|
|
Việt
Điển |
|
|
|
Tôi Tán Thành Với Tướng Trần Ðộ Nhà văn Hoàng Tiến Bài này xin bàn về ý kiến bầu cử tự do của ông Trần Ðộ. Nhân loại trên con đường phát triển, từ sinh hoạt bầy đàn thời mông muội đã tiến tới những hình thái tổ chức xã hội văn minh, trong đó Con Người, với danh nghĩa là sinh thể đặc ân của tạo hóa, ngày càng được khẳng định mình về quyền sống trên thế gian : quyền làm người, quyền làm dân, quyền làm chủ vận mệnh của mình cũng như của cộng đồng mình. Ngẫm lịch sử Việt Nam ta, trải qua hàng ngàn năm dưới chế độ phong kiến quân chủ, rồi gần trăm năm dưới chế độ thuộc địa Pháp, cho đến năm 1945 chúng ta đã nổi dậy giành lại chính quyền, thành lập nên nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Nghĩa là chúng ta đã chọn một hình thái tổ chức xã hội tiến bộ lấy dân làm chủ trong một thể chế cộng hòa không vua. Người dân thông qua phổ thông đầu phiếu bầu lên cơ quan quyền lực cao nhất của mình, đó là quốc hội. Quốc hội là một thành tựu vô cùng lớn trên con đường tiến tới của nhân loại. Nó được nẩy sinh từ cuộc cách mạng Pháp 1789, mà sau này văn hào Victor Hugo đã hết lời ca ngợi : "chưa hề có cái gì xuất hiện với tầm cao hơn thế, trên đường chân trời của loài người." Chúng ta đã thấy, qua tivi, ở các nước, những ngày bầu cử, những dịp bầu cử, báo chí và nhân dân nô nức bàn bạc, phẩm bình, chọn lựa những đại biểu xứng đáng để thay mặt mình, nhất là những vị nguyên thủ đảm nhận những công việc trọng trách của đất nước. Những người ứng cử đều phải trình bày những dự án, những cương lĩnh, đi vận động trong nhân dân, hứa hẹn với cử tri, để giành được phiếu bầu tối đa. Báo chí gọi những ngày bầu cử là những ngày hội. Quả không sai. Ở nước ta thì sao ? Tôi là người được tham gia tất cả các đợt bầu cử quốc hội nước mình. Lần bầu khóa quốc hội đầu tiên (1946) đúng là những ngày hội của nhân dân. Lúc ấy, tôi còn là vị thành niên, chưa được đi bầu, nhưng trong đoàn thiếu nhi khu phố tham gia cổ vũ cho việc bầu cử 6-1-1946 ở thủ đô Hà Nội. Mọi người đang từ trong cảnh nô lệ thuộc địa, bỗng đổi đời sau cách mạng Tháng Tám, thành người dân một nước độc lập tự do. Thật vui mừng không để đâu hết. Không khí ấy, những cảnh tượng nô nức tưng bừng ấy, còn ghi đậm sâu trong trí não tôi, cũng như biết bao nhiêu người khác hiện nay còn sống. Những lần bầu cử sau, tôi đều được đi bầu, nhưng không bao giờ thấy lại cái không khí, cái cảm xúc như năm 1946 nữa. Ðúng như ông Trần Ðộ nói, nhiều chục năm nay chúng ta thi hành lối bầu cử: Ðảng cử dân bầu. Những ứng cử viên đều được lãnh đạo duyệt, thông qua Mặt Trận Tổ Quốc giới thiệu, đưa đến từng đơn vị bầu cử để học tập phổ biến trước. Ðến ngày bầu cử thì cứ việc như thế như thế. Những người không đi nghe phổ biến, hoặc tên tuổi ứng viên dài khó nhớ, thì được nhắc nhở, bỏ số 3 số 5 ...vv... thế là cứ tên người số 3 số 5 mà gạch. Nhiều người đi bỏ cho xong chuyện. Cho chính quyền đỡ gây phiền hà. Nhiều người lại còn nhờ hàng xóm đi bỏ hộ. Có gia đình một người đi bỏ thay cho cả nhà. Ðược cái ban bầu cử cũng dễ tính, họ chỉ cần đủ quân số đi bầu, và đôn đốc buổi bầu càng nhanh càng được thành tích. Những ai bận việc chưa đi bầu được ngay, thì đều được nhắc nhở trên loa phóng thanh, tên tuổi, số nhà, rồi tổ trưởng dân phố đến từng nhà đốc thúc. Cho nên số cử tri đi bầu thường là 99% hoặc 100%. Con số thực hay con số ma, chẳng ai quan tâm. Tôi quen một anh bạn là nhà khoa học địa - vật lý Nguyễn Thanh Giang, vừa rồi được bên Mỹ phong tặng danh hiệu viện sỹ viện hàn lâm khoa học New - York. Năm 1993, anh bỗng nổi máu nhiệt thành xin tự ứng cử vào đại biểu quốc hội khóa IX. Sau khi làm những thủ tục về lý lịch và các giấy tờ cần thiết của người ứng cử tự do, anh được đưa ra cử tri khu Thanh Xuân Bắc nơi anh cư trú để lấy ý kiến. Không ngờ anh được 96% số cử tri tán thành. Ban chỉ đạo bầu cử vội ấn một cái nút khác. Bước thứ hai đưa anh ra lấy ý kiến của anh em nơi cơ quan anh làm việc là Liên đoàn Vật lý - Ðịa chất. Họ bố trí bất ngờ, số người đi họp rất ít (trong 400 cán bộ công nhân viên chỉ có 16 người đi họp), gồm những anh em dễ vâng lời lãnh đạo, nên anh chỉ được 1 phần 3 người ủng hộ. Thế là anh rớt, không đủ tiêu chuẩn để Mặt Trận Tổ Quốc giới thiệu làm ứng cử viên. Bè bạn bảo : "Ai cho phép anh dám chơi trò dân chủ với ban bầu cử ?!" Hầu như tất cả mọi người tham gia vào việc tổ chức bầu cử, cũng như cử tri đi bầu, đều thấy mình làm một công việc đã được xếp đặt từ trước, đại giả dối, vậy mà họ vẫn cứ làm. Không thấy ai phản ứng. Thế mới kỳ! Vì thế họ đã tạo nên những đại biểu không phải là của họ. Những đại biểu này do Ðảng cử, Ðảng chấm, Ðảng ban thưởng cho vào Quốc hội, thì tất nhiên những đại biểu ấy phải làm theo chỉ thị của Ðảng. Không thể khác được. Nếu những đại biểu quốc hội thực sự là của dân, dám nói những tiếng nói vì quyền lợi của nhân dân, của dân tộc, thì đất nước chúng ta đã khá lên nhiều rồi. Vài ví dụ: 1/. Ai cũng biết điều 69 của Hiến pháp bị vi phạm nghiêm trọng : "Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin...", mà không một đại biểu nào dám lên tiếng trách cứ Chính phủ, hay cụ thể là Bộ Văn Hóa, để buộc họ phải thi hành đúng Hiến pháp. 2/. Việc công an bắt oan người vô tội khá nhiều. Một việc cụ thể là vụ bắt giam và xét xử ba ông Lê Hồng Hà, Hà Sĩ Phu, Nguyễn Kiến Giang là vô lý và phi pháp. Có nhiều thư từ của gia đình và bè bạn các bị cáo đã gửi lên Quốc hội yêu cầu can thiệp. Bản thân bị cáo Lê Hồng Hà khi ra tù, đã có đơn khiếu nại, được sự đồng tình của nhiều người, trong đó có những cán bộ lão thành cách mạng cao cấp như ông Lê Giản, ông Hoàng Hữu Nhân, ông Nguyễn Văn Ðào (các ông này đều có thư riêng gửi lãnh đạo Nhà nước)...vv... Vậy mà không thấy một đại biểu quốc hội nào dám vì quyền lợi của những người dân bị oan lên tiếng chất vấn bên tòa án. 3/. Nghị định 31/CP của Chính phủ ban hành ngày 14-4-1997 là vi phạm Hiến pháp và luật pháp nước nhà. Chính quyền Lâm Ðồng đã sử dụng nghị định này để đày đọa các nhà thơ Bùi Minh Quốc và nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự, chỉ vì họ đã dám phát biểu những ý tưởng của mình. Nhà trí thức Nguyễn Thanh Giang đã lên tiếng phản đối. Cựu chiến binh Phạm Vũ Sơn đã nhiều lần viết thư gửi chủ tịch Quốc hội Nông Ðức Mạnh chỉ rõ nghị định 31/CP đã vi phạm điều 68, điều 69, điều 71, điều 72 và điều 73 của Hiến pháp năm 1992, đặc biệt chống lại điều 10 bộ luật Tố Tụng Hình Sự đã được Quốc hội thông qua ngày 28-6-1988, thông qua và bổ sung lần I năm 1990 và thông qua bổ sung lần II năm 1992; yêu cầu chủ tịch dùng quyền lực của mình phế bỏ hoặc đưa ra Quốc hội lấy ý kiến phế bỏ nghị định trên... Tất cả thư gửi đều rơi vào im lặng. Không một tiếng trả lời. 4/. Nhiều việc Chính phủ làm Quốc hội không được biết. Ví như đường dây 500 kilôvôn. Tổng kinh phí là bao nhiêu? Hà lạm mất bao nhiêu? Bây giờ thực trạng nó ra sao? Nó là thành tựu hay tổn thất? Không thấy đại biểu quốc hội nào chất vấn để Chính phủ trả lời và công bố cho nhân dân được biết. 5/. Một việc lớn nữa, ai cũng thấy nhưng không ai nói ra, là bộ máy Nhà nước. Ở nước ta dường như có hai bộ máy cùng điều hành một công việc. Một bộ máy của Nhà nước có thủ tướng với các bộ trưởng và các ban bệ. Một bộ máy của bên Ðảng với các trưởng ban Nông nghiệp, trưởng ban Công nghiệp, trưởng ban Văn hoá Tư tưởng, trưởng ban Tổ chức... và các ban bệ. Xuống các cấp tỉnh, cấp huyện, cũng như thế. Một ngôi nhà ủy ban đồ sộ, thì bên cạnh đó một ngôi nhà tỉnh ủy, huyện ủy cũng đồ sộ không kém, có phần còn to hơn, đẹp hơn, cùng các phòng ban, người thường trực, ô tô, điện thoại như một bộ máy nhà nước. Mức chi tiêu cho bên Ðảng gấp rưỡi đến gấp đôi bên Nhà nước. Xin đọc một mẩu tin đăng trên báo Lao Ðộng rất gần đây số 157 thứ sáu ngày 2 tháng 10 năm 1998 tiết lộ : "Mức chi ngân sách của cơ quan Ðảng bằng 1,5 đến 2 lần cơ quan hành chính sự nghiệp. Theo Thông tư Liên Bộ Tài chính - Ban Tài chính Quản trị Trung ương ngày 28-9-1998, mức chi ngân sách bình quân làm căn cứ lập dự toán ngân sách của các tỉnh ủy, thành ủy được áp dụng bằng 2 lần mức chi ngân sách bình quân hiện hành của cơ quan hành chính sự nghiệp nhà nước cùng cấp quy định cho từng địa bàn. Ðối với các huyện ủy, quận ủy và tương đương được áp dụng bằng 1,5 lần. Mức chi bình quân trên không bao gồm chi bù lỗ xuất bản, báo chí, đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn tập trung của ngân sách nhà nước, chi đối ngoại, chi đào tạo lại cán bộ, chi nghiên cứu khoa học và chi cho các chương trình mục tiêu. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày ký." Vấn đề đặt ra là : Có thể bỏ bớt đi một bộ máy.
Việc này Quốc hội phải bàn bạc và biến thành luật về tổ chức bộ máy Nhà nước Việt Nam. Nếu bên Ðảng cho rằng, đây là việc riêng của Ðảng, số người cùng những tổ chức của Ðảng là do Ðảng quyết định, Quốc hội không nên can thiệp vào, thì vấn đề giản dị thôi : Ðảng phải tự lo lấy kinh phí mà trang trải những công việc của Ðảng. Và muốn xây bao nhiêu nhà cũng được, muốn tổ chức bao nhiêu ban bệ cũng tùy. Tha hồ. Nhưng không được lấy tiền của ngân quỹ Nhà nước chi trả cho những công việc của Ðảng, kể cả lương hưu trí. Chúng ta hãy nhìn ra các nước mà xem. Có ai tổ chức quản lý nhà nước như chúng ta không? Thành ra nước đã nghèo, lại phải chi phí hành chính quá nhiều, lấy đâu đủ vốn để đầu tư nữa. Mọi người, kể cả giới lãnh đạo, thường kêu rên bộ máy Nhà nước quá cồng kềnh. Nhưng không thấy một đại biểu quốc hội nào nêu việc trên ra để Quốc hội bàn bạc giải quyết. Chỉ vì những đại biểu quốc hội đều là người của Ðảng cử. Và họ dường như chỉ làm nhiệm vụ giơ tay biểu quyết để chế hóa những chỉ thị nghị quyết của Ðảng. Gần đây có quy định về tỷ lệ trong ngoài của đại biểu quốc hội: 20 phần trăm là người ngoài Ðảng. Con số 80 phần trăm kia là đảng viên thì có nghĩa quốc hội vẫn là của Ðảng, chứ đâu phải quốc hội của dân. Ðảng có hơn 2 triệu đảng viên mà chiếm 80% số đại biểu quốc hội. Dân có gần 80 triệu người, nghĩa là gấp gần 40 lần số đảng viên, mà chiếm có 20%. Một quy định nghĩ cũng kỳ khôi. 6/. Có thể nêu nhiều ví dụ nữa, nhưng thiết nghĩ tạm đủ, xin trở lại đề bài. Xuất phát từ những thực tế đó, nên ông Trần Ðộ mới đề nghị bầu cử tự do. Dân chúng, qua tự do đầu phiếu sẽ tìm ra những người đại biểu xứng đáng của mình. Có thể có nhiều đảng viên sẽ được dân chúng bầu. Vì thế quốc hội mới là cơ quan quyền lực cao nhất, đại diện cho ý nguyện của toàn dân, làm ra hiến pháp và luật pháp, là những khế ước chung, mà mọi thành viên trong xã hội phải tuân theo, kể cả Ðảng. Những cơ quan dân bầu (như Hội đồng Nhân dân các cấp và Quốc hội) hội họp hàng năm nên công khai cho mọi người biết. Tôi nghe kể, trước đây, hồi còn Pháp thuộc, những hội đồng dân biểu thành phố (trong Nam gọi hội đồng quản hạt), như Hội đồng dân biểu Hà Nội, khi họp hội đồng, họ chọn giờ sau bữa cơm tối mới họp (khoảng 19 giờ hay 19 giờ 30), để mọi người dân có thể vào nghe. Và các nơi họp, đều bố trí có những khoang ghế dành cho dân chúng. Ðể xem các ông nghị nói năng ra sao. Ông nào vì dân. Ông nào vì mình. Ông nào nói hay. Ông nào nói dở ...vv... Hiến pháp nước ta năm 1946, điều thứ 30 ghi : "Nghị viện họp công khai, công chúng được vào nghe. Các báo chí được phép thuật lại các cuộc thảo luận và quyết nghị của nghị viện..." Những bản Hiến pháp sửa đổi sau đã bỏ điều khoản này. Không hiểu lý do gì? Tôi đề nghị Quốc hội nghiên cứu lại điều khoản này. Nếu không có khoang ghế dành cho dân chúng, thì đài truyền hình nên phát liên tục tất cả những buổi trao đổi bàn cải trong Quốc hội, cho dân chúng được biết. Và báo chí được phép thuật lại các cuộc thảo luận và nghị quyết của Quốc hội. Ðấy cũng là việc làm thu hút sự chú ý của người dân vào việc nước, đồng thời góp phần nâng cao dân trí vậy. Ðất nước muốn phát triển, người dân phải được tự do. Nhiều chính khách lớn trên thế giới sang thăm Việt Nam đã trao đổi với các vị lãnh đạo Nhà nước ta, như ông Mitterand nguyên cố tổng thống Pháp đã nói : "Tự do đi đôi với phát triển." Không thể có một đất nước phát triển mà không có tự do. Tự do là điều kiện để đất nước phát triển. Ông Trần Ðộ không làm điều gì khác là nhắc nhở về quyền bầu cử tự do của người dân đã được ghi trong Hiến pháp và luật pháp. Ông đòi thứ quyền đó phải được tôn trọng. Ngẫm cho cùng, nếu quyền lực tập trung vào một số người nhân danh Ðảng để cai trị toàn xã hội, như Liên Xô cũ và các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, thảy đều dẫn đến bạo lực, bắt bớ, đất nước thiếu tự do, kinh tế suy kém, rồi dẫn đến sụp đổ. Ðó là một bài học cho nhân loại, nhất là những nước kém phát triển, đang chuẩn bị hành trang bước vào thế kỷ thứ 21. Thấy cần nhắc lại ở đây lời cảnh báo của nhà trí thức nhân văn Montesquieu từ thế kỷ thứ 18 mà tôi đã có dịp đề cập tới trong bài viết số 1: "Nếu những người cầm quyền vừa là kẻ thi hành luật vừa là kẻ lập pháp, thì hắn có thể tàn phá đất nước bằng những ý chí sai lầm của hắn. Nếu hắn còn nắm luôn cả quyền xét xử nữa, thì hắn có thể đè nát mọi công dân theo ý muốn điên rồ và độc ác của hắn." Ông Trần Ðộ không muốn đất nước sụp đổ, ông viết những dòng tâm huyết trình bày với các nhà lãnh đạo và bè bạn, mong muốn đất nước thay đổi, phát triển không thua kém các nước trên thế giới, để mọi người dân được sống tự do, hạnh phúc, trong một đất nước độc lập phải đổ biết bao xương máu mới giành được. Ông đã làm theo điều Bác Hồ nói : "Không có gì quý hơn độc lập, tự do" và "Có độc lập mà dân không được tự do, không được hạnh phúc, thì độc lập không có nghĩa lý gì." Tôi rất mong lãnh đạo Nhà nước ta trân trọng ý kiến của ông Trần Ðộ, cùng nhiều ý kiến khác của nhiều người tâm huyết muốn góp phần xây dựng đất nước. Ðất nước là của chung. Không của riêng ai. Ai cũng có phần và có quyền đóng góp những hiểu biết của mình. Có ý kiến khác nhau, nên bàn bạc tranh luận, tìm ra lẽ phải. Có thế đất nước mới phát triển được. Có thế đất nước mới hưng thịnh được.
Hà Nội ngày 28 tháng 10 năm 1998 Nơi gửi:
Ðịa chỉ: Nhà A 11, Phòng 420 Thanh Xuân Bắc - Hà Nội
Thư viện sẽ tiếp tục giới thiệu các sáng phẩm của tác giả |