literature
essay

Việt Điển
tạp chí tư tưởng và văn hoá

văn học
khảo luận



 

 

Nghĩ v thơ

                                  - Thơ thứ rẻ tiền nhất cũng là thứ cao quí nhất

                                  - Thơ Việt Nam với sử mệnh dân tộc Việt

                                                                                        Nguyễn Thùy

         

               .- thơ : thứ rẻ tin nhất : Nhìn tình trạng xã hội hiện nay -Đông cũng như Tây-  và nhìn vào sự phát tri‹n của các bộ môn Nghệ thuật, chúng ta hẳn thấy rằng thơ không còn được ngôi vị ‘sùng kính’ như xưa. Thơ càng ngày càng mất giá dưới cái nhìn của người đời và trong công dụng của cuộc sống. Mà tự thân thơ cũng đã hàm chứa tính ‘rẻ tiền’ nếu xét trên mặt ích lợi thực tế.

 

a)     thơ ‘rẻ tin’ đối với người đời :

               1.-Thơ không tạo ra lợi tức và không là thứ hàng hóa tiêu dùng : Thơ khó lòng đem bán cũng khó lòng được ai mua. Từ phần tư cuối Thế kỉ XX đến nay, hầu như tại các nước phương Tây, có thể nói, Thơ không còn mấy được chú trọng. Thơ không còn tạo ra tiền cho người sáng tác cũng như cho các cửa hàng bán sách báo. Họa sĩ có thể vẽ tranh nơi đông người qua lại và có thể bán được ngay. Người nhạc sĩ hay nhạc công đờn rong, hát dạo nơi đông người để được người ta ‘ném’ cho ít tiền. Người mù có thể hát dạo để kiếm sống. Không một ai ‘ngâm thơ rong, đọc thơ dạo’ mà kiếm được khá tiền. Tản Đà trước đây đã toan ‘gánh Thơ lên bán chợ trời’ vì nơi hạ giới ‘thơ rẻ như bèo’.

               Thơ nếu được in gởi nhà sách thì người mua cũng rất hiếm, họa hoằn đôi nhà thơ hoặc đôi người biên khảo về Văn học. Sách Thơ nằm ngủ miên trường nơi kệ sách, co rúm trong bụi mù thời gian. Làm Thơ, in Thơ chỉ để lưu giữ cho mình, để đọc cho đôi người nghe hoặc ‘biếu xén’ cho nhau. Từ xưa, tiền nhân làm thơ chỉ để đọc cho mình hay  với đôi bạn bè thân nhất. Mà người làm Thơ cũng không nghĩ hoặc không ‘hy vọng’ Thơ của mình bán được nhiều tiền.

               Báo chí ngày nay không hay ít đăng Thơ. Báo nào có đăng, như báo Việt Nam, cũng không trả một đồng nhuận bút.Thơ không có giá hoặc không đáng được trả tin.

               Thơ không hoặc ít được thu vào băng Cassette, vào DVD, vào Vidéo để bán hàng loạt như nhạc hoặc phim tuồng. Đôi người Việt hải ngoại có thực hiện những Cassette về Thơ nhưng chắc cũng không được mấy người mua, và có mua, có lẽ do thích giọng ngâm hơn là do nội dung của Thơ. Thơ không hấp dẫn thị hiếu, không có những động tác, những hoạt cảnh kích thích tính vui nhộn nhất là trong thời đại ưa chuộng cảm giác mạnh nên Thơ không hay ít được đưa vào các chương trình truyền hình, truyền thanh vì không lôi cuốn đông đảo khán thính giả.

               Không có buổi trình diễn nào ngoài trời về Thơ (nhạc thì rất nhiều) cũng như không có cuộc triễn lãm nào về Thơ, không như Nhạc, Họa, Điêu khắc được trình diễn, triễn lãm hết nơi nầy nơi khác và được bán cũng như thu rất nhiều tiền. Ta có th‹ nhắc đến trường hợp ‘Triễn lãm Quốc tế về Thơ’ cứ hai năm một lần tại Bĩ Quốc dưới sự chủ tọa của Nữ Hoàng Bĩ nhưng cũng không mấy tiếng vang, cũng không mấy được Truyền Hình, Truyền Thanh và dư luận chiếu cố, cổ võ'.

               Ngày nay, nhiều Quốc gia, nhiều Công ty, Hiệp hội, Xí nghiệp, Cơ sở Kinh doanh đặt mua ‘chất xám’ về Khoa học Kỹ thuật, về Nhạc, Họa, Điêu khắc, Kiến trúc, Ca vũ, Kịch nghệ, Phim ảnh và những tài năng Th‹ thao chứ không nơi nào ‘đặt mua’ một nhà Thơ, một tài năng về Thơ hoặc một tác phẩm Thơ.

              2.-Thơ không có công dụng thực tế : Thơ không dùng trang trí như họa phẩm, không dùng giải trí, giúp vui trong khi ăn uống hay làm việc như Nhạc. Thơ không đem khoái cảm cho người đọc, người nghe, người nhìn như các bộ môn Ca vũ, Kịch nghệ, Xiếc, Thể thao. Có Thơ hay không có Thơ, cuộc sống cũng không thêm lợi lộc gì cũng chaẳng mất mát chi. Thơ chaẳng cần thiết gì cho cuộc sống, cuộc đời. Có người, suốt đời chẳng đọc, chaẳng thuộc, chẳng làm một câu thơ nào cũng không phải vì thế mà thấy ‘thiếu thốn’, thua kém ai, cũng chẳng vì thế mà bảo là ít văn minh, thiếu văn hóa. Những nhà thương mãi, những ông Tư bản kếch xù, những nhà Khoa học kỹ thuật, ...chẳng thiết gì đến Thơ vì Thơ chẳng đem lại cho họ một đồng lợi tức nào cũng như một chút kiến thức nào.

               Thơ không là phương tiện truyền thông tốt, không cung cấp những lượng thông tin cần thiết , không cập nhật hóa mọi biến chuyển của đời sống hàng ngày, ngay cả không dùng để giải trí. Thơ hầu như không dính dáng đến cuộc sống thực tế, nhiều khi chối bỏ cả hiện thực. Vì thế , Thơ không tác dụng gì đến công việc làm ăn, kinh doanh, phát minh, sáng chế, không giúp được gì cho phát tri‹n, tiến bộ xã hội vì chẳng đem lại một kiến thức, hi‹u bi‰t nào giúp cho trí tuệ cũng như tổ chức cuộc sống cá nhân và cộng đồng. Dưới mắt các nhà Khoa học k ỹ thuật, các nhà Kinh tế, Thương mãi, Chính trị, các nhà Th‹ thao,...Thơ chỉ là thứ ‘vô dụng’.

               3.-Thơ không được đưa vào Bảo Tàng Viện : Không như các di tích Khảo cổ, những Hoa phẩm, những tượng hình Điêu khắc, những sản phẩm Công Kỹ nghệ được lưu trữ , bảo vệ và bảo phòng chu đáo nơi các Bảo Tàng Viện thì chẳng một tác phẩm Thơ nào được lưu trử nơi các nơi nầy. Thơ chỉ được lưu trử nơi các Thư viện cùng với bao sách báo đủ loại khác. Ta chỉ thấy đôi Thư viện dành riêng cho Thơ do gia đình hay nơi các nhà thơ sinh sống để kỉ niệm một tài danh của vùng đó. Thơ không là thứ sản phẩm lôi cuốn khách du lịch đến viếng thăm, chiêm ngưỡng. Nhà Thơ thường nghèo, nhà ở không là dinh thự, đền đài như các ông Hoàng, bà Chúa, các nhà đại Tư bản để có thể trở thành ‘di tích lịch sử’ ( !) lôi cuốn khách du lịch. Thơ chẳng cần thiết phải được bảo vệ vì chẳng một ai ‘đánh cắp, cũng chẳng cần ‘giả mạo’, chẳng cần ‘sao chụp’ vì lẽ giản dị là chẳng  đem bán được tiền.

               4.-Thơ đang mất giá và trên đường bị đào thải : Thơ không thuận theo hoặc không thể theo kịp đà tiến triển của Văn minh nên dần dần mất giá. Với những tiến bộ thần tốc của Kỹ  thuật và với khuynh hướng ưa chuộng cảm giác mạnh hiện nay, Thơ không còn ‘chỗ ngồi’ xứng đáng trong làng ‘Văn Hóa Nghệ Thuật’ và hầu như không còn được xem là một Nghệ Thuật nữa. Ngày nay, nói đến Nghệ Thuật, ngưòi ta nghĩ ngay đến Nhạc, Họa, Điêu khắc, Kiến trúc, Ca vũ, Kịch nghệ, Phim ảnh, Nhiếp ảnh, ngay cả nhiều bộ môn trước đây không được xem là Nghệ thuật thì nay lại được xem là Nghệ thuật như các bộ môn Thể thao chẳng hạn. Các Bộ Văn Hóa tại nhiều nước, khi nghĩ đến phát triển Văn Hóa, thường không nghĩ gì đến Thơ, họa hoằn là nghĩ đến lập ra nhiều Thư Viện, trong đó tác phẩm Thơ nằm chung với các loại sách báo dù là sách khiêu dâm, sách dạy ‘làm tình’. Ngày nay, khoa ‘Nghẹ thuật đại chúng’ (Pop-art) lan tràn, trở thành phong trào sôi nổi khắp Thế giới, ảnh hường đến mọi sinh hoạt của quần chúng thì Thơ vẫn ‘chết chìm’ tại chỗ, không đủ sức hoặc không chịu hòa mình, theo kịp khuynh hướng ‘Kỹ thuật hóa Nghệ thuật’ (Techno-Arts) ; do đó Thơ dần dần bị đào thải khỏi Nghệ Thuật và cả Văn Hóa vì không còn được dùng.

               Tóm lại, Thơ không còn là bộ môn Nghệ thuật hấp dẫ'n thị hiếu quần chúng, không đem lại ích lợi thực dụng nào cho cuộc sống nên không còn cần thiết để xã hội tiêu dùng. Thơ chỉ còn là thứ giải trí cho cá nhân người làm thơ, cho những kẻ ‘không công rồi nghề hoặc của những kẻ gàn, người ngông, vô tích sự.

 

a)                                        thơ còn là thứ rẻ tin do tự thân của thơ :

               1-Thơ không đòi hỏi mua sắm một thứ vật liu nào : Người nhạc sĩ cần bút, cần giấy để kẽ khung nhạc và ghi nốt (không kể nhạc khí) ; người h ọa sĩ cần bút, cọ, sơn, màu, lụa, giấy ; nhà điêu khắc cần đất sét, thạch cao, gỗ, đá, cưa, đục ; người nhiếp ảnh cần máy chụp, cần phòng kín sang hình ; người ca sĩ cần đến giọng hát, cần học nhạc, cần biểu diễn theo tiết điệu nhạc ; vũ công, diễn viên kịch nghệ cần đến động tác, y trang, và dù là ‘vũ truồng’ thì cũng phải cần đến cái ‘không gian thẻ xác’, ... ; người làm Thơ, ngược lại chẳng cần một thứ vật liệu nào ngay cả bút giấy, ngay cả ngôn ngữ nói hay viết vì có th‹ làm Thơ trong đầu (rồi lẩm nhẩm thuộc) như người tù làm thơ trong nhà lao. Thơ không cần vốn liếng nên cũng không tạo ra lợi nhuận.

               2-Thơ không nhằm phục vụ bất kỳ ai và bất kỳ gì. Thơ không tạo ra lợi tức, không đem lại kiến thức, không giúp giải quyết một vấn đề nào của cuộc sống. Thơ hoàn toàn có tính cách cá nhân và chủ quan, chỉ phục vụ hứng cảm riêng của người làm thơ. Do đó, Thơ không cần thiết cũng không bắt buộc phải có môi trường cổ võ và môi trường tiêu thụ. Thơ không cần quảng cáo vì chẳng có ích lợi thực dụng nên chẳng thể tạo nên một  nghề kinh doanh nào có thể thu hút nhân công và làm tăng trưởng sức phát tri‹n tiêu thụ (croissance de consommation) tạo lợi tức cho cá nhân và cho quốc gia, xã hội. (Ngoại trừ những vụ ‘tâng bốc’ hoặc ‘chỉ trích’ nhau nhằm ‘tạo danh’ hay ‘hạ giá’ la^'n nhau giữa các nhà Thơ, các nhà phê bình Văn học như ta thường thấy nơi nhiu sách báo người Vit và ngoại trừ trường hợp bị bắt buộc phải phục vụ chế độ của kẻ cầm quyn như tại các nước Cộng sản).

               3-Thơ không là phẩm vật có tính cách quốc tế  nghĩa là không có những qui ước phổ quát chung cho mọi người nhận biết, không như Nhạc có Kí âm pháp, Họa có màu sắc, đường nét, Điêu khắc có hình thể, Ca vũ có tiết tấu, dáng điệu, động tác,..., ngay cả không có những con số như trong Tóan học và Khoa học thực nghiệm. Thơ hoàn toàn sử dụng ‘ngôn ngữ dân tộc’, người nước khác không thể đọc, hiểu được ; dù có được dịch ra tiếng nước người thì người nước ngoài cũng khó lòng nhận ra được cái hay, cái đẹp của nguyên tác. Đấy là một giới hạn của Thơ khiến Thơ từng dân tộc khó lòng được phổ biến trên Thế giới.

               4-Thơ là thứ Ngh thuật tĩnh : Thơ không thích hợp với Xã hội Công nghiệp. Thời gian của Xã hội Công nghiệp gò bó, hối hả, giục giã, câu thúc con người, không cho phép con người có thì giờ rãnh rỗi, thanh tĩnh để làm Thơ và thưởng thức Thơ. Thơ thường thích hợp với Xã hội Nông nghiệp và Du mục vì con người có nhiều thì giờ sống với nội tâm, với tình tự, với thiên nhiên. Xã hội Công nghiệp do cạnh tranh Kinh tế, Kĩ thuật tạo ra vô số dịch vụ, cuốn hút thời trang, luôn luôn đổi mới về mọi phương diện hối hả con người phải đuổi bắt kịp từng phong trào, từng nhịp độ tiến triển của thời đại. Mọi bộ môn Nghệ thuật cũng theo đà đó mặc lấy những tính cách, những kích thước mới phù hợp với thị hiếu và nhu cầu thời đại. Thơ có tính cách tĩnh nên khộng thích hợp với xã hội số đông. Thơ không thích hợp với tâm lí và thị hiếu ‘con người khối lượng’ (homme de masse= con người đoàn lũ), với nn văn minh đại chúng (civilisation de masse). Thơ khó lòng trở thành một thứ ‘Pop-art’.

               5-Thơ thường phản ảnh phần tiêu cực của cuộc sống và ‘lên án’ cuộc đời. Phần lớn Thơ thường đau buồn, rên rỉ, ta thán, ... nói lên những gảy đổ, tang thương, những ngậm ngùi, ray rứt, đắng cay của người thơ về phận mình trước những trắc trở, truân chuyên, ngang trái của cuộc đời, do đó thường ru người đọc, người nghe vào những buồn đau, khắc khoải, u sầu. Những Thơ phản ảnh hiện thực, mô tả những gảy đổ, lố lăng của người đời, tố cáo, lên án những độc ác, tàn nhẫn của lòng dạ con người, của những chế độ bạo tàn, áp bức, nói chung là những Thơ phản kháng và đãu tranh thì cũng chỉ nhằm chế diễu, mỉa mai, hậm hực, phẫn nộ, căm hờn, những tình cảm tiêu cực không hướng con người vào vui tin, ham sống, không đáp ứng được tâm lš ưa cạnh tranh làm giàu, hưởng thụ, ham vui của thói thường thiên hạ. Những Thơ tố cáo thói hư tật xấu của người đời cũng chỉ nhằm phê phán, đả kích chứ không để nghị được một cách thế hay biện pháp nào cải đổi xã hội và con người ngoài những ước mơ về tình thương, công bình, nhân đạo. Một số Thơ đề cập đến những ý tưởng cao xa, lớn rộng thì lại khó hiểu, bí hiểm, làm rối rắm tâm trí người đọc vốn không mấy đủ thì giờ chạy theo vận tốc mưu sinh của thời gian cơ giới. Những Thơ nói về Đạo cũng chỉ nói đến tính cách vô thường, vô ngã, phù du của cuộc sống, cuộc đời đ‹ đưa đến thái độ ‘tự an ủi’, tự ru mình vào trạng thái ‘an nhiên’ trong phút chốc chứ không mấy góp phần vào diễn tiến tiến hóa của nhân sinh.

               6-Người làm Thơ thường lông bông, lại còn tỏ ra khinh mạn đời sống. Người làm Thơ hầu như không mấy chú ý đến cuộc sống, ngay cả đối với chính mình. Nhà thơ thường ‘ngao du’ lông bông, lại đôi khi còn đi ‘tìm vui’, tìm đam mê bằng mọi chất kích thích : rượu, chè, thuốc lá, kể cả ma túy, gái trai và cờ bạc, nhiều khi sống đến tận cùng sa ngã, đến tận cùng đam mê , đẩy cuộc sống mình đến ‘đáy thẳm của hư vô’ hầu thấy hết mọi phi lí, mọi nhầy nhụa của cuộc đời, từ đó tìm thêm chất liệu cho sáng tác hoặc để giải tỏa cô đơn. Đã thế, tính tình lại phóng khoáng, rộng rãi, tiêu hoang, được đồng nào nếu không giúp bạn bè hay ai khác thì cũng xài cho bằng hết để lúc nào cũng khốn khổ vì tiền :

                                            -Hãy cứ tiêu hoang cho đến hết

                                             Ngày mai ra sao rồi sẽ hay.

                                                                      Nguyễn Bính

               Người làm Thơ lại là kẻ hay lội ngược dòng thời đại, tự cho mình là một ‘vũ trụ’, luôn luôn thấy mình cô đơn, cho rằng chẳng một ai hiểu được mình để bị người đời đánh giá là ‘lập dị’, là ‘hoang tưởng’, là ‘gàn, bướng, khùng, điên, ngông, ngốc’ :

                                            -Tôi đồng ý luật chung Ngài nói đó

                                              Mọi nhà thơ quả là một tên khùng

                                                                      [Nhưng có thể chính phải Ngài là chứng cớ

                                              Mọi tên khùng chẳng phải một thi nhân]

           (I admit, Sir, your general rule

                                                              That every poet is a fool

                                                              [But, yourselves, you may serve to prove it

                                                              That every fool is not a poet].

                                                                                 Samuel Taylor Coleridge : o~pigrame

               7-Thơ còn ‘rẻ tin’ vì quá nhiu Thơ và quá nhiu người làm Thơ mà nội dung quá bình thường và Ngh thuật chưa mấy vững. Xin nói v Thơ Vit Nam trong thời gian gần đây. Số lượng quá nhiu khiến ‘chất Thơ’ kém đi vì thường lặp lại cùng chủ đ, cùng tâm trạng và cách diễn đạt không mấy sinh động. Ở hải ngoại cũng như ở quốc nội, hầu như ‘ra đường là gặp thi sĩ’ ( !). Có th nói một thứ ‘chợ trời thơ’. Mọi người ‘dua’ nhau làm Thơ hoặc do quá rãnh ri, hoặc do đ  được đánh giá là ‘ngh sĩ’, hoặc do ‘uất nghẹn’ cuộc sống, do đau buồn v mình, v người, v đất nước, quê hương,... mà ‘mượn Thơ đ giải tỏa, gởi trao, đ ‘chửi đời’, hoặc do ‘thù tạc’, do ‘tức khí, đố kœ’, chế diễu nhau, hoặc dùng Thơ đ quảng cáo cho nhau, quảng cáo các mặt hàng. Trước cảnh ‘chợ trời thơ’ đó, một nhà thơ khi nhìn xã hội Vit Nam nơi quốc nội, đã đắng cay lên lời :

                                            Thằng mối gái bng dưng thành thi sĩ

                                             Ôm làng chơi ôm chữ nghĩa đứng đường

                                             Cô giáo trẻ đốt thơ vào nhà chứa

                                             Đời soi nghiêng sân khấu vãn lớp tuồng.

                                                                           Đ Bình

               Vì tất cả những lš do trên, thơ trở thành ‘rẻ tin’ dưới mắt người đời và tự nó, Thơ cũng là thứ ‘rẻ tin’ theo cái nhìn của người đời hin nay và người thơ (thi sĩ) cũng trở thành ‘rẻ tin’ đối với cuộc sống xã hội. Người làm Thơ luôn luôn là kẻ nghèo đói quanh năm, không như Họa sĩ, Nhạc sĩ, Điêu khắc gia, Ca sĩ, diễn viên Kịch ngh sống đầy đủ, giàu sang bằng NghŒ thuật của mình. Nhưng, một số điu ‘rẻ tin’ đó lại tạo nên tính chất cao quí của Thơ.

 

          B.-thơ thứ cao quí nhất: Thơ không tạo ra lợi tức, Thơ không có công dụng thực tế, Thơ không giúp giải quyết được vấn đ nào của cuộc sống, Thơ không đem lại kiến thức nào , Thơ không góp phần vào Tiến bộ Văn minh, Thơ không nuôi sống nổi chính nhà thơ nhưng Thơ lại là thứ cao quí nhất trong các bộ môn Ngh thuật hay có th nói rộng hơn trong bất kỳ hoạt động nào của con người. Tại sao ?

               1-Thơ không cần một cơ sở vật chất và không l thuộc Không gian, Thời gian. Như đã nói, Thơ không cần đến một phương tin, vật liu nào, ngay cả bút giấy và tiếng nói, văn tự nên không bị gò bó bỡi những nn tảng vật chất. Người nào cũng có th làm Thơ nếu có năng khiếu hoặc nếu cố ý làm. Vì thế, Thơ tự nó có tính cách Tự Do vì không phải l thuộc vào tin, vào điu kin nầy nọ. Có th‹ làm Thơ bất kỳ lúc nào, bất kỳ ở đâu, cũng chng đòi hỏi môi trường tiếp xúc, thưởng ngoạn. Không gian, Thời gian của người làm Thơ là thứ ‘Không gian, Thời gian bên trong’ mình nơi đầu óc, nơi trái tim, không cần vận dụng một bộ phận nào của cơ th, không h phải tính toan đối phó hoặc phù hợp với mọi cạnh tranh xã hội, không cần phải mưu lợi cho cá nhân, không cần phải làm ‘vừa lòng’ hay phải ‘phục vụ’ cho một ai, cho một sự vụ gì. Chất liu của Thơ là những cảm xúc, cảm hứng, những tưởng tượng được tích lũy, nuôi dưỡng qua kinh nghim, qua ‘vốn liếng’ cuộc sống của nhà thơ trong tương giao với môi trường thiên nhiên và xã hội được ‘đọng’ lại, được ‘nội tại hóa’ nơi tâm tư đ ‘xuất thần’ th hin qua Thơ, nhiu khi không cần thiết phải bị xúc động bỡi một đối tượng bên ngoài. Do đó, Thơ, trước khi th‹ hin tính cách ‘hữu th‹ tương giao’ (être relationnel) giữa nhà thơ với tha nhân, với ngoại cảnh, thì đã mang sn tính cách ‘hữu th tự tại’ (être en soi) nơi nhà thơ.

                                           -Tôi là con chim đến từ núi lạ

                                             Ngứa cổ hát chơi

                                             Hãy nghe lấy

                                             Còn như...sao rỉ rả ?

                                             Ho'i làm chi ? Tôi không biết trả lời.

                                                                    Xuân Diu

 

               2-Thơ đi thng vào trí tu, tâm hồn, không nhất thiết thông qua cảm giác, tri thức. Xin mượn lời W.F.Hegel :’Thơ bi‹u hin ngay phần trí tu cho chính trí tu với tất cả năng lực của tưởng tượng và của ngh thuật mà không cần biu lộ ra một cách khả thị và hữu hình cho cái nhìn hữu giác’ (Elle (la poésie) exprime immédiatement l’esprit pour l’esprit lui-même avec toutes les conceptions de l’imagination et de l’art ; et cela, sans les manifester visiblement et corporellement aux regards sensibles- Esthétique, PUF, Paris Janvier 1988).

Chng hạn lời thơ Tô Đông Pha :

                                            -Thiên ngoại hắc phong suy hải lập

                                             Tôn tiền hoàn đãi sứ quân lai

                                                             (tạm dịch :

                                                             Gió đen dựng sóng trời ngoài

                                                             Trước ly rượu vẫn vọng hoài sứ quân)

Và lời thơ Vit Nam  cũng cùng ý đó :

                                             Cứ đốt lò hương cho đến sáng

                                             Thử xem mưa gió tới bao giờ.

                                                          (người viết không nhớ tên tác giả)  

               Hơn nữa, Thơ có th diễn tả toàn bộ một sự vic, một hin tượng từ đầu đến cuối, chứ không nhất thiết riêng rẻ từng phần vì không bị giới hạn v một phương din hay sắc thái đặc thù nào như màu sắc, âm thanh, hình th, động tác,...Lại xin mượn lời Hégel trong tác phẩm đã dn :’Cuối cùng, hơn tất cả mọi ngh thuật khác, Thơ có khả năng trình bày một sự vụ trong tất cả mọi bộ phận ; sự tiếp diễn liên tục của ý tưởng, động tác của tâm hồn, sự tiến trin và tranh chấp của mọi đam mê cùng diễn tiến trọn vẹn của một hành động’ (Enfin, plus qu’aucun autre art, la poésie est capable d’exposer un événement dans toutes ses parties, la succession des pensées et des mouvements de l’âme, le développement et le conflit des passions et le cours complet d’une action, sđd, trang 119). Bài ‘Kẻ Sĩ’ của Nguyễn Công Trứ, bài ‘Hương Sơn phong cảnh’ của Chu Mạnh Trinh, bài ‘Lời Ky' nữ’ của Xuân Diu, bài ‘Nhạc sầu’ của Huy Cận,... có th xem là tiêu biu.  

               3-Thơ có th bao gồm các bộ môn Ngh thuật khác. Trong Thơ, ta có th thấy Họa, Nhạc, Điêu khắc, Kiến trúc, Ca vũ, Kịch ngh, vì trong Thơ, ta tìm thấy được màu sắc, âm thanh, đường nét, tiết điu, hình th‹, trương độ, cử chỉ, dáng điu, động tác, tóm lại ‘Không gian, Thời gian’ phủ trùm lên m†i sự, mọi vật bên ngoài nhà thơ được cô đọng lại trong cái ‘Không gian, Thời gian bên trong’ nhà thơ được th hin qua hình ảnh, văn ảnh của Thơ.

               Bài thơ ‘say’ của Vũ Hoàng Chương cho ta thấy như đang trong một vũ trường. Bốn câu sau đây vẽ ra cảnh thiên nhiên vùng trời Đà Lạt :

                                             Núi từng vách dựng đá nguyên khai

                                             Lũng thấp sương ôm ủ kín ngày

                                             Mây một trời thu chưa biết trắng

                                             Bên hồ liễu rủ dáng mơ phai. 

               Thơ biu hin đủ mọi sắc thái của ngôn ngữ qua mọi bin pháp tu từ : ẩn dụ, hoán dụ, thậm xưng, nhân cách hóa, đảo ngữ, đip ngữ,...k cả cách ‘chơi chữ’, nói lái thanh hay tục. Thơ cũng không nhất thiết theo thứ ‘ngữ pháp đường thng’ nghĩa là câu thơ bắt buộc phải đủ Chủ từ, Động từ, Túc từ hoặc phải có liên từ đ chuyn mạch như trong Văn. Một đặc đi‹m nữa của Thơ là có th ‘nhân cách hóa’ tất cả mọi thứ qua từ  ‘Em’, từ ‘Người’ dù đấy là một vật vô tri hay một ý nim siêu hình. Đây là ‘đặc quyn’ của Thơ, không bộ môn ngh thuật nào có được (có th Nhạc cũng có như thế đôi lúc, nhưng thường là đ phổ Thơ). Thơ cũng không đòi hỏi công phu học tập ; không có ngôi trường nào dạy v ‘Ngh thuật làm thơ’.

               Có lẽ do ba đặc đi‹m trên (không cần thiết một nn tảng vật chất, đi thng vào trí tu, tâm hồn không thông qua cảm giác và bao gồm mọi bộ môn ngh thuật khác) mà từ thời Cổ Hy Lạp, người ta đã sắp Thơ vào hàng đầu của 7 bộ môn Ngh thuật : Thơ, Nhạc, Họa, Điêu khắc, Kiến trúc, Ca vũ, Kịch ngh.

               4-Thơ phản ảnh ‘Dân tộc tính’ từng Dân tộc, mang chở Tinh thần Dân tộc, bi‹u hin sắc thái đặc thù, độc đáo của từng sắc dân góp phần phong phú hóa ngôn ngữ và cái tổng th Văn hóa nhân loại. Cho dù bị hạn chế vì không có những qui ước phổ quát đ‹ bất kỳ người nước nào cũng có th‹ nhận ra, nhưng Thơ lại có th‹ nói lên những đặc đi‹m văn hóa một dân tộc sâu sắc, trung thực nhất vì sử dụng hoàn toàn ngôn ngữ dân tộc. Ngôn ngữ một dân tộc có th xem như một thứ thổ ngữ, thổ âm (dialecte) đối với toàn th‹ nhân loại. Thổ ngữ, thổ âm chính là thứ ‘tiếng nói’ nguồn gốc, nguyên sơ của một dân tộc nên bảo lưu được những gì thuần túy, tinh khiết của tinh thần dân tộc đó. Ta gọi đãy là ‘tiếng mẹ đẻ’ (langue maternelle). Sắc thái một dân tộc qua ngôn ngữ riêng của dân tộc đó giúp cho Văn hóa chung của nhân loại phong phú, giàu đẹp, đa diện, nói lên h ết mọi tính cách khác nhau về Vũ trụ quan, Nhân sinh quan từng miŠn, từng vùng, từng thời đại. Nhưng tất cả mọi sắc thái riêng biệt đó của từng dân tộc cùng hướng về diễn đạt cái hoằng viễn, thâm sâu, u trầm, kín nhiệm của ý nghĩa và cứu cánh cuộc sống, cuộc đời. M.Heidegger, trong ‘Thư về Nhân bản thuyết’ (Lettre sur l’Humanisme) đã viết : ‘Hữu Th căn nguyên bất kỳ ở đâu và lúc nào cũng ‘nói’ qua tất cả mọi ngôn ngữ (l’etre parle partout et toujours à travers toute langue). Ta nhớ đoạn Thánh Kinh Ky Tô giáo. Qua Thánh Kinh, ta phân biệt hai loại ngôn ngữ : ngôn ngữ của Thượng Đế (langue divine) mà Saint Jean gọi là Le Verbe và ngôn ngữ của từng sắc dân tức ngôn ngữ của con người (langue humaine) qua ẩn dụ về Tháp Babel nhưng Thượng Đế lại hủy phá công trình xây tháp Babel và khiến loài người nói tiếng khác nhau cùng tản mạn khắp mặt đất. Thượng Đế mâu thuẫn với chính Ngài sao ? Sứ mạng của Chúa Jésus chính là đ‹ hoàn thành ý chí của Thượng Đế tức chương trình của Thượng Đế có nghĩa là đưa dẫn nhân loại vào thời điểm Oméga, thời đi‹m trở lại với Cội Nguồn, với trạng thái lpha ban đầu, Alpha trở  về trong Oméga’ tức cái Khởi Nguyên trở về trong cái Chung Cục :’Ta là alpha và oméga, là thứ nhứt và sau chót, là đầu và là rốt’ (Khải Huyền, phần Kết luận). Nói theo lời Phật giáo là ‘từ Chân Không đi vào Diệu Hữu để trở về Chân Không trong Diệu Hữu’ hoặc ‘từ Vô Dư Niết Bàn trở về trong Hữu Dư Niết Bàn’. Nói dễ hiểu là ‘từ Không trong Không (Thượng Đế, Thể Chân Như hay Chân Không)  dẫn về Không trong Có’, đãy là con đường Tiến Hóa mà chúng tôi nhận ra  qua lời Phật, lời Thánh Kinh và lời Jésus. Trong quan điểm đó, M.Heidegger đưa ra ẩn dụ ‘Quê Hương, Kiều Địa, Cố Quận’ (Patrie, Colonie, Sol natal). ‘Quê hương’ hay ‘Tổ quốc’ trong ẩn dụ nầy là cái ‘Nguồn gốc’ đã sinh thành Vũ trụ hiện tượng ; ‘Kiều địa’ hay ‘Đất khách’ hoặc ‘Xứ lạ’ (pays étranger) là co'i Thế gian tức co'i Hiện hữu và ‘Cố Quận’ hay ‘Cố Hương’ tức cái Quê hương ban đầu, cái ‘Cội Nguồn nguyên thủy’ được hồi phục. Xin không đi sâu hơn vì rất dông dài và khó hiểu. Xin nhắc lời thi sĩ Đức J.W. Goethe :’Trong cuộc sống chung, chúng ta tạm thỏa thuận sử dụng ngôn ngữ vì chúng ta chỉ diễn tả những liên hệ mặt ngoài. Khi đề cập đến những liên hệ sâu xa hơn, lập tức một ngôn ngữ khác xuất hiện, ngôn ngữ thơ’  (Dans la vie commune, nous nous accomodons tant bien que mal de la langue, car nous ne décrivons que des rapports superficiels. Dès qu’il s’agit de rapports plus profonds, aussitôt une autre langue apparaỵt, la langue poétique - trích dẫn bỡi M. Heidegger trong tiểu luận Hebel, Questions 111, nrf, Paris 1966). Ngôn ngữ thi ca từng dân tộc chính là phần đóng góp cho nền Văn hóa của Tổng thể Nhân loại trở về với Ngôn ngữ nguyên sơ trên diễn trình Tiến Hóa vì, theo Goethe, những ‘liên hệ sâu xa’ chính là những liên hệ giữa con người hiện hữu với cái Tính thể, cái Bản chất nguyên sơ, cái ‘Bổn lai diện mục’ nơi nó, có nghĩa là với Thượng Đế, với cái Thể Chân Như nguyên thủy. Nói theo Tôn sư Eckhart :’Tất cả vạn hữu đều mang chở cái ‘hữu tự hữu’ nơi Thượng Đế và tính thể của chúng có là do Thượng Đế phú cho bằng sự hiện diện của Thượng Đế nơi chúng’ (Toutes les créatures ont leur être en Dieu et l’essence qu’elles ont, Dieu la leur donne par sa présence - Oeuvres de Maitre d’Eckhart, bản dịch Pháp ngữ của Paul Petit, Gal. Paris, in lại năm 1989) và cũng theo Tôn sư Eckhart, Thượng Đế vận hành theo vận hành lịch sử của nhân sinh, đãy là ‘chương trình’ của Thượng Đế để đưa nhân sinh trở về với Thượng Đế :’Thượng Đế chu lưu không biến thái khắp mọi đổi thay và tự kết thúc trong cái Đơn nhất Tính thể (Dieu parcourt le changement sans altération et se clot en unité d’essence - sđd) . Hiểu như thế, Thơ chính là thể thái của ngôn ngữ hướng về Thượng Đế, hướng về Cội Nguồn từ đó vạn hữu đã xuất hiện và biến đổi liên tục. M. Heidegger, trong ‘cheminement vers la parole’ khi giảng luận về Thơ Georg Trakl đã viết :’Mi nhà thơ lớn chỉ là thi sĩ khởi đi từ sự ám đọc của một nguồn thơ duy nhất’ (Tout grand poète n’est que poète qu’à partir de la dictée d’un Dict unique). Nguồn thơ duy nhất đó chính là Tiếng Lời Thượng Đế. Tùng Thiện Vương trước đây đã bảo :

                                               - Hảo cú hốt tùng thiên ngoại đắc

                                                 Kỳ thư do tự mộng trung khan 

                                                                 (Câu thơ hay như bất chợt bắt được từ trời

                                                                  Sách lạ như do đọc được từ trong mộng)

                                                                

           5-Thơ là tiếng nói của Tâm hồn, của con Tim, của cái Tâm : Blaise Pascal đã nói đến cái ‘Luận lí của con Tim’ (la logique du coeur) qua lời :’Trái tim có lš lẽ của nó mà lí trí không hiểu được’ (le coeur a des raisons que la raison ne connaỵt pas). Nhà thơ Đức Georg Trakl đã viết trong bài ‘Printemps de l’âme’ :’Tâm hồn (linh hồn, cái Tâm) thực ra là điều lạ kỳ trên mặt đất’ (...L’âme est en vérité chose étrange sur terre. Spirituel bleuit...- xem M.Heidegger trong bài ‘La parole dans l’élément du poème’, bản dịch Pháp ngữ từ Đức ngữ của Jean Beaufret và Wolfgang Brokmeier, sđd, Gal. Paris 1981, bài thơ của Trakl không được in lại đày đủ và rất khó hiểu, người viết chưa thể lãnh hội). Con Tim, Linh hồn, Tâm hồn hay cái Tâm nơi Thơ không chỉ là thứ Tình yêu, Tình Thương hiểu theo lối thông thường mà nên hi‹u như là một trạng thái Tĩnh Thức (conscience éveillée) theo Phật giáo, có nghĩa, theo Matthieu Ricard là ‘sự chấm dứt mọi ngộ nhận kết hợp với lòng thương vô hạn’ (la fin de toute méprise associée à une compassion sans limite - xem ‘L’infini dans la paume de la main’ của Matthieu Ricard và Trịnh Xuân Thuận, Nil éditions/Fayard, Paris 2000, trang 32). Thơ là tiếng nói của Tâm hồn, của cái Tâm, thứ tiếng nói bềnh bồng, hư hư thực thực diễn đạt mối liên hệ ‘Thần thể và Nhân thể (divino humain), mối liên hệ giữa cái ‘tôi hiện sinh’ (le moi existentiel)  với cái ‘tôi tín ngưỡng’ (le moi religieux). Thơ, vì thế, không chỉ nói riêng về mặt tình cảm, không là lí luận, không là triết lí mà nằm trong phạm trù Đạo học tức Bản Th‹ luận hay Triết lí về Hữu Thể (Ontologie, Philosophie de l’Etre). Hiểu Thơ qua cảm nhận, qua tư duy, qua cái nhìn nội quan về mình, về người, về sự việc, có nghĩa phải ‘sống’ với Thơ, phải ‘thể nghiệm’ mình, thể nghiệm cuộc sống, cuộc đời, thể nghiệm lịch sử qua bài Thơ. Do đó đòi hỏi phải ‘trầm lắng’, phải trầm tư, phải tự chứng nghiệm trước khi đối chiếu, so sánh những điều được nói trong bài Thơ với hiện thực cuộc sống, với sự việc thực tế, với khung cảnh thời đại bây giờ. Vì Thơ không diễn đạt rõ ràng, minh thị, mạch lạc, tỏ tường mà bóng gió, bâng quơ, lung linh, chập chờn giữa Thực và Mộng, giữa Huyễn và Chân, giửa Hình và Thể, giữa Hữu và Vô, giữa Có và Không để bi‹u hiện một cái gì đó ‘không ràng buộc’, không câu thúc mà giải tỏa ngột ngạt, đắng cay, đüa tác giả và người đọc đến trạng thái tự tại, an nhiên hoặc bày tỏ một thái độ nào đó sâu xa, thầm kín. Chẳng hạn như hai câu của Bà Vân Nương :

                                            -...Cõi vô thường mộng mị

                                             Níu bàn tay thanh từ 

.                                                                (Âm thanh kinh ngạc)

          Hai câu của Huy Phong :

                                            -Chạy về phía trước mù khơi

                                             Đào sâu dĩ vãng đôi lời thơ xanh

         Hai câu của Bùi Giáng :

                                            -Trần gian bất tuyệt một lần

                                              Nghe triều biển lục xa dần non xanh.

        Hai câu của Đinh Hùng :

                                            -...Đây bài hát đã đi qua tiền kiếp

                                              Giữa tơ đàn xao động cánh hư vô

                                                                     (Mê hồn ca)

          6--Thơ thường mang chở Tư Tưởng nên rất dễ gần với Lẽ Đạo : Thơ, nếu được gọi là của nhà thơ lớn, thường nhằm đề cập đến Tư tưởng, một tư tưởng lẩn khuất, sâu xa, thầm kín mà không trầm tư, không tĩnh lặng, không ‘thể nghiệm’, khó lòng nhìn ra. Nhưng Tư Tưởng là gì ? Trong Lettre sur l’Humanisme, M.Heidegger nói về Tư Tưởng như sau : ‘Tư tưởng là sự dấn thân bỡi và cho Chân lí của Hữu Thể Căn nguyên, Hữu thể mà lịch sử không bao giờ hoàn tất mà luôn trong đợi chờ. Lịch sử Hữu Thể Căn nguyên chịu đựng và quyết đỵnh moi thân phận và vị thế, trạng huống con người’ (La pensée est l’engagement par et pour la vérité de l’y~tre, cet y~tre dont l’histoire n’est jamais révolue mais toujours en attente. L’histoire de l’y~tre supporte et détermine toute condition et situation humaine - xem Questions 111, trang 73). Hữu Thể Căn nguyên đó, theo Ky Tô giáo, chính là Thượng Đế ; theo Phật giáo là cái ‘Chân Không đã tự biểu thị mình ra Diệu hữu’, nói giản dị chính là Đạo Thể. Tư tưởng là ngôn ngữ của Hữu Thể căn nguyên đi vào thế gian, và Thơ là ngôn ngữ con người thể hiện Tư Tưởng nơi thế gian đ‹ nói lên những ‘liên hệ sâu xa’ mà Goethe bảo là ‘rapports profonds’. Mối liên hệ giữa Thơ và Hữu Thể Căn nguyên đó, M.Heidegger nói ro' : ‘Ngôn ngữ là ngôi nhà của Hữu Th‹ căn nguyên. Con người cư lưu trong ngôi nhà đó. Những nhà tư tưởng và những thi sĩ là những người canh giữ ngôi nhà đó. Sự canh giữ của họ là công trình  viên dung mối hiển lộ của Hữu Thể căn nguyên qua tể‹ điệu, cách nói của họ, họ mang chở mối hiển lộ đó vào ngôn ngữ và bảo lưu nó trong ngôn ngữ’. (Le langage est la maison de l’Etre. Dans son abri habite l’homme. Les penseurs et les poètes sont ceux qui veillent sur cet abri. Leur veille est l’accomplissement de la révélabilité de l’Etre, en tant que par leur dire ils portent au langage cette révélabilité et la conservent dans le langage - Questions 111, trang 74). Theo M.Heidegger, chỉ riêng nhà Tư tưởng và nhà Thơ mới đón nhận hay cảm nhận được Chân lš của Hữu Th‹ Căn nguyên qua ‘cách nói’ (hay cách lập ngôn) của họ. Cách nói của nhà Thơ (le dire du poète) không chỉ là chữ và câu, vần và điệu, văn phạm và cấu trúc bài thơ mà là những ‘ẩn ngữ’, những cái u tàng, ẩn mật, cái ‘đằng sau’, cái ‘bên kia lời’ của chữ và câu, vần và điệu mà thoạt nhìn chỉ là những gì rất bình thường. Chẳng hạn, ‘cách nói’ của Nguyễn Du là ‘mượn lời Tú Bà, chủ động mãi dâm dạy Kiều về nghiệp nghề gái đĩ’ để nói lên các ‘chân lí’ ( !) của trường đời, của cõi hiện hữu thê gian nói chung. Các ‘chân lí’ ( !) đó là :

                                            -Làm người dễ có mấy thân

                                            -Người còn thì của hãy còn

                                            -Nghề chơi cũng lắm công phu

                                            -Người ta ai mất tiền hoài đến đây.

               Hai câu của Tản Đà thoạt nghe là mô tả sự đổi thay của khí hậu bên kia và bên nầy đèo Hải Vân nhưng chính thực là n‡i lòng ông, là cảnh tình đất nước, là sự đổi dời đa đoan dâu biển :

                                            -Ải Vân đèo lớn vừa qua

                                             Mưa xuân ai bỗng đổi ra nắng hè

              Trong bài ‘Qua Đèo Ngang’, bốn câu đầu chỉ miêu tả cảnh tiêu sơ của miền quê mộc mạc vùng núi,  sao Bà Huyện đang đứng  ngay nơi mảnh đất quê hương mình mà phải ‘đau lòng con quốc quốc, mo'i miệng cái gia gia’ ? Bà Huyện nhớ nước nào, thương nhà nào ?  Có phải Bà Huyện đau buồn trước cảnh sống nghèo nàn của người dân mà ‘vọng tưởng’ đếnn cảnh đất nước và gia đình người dân tươi sáng hơn ; hoặc Bà đã mơ màng ‘linh cảm’ vận nước nay mai sẽ phải lầm than, tăm tối mà Bà cũng như dân tộc không có cách nào tránh khỏi nên từ trong cảm thức đã dậy lên nỗi ‘nhớ nước, thương nhà’ đ‹ phải ‘một mảnh tình riêng ta với ta’ ?

              Bốn câu sau đây của Bùi Giáng  cho thấy tính cách chập chờn, ẩn hiện của Lẽ Đạo , tính cách ‘thoái tàng-phơi mở’ (retrait-ouvert) của Lẽ Đạo mà ngôn ngữ và thi ca của ông, của con người nói chung, khó lòng phanh phui, thấm nhập . Cả bốn câu cho thấy cái ‘bất tư nghị’ của Đạo và cái ‘Sa mạc lớn dần’ do ngôn ngữ con người trong cõi Nhị nguyên luôn luôn gây hàm hỗn, mê cung : 

                                            -Người nằm đãy tự nghìn thu thấp thoáng

                                             Tôi bước qua từ ngữ rụng hai lần

                                             Tờ sa mạc như bồi phong tẩy địa

                                             Trút linh hồn từng như thể như thân.

               Câu thơ của Xuân DiŒu (thời tiền chiến) ‘Dẫu hai người cũng chẳ`ng bớt cô đơn’ không chỉ nói lên sự ‘không thông cảm’ giữa hai kẻ yêu nhau khi ta liên hệ đến trạng thái ‘xã hội hóa mà thiếu xã hội tính’ (socialisation sans sociabilité) ngày nay.

               Khá nhiều câu ca dao, dân ca Việt Nam cũng mang chở bao tư tưởng sâu kín mà chỉ mượn qua lối nói ‘tình tự gái trai’ khiến chúng ta chỉ hiểu trên bình diện mặt nổi , hiểu qua những ‘liên hệ hời hợt’ chứ không trong những ‘liên hệ sâu xa’ như lời của Goethe vì chúng ta không ‘lắng’ mình vào tâm thức người bình dân lúc đó đối với cảnh tình đất nước, cảnh tình lịch sử dân tộc, cha(`ng hạn :

                                            -Xa sông, cách núi lỡ vời

                                             Gửi thư e lậu, gởi lời sợ quên.     

                                            -Người yêu ta để trong cơi

                                             Nắp vàng đậy lại để nơi giường thờ

                                             Đêm qua ba bốn lần mơ

                                             Chiêm bao thì thấy, dậy sờ thì không.

                                            -Cô kia tát nước bên đàng

                                             Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi !

                                            -Mình nói dối ta mình hãy còn son

                                             Ta đi qua ngõ thấy con mình bò

                                             Con mình những trấu cùng tro

                                             Ta đi xách nước rửa cho con mình.

 

               Nhà văn nữ Thúy Trúc, trong tác phẩm ‘Viết cho người tình’ đã viết : ‘Đạo là nền của Thơ, Thơ là tinh túy của Đạo’. Thơ dề cập đến Lẽ Đạo sâu sắc hơn bất kỳ bộ môn nghệ thuật nào. Trong tác phẩm ‘La Seconde chance’ của Gheorghiu-Dej, khi một người khách (một cán bộ Cộng sản) đến thăm xưởng vẽ của một họa sĩ, nhìn bức tranh vẽ một con chim bay, lạ lùng hỏi họa sĩ : ‘Thưa Họa sĩ, Họa sĩ vẽ con chim đương bay sao tôi không nhận ra được’. Vị họa sĩ đang cắm cúi vẽ, không ngẩng đàu lên, trả lời :’Tôi không vẽ con chim đang bay mà vẽ cái bay của con chim’ (Je ne peins pas l’oiseau qui vole ; je peins le vol de l’oiseau). Phỏng theo đó, trong truyện Mây Rồng, tôi viết : ‘Họa sĩ không vẽ con rồng mà vẽ cái huyền thoại của Rồng’‘Tấm lụa tuyệt myỹ quả đòi hỏi một bức họa tương xứng. Nó vừa là nền của bức tranh vừa là cái ‘nền không nền’ của nội dung bức họa’. Cũng thế, Thơ chỉ mượn một cái gì hiện thực để nói đến một cái gì ‘siêu thực’, cái gì ‘đằng sau’ cái thực. Trên nền tảng của cái ‘hiện thực’, có cái gì bên trên nó, có một cái gì ‘thực hơn nó’. Tôi nhớ hai câu thơ của Trần Dạ Từ :

                                            -Anh cũng như chim, dại khờ quá đỗi

                                             Chọn một ngày gió bão yêu em.

               Dĩ nhiên hai câu thơ nói về Tình yêu của tác giả nhưng âm hưởng lời thơ mang chở ta đến những gì xa xôi hơn. ‘Em’ nơi đây có thể vừa là ‘người em gái’, ‘người tình’ vừa là cái ‘nghiệp dĩ’ đã trót cưu mang như ‘nghiệp dĩ làm thơ’ chẳng hạn.

               Nhiều bài Thơ, không dễ gì hiểu và cảm được ngay. ‘Hiểu’ bài thơ, ta thường dựa vào văn từ, vào lời và câu, vào cuộc sống của tác giả, vào thời đại tác giả đã sống, vào xuất xứ của bài thơ. ‘Cảm’ một bài thơ, ta cơ sở nơi hình ảnh, văn ảnh, nơi ‘tính nhạc’ của bài thơ nhưng đôi khi không sát với š tình tác giả lúc sáng tác. Tuy nhiên, lúc sáng tác, có th‹ nhà thơ không dụng ý diễn đạt một cái gì xa xôi hoằng viễn nhưng âm hưởng bài thơ lại mang chở tâm tình  người đọc hướng đến những gì cao sâu, ẩn nhiệm mà nhà thơ lúc sáng tác hầu như không biết. Tại vì, lúc hứng cảm, nhà thơ đã ‘bộc lộ’ những gì sâu kín đã từng được nuôi dưỡng âm thầm nơi tâm thức đ‹ xuất thần thể hiện qua lời thơ ra ngoài cái ‘hữu thức’ của tác giả lúc bấy giờ. Vừa hiểu lại vừa cảm được bài thơ, ta mới ‘hội nhập’ ta với bài thơ có nghĩa ta mới ‘sống’ với bài thơ, với tác giả và cả với cuộc đời trong thời đại tác giả cùng lúc với cuộc đời chúng ta đang sống. Ca dao, Dân ca Việt Nam chúng ta phần nào chứng minh điều nầy, chẳng hạn đôi câu sau đây :

                                            -Em như con hạc đầu đình

                                             Muốn bay không nhắc nổi mình mà bay

                                            -Tới nơi hỏi khách tương phùng

                                              Chim ri một cánh bay cùng nước non.

               Gần đây nhất, Đỗ Bình đã viết :

                                            -Từ độ quê nghèo yên khói lửa

                                              Mẹ buồn khắc khoải đếm xương khô

                                              Núi sông phảng phất mùi thây rữa

                                              Vất vưỡng hồn oan chẳng nấm mồ.

               Nếu hiểu rõ Đỗ Bình đã viết các câu trên lúc thấy Cộng sản Việt Nam ‘ân cần’ xin tìm lại các xác lính My' đã chết trong cuộc chiến qua để ‘trả giá’ với Tổng Thống Clinton lúc qua Việt Nam hầu được sớm thông qua Hiệp ước thương mãi My'-Việt, ta mới cảm được nhiều hơn về nỗi xót xa của nhà thơ lúc nghĩ đến bao nhiêu xác chết của binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa, kể cả của cán binh Cộng sản và hàng triệu xác chết của người dân Việt Nam ở cả hai miền Nam Bắc không hề được nhà cầm quyền Cộng sản lẫn Mỹ đoái hoài.

               7-Thơ thăng hoa con người và cuộc sống, cuộc đời. Trong mọi thi sĩ nghĩa là mọi nhà thơ lớn, ta thấy hầu như lúc nào cũng lung linh ba hình ảnh : hình ảnh một kẻ ‘anh hùng’, hình ảnh một kẻ ‘đam mê’ và hình ảnh một kẻ ‘thánh thiện’. Kẻ anh hùng thì náo động, bạo hành ; kẻ đam mê thì đắm đuối, cuồng si ; kẻ thánh thiện thì quang lảng, thanh tân. Hai hình ảnh đầu ngôn ngữ Hy Lạp mượn qua hai vị thần trong thần thoại là Héraclès (tức Hercule) và Dionysos để thể hiện. Hình ảnh Thánh thiện được tượng trưng sau nầy qua Chúa Jésus. Trong ‘Chemins qui ne mènent nulle part’, bài ‘Pourquoi des poètes ?’, M.Heidegger viết :’’Từ khi ‘ba đồng minh thiết cốt’ Héraclès, Dionysos và đấng Christ xa lìa thế giới, buổi chiều của thời đại đi dần vào đêm của nó... Kể từ đãy, thời đại được xác đỵnh bỡi sự cách biệt với thần linh, bởi sự ‘thiếu vắng thần linh’...’’ (Depuis que les ‘trois alliés substantiels’ Héraclès, Dionysos et le Christ ont quitté le êonde, le soir de cet âge décline vers sa nuit. La nuit du monde étend ses ténèbres. Désormais, l’époque est déterminée par l’éloignement du dieu, par le ‘défaut de dieu’ - trang 323). Thời đại chúng ta đang sống, theo đó, chỉ có những ‘anh hùng’, những ‘kẻ đam mê’ về mọi mặt (khoa học kĩ thuật, chính trị, kinh tế, thương mãi, kĩ nghệ, th‹ thao, văn nghệ,...) nghĩa là tất cả những gì phục vụ cho kiến thức, cho lợi tức, cho sở thích, ham muốn, nói theo nhà Phật là đắm chìm trong cõi Dục giới mà lảng quên phần sống Tâm linh hướng thượng. Những gì gọi là tốt đẹp, thánh thiện như ‘thương yêu, hòa bình, nhân đạo,...’ chỉ là chiêu bài, chỉ có ‘giá trị lợi dụng’ nhất thời cho những ý đồ đen tối. Chúng ta đang sống trong ‘hoàng hôn’ của lịch sử và càng lúc càng lầm lũi vào đêm dày. Vì thế, Thơ càng ngày mất giá và dần dần bị đào thải bỡi nền văn minh của cảm giác, của khí cụ, của lòng dục Tư hữu Chiếm hữu đến cùng độ. Thói ‘giả hình’ mà Jésus luôn luôn bài bác càng lúc càng lộng hành. Chính vì thế mà Thơ càng có sứ mạng ‘kết hợp’ cả ba tính chất ‘anh hùng, đam mê và thánh  thiện’ mặc dù đang bị chối bỏ. Thơ của các nhà thơ lớn phản ảnh cái ‘đêm dày’ của nhân thế với tất cả xao xuyến, trầm tư và hướng con người cùng nhân loại vượt qua cái ‘trường dạ mê cung’ của nhân hoàn. Đấy là những nhà thơ mà M.Heidegger gọi là ‘Thi sĩ cuả thời đại khốn khổ, nguy nan’ (poètes en temps de détresse). Nhà thơ lớn luôn luôn là kẻ ‘Thiên tuế trường ưu vị tử tiền’ (Nguyễn Du - trước khi chết vẫn ưu tư lo nghĩ chuyện nghìn sau). Chính vì thế mà Thơ càng trở nên cần thiết và cao quí dù có phải bi ‘đánh chìm’ trong cái đại dương giông tố, bão bùng của m†i hoạt động nhân sinh bị cuốn hút bỡi dục vọng Tư hữu Chiếm hữu. Tóm lại, Thơ khơi động cái Tâm nơi con người, Thơ đem Đạo vào Đời, đem Tư Tưởng vào cuộc sống. Thơ không vào Đạo mà chính Đạo vào Thơ, hay nói cách khác ‘Đạo vào Đời qua Thơ’.

 

               Tóm  lại, ‘Thơ không cần thiết một cơ sở vật chất, Thơ không lệ thuộc Không gian, Thời gian, Thơ không tạo nên của cải, Thơ không phục vụ cho Tư hữu, Chiếm hữu, Thơ bao gồm nhiều bộ môn nghệ thuật khác, Thơ mang chở Tinh thần từng Dân tộc để phong phú hóa nền Văn hóa Nhân loại, Thơ là tiếng nói của Tâm hồn, Thơ đem Đạo đến với cuộc Đời, Thơ phản ảnh những rẫy rụa trong Đam mê, những bạo cuồng trong hành động để hướng dẫn con người và cuộc sống, cuộc đời biết ‘hồi hướng, hồi tâm’  hầu thoát vượt những cuồng nộ dị hình của Lịch sử , những mê lộ mê cung để đạt đến bến bờ Thánh thiện, Chân như’. Do tất cả những điều trên, Thơ trở thành thứ cao quí nhất. Lời Thơ Nguyễn Du :

                                            -Trăm năm để một tấm lòng từ nay

và :

                                            -Trời còn đểcó hôm nay

                                             Tan sương đầu ngõ, vén mây giữa trời

đ‹ làm gì ? Để báo biệu giờ phút :

                                             Đoạn trường sổ rút tên ra

                                             Đoạn trường thơ phải đem mà trả nhau.

 

          C.- thơ Việt Nam với sử mệnh dân tộc Việt :

               Không ro' trên thế giới có dân tộc nào ‘sống’ với Thơ nhiều như dân tộc Việt Nam. Trong lúc hiện nay, trên thế giới, người ta ‘quên’ Thơ, không còn tha thiết với Thơ thì người Việt Nam nơi Quê Hương hay nơi Hải ngoại vẫn thích Thơ, yêu Thơ, ưa nghe Thơ, ‘khoái’ làm Thơ, báo nào dù là báo Thương mại, Chính trị, Nghiên cứu cũng đăng Thơ, trên mạng lưới trời (internet) cũng có Thơ. Nhà văn nữ Thúy Trúc đã nói ‘Thơ đội cả trên đầu’ qua hình ảnh ‘chiếc nón bài thơ’. Hầu như nơi mọi người ViŒt nam lãng đãng một nhà thơ, ‘tiềm tàng’ cái ‘chất Thơ’ mà phái nữ cũng đông vô kể. Tại sao ? Có thể kể ra một số lí do gần gũi :

               1/- Do ngôn ngữ Việt Nam giàu nhạc điệu, rất phong phú về mặt liên giao tâm tư và tương giao xã hội (trong lúc về Triết, về Khoa học Kỹ thuật lại thiếu nhiều).

               2/- Do cuộc sống còn trong trạng thái tĩnh, lẩn quẩn nơi xóm làng, thôn ổ nên dễ gần gụi, thường ngày tiếp xúc vơi thiên nhiên, vạn vật, dễ thân tình với m†i người cùng thân phận, nếp sống.   

               3/- Do lịch sử trầm kha của Dân tộc nên Thơ là ch‡ trú ngụ cho đau khổ, cho thở than, là nơi giải toả ẩn tình, ẩn ức và là thứ vũ khí đề kháng, chống đối mọi bất công, áp bức, bóc lột của cường quyền, bạo lực.

               Có th‹ còn nhiều lí do khác nữa.

               Một đặc điểm cần để ý  trong Thơ Việt Nam  -nhất là trong văn chương bình dân- là khuynh hướng ‘Về Nguồn’ . Nguồn tức Nguồn Cội, Nguồn gốc. Thông thường, ta nhận định ‘Về Nguồn’ là trở về với truyền thống  Văn hóa Dân tộc, với Quê Cha Đất Tổ, với buổi đầu lập quốc của cha ông. Điều nầy đúng thôi nếu chỉ hiểu trên phạm vi Dân tộc. Do đó, từ ‘Quê’ thường được ghép chung với một số từ khác : Quê hương, Quê nhà, Quê Cha, Quê Mẹ, Quê Nội, Quê Ngoại, Quê ta, Quê mình, Quê anh, Quê Chị, Quê em. Những từ nầy mang chở một âm vang tha thiết, đậm đà tình nghĩa đối với Đất Nước, Non Sông, với Lịch sử giống nòi. Nhưng nếu chỉ thế  thì ‘Về Nguồn’ chỉ là một tình cảm, một Tình tự  Dân tộc thôi. Và như thế, một khi ta không phải ‘tha phương’ vì lẽ nầy hay lẽ nọ, nghĩa là ta vẫn còn cư ngụ trên Đất nước của ta thì ta không còn nghĩ gì đến việc ‘Về Nguồn’ nữa sao ? Và nếu để ‘chỉ trích, đả phá’ cái ‘óc vọng ngoại’ của một số người để đưa họ ‘trở về’ với Văn hóa Dân tộc thì đãy cũng là một Tình tự yêu nước thôi.

               Trên mặt Triết học và Đạo học, ‘Về Nguồn’ mang một ý nghĩa ẩn mật cao xa hơn. ‘Về Nguồn’ tức trở về với cái ‘Khởi nguyên’ , cái ‘Ban đầu sơ thủy’ từ đó đã phát sinh ra vạn hữu. Cái Nguồn Cội đó, Tôn giáo và Triết học đã nói từ lâu : Thượng Đế nơi các Tôn giáo độc thần, Tính Thể Chân Như hay Chân Không nơi Phật giáo, Tính hay Thiên mệnh nơi Khổng giáo (Thiên mệnh chi vị Tính), cái ‘Vô’ nơi Lão giáo (Hữu sinh ư Vô), ‘Thế giới ý niệm’ (Monde des Idées) nơi Platon, ‘Hữu Thể căn nguyên’ (hay ‘Hữu Thể nền tảng, Hằng Thể, Tồn Thể’, Être) nơi Parménide, Heidegger, hoặc một ‘chất liệu tiên thiên’ như Lửa, Nước, Khí theo Héraclite và một số Triết gia Cổ hy Lạp, ‘y niệm Tuyệt đối’ theo Hégel, ‘đấng Tạo Hóa’ hay ‘Trời’ theo người Việt Nam. Khoa học ngày nay cũng trên đường truy tầm cái Nguồn Cội đó và cho rằng cái ‘Nguồn gốc đã sinh thành vũ trụ là ‘khoảng Không lượng tử’ (le Vide quantique). Người viết cho rằng cái ‘Nguồn Cội, Nguồn gốc sinh thành vạn hữu là ‘Đạo Thể’ . Cái ‘Đạo Thể’, thoạt kỳ thủy ở trạng thái ‘Tự Hữu’ trong ‘môi trường không trở trường’ (milieu non résistant) tức cõi ‘Vô sở trụ’ theo Phật giáo nghĩa là ngoài Nó ra, không có thứ gì khác tác động đến’. Nó cũng như để Nó tác động vì chưa có Không gian, Thời gian. Rồi do một ‘tác động tự thân’ (auto activité absolue), một ‘Nguyên nhân bỡi Tự do’ (Cause par Liberté) theo Kant hay do một ‘Tự do phát khởi nguyên nhân’ (Liberté causale) theo chúng tôi, Đạo Thể ‘tự sắc tướng hóa’ , ‘tự đối tượng hóa’, ‘tự Vật chất hóa’ (se matérialiser, nói theo đôi nhà Thiên thể Vật lí học) ‘tự  Hiện Hữu hóa’ mình thành Vũ trụ hiện tượng nghĩa là tạo nên ‘môi trường có trở trường’ (milieu résistant) với Không gian, Thời gian để Đạo Thể tác động hầu ‘hồi phục’ lại mình. Xin không dông dài vì kể ra khá khó hiểu. Diễn trình dịch chuy‹n của Đạo Th‹ từ ‘Khởi nguyên’ đến giờ ‘Chung cục’ tức lúc Đạo Thể hồi phục lại chính mình là chương trình của Đạo Thể hay của Thượng Đế từ Alpha đến Oméga theo lời Jésus hay từ ‘Không trong Không (Vô dư Niết Bàn) dẫn về ‘Không trong Có’ (Hữu Dư Niết Bàn) theo Phật giáo thông qua lịch trình Hiện tượng hóa của Đạo Thể. Lịch trình Hiện tượng hóa của Đạo Thể chính là Lịch sử về diễn tiến Tiến hóa của cõi Hiện hữu hay cõi Thế gian. Nói cách ngắn gọn, diễn trình Tiến hóa của nhân sinh, của Vũ trụ hiện tượng nói chung, khởi đi từ ‘Không’ vào ‘Có’ để dẫn về ‘Không trong Có’ , nói theo Phật giáo là từ ‘Chân Không’ đi vào ‘Diệu Hữu’ để cuối cùng dẫn về ‘Chân Không trong Diệu Hữu’. M. Heidegger, khi nghĩ về Thượng Đế, về Être và về Đạo học Đông phương đã đưa ra ẩn dụ ‘Tổ Quốc, Kiều địa, Cố quận’ (Patrie, Colonie, Sol natal) qua thiên cảo luận ngắn ‘Con đường điền dã’ (le Chemin de Campagne) mà các thức giả Tây phương, mặc dù nghiên cứu, giảng giải tỉ mỉ Tư tưởng  Heidegger, chưa mấy để ý.

               Trở lại với Thơ. Cái khuynh hướng ‘Về Nguồn’ nơi thơ Việt Nam chính là khuynh hướng ‘trở về với Đạo Thể nguyên sơ. Đây không chỉ riêng là một Tình tự mà còn là yêu tính, là yêu cầu của cuộc sống tại thế, nói lên cả ý nghĩa và cứu cánh của cuộc sống, cuộc đời của con người và của chung vạn hữu. Khoa học dù cố công truy tầm Nguồn gốc vũ trụ và nhân sinh vẫn chưa nhận ra điều nầy vì mãi bám víu vào cái ‘Luận lí Khoa học’ nên không nhìn nhận hoặc không ‘nhìn’ ra cái ẩn mật, cái huyền nhiệm sâu xa, cái ‘énigme’ nầy. Nhà thi sĩ ‘nhìn’ ra điều đó. Nhà Thiên Văn học Pháp Michel Cassé đã nói : ‘Hãy im lặng về Nguồn Cội nếu không là tiên tri hay thi sĩ’ (Silence donc sur l’Origine si l’on n’est ni prophète, ni poète - trích dẫn bởi André Valenta trong ‘La passion de connaỵtre, édt. Du Rocher 1991, trang 60). Trong tâm thức nhà thơ, Nguồn Cội chính là cái ‘Quê hương tình mộng ban đầu’ mà con người đã lìa bỏ, ra đi đ‹ đắm mình trong co'i ta bà tại thế chìm nổi truân chuyên trăm bề vạn mối,  nói theo Nguyễn Du ‘Kể từ lạc bước, bước ra ; Tấm thân liều những từ nhà liều đi’ hay nói theo Bùi Giáng ‘Kể từ lạc bước bước ra, Chết từ sơ ngộ màu hoa trên ngàn’ hoặc theo Đinh Hùng :

                                            -...Bộ lạc ta xưa mất hải tần

                                             Buồn nghiêng nội địa cháy tà luân

                                             Đêm thiêng thổn thức hồn du mục

                                             Ngày vọng lên non tiếng ác thần...

Và :

                                            -...Lạc âm cung, ngẩn ngơ hồn lệ quỷ    

                                            Ta nằm dài, di tích cuộc tang thương

                                             Khóc thâu đêm cho thấy lại Thiên đường.

                                                                             (Mê hồn ca)

               Trong ý niệm đó, ‘Về Nguồn’ là một đòi hỏi, một cần thiết, một sứ mạng của tất cả mọi người, của tất cả m†i dân tộc dù tha phương nơi đất khách hay vẫn cư lưu nơi quê nhà để đưa dẫn cuộc Tiến hóa của nhân sinh về với Thượng Đế, với Chân Như, Đạo Thể. …Ẩn dụ ‘Thượng Đế tái lâm’, ẩn dụ ‘Di Lặc đản sinh’ đề cập đến lẽ Tiến Hóa đó. Ý niệm ‘Về Nguồn’ nơi thơ Việt Nam diễn tả rõ ý nghĩa sâu xa của lời Phật :’Hồi đầu thị ngạn’ (quay đầu thấy bến) .

               Đạo Thể hay Thượng Đế hay Thể Chân Như hay Hằng Thể (Être), trong trạng thái ‘Hữu Tự Hữu’ nguyên sơ là cái gì toàn chân, toàn thiện, đơn nhất, đồng nhiên, trong sáng, giản dị, thanh tân, tinh tuyền. Từ Quê’ trong Thơ Việt Nam nói lên những tính chất đó. Ta thường nghe nói bỡn cợt ‘’anh quê quá’’, ‘’anh chọc quê tôi sao?’’, ‘’tôi vừa ở quê lên’’ hoặc đôi khi mỉa mai ‘’bọn nhà quê’’ mỗi khi thấy người nào không phù hợp với nếp sống thị thành, nơi thể hiện Tiến bộ Văn minh nhưng cũng là nơi dễ dẫn con người vào suy đồi, sa đọa. Do những tính chất thuần khiết, mộc mạc, đơn sơ, hồn nhiên, trung hậu, chất phác của từ ‘QUÊ’ mà M. Heidegger đã mượn ‘Con đường điền dã’, con đường của ruộng đồng, con đường của miền Quê (le Chemin de Campagne) để gọi ‘con đường Tư tưởng’ (le Chemin de la Pensée), cái Tư Tưởng ban sơ chưa bị nhiễm độc vì bao thứ hư ngụy của hoạt sinh.

          Cái ‘Hướng vọng về Nguồn’ nơi Thơ Việt Nam, ngoài tính cách gần gũi là ‘trở về với truyền thống Văn hóa Dân tộc’, cơ sở nơi truyền thống Văn hóa Dân tộc để xây dựng Đất Nước, còn mang một hướng vọng cao xa là ‘trở về với Nguồn Cội’ ban đầu, với cái Đạo Thể, Đạo Tâm, trở về với Thượng Đế, với Tính Thể Chân Như. Văn chương Tây phương gọi nỗi niềm hay khuynh hướng đó là ‘Nỗi hoài hương Hằng Thể’ (la Nostalgie de l’Etre), điều mà Platon trước đây gọi là nỗi ‘hồi tưởng cái Thế giới y niệm’ ban đầu nơi tâm thức con người. Nỗi ‘Nhớ’ đó luôn âm ỉ nơi con người Việt Nam biểu hiện qua Thơ, nỗi nhớ mà Văn hóa Cổ Hy Lạp gọi là ‘Đại Kí Ức’ và mượn tên nữ thần Mnémozyne để gọi, nỗi nhớ không nguôi nơi người thi sĩ ; xin mượn lời thơ của Thụy Khanh :’Ta vào đời cùng nỗi nhớ mang theo’. Nỗi Nhớ đó luôn ray rứt tâm hồn nhà thơ đ‹ lúc nào nhà thơ cũng băn khoăn, thê thiết trước bao sự thế phù trầm. M.Heidegger đã nói rõ tâm thức đó : ‘Hoài hương là nỗi đau khổ do sự cận lập của viễn ly gây ra cho ta. Nơi đâu kẻ nào đã trải qua điều đó, nơi đó chính là nỗi hoài hương của anh ta’ (La nostalgie est la douleur que nous cause la proximité du lointain. Là où va celui qui passe, là est le lieu de sa nostalgie - Trích bỡi Bùi Giáng trong ‘Câu hỏi Thúy Kiều’, Saigon 1965). ‘Hoài Hương’ là nỗi nhớ Quê Hương, là nỗi niềm ‘trở về Cố Quận’ (retour au sol natal) để làm đẹp lại cảnh Quê Hương với bao hành trang tích lũy trên dọc dài sương gió long đong qua hành trình oái oăm nơi cõi thế. Đấy là ẩn dụ ‘Tổ Quốc (hay Quê hương), Kiều địa (hay đất khách) và Cố Quận’ (Patrie, Colonie, Sol natal) mà Heidegger muốn nhắn gởi với tất cả mọi người, nhất là các nhà Khoa Học, Kỹ thuật, Chính trị, Kinh tế để họ nhìn ra vận hành của Lẽ Đạo ứng vào diễn tiến Tiến hóa của nhân sinh mà điều hướng được ý nghĩ và hành động. Đối với người Việt Nam  nơi hải ngoại hiện nay, ẩn dụ của M.Heidegger càng có tác dụng rung cảm mạnh mẽ, thôi thúc chúng ta một ‘ngày về’ xây dựng Tổ Quốc mà qua bao tháng năm dài, số người ‘không óc tim vì không xót đau’ (lời thơ Lê Ngọc Chấn) đã dìm Quê Hương vào ‘vũng chết’.

               ‘Về Nguồn’, nếu nơi thơ ca đôi dân tộc khác mới là ý niệm thì nơi Thơ Việt Nam đã trở thành một khuynh hướng của người Việt Nam  dù bác học hay bình dân mà từ ‘Quê’ đã diễn tả một cách thuần nhiên, mộc mạc nhưng vô cùng tha thiết dấu yêu, vô cùng mặn nồng tình ý :

                                            -Đêm qua đốt đỉnh hương trầm

                                             Khói lên nghi ngút âm thầm nhớ quê

                                                                       (Ca dao)

                                            -Em hỏi mình quê ở dâu

                                             Mình quê ở dưới bầu trời bao la

                                                                    Thùy Dương Tử

                                            -Hỏi rằng anh ở quê đâu

                                             Thưa rằng tôi ở rất lâu quê nhà   

                                                                    Bùi Giáng

               Ngưới bình dân ta xưa luôn luôn hoài vọng cái ‘Quê xưa ban đầu’ đó núp sau những tình tự gái trai để ‘đằng sau lời ca, tiếng hát, câu hò, trên đồng cạn, dưới đồng sâu, nơi nương dâu, trong nổng quế vẫn lãng đãng một u hoài mộng mị, sầu kín xa xôi, một ước mong mơ hồ, xa vắng, khép mở đêm ngày, vương vương như sợi tơ trời kéo tâm tư về viễn mộng’.

               Cái khuynh hướng ‘Về Nguồn’ đó là chất sống âm ỉ đêm ngày nơi nhà Thơ Việt Nam, nơi con người Việt Nam luôn luôn ước vọng ‘Trở Về’, trở về với Quê Hương, với Dân Tộc, với Đạo Thể không để thành Chúa, Thành Phật, thành Thánh, thành Tiên mà để thành ‘Người’, con người với đầy đủ phẩm chất, bản chất của ‘linh ư vạn vật’ để cùng sống trong cái ‘nghĩa tương tri’ mà từ thuở đầu thai vào cõi thế, tất cả đều chỉ là ‘một thịt’ với nhau thôi. Cái khuynh hướng ‘Về Nguồn’ đó thuận hành với dòng chuyển dịch của Lẽ Đạo hằng cửu, không chỉ riêng ứng vào sử mệnh Việt Nam mà chung cho cả sử mệnh của Nhân loại đang ‘đồng quy nhi thù đồ’, đang trên đường tìm về hồi phục đầy đủ giá trị Nhân bản để Văn Minh và Văn Hóa, Tiến Bộ và Tiến Hóa không còn gây trắc trở cho nhau mà hòa nhập hầu xây dựng cảnh giới Thiên Đàng hay  ‘Đại Viên cảnh trí’ cho toàn thể nhân sinh.

 

          Kết luận :  Thơ đang mất giá, Thơ đang trên đường bị đào thải, đãy là cơn ‘đoạn trường tối hậu’ của Thơ để Thơ lại hồi sinh vì Thơ là thứ cao quí nhất. Cũng như nhân loại từ Thế kỉ XX đến nay, trên đường phát triển tột độ, đang sắp sửa ‘toàn cầu hóa’ mọi mặt. Sự việc ‘toàn cầu hóa’ là sự việc tất yếu của Tiến bộ và Văn minh và sẽ đặt nhân loại trước một ‘khủng hoảng’ toàn diện để nhân loại chuy‹n hướng nền Văn minh hiện nay, đổi thay tất cả mọi cấu trúc xã hội hầu phù hợp với diễn trình Tiến hóa khởi đi từ Đạo Thể dẫn về hồi phục Đạo Thể ở dạng cao hơn, phù hợp với diễn trình ‘Nhân bản hóa’ mọi mặt. Những phong trào chống đối sự việc ‘Toàn cầu hóa’ không thể cản trở được sự việc nầy mà có tác dụng khiến việc ‘Toàn cầu hóa’ phục vụ hạnh phúc cho toàn thể nhân quần chứ không là ‘vũ khí’ của Tư bản tài phiệt khống chế nhân loại. Sự việc ‘Toàn cầu hóa’ và ‘chống Toàn cầu hóa’ sẽ đưa đến một ‘đụng đầu lịch sử’ qui mô của vận hành lịch sử với vận hành của Tiếng Gọi từ nguyên sơ, ‘đụng đầu lịch sử’ của biệt nghiệp con người, biệt nghiệp từng Dân tộc, Quốc gia với Cộng nghiệp của chủng loại người. Cuộc ‘đụng đầu lịch sử’ sẽ lắm tang thương, gãy đổ nhưng để dẫn đến thời đi‹m ‘Túc khiên đã rửa lâng lâng sạch rồi’ hầu ‘Đoạn trường sổ rút tên ra’. Mọi cơ cấu tổ chức xã hội sẽ được ‘đổi mới’ đúng theo lời Jésus :Ta làm mới lại tất cả’, mọi cái ‘đẹp’, cái ‘hay’, cái ‘đúng’ căn bản muôn đời của con người, của nhân loại nơi Văn hóa từng Dân tộc sẽ lại được tôn trọng, phục hồi, hòa nhập vào nhau vì ‘Phúc họa đạo trời’ nhưng ‘Cội nguồn cũng ở lòng người mà ra’.

               Trên diễn trình đó, Thơ sẽ lại ‘phục sinh’ vì Thơ là tiếng nói của con Tim, của Tấm Lòng, của Tư tưởng. Sự sống khởi đi từ tấm thân th‹ xác nhưng được chỉ đạo bỡi Tấm lòng tức Tấm thân Tinh thần. Cái ‘dụng’ của tấm thân th‹ xác là để làm cơ sở nuôi dưỡng và phát huy tấm thân tinh thần. Tấm thân thể xác là cấu trúc của hiện thế, không có nó thì không có cuộc sống  nhưng š nghĩa cuộc sống, cứu cánh cuộc sống lại nằm nơi tấm lòng, nơi tấm thân tinh thần. Thơ là phương tiện của Tấm Lòng, là ngôn ngữ của Tâm, là Tiếng Lời Thượng Đế chuyển vào ngôn ngữ con người. Thơ chuyển ‘con người anh hùng’ và ‘con người đam mê’ trở nên thánh thiện. Thơ thăng hoa cuộc sống và lòng người. Thời đại hiện nay đang đùng trước một ‘xung kích của Tương lai’ (le choc du Futur) rất nhiều ngoạn mục về mặt cơ năng nhưng lại rất nhiều băng hoại về mặt Tâm linh, thời đại của ‘khốn cùng’ (temps de détresse) vì ‘thiếu vắng thần linh’ (défaut de dieu) có nghĩa thiếu vắng sự sống tâm linh, sự thiếu ‘tấm lòng’. Thơ ‘phục hồi’ tấm lòng đó nơi cuộc sống từng người và nơi cuộc sống xã hội. Thơ để phản ảnh, để đề kháng, để giải tỏa, để trao gởi, để cảm thông, để hướng vọng, để dựng xây một trí tuệ hội nhập khối óc với con tim, Đức Tin và Lí trí, Tình và Lý, con người với con người, con người với cuộc sống, con người với cuộc đời, con người với thiên nhiên, con người với Thượng Đế, với Lẽ Đạo huyền vi để Văn minh và Văn hóa, Tiến bộ và Tiến hóa luôn luôn đồng hành, luôn luôn kết hợp, luôn luôn tiến tới, luôn luôn thăng hoa.

                Tính ‘yêu Thơ’ của ngưòi Vit Nam là một trong những điu kin đưa dân tộc ta hòa nhập vào diễn trình Tiến hóa của Nhân loại hướng về Nhân bản hóa toàn din, hưóng về Nhất Th mà khuynh hướng ‘V Nguồn’ đã nuôi dưỡng mơ màng tim phục nơi tâm thức. Còn yêu Thơ, còn ‘làm Thơ’ dù hay dù dở là còn âm ỉ Tinh thần Dân tộc, là còn hướng v thánh thin, thăng hoa. Tuy nhiên, Thơ phải sáng lạng, tươi vui, phải có khí lực, phải có tác dụng ‘thăng hoa’ hai tính chất ‘anh hùng’ và ‘đam mê’ chứ không chỉ rên rỉ đau thương, thở than thân phận, oán trách cuộc đời, hoài cổ mênh mang, hận thù bất tận. ‘V Nguồn’, suối nguồn Dân tộc cũng là suối nguồn của toàn Nhân loại, cái Cội Nguồn từ đó con người và Nhân loại đã ra đi , đắm mình vào hin hữu và đang trên hành trình ‘trở v’.

                                        -Thơ viết từ vô lượng

                                          Lời từ khúc vô ngôn

                                          Người rời cơn mộng tưởng

                                          Đưa thơ v Cội Nguồn

                                                            Tùy Anh

              

          ‘Người đưa Thơ v Cội Nguồn’ hay ‘Thơ đưa người v Cội Nguồn’, đằng nào cũng được. Và như thế, ‘Lời kinh nguyn buổi chiu’ sẽ không còn làm ‘buồn từng viên sỏi nhỏ’ (Thụy Khanh) đ trở thành :             

                                      -Bài hành ca sông núi

                                        Khởi từ câu hát ru.                    

                                                                       Thụy Khanh

dn v thời đim :                                

                                      - Đức Phật đài sen nụ cười mở rộng

                                        Hồn Lão Trang lãng đãng chốn phiêu diêu

                                        Tình Khổng Khâu tư lự cuối nương chiu

                                        Và bao nữa, triu triu lòng nhân ái

                                        Cùng v đây giờ hội ngộ tương phùng

                                        Cùng v đây nim rào rạt vui chung

                                        Mừng nhân loại âu ca giờ sanh lại

                                        Mừng nhân loại hân hoan vào Hội mới

                                        Kỉ nguyên buồn nay đã mở sang vui.. .

               

          Thời đim đó còn xa. Nhưng Thơ với ‘Hướng v ngọn Nguồn’ tim phục nơi tâm thức sẽ là sức mạnh tim tàng, dài lâu hướng dn con người và nhân loại đến bến bờ :

                                        

                                         Đất vào duệ trí Ba la mật

                                         Người nở thiên hương Bát nhã tâm. 

 

N.T.

Paris, ngày 5 tháng 8 năm 2001

(Buổi nói chuyện do Câu Lạc Bộ Văn Hóa Paris tổ chức)

                                     

 

 
Hosted by www.Geocities.ws

1