short story
prose

Việt Điển
tạp chí tư tưởng và văn hoá

    văn xuôi
      truyện ngắn



   

 

NGỤ NGÔN – TRÙNG NGÔN

Nguyễn Thuỳ

 

LTS : Xin trích nơi đây một số tiểu luận trong sách « Ngụ ngôn-Trùng ngôn » của Nguyễn Thùy (nhà xuất bản Mékong Tỵ nạn, San José 1990) cống hiến bạn đọc. Các tiểu luận được viết phỏng theo lối văn Cổ học tinh hoa cùng lối nói phiêu hốt của Trang Tử , nhằm mượn lời người xưa giải thích một số sự việc thông thường, giải một đôi công án trước đây, đồng thời nêu ra đôi công án mới để bạn đọc trầm tư, chiêm nghiệm.                                     

 

                                         Quảng Cáo

                                        

          Một người chết về Diêm phủ. Diêm Vương hỏi :

          -Trên thế gian con làm nghề gì ?

          -Bẫm Diêm Vương, trên thế gian con làm nghề quảng cáo.                    

                               -Nghề đó thế nào con?

          -Bẫm, nghề ấy dễ lắm ạ! Chỉ cần nói thật hay, thật xuôi tai, thật trôi chảy, đừng ngập ngừng, đừng ngượng miệng , nói thật tốt về những điềéu mình làm, nhữøng  món hàng mình muốn bán, thế là thiên hạ đổ xô vào mua, hợp tác, hưởng ứng với mình, chẳng mấy chốc mình thành thần tượng, được giàu có to và thành công lớn. Mà những thứ mình nêu ra chỉ là danh từ, chỉ là tên gọi, chỉ là những thêu dệt. Mình chẳng hao tốn gì bao nhiêu ngoài một số nước bọt và mẹo vặt,…

          -Nghề hay quá nhỉ! Tiếc rằng nơi đây chưa có ai làm nghề đó cả. Trong danh sách Công Thương, Kỹ nghệ gia chết về nơi đây, không thấy ai ghi đã làm nghề đó. Biết sao bây giờ? Ta định công luận tội con ra sao đây? Cho con lên Thiên đường hay vào địa ngục? Khó quá, khó quá!

          Diêm vương đi đi lại lại, bóp trán suy nghĩ. Lát sau, Ngài hớn  hở:

          -À, mà được rồi. Thế nầy nhé, tùy con định liệu. Con chọn Thiên đàng hay Địa ngục, tùy con. Con thích nơi nào, ta sẽ đưa con đến nơi đó, con bằng lòng chứ?

          -Dạ, dạ bẫm Diêm vương, Diêm vương tốt quá. Trên thế gian, con chưa gặp một đấng quân vương nào độ lượng, cao cả, tuyệt vời như  Diêm vương…

          -Được rồi, con khỏi nói nhiều. Nhưng để con có thể chọn hợp ý con, ta phải cho con xem cả hai nơi đã chứ, con đồng ý không?

          -Dạ, dạ..Bẫm Diêm vương, Diêm Vương quả là đấng vua tuyệt diệu, tôn trọng cả tự do và sở thích mỗi người. Con xin khâm phục….

          - Vừa thôi, ta không muoốn nghe con nói nhiều mà! Con muốn xem cảnh nào trước? Địa ngục nhé! Người dương gian thường sợ diïa ngục lắùm. 

          Nói xong, Diêm Vương lấy chìa khoá mở cửa địa ngục, dẫn chàng vào. Nơi đây đủ cả. Cũng làm việc, cũng bán buôn, cũng báo chí, truyền thanh, truyền hình, cũng chiếu bóng, ca vũ, thể thao, cũng tiệm nhảy, tiệm hút, cũng ma túy, mãi dâm, cờ bạc, ăn chơi, nhậu nhẹt, cũng phụ nữ thời trang đủ mốt, trẻ con với trò chơi đủ loại; cũng những công trình đồ sộ, cũng đủ mọi món nghệ thuật; cũng chợ trời, buôn lậu, du hí nhộn nhịp, tươi vui….Chàng phấn khởi, mừng thầm, nghĩ rằng địa ngục thế nầy thua gì dương thế và định bụng sẽ chọn địa ngục vì chàng sẽ tiếp tục hành nghề thoải mái nơi đây.

          -Con xem kỹ chưa?

          -Bẫm Diêm vương, con xem kỹ lắùm rồi ạ!

          -Tốt, bâygiờ lên cảnh Thiên Đàng nhé!

          Diêm Vương khoá cửa địa ngục, cũng lấy chìa khoá đó mở cửa Thiên dààng, dắt chàng vào….Cảnh Thiên đàng thơ mộng làm sao! Mây trôi, nước chảy, hoa nở bốn mùa; tiên ông đánh cờ, tiên đồng hầu rượu, rong chơi, tiên nữ múa nghê thường,..., màu sắc lung linh, âm thanh óng ả…Chàng nghĩ bụng cảnh nên thơ, thanh thoát nhưng khó hành nghề, ở lâu buồn lắm, cảnh địa ngục thích hơn…

          -Sao, con xem kỹ chưa?

          -Bẫm Diêm vương, con xem kỹ rồi.

          -Tốt. Con đã xem kỹ hai nơi, bây giờ con chọn nơi nào, ta sẽ đưa con đến nơi đó.

          -Bẫm Diêm vương, cả hai nơi, nơi nào cũng đẹp, cũng vui nhưng theo ý con, con thích cảnh địa ngục hơn.

          -Ô kê! Ta đưa con vào địa ngục vậy. Nhưng ta hỏi lại: Con chọn kỹ chưa? Con không ân hận đấy chứ? Tại sao con chọn cảnh địa ngục?

          -Bẫm Diêm vương, con chọn kỹ rồi. Con không có gì phải ân hận cả. Cảnh địa ngục hợp với nghề của con, hợp với loại người như con.

          -Tốt lắm, vậy con theo ta đến nơi con thích.

          Diêm vương mở cửa địa ngục. Vứa bước qua ngưỡng cửa, chàng run lên bần bật. Cảnh ghê gớm quá. Tiếng kêu thét, rên la, tiếng ré, tiếng rú rợn người. Quỉ sứ đầu trâu mặt ngựa quát mắng, đánh đập, cắt lưỡi, lột da, khoét mắt, cắt đầu, tùng xẻo, chặt cụt chân tay người nầy người nọ. Từng thây treo lơ lửng, từng đám người trần truồng, co quắp, khóc lóc, quì lạy, van xin; từng lũ người đánh đấm cấu xé, chửi mắng, tố cáo nhau…Từng vạc dầu sôi sùng sục, từng lưỡi dao sáng loé, từng thân người rẫy rụa, lưỡi thè, mắt trợn, miệng thét, tay co…Từng vũng máu đông, từng khúc xương trắng hếu, từng mảnh thịt bầy nhầy…

          Chàng run lẩy bẩy:

          -Bẫm, bẫm…Diêm Vương, cảnh…cảnh địa ngục lúc nảy kia chứ !

          Diêm vương vuốt tóc chàng, chẫm rãi :

          -Ồ ! Cảnh địa ngục lúc nảy ấy à ? Con không biết sao, cảnh ‘quảng cáo’ mà con !

 

                                         Chấp cái Chấp

                                     

          Đức Phật họp đệ tử truyền trao y bát. Chúa Gie-Su đứng ngoài quan sát. Đệ tử Phật không hiểu ra cái « niêm hoa vi tiếu » của Phật. Chỉ riêng Ca Diếp nhìn Phật mà cười. Phật liền trao y bát cho ông.

          Sau buổi lễ, Đứùc Phật hỏi ý kiến Chúa :

          -Ngài thấy ta trao y bát cho Ca-Diếp, lầm chăng ?

          -Không đâu.

          -Ngài thấy ta làm đúng ?

          -Vâng.

          -Xin Ngài vui lòng cho biết.

          -Ta hiểu ý Ngài. Ngài nhìn hoa mà cười. Ca-Diếp nhìn Ngài mà cười.

          -Đúng vậy. Ta chấp sự việc, sự vật, Ca-Diếp chấp cái lý của sự việc, sự vật. Nó biết chấp cái Chấp.

 

                                         Cứu rỗi – Giải thoát

 

          Một hôm Đức Phật gặp Chúa Giê-Su . Nhìn Chúa trên cây Thập tự giá, Phật bảo :

          -Ngài quả là Chúa.

          -Ngài quả là Phật.

          -Phật, Chúa giống, khác ?

          -Có giống, có khác.

          -Ngài vui lòng chỉ giáo .

          -Phật thì đau, Chúa thì khổ.

          -Đúng vậy. Xin Ngài cho biết tôn ý,  đau, khổ dị, đồng ?

          -Phật đau từ trong ra, Chúa khổ từ ngoài vào. Đau từ trong ra thành khổ ; khổ từ ngoài vào thành đau. Chúa cứu rỗi cái đau của Phật, Phật giải thoát cái khổ của Chúa.

          -Tuyệt diệu. Đau từ trong ra là Biệt nghiệp ; Khổ từ ngoài vào là Cọng nghiệp. Cọng nghiệp đi vào Biệt nghiệp, chuyển Biệt nghiệp vào Cọng nghiệp, con đường Tiến hóa là như thế.

          -Chính thế. Và, cuối đường, Giải thoát, Cứu rỗi đồng nhiên như nhiên thị hiện.

 

                                         Pháp thân và ý niệm

        

           Đang mệt mỏi vì bao nhiêu buồn bực, lo âu , bỗng một cơn gió mạnh đến bế thốc người viết mang đi rồi thả xuống một vùng xa lạ. Người viết bỡ ngỡ nhưng thấy phong cảnh nên thơ, khí hậu ấm áp nên thở ra nhẹ nhàng, khoan khoái và trở nên thanh thản. Đảo mắt quan sát, người viết bắt gặp một vị như đạo sĩ đang ngồi trầm ngâm trên tảng đá, tay ve vuốt âu yếm một con gà trụi lũi lông lá. Thấy lạ, người viết đếùn bên. Đạo sĩ như không biết, vẫn mơ màng.

          -Thưa Ngài…

          -Tốt, con ngời xuống đây, ta đang mong có người nói chuyện. Con biết con gà nầy ?

          -Thưa không.

          -Ồ, nó là con gà của Diogène.

          -Dạ, thưa, con biết rồi. Ngài là Platon ?

          -Đúng, sao con biết ?

          -Thưa, con có đọc Tự điển Larousse.

          -Thế à, người đời chịu khó nhớ dai nhỉ. Con biết  tại sao ta vuốt ve con gà nầy ?

          -Thưa, chắc Ngài nghĩ cách trả lời cho Diogène.

          -Không đâu, con nghĩ sai rồi. « Đấy, con người của ông Platon »  (Voilà, l’homme de Platon), Diogène nói đúng lắm.

          -Thưa Ngài, con không hiểu đúng ở chỗ nào.

          -Ta đương hồi phục Thế giới ý niệm đây. Nơi ấy, con biết không, ta là con gà nầy, con gà nầy cũng là ta, không có lông lá gì che phủ cả.

          -Thưa Ngài, thế nơi cái thế giới ý niệm ấy, người và vật đều giống nhau sao và đều trần truồng cả ?

          -Không phải vậy…Diogène trong lúc tức bực ta, đã đốn ngộ nhận ra cái thế giới ý niệm ta nói mà giúp ta khai mở được cái thế giới ý niệm đó nơi ta.

          -Con chưa hiểu.

          -Có gì khó hiểu đâu. Con gà là pháp thân, ta cũng là pháp thân. Nơi thế giới ý niệm, mọi pháp thân đều là một, nghĩa là mọi thứ đều trở thành ý niệm.

          -Thế nơi thế giới đó, con cũng là ý niệm nữa sao ?

          -Đúng thế.

          -Thế con không là con nữa sao ?

          -Con vẫn là con, ta vẫn là ta, con gà nầy vẫn là con gà nầy.

          -Thế thì có khác gì với bây giờ ?

          -Khác chứ. Con vẫn là con nhưng là con ý niệm, ta và con cùng là ý niệm.

          -Thế cái thế giới ý niệm đó ở đâu ?

          -Ở trong con, ở trong ta, ở ngay bây giờ, ở giữa con và ta.

          -Thế lúc nào đạt được ?

          -Lúc con trụi lũi như con gà nầy.

          -Nghĩa là con trút bỏ áo quần ?

          -Không phải…

          -Thế thì…

          -Nghĩa là con trút bỏ được mọi cái hư huyển của Pháp là lập tức Pháp trở về với ý niệm. Pháp tồn tại trong tư cách là ý niệm mặc dù vẫn là pháp. Nếu ta không lầm, đạo Phật bên Đông phương con đã dạy như vậy.

 

                                         Con mới cô đơn

 

          Chiều qua, làm được một việc tốt nhỏ, lòng vui ra, đêm ngủ ngon giấc. Bỗng giữa khuya, thấy người nhẹ lâng lâng như được cánh chim nào nâng bay về một vùng nào xa xa rồi đặt xuống một nơi lồi lỏm. Mở mắt nhìn, thấy hình Chúa nơi cây Thập tự, bỗng hiểu đây là đồi Golgotha.

          Người viết bò đến bên Chúa, ôm chầm cây Thập tự, hỏi Chúa :

          -Thưa Chúa, Chúa có cô đơn không ?

          -Không.

          -Chúa ở đây một mình quạnh quẽ những hai ngàn năm, con nghĩ Chúa cô đơn lắm !

          -Không dâu, con.

          -Sao vậy, thưa Chúa ?

          -Ta một thân một mình thì còn cô đơn với ai. Tự ta đủ với ta rồi. Với lại, ta còn có Cha ở trên trời, Cha có bỏ ta đâu. Chính con mới cô đơn chứ.

          -Chúa nói lạ. Con có cha mẹ, vợ con, anh em, dòng họ, bạn bè, người yêu, đòng chí, đồng nghiệp,… ;hàng ngày con tiếp xúc, vui chơi với đông đảo người, làm sao con cô đơn được ?

          -Aáy, chính vì thế, con mới cô đơn. Không ai cô đơn vì đơn độc. Chính nơi giữa đông người, con người mới cô đơn. Vì có những việc, những điều, con người không chịu hiểu cho nhau, không chịu cảm thông, chia xẻ, giúp đỡ, đồng thuận mà còn đố kỵ, ganh ghét, bài xích, tranh giành, chiếm đoạt lẫn nhau. Tình yêu chẳng hạn, ; niềm tin Chúa, Phật, Thượng Đế, chẳng hạn, cả tình yêu nước nơi số người Việt con nơi hải ngoại hiện nay chẳng hạn….Việc làm tốt, người ta ghen ; việc làm xấu, người ta khinh ; việc xấu mà thành, được khen ; việc tốt mà thất bị chê ; rủ làm việc thiện, ai cũng tránh ; mời chia lời việc tráøi, ai cũng ham ; lấy của ngườl làm cuả mình thì muốn ; bớt của mình chút ít giúp người lại chối từ ; dùng đạo lý làm chiêu bài, đem nhân nghĩa làm bình phong ; lấy sự hơn người làm lạc thú, bắt người phải khốn khổ làm niềm vui,… ; con gặp hoài mà không để ý sao ? Cả con cũng vậy. Tình thương không cạn, khả năng sáng tạo không vơi mà không một điềéu kiện nào thể hiện, phát huy, đấy là cái cô đơn đệ nhất của con người. 

 

                                         Người mở rộng Đạo  

 

          Một hôm Đức Khổng ghé qua nhà người viết. Căn phòng u trệ bỗng sáng ra dị thường. Người viết đứng dậy cung kính.

          -Con cứ tự nhiên, đùng khách sáo. Lâu ngày, ta ghé thăm con.

          -Hân hạnh cho con. Ngài bận rộn trăm bề mà còn thăm con, quả thật phúc đức cho con.

          -Có gì đâu. Ta lúc nào cũng bận mà lúc nào cũng nhàn. Con đang viết gì đấy?

          -Bẫm con viết lung tung lắm. Con đang viết về Đạo...

          -À, tốt quá! Người bây giờ phần lớn lo ăn, con lại nghĩ về Đạo, quả con khá lắm.

          -Ngài quá khen, nhưng con thắc mắc…

          -Về điểm nào ?

          -Bẫm Ngài, con thắc mắc về chính lời của Ngài.

          -Lời của ta ? Lời gì con ?

          -Dạ, bẫm…Ngài bảo là « Nhân năng hoằng đạo, phi đạo hoằng nhân »..

          -Đúng là lời của ta. Con thắc mắc ra sao ?

          -Dạ, con nghĩ là « Đạo mở rộng người chứ người làm sao mở rộng đạo được ». Như con, con có hiểu Đạo là gì đâu mà Ngài bảo con mở rộng Đạo ?

          -Ấy, con đang mở rộng Đạo mà con không biết. Thế nầy nhé, Đạo là cái nhà, con đang ở trong cái nhà đó. Con có thể mở rộng hay thu hẹp ngôi nhà nầy lại chứ cái nhà làm sao mở rộng con ra được. 

 

                                         *****************************************

Ngụ ngôn thập cửu

Trùng ngôn thập thất

 

          Lật mãi quyển ‘Nam Hoa Kinh’, không tìm đâu ra mười chín Ngụ ngôn, mười bảy Trùng ngôn như  tác giả bảo, người viết cằn nhằn, trách móc:

          -Cái ông Trang Tử nầy ‘tào lao’ không thể tả. Nói úp úp mở mở, viết nưả kín nưả hở, tầm phào, tếu hết chỗ nói.

          Bỗng một cánh bướm chập chờn từ đâu xuất hiện rồi một giọng cười sang sảng tươi vui:

          -Chú bé trách ta đấy à? Hay lắm…

          -Người viết giật mình, nhìn quanh. Cánh bướm bỗng vút lên cao rồi một vị dáng sáp thư sinh, tuấn tú, trang nhã, có nét tiêu dao, phiêu hốt xuất hiện. Người viết run run, ngập ngừng:

          -Thưa, Ngài là Trang Chu?

          -Ừ, ta là Trang Chu.

          -Ngài vừa từ cánh bướm…

          -Đúng, ta từ cánh bướm. Ta là Hồ điệp, ta cũng là Trang Chu. Chú bé nhìn ra ta. Chú bé đang tư lự gì đấùy ?

          -Thưa, con đang đọc Nam Hoa Kinh của Ngài.

          -Ồ ! Bây giờ mà chú bé còn đọc sách của ta, kể cũng lạ.

          -Thưa, tại sao ?

          -Giờ nầy, con còn ê a nào Thích Ca, Lão Tử, Khổng Tử, Gie Su, Trang Chu….thì quả con cũng ‘tiếu ngạo giang hồ’ lắm đó…

          -Kính thưa, con không hiểu. Ngài chê hay khen con đấy?

          -Ta không chê cũng chả khen, chỉ tội nghiệp cho con thôi.

          -Bấm, sao thế?

          -Con không hiểu sao? Bây giờ là thời đại của công nghiệp, của khoa học kỹ thuật, của người máy, của điện toán, của vệ tinh,…Con không thích ứng với thời đại sao? Đọc những Thích Ca, Khổng Tử, Giê Su, Lão Tử, Trang Tử…chẳng là lỗi thời rồi sao?

          -Nhưng, thưa, chính giữa cái thời đại văn minh kỹ thuật nầy, con lại thấy cần phải đọc lại lời của Thánh nhân xưa vì con cảm thấy thời đại bây giờ như còn thiếu một cái gì đó khiến cuộc sống con người –trong đó có con- bị ngột ngạt sao ấy. Chính vì để hiểu thời đại bây giờ mà con thấy cần đọc lại các kỳ thư xưa cũ; đấy là cách “ôn cố tri tân” theo lời đứùc Khổng. Con mạn phép nghĩ vậy, không biết có đúng không?

          -Quả con còn ngây thơ, trong trắng. Con có lòng lo cho ngày mai. Ngày mai làm khổ con người quá lắm. Ngày mai là động lực bắt con người quay tìm quá khứ. Oâng Phật bên Aán Độ nói một câu nghe chướng tai « Hồi đầu thị ngạn », con chắc biết câu đó. Cái quá khứ cứ chuyển vị về tương lai bắt con người phải bơi lội theo nó mãi. Mọi môn học trước nay đáo cùng cũng quy về đào bới cho ra cái quá khứ nguyên sơ đó vậy. Con hỏi điều con nghĩ có đúng không, ta biết sao trả lời. Đúng cũng là không đúng mà không đúng cũng là không không đúng…

          -Thưa Ngài, Ngài lập ngôn kiểu ấy, con hiểu sao được. Xin Ngài dùng ngôn ngữ bây giờ, may ra con mới tiếp thu phần nào…

          -Con bắt ta làm một điềéu khó khăn. Ngôn ngữ bây giờ khó hơn ngày xưa gấp bội. Ngày xửa, ngày xưa, chữ nghĩa ít nên lẩn quẩn có mấy tiếng, mấy câu lặp đi lặp lại mãi ; còn bây giờ chữ nghĩa quá nhiều nên lung tung lắm. Cái gì nhiều quá dễ thành vô trật tự…

          -Dạ.., nhưng mà, thưa Ngài, bây giờ nhiều sự việc quá thì phải nói nhiều mới đủ chứ ?             

          -Cứ cho là vậy, nhưng con biết không, mọi thứ, dù gì là gì, thì cũng chỉ là cách nói muôn đời khác nhau về những thứ muôn đời chỉ một.

          -Ngài nói hay quá nhưng quả tình con không hiểu. Con nhai đi nhai lại sách của Ngài mà chẳng hiểu mô tê gì ráo…

          -Chỗ nào trong sách ta, con băn khoăn nhất nào ?

          -Dạ thưa, ở thiên Ngụ ngôn ấy. Ngài bảo « Ngụ ngôn thập cửu, trùng ngôn thập thất » mà con tìm suốt sách Ngài chẳng thấy đâu ra 19 ngụ ngôn và 17 trùng ngôn cả.

          -Ha ha…Tội nghiệp cho chú bé. Chú có đào bới suốt đời cũng chẳng tìm đâu ra các con số đó.

          -Thế sao Ngài lại viết ? Chao ôi, con muốn điên đầu lên ! Ngài ác quá, con không chịu đâu ?…

          -Chú bé trách ta à ? Được lắm…Hãy lên án ta nhiều nữa…

          -Xin Ngài tha tội, con lỡ mồm. Nhưng xin Ngài chỉ cho con chỗ nào tìm ra 19 ngụ ngôn và 17 trùng ngôn.

          -Chẳng có chỗ nào cả. Con tìm trong đầu thôi.

          -Con đã ‘đập’ bể đầu con mà có thấy đâu?

          -Tại sao lại thấy? Cái ở trong đầu thì không thấy mà chỉ nghiệm. Cái nghiệm thoát ra ngoài thành cái thấy. Cái thấy bên ngoài chỉ hữu ích khi trở thành cái nghiệm.

          -Dạ, vâng. Nhưng con ngu tối, đầu óc bé bỏng, được gặp Ngài quả là một kỳ ngộ. Xin Ngài vui lòng chỉ giáo cho con để ‘vắng người còn chút của tin’

          -Con cũng đáo để lắm, dám đem ý ông Nguyễn Du nhà con để ‘cưỡng bức’ ta phải nói. Nhưng thôi, thấy con là kẻ có lòng, ta nói đây:

          ‘’Ngụ ngôn, trùng ngôn thì vô số, biết kể sao cho hết. Ta dùng các con số 19, 17 chỉ là để nói về số nhiều thôi. Có dùng bao nhiêu ngụ ngôn, trùng ngôn, có nhắc đến bao lời Thánh nhân, Hiền triết thì cũng chẳng giải quyết được gì cõi đời nầy mà còn làm thêm rắc rối, nhiêu khê. Con chẳng thấy chính sự viện dẫn lời người nầy kẻ nọ mà sinh ra cãi cọ, tranh chấp nhau lung tung sao, lại còn làm sai lệch lời người xưa nữa. Ta dùng các con số đó chỉ để gián tiếp nói rằng còn lẩn quẩn cò kè, đo đếm, tính toán hơn thiệt thì mọi sự chỉ thêm lôi thôi chứ không bao giờ sáng tỏ. Con số - con không biết sao- chẳng là ký hiệu thể hiện đo dếm, tính toán, phân biệt sao? Còn trong vòng phân biệt, còn trong thế đối đãi nhị nguyên thì vô minh còn dày, vô minh phát sinh từ lòng dục do bỡi những con số cò kè bớt một thêm hai đó’’.

          -Dạ thưa, con hiểu rồi. Nhưng như thế, ngụ ngôn và sự việc mượn lời Thánh nhân hay nói theo lời Thánh nhân không nên chăng?

          -Nên chứ! Có cái gì không nên, có cái gì không không nên. Nên hay không, không ở sự việc mà ở cái nhìn, như một nhà văn Pháp đã bảo thế từ lâu. (1)

          -Thưa, cái nhìn thế nào ạ?

          -Cái nhìn bất nhị, cái nhìn ‘tề thiên địa’, cái nhìn ‘đồng nhân ngã’ như ta đã nói trong sách. Chưa có cái nhìn đó thì dù dẫn ra bao nhiêu ngụ ngôn, bao lời Thánh nhân cũng chỉ là vô ích, nhiều khi còn tạo thêm rắc rối cho việc đời vốn đã là mớ bòng bong.

          -Cái nhìn bất nhị? Nhưng làm sao có cái nhìn bất nhị giữa một vũ trụ toàn phân biệt? Có cái nhìn bất nhị, liệu có phũ nhận và lên án khoa học, toán học không vì khoa học, toán học mới dùng đến con số nhiều nhất?

          -Ấy, chính giữa vũ trụ đầy phân biệt nên mới phải cần có cái nhìn bất nhị chứ! Đã có cái nhìn bất nhị thì đâu còn lên án hay không lên án bất cứ gì. Trong cái nhìn bất nhị thì con số là con số của Tượùng, con số tượng số trong lúc con số trong cái nhìn sai biệt là con số hiện số, con số qui ước. Vô minh cuộc sống phát sinh từ con số qui ước đó. Khuynh hướng chung của Toán học, Khoa học chẳng là phá vỡ dần mọi qui ước để tiến tới khám phá cho kỳ được cái không còn có thể qui ước, cái thoát ra khỏi mọi qui ước, cái không còn cần đến qui ước tức cõi vô biên xứ –dù vô hạn lớn hay vô hạn nhỏ- cái Thể thống nhất ban sơ nền tảng, nguồn gốc của cõi sắc giới, cõi hiện tượng qui ước. Con  cố đi tìm cho ra 19 ngụ ngôn, 17 trùng ngôn trong sách của ta, quả con đã bị hạn chế trong tinh thần sai biệt của con số qui ước vậy.

----------------------

1)                                Que l’importance soit dans ton regard, non dans la chose regardée – André Gide (Les Nourritures terrestres – Livre premier).     

 

****************

Mũi tên

(Ý nghĩa Ra đi của người Việt tỵ nạn Cộng sản)

 

          Mẹ già đứng nơi bực cửa nhìn người con sắp từ giả mình. Mẹ nói :

          -Hôm nay con ra đi. Nhà ta nghèo. Mẹ không có gì tiễn con, chỉ có vật nầy gởi con làm hành trang lên đường.

          Người con nhận một gói nhỏ trong tay mẹ, mở ra xem thì là một mũi tên. Ngạc nhiên, chàng định hỏi thì mẹ đã lên lời :

          -Kể từ hôm nay, khi con rời khỏi nhà nầy, ngôi nhà chỉ là nấm mồ nhốt mẹ bên trong. Cửa nhà sẽ đóng im ỉm ngày đêm, lặng lờ, lạnh vắng mặc sâu bọ lao xao. Ngày con về, muốn vào gặp mẹ, con phải lấy mũi tên mẹ trao, bắn thẳng vào tim mẹ, cửa mới mở ra. Mẹ chỉ có chừng ấy lời, con lên đường sớm.

          Nói xong, mẹ biến mất. Người con sững sờ, băn khoăn nhưng rồi nhét mũi tên vào bọc hành lý, nhìn lại ngôi nhà toàn bộ rồi hăm hở ra đi.

          Thời gian sau, người con trở về. Ngôi nhà có phần tiều tụy. Cảnh vườn hoang vu. Cây lá rưng rưng như nghẹn lời chào hỏi. Chàng thanh niên buồn buồn, sực nhớ gói hành trang mang về. Chàng mĩm cười đáp lại mình  như hứa hẹn điều gì rồi vụt chạy vào nhà, đập cửa.             

          -Mẹ, mẹ, con đã về !

          Im lặng. Chàng gào lên, nức nở. Vẫn không lời đáp. Đập mãi tê cả tay, chàng vặn mạnh chốt cửa. Tay chàng đau nhói, chốt cửa bất động. Chàng chồm người tận lực bình sinh đẩy mạnh. Cánh cửa không nhúc nhích. Chàng khom mình  luồn hai tay vào phía dưới cố sức nâng cánh cửa bật ra. Vô ích, cửa nặng như tảng đá, thách thức chàng. Mồ hôi  nhễ nhãi, hơi thở dồn dập, chàng tựa mình vào cửa rưng rưng. Vụt nhớ lời mẹ, chàng chạy vội ra sân, moi bọc hành lý, lấy mũi tên nhỏ mẹ trao ngày nào. Chàng ra vườn, bẻ một cành dâu, uốn cong thành chiếc cung rồi lắp mũi tên vào, giương ra phía trước. Mẹ già bỗng hiện ra nơi hàng hiên, nghiêm nghị. Dây cung dèã căng, nhưng :

          -Không, không……bất hiếu, bất hiếu !..

          Chàng hạ cung xuống. Mẹ biến đâu rồi. Thẫn thờ chàng lại giương cung lên. Bóng mẹ lại hiện ra nơi hàng hiên. Chàng kéo dây cung thật thẳng, chỉ cần buông tay là mũi tên sẽ ghim ngay vào tim mẹ. Nhưng chàng lại lặng lờ hạ xuống, bóng mẹ lại biến mất. Chàng bàng hoàng buông rớt cây cung, quay ngược mũi tên đâm vào ngực áo. Ngay lúc đó, một  tiếng ầm vang lên và cửa nhà bật mở. Chàng nghe ra tiếng mẹ. Chàng vụt hiểu : ‘’Tim con chính là tim mẹ’’.

NT

___________

Chú thích :

1      Ngôi nhà : đất nước

2)    Mẹ :  mẹ Việt Nam, Tinh thần dân tộc

3)    Nấm mồ : tinh thần dân tộc bị tù đọng nơi đất nước từ đây không còn sinh khí

4)    Mũi tên : có hai ý nghĩa : a) thứ khí giới chống trả mọi thứ bên ngoài làm hại mình.  b) chỉ sự nghiệp đem về cho nước cho dân [theo điển tích : ngày xưa, khi sinh con trai, người cha ra vườn bẻ cành dâu uốn thành cây cung, lắp cộng cỏ bồng (cỏ hình dáng mũi tên), bắn khắp bốn hướng, ý mong đứa con lớn lên sẽ tạo sự nghiệp lẫy lừng.]

5)     Tim con chính là tim mẹ: người con dân yêu nước luôn luôn mang nơi mình tinh thần dân tộc, quyết làm nên sự nghiệp cứu nước cứu dân.

[Có thể mượn hai câu thơ trong bài : ‘Bàn tay’ (thi tập ‘Bóng Quê’ của Đỗ Bình) để hiểu thêm ý nghĩa thiên tiểu luận:

                                   mai ta chết thịt xương nầy rã hết

                                   về bên kia…có ngón cụt đầu!

(về bên kia: về với Đất nước, Quê hương. Có ngón cụt đầu: có kẻ không được Đất nước thuận tình, không được Quê hương thuận hảo, không được mẹ Việt Nam thuận nhận  vì nơi xứ người mãi giành nhau bao ảo ảnh , mãi chỉ lo vinh thân phì gia, không hề tạo được gì để mai nầy cứu nước, giúp dân)]     

 

 
Hosted by www.Geocities.ws

1