xô ngã giang san
Huyết kỳ ngờm ngợp màu tang
Lời hô phù thủy ngút ngàn bủa giăng
Trời sắc xám trùng quang lạnh giá
Ðất ố màu cỏ đá hoang liêu
Ngẩn ngơ từng sớm từng chiều
Ngày phơi trủng tối, đêm dìu bóng ma!
Hồn có nhập cuồng ca dị dị
Hồn có say luân vũ man man
Ðời vào hiu hắt gió sương
Người vào thiêm thiếp đoạn trường héo hon!
Tay ma chủ ngón buông ngón bắt
Cửa ma cung cánh chặt cánh lơi
Hỗn mang lịch sử bời bời
Hôn mê truyền thống rụng rời lá xanh!
Thuyền lạc nẻo quê hương vời vợi
Người lạc hồn bến đợi mù tăm
Mỗi người một đoạn trường nhân
Chúng sinh một lũ âm binh vọng hồn!

Hồn hỡI hồn!
‘Nào đâu chốn cô đơn hồn ngự
Nào đâu nơi lữ thứ hồn đi
Phóng tâm ta đón hồn về                     (4)
Chắt chiu từng giọt đầu tê cúi đầu!

Hồn hỡi hồn!
Hồn có thấy đèo sâu ải hạng
Hồn có nghe gió loạn đầu non
Trời Tây những tịch dương mòn
Trời Ðông những nguyệt thu rằm ma trơi?
Tiếng nức nở khóc đời huyễn hóa
Giọng ai bi than quả vô thường
Sè sè từng nấm mồ hoang
Thân phơi hang rú, xác mòn đường truông
Ngày ngắt ngoải nắng sương quằn quại
Ðêm ôm hờn ngút cõi  âm ty
Thẫn thờ dẫn bóng ma đi
Chân không bám đất, hồn ly biệt hồn!

Hồn hỡi hồn!
Hồn có thấy thân mòn quạnh quẽ
Hồn có nghe lạnh ghẽ xa xương
Bồi hồi giọng dế kêu sương
Não nùng tiếng cú điểm trường đọan canh?
Lời vật vã nhân tình đòi đoạn
Tiếng thở than lận đận phù sinh
Sớm ra nhòe nhoẹt bóng hình
Chiều tê cúi mặt phận mình hư không
Vùng đất cháy ngày nung lửa quạ
Dặm đường băng đêm tòa u linh
Hồn ma bóng quế rập rình
Bơ vơ đất trích, lênh đênh u hồn!

Hồn hỡi hồn!
Hồn có thấy gió dồn sóng vỗ
Hồn có nghe thác đổ mưa tuôn
Tóc người quyện bám bèo sông
Thân người tẩm liệm đất bùn nổi trôi?
Tiếng ai oán xô trời đất lệch
Giọng nỉ non ngờ nghệch trăng sao
‘Gẫm thân phù thế mà đau
Bọt trong bể khổ, bèo đầu bến mê’           
(5)
Mang thân guộc lối về núi Sọ                    (6)
Chở hồn đau theo ngỏ ma trơi
Tháng năm dầm dãi kiếp ngườI
Sống mê, chết dở, hồn thoi thóp hồn!

Hồn hỡi hồn!
Hồn có thấy chập chờn hắc dạ
Hồn có nghe tiếng quạ kêu ma
Hắt hiu hè phố làm nhà
Sớm nương bãi chợ, tối nhờ gầm xe?
Tiếng thổn thức máu se lệ máu
Giọng nghẹn ngào da cóng xương da
Lang thang một kiếp không nhà
Chiêm bao lãng đãng trông giờ hoá thân!
Não nhân thế điều ân tiếng oán
Ðau nhân tình giọt đắng lời cay
Ngày qua rồi lại qua ngày
Hư không cào cấu chai tay vô hồn!

Hồn hỡi hồn!
Hồn có thấy thây cồn chất ngất
Hồn có nghe tiếng nấc vào khuya
Dặm phần hun hút  sơn khê
Phận trai bèo bọt não nề tha hương?
Tiếng sát phạt mộng cuồng lơ láo
Giọng hờn căm đau đáu ruột gan
Máu nào tô thắm sử vàng
Máu nào liệm chêt từng trang sử đời?
Mắt thao láo trông vời cố quận
Lệ ngưng tròng uất hận trao ai?
Não nùng núi thẳm sông dài
Cú khuya gọi vía, quạ mai gọi hồn!

Hồn hỡi hồn!
Hồn có thấy dập dồn bể quạnh
Hồn có nghe ớn lạnh vào xương
Gió  dồi sóng giập loạn cuồng
Tàu ma trải nắng phơi sương hãi hùng?
Tiếng cầu nguyện chìm trùng trủng tối
Giọng ai bi chới với màn đêm
Phận người lỡ kiếp ăn xin
Cuộc liều sinh tử nổi chìm phó trao!
Sống thổn thức máu đào quê nội
Chết mơ màng lễ hội chiêm bao
Truân chuyên đọ với dãi dầu
Xác trao phận xác, hồn trao phận hồn!

Hồn hỡi hồn!
Hồn có thấy ngày gom trủng tối
Hồn có nghe đêm trổi thê lương
Phố đầu cho chí cuối thôn
Nát gan tím ruột quặn dồn âu lo?
Lời năn nỉ thấp to van lạy
Giọng trần tình những gãi tai trâu
Sức người, sức của lao đao
Còng lưng đóng trả, trống đầu trơn tay
Thân trâu ngựa vỡ mày vỡ mặt
Phận cùng đinh bụng thắt lưng teo
Ðọa đày nắng cháy sương gieo
Xác còm cõi xác, hồn nheo nhóc hồn!

Hồn hỡi hồn!
Hồn có thấy mưa hờn gió tủi
Hồn có nghe tiếng trối lời than
Rào gai, lũy thép hàng hàng
Ðầu quê cuối chợ ngổn ngang tội đồ?
Thân ‚nô lệ’ (?) nay vồ mai bắt
Phận ‚tôi đòi’ (?) xích thắt xiềng mang
Ngay gian lỗi phải mặc lòng
Ðầu hoa sáu khắc, mắt vàng năm canh!
Thời cú quạ mèo rình chó rúc
Thuở bạo Tần nhung nhúc Khuyển, Ưng
Kiếp đời quốc phá gia vong
Xác bầm máu xác, hồn đông máu hồn!

...........................

Ôi ! Nhân thế dập dồn thảm cảnh
Tử cùng sinh buốt lạnh hình hài
Cuộc cờ xương máu ghê thay
Sống no uất hận, chết dài khổ đau!
Trời se thắt tiếng sầu tiếng thảm
Ðất thê lương giọng oán giọng hờn
Nổi chìm bể hoạn mênh mông
Hôn mê bờ hoặc, cuồng ngông bến đời!

                        *****

Hồn hỡi hồn!
Nào đâu chốn cô đơn hồn ngự
Nào đâu nơi lữ thứ hồn đi
Phóng tâm ta đón hồn về’                     (4)
Chung câu sám hối, cỡi thề, giải căn!

 Hồn hỡi hồn!
Cõi địa phủ quại quằn oan nghiệt
Cuộc thế trần tử biệt sinh ly
Âm Dương đôi ngã phân kỳ
Dày trang máu lệ sử ghi thắm dòng!
Trò quỷ lộng bạo tàn ngược ngạo
Thói ma vương vô đạo vô thường
Mịt mờ đâu lẽ cùng thông
Bờ mê bến hoặc bềnh bồng xa luân!
Lớp gảy đổ tiếp dòng chiến thắng
Lẽ oan cừu đuổi bóng thành công
Rồi ra công cốc công không
Máu phơi đỏ máu, xương chồng trắng xương!
Kiếp người đã thảm thương bèo bọt
Phận người đà não nuột thê lương
Gây chi bao cảnh tai ương
Loạn màu nhân thế, nghẽn đường tồn sinh?
Diệt chiếm hữu, riêng giành chiếm hữu
Phá xiềng gông, dựng lớp xiềng gông
Phũ phàng lòng dạ sói lang
Chửi người, mình lại gian ngoan gấp nghìn!
Giành giải phóng, nắm quyền sinh sát
Tranh tự do, hiếp đáp thêm dày
Tuồng đời dở tĩnh dở say
Miệng lời son phấn, tay cài đòn ma!
Trò ngụy tín ba hoa tròng tréo
Thói giả hình mưu mẹo ganh đua
Cuộc cờ cơ được cơ thua
Mồ xương mã máu, ngón đùa đấu tranh !
Chẳng hiểu lẽ ‘theo vinh liền nhục’
Chẳng học bài ‘trâu húc ruồi tan ‘
Rồi ra đôi nước cờ tàn
Tiếng đời theo tận mồ hoang bãi cồn !
Ôi ! Cảnh thế chập chùng dâu biển
Ôi ! Nhân tuần họa hiểm trao nhau
Trông vời ngã trước đường sau
‘Máu xương vô định đã cao bằng đầu’!       (7)
 

Sẵn đây gọi hồn đau vạn kỷ
Muôn kiếp sầu vạn lý pha phôi
Về đây chung một kiếp người
Về đây chung một trận cười giải oan….
Cõi nhân thế bi hoan phận cỏ
Chốn dạ đài nức nở u linh
Thương thay thập loại chúng sinh
Sống oan, thác uổng, nhục vinh cũng là…
Ðường lịch sử thiên ma bách chiết
Cuộc phong trần bi thiết ghê thay
Căn cơ nghiệp chướng còn đầy
Nhân qua quả lại trả vay nợ đời
Thân ngũ uẩn đất trời khôn biết
Cuộc phù sinh quặn siết tân toan
Ðược, thua một lẽ đôi đường
Sống khô thân thế, chết mòn thế thân !
Giàu sang đó, cơ hàn mấy lúc
Anh hùng kia, ô nhục mấy hồi !
Sòng đời thay bậc đổi ngôi
Ham chi chuốc lấy tiếng cười thị phi ?
Ngẫm sự thế đường đi ngã đến
Quẩn cùng quanh một tiếng tranh ăn
Chữ quyền, chữ lợi bon chen
Chữ danh, chữ sắc, phận hèn nào hay !
Thói ‘chiếm hữu’ trò bày lắm cách
Ðưa người vào ngỏ ngách oan khiên
Tự mình chuốc não tạo phiền
Rồi gieo oan nghiệt, đảo điên lên đời !
Lòng dục nọ mắt ngời lửa cháy
Trí hôn mê bùa ngãi hư vinh
Vật vờ trong cảnh u minh
Con thuyền bào ảnh bập bềnh hư không!
Thân ngũ uẩn mắc vòng sinh diệt
Cuộc tồn sinh mải miết mù lòa
Trăm năm tuổi trẻ tuổi già
Sắc, tình, tài, lợi,…bôn ba xích xiềng!
Cõi vĩnh phúc bảo miền ảo ảnh
Tâm Chân Như cho cảnh u mê
Quẩn quanh chẳng một lối về
Thoát duyên trần cấu, giải thề phù sinh!
Xác  tạp khí cốt hình ma nghiệp
Hồn phù du đeo kiếp tội đồ
Bốn bề uế khí tanh nhơ
Máu ô miệng máu, thân đờ đẫn thân!
Cảnh địa ngục giữa lòng cõi sống
Gió âm ty lạnh cóng hình hài
Kiếp đời vay trả  trả vay
Tham, Sân, Si, Hận,… đọa đày thế gian!

Nói sao hết cuộc trần tội lỗi
Kể sao đan chìm nổi luân trầm
Mượn lời kinh kệ giải oan
Mượn câu Giải thoát, gọi hồn siêu thăng
Lẽ nhân quả bớt phần cay nghiệt
Cuộc đoạn trường bớt thiết thê đau
Chúng sinh thập loại xưa sau
Oan khiên xin giải, hồn mau gọi hồn!

                   *******

Hồn hỡi hồn!
‘Nào đâu chốn cô đơn hồn ngự
Nào đâu nơi lữ thứ hồn đi
Phóng tâm ta đón hồn về’                     (4)
Vui câu giải kết lời thề hỗn mang!

Trời với đất ngút ngàn thảm khốc
Tháng với ngày tang tóc thê lương
Tâm nhang một nén mười phương
Ta thiêu mạt thế giải oan, hồn về!

Hồn hỡi hồn!
Mời tất cả hồn mê, hồn tĩnh
Hồn vật vờ vô định vô phương
Hồn phơi mưa lũ gió cuồng
Hồn lìa nẻo thuộc dặm trường quan san
Hồn thập loại sinh oan thác uổng
Hồn mười phương tám hướng Tây Ð
ông
Hồn Nam, hồn Bắc trùng trùng
Hồn dương cảnh, hồn mấy từng cõi âm
Hồn đơn lẻ âm thầm thân thế
Hồn kết đoàn tập thể mệnh vong
Hồn dù nên tội nên công
Hồn dù thành bại, có không, tay trần
Hồn thất thế sa chân, lỡ bước
Hồn nhục vinh, thua được, nên hư
Hồn đau nhân ảnh hư phù
Hồn hờn vân cẩu bãi mù sông mê
Hồn lãng đãng sơn khê cùng cốc
Hồn nổi trôi bàng bạc trùng dương
Hồn đau thân cát bụi đường
Hồn quằn quại máu hầm vuông hố tròn
Hồn quạnh quẽ tiếng hờn nức nở
Hồn tang thương vạn thuở phôi pha
Hồn nằm không chiếu không nhà
Hồn đau khách địa bóng tà nguyệt phơi
Hồn bạc phước nơi nơi địa chấn
Hồn sóng thần táng mạng biển sâu
Hồn bay lạc nẻo tinh cầu
Hồn vùi xa lộ sông sầu cuộc chơi
Hồn ngục tối ngậm lời eo óc
Hồn dạ đài oan khốc khôn nguôi
Về đây, hồn hỡi, hồn ơi !
Chung nhau tiếng khóc, giọng cười…qua trang!

Hồn hỡi hồn!
Ta đón hồn mênh mang vạn nẻo
Ta chờ hồn lẻo đẻo phù sinh
Về đây, hồn hỡi, có linh
Về đây, hồn hỡi, có mình, có ta !
Kiếp gió bụi ta bà thế tục
Phận tồn sinh bến đục bến mê
Hồn ơi, ta gọi hồn về
Sá gì một giấc điên mê hồng trần !
Ðường lịch sử máy vần xoay đổi
Nẻo thế đồ muôn nỗi truân chuyên
Tấm thân bèo bọt chiềng chiềng
Sá gì hư thực, ngửa nghiêng, hỡi hồn !

 Hồn hỡi hồn !
Nương cánh khói về đây vồi vội
Theo mùi nhang vào hội bi hoan
Tạ từ thế kỷ chạy quàng
Tạ luân hồi, tạ vô thường cuồng quay
Tạ huyễn mộng, đêm dài ngày ngắn
Tạ trầm luân xác đống thây gò
Tạ máu đổ, tạ xương khô
Tạ từ, nầy những ‘cơ đồ không tên ‘            (8)
Tiếng từ tạ, ngọt mềm nồng mặn
Lời cảm ơn, nghĩa nặng tình sâu
Về đây, hồn hỡi, về mau
Khép trang cuồng sử bể dâu, thương đờI !

Hồn hỡi hồn !
Này đang lúc ngút trời biển lửa
Này đang giờ rộng bủa mê cung
Cuộc liều tối hậu đoạn trường
Cuộc cơn quặn thắt cuối cùng hỗn mang !
Ta sắm sẵn linh trang hồn ngự
Ta giải bày mọi thứ hồn vui
Mời hồn vào cuộc rong chơi
Trườn lên bể máu, tạ đời điêu linh !

Hồn hỡi hồn !
Ta gọi hồn lênh đênh cánh nhạc
Ta mời hồn bát ngát lời thơ
Về đây, hồn hỡi, ta chờ
Ðón dòng Sử lịch nguyên sơ lại mùa.                 (9)

Hồn hãy đến sớm, trưa, chiều, tối,
Hồn hãy về cũ, mới, nay, xưa
Giải căn bao kiếp sống thừa
Thay dòng sinh tử, đổi mùa tử sinh !

 Giờ chuyển hóa ma kinh, quỷ khiếp
Phút hoàn lương liễu kết pha phôi
Về đây, hồn hỡi, hồn ơi !
Ðốt trang hồng lệ, mở lời càn khôn !                (10)

Hồn hỡi hồn !
Ta đón hồn nương muôn cánh khói
Ta cần hồn khắc khoải lời kinh
Giả từ bao nẻo u minh
Tâm như một tiếng vẹn tình nước non
‘Cuộc cờ đó’ đã tròn quên, nhớ                       (11)
Tạ từ đây, giờ mở lời vui

‘Bài ca chung cục’, hồn ơi!          
                  
Lễ chào Nguyên khởi, Hội mời Khởi nguyên   (12)

Ta với hồn vẹn nguyền tâm niệm
Ta cùng hồn hỏa liệm tâm sai
Lời ca siêu thoát hòa hài
Về đây, hồn hỡi, viết bài “Lai Sinh” !

                                                                                     Nguyễn Thùy

Chú thích:

          l) Bài ca siêu thoát: Bài ca không nhằm siêu độ từng hồn oan mà nhằm giải trừ căn cơ nghiệp chướng, cái ‘tâm sai’ ngày qua và bây giờ để được sống trong trạng thái ‘Tính Không’ từ nay và để tạo lập một “Lễ Hội” mới cho nhân loại.

          2) Ta: Việt Nam hay Dân tộc Việt Nam  

          3) Bài ca chung cục: mượn ý một nhà thơ Pháp: le chant final, ý nói bài ca cuối kỷ nguyên, trang đời sau cùng của kỷ nguyên nầy.

          4) Ðoạn thơ của Ðinh Hùng trong bài ‘Thần Tụng’ trong tác phẩm ‘Mê Hồn  ca’.

          5) Hai câu thơ của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều trong ‘Cung oán ngâm khúc’.

          6) Núi Sọ: đồi Golgotha, nơi Chúa Jésus bị đóng đinh. Mượn hình ảnh nói lên nỗi đau khổ tột cùng.

          7) Câu thơ của Nguyễn Du trong ‘Văn tế thập loại chúng sinh’

          8) Cơ đồ không tên: đoạn thơ của Ðinh Hùng trong tác phẫm nói trên.

          9) Sử lịch: dòng vận hành của Lẽ Ðạo chi phối dòng Tiến hóa của vạn hữu, theo Phật Giáo là từ ‘Chân không vào Diệu hữu’ để  dẫn về  ‘Diệu hữu trong Chân không’, nói dễ hiểu, theo tiếng Việt là: ‘từ ‘Không vào Có’ cuối cùng dẫn về ‘Không trong Có’.  (Theo tiếng Pháp, có thể dịch là : ‘le Chemin du Tao, le Chemin de l’Être’).

        10) Hồng lệ : trang sử máu và nước mắt.

        11) Cuộc cờ đó : chỉ chung cuộc sống thế gian lâu nay cùng những món nợ đối với mình, với người, với gia đình,xã hội, với đất nước, non sông, lịch sử.

        12) Lễ Hội : mượn ý Nguyễn Du trong ‘Ðoạn trường tân thanh’ : « Lễ là tảo mộ, Hội là đạp thanh » . Có Lễ là có Hội và ngược lại. Hội nhờ Lễ mà có ý nghĩa ; Lễ nhờ Hội mà được bảo tồn. Trong bài thơ : Lễ và Hội là để từ tạ Kỷ nguyên qua và chào đón Kỷ nguyên mới. ‘Nguyên khởi, Khởi nguyên’ : le Commencement, mượn ý Khổng Minh : ‘Thủy hữu đầu, chung hữu thủy’ và ý M. Heidegger : l’autre Commencement.

 

 
Hosted by www.Geocities.ws

1