|
|
Việt
Điển |
|
|
dân
chủ |
Việt Điển |
cổ nhạc |
|
|
Hoàng Quốc Hải Vào thời Lý Thái tổ, tại kinh thành Thăng Long bỗng xuất hiện một người con gái có giọng hát rất hay, nổi tiếng cả ngoài dân gian lẫn trong cung đình. Mọi người gọi bà là "Đào nương". Tên Đào nương để chỉ người con gái làm nghề ca hát có từ đấy. Sang đời nhà Trần (thế kỷ 13), có tục gọi con trai là "anh", con gái là "ả". Thế là từ "Đào nương" biến thành từ "ả đào" cũng lại từ đó. Nghề ca hát thời cổ ở nước ta, không hẳn là một nghề cao quí, nhưng cũng không bị hạ thấp tới mức khinh thị như thời nhà Lê, nhà Nguyễn. Bởi thời Lê, Nguyễn chuộng một thứ nho học suy đồi từ thời Tống nho, khinh miệt đàn bà, nhất là những người làm nghề ca kỹ. Vì vậy mới đặt họ vào hàng "xướng ca vô loài". Ngay con cái họ, dẫu có tài cũng không được dùng. Đã có một Đào Duy Từ, sức học hơn người, chỉ vì ông là con một gia đình làm nghề ca hát, mà triều đình nhà Lê không cho dự các kỳ thi từ nhất, nhị trường (thi hương). Vì vậy ông đã vượt sông Gianh vào Nam giúp chúa Nguyễn, và trở thành một nhà quân sự kiệt xuất. Hát "ả đào" ngày xưa vốn là lối hát thờ thần. Nó là lối hát múa. Tức là người nghệ sĩ vừa hát vừa múa. Lại có một ban nhạc phụ họa. Canh hát này, hát vào lúc tế giao thừa, đón năm mới, hoặc vào những ngày húy kỵ thần linh khi làng vào đám. Canh hát thờ gồm 9 khúc, gọn là hát "cửu khúc". Luật xưa chỉ cho phép các ca nữ hát múa ngoài cửa đình, còn trong đình thì diễn ra cuộc tế do các đấng mày râu đảm trách. Vì vậy, hát thờ, hát cửu khúc, dân gian thường gọi nôm na là "hát cửa đình". Tục này, hiện nay dân làng Lỗ Khê huyện Đông Anh ngoại thành Hà Nội vẫn duy trì. Và lối hát này, hầu như cả làng từ các cụ già đến các bé gái chưa tới tuổi đến trường, đều biết hát. Vậy là tục hát ả đào xuất xứ là lối hát thờ, và nó đã từ cửa đình vào cung đình, lại từ cung đình trở về gia đình, rồi trở thành một thứ nhạc thính phòng cao quí, tồn tại suốt chiều dài lịch sử của dân tộc. Như trên đã nói, hát ả đào là lối hát, múa có nhạc đệm do một tốp nữ trình bày. Nhưng từ hậu Lê sang Nguyễn, không hiểu do những biến thiên nào mà nó được chuyển sang hình thức độc đáo như còn tồn tại tới ngày nay. Hát ả đào, tất nhiên phải có đào hát với giọng hát khỏe, trầm và sang. Nhạc đệm cho người hát gồm có chiếc đàn đáy, chiếc trống con (trống khẩu), gọi là trống chầu và cả chiếc phím, cũng gọi là cỗ phách, do người hát điều khiển. Nước ta có nhiều nhạc cụ dân tộc, nhưng chỉ có chiếc đàn đáy mới mang yếu tố thuần Việt, và chỉ nó mới thích hợp với lối hát này. Thùng đàn nom như một chiếc hộp gỗ hình chữ nhật, không có mặt hậu. Dây đàn làm bằng những sợi tơ đậu săn. Đặc biệt chiếc cần đàn cao vút tới hơn một mét. Do cấu trúc độc đáo, nên chỉ nó mới tạo được một thứ âm sắc đùng đục đầy chất suy tư sâu lắng, lại đượm vẻ thanh nhã mà không khoa trương ầm ĩ. Trong nghệ thuật hát ả đào, người đàn, người hát giữ vai trò chủ thể. Nhưng người cầm trống chầu lại có hai chức năng: vừa là chủ thể, vừa là khách thể. Trống chầu chỉ tạo được hai loại âm sắc: "tom", khi chiếc roi gõ lên mặt trống; "chát" khi chiếc roi đập vào tang trống. Người cầm trống chầu không có khả năng của nhạc công, càng không có khả năng lĩnh xướng như đào hát. Song nó đòi hỏi năng khiếu thẩm thơ, thẩm nhạc, thẩm âm với trình độ bậc thầy. Cho nên tiếng trống đôi khi mang tính dẫn dắt cho cuộc chơi, nâng tiếng đàn, giọng hát và cả tiếng phách nhấn, ém, nhả hoặc chấm câu cho đúng chỗ, đúng lúc. Đôi khi người cầm trống chầu lại thoát ra khỏi cuộc chơi, mà nhập vào với đám khán thính giả, để phẩm bình khen chê trực tiếp thật là sành điệu, mà cũng chỉ bằng tiếng trống với hai âm sắc "tom", "chát". Còn cỗ phách, do ca công, tức người hát điều khiển. Phách thật là đơn giản, nó được chế từ một thanh tre to gần bằng chiếc bao kính, và hai chiếc dùi gõ nhỏ như hai chiếc đũa. Nghệ sĩ có giọng hát hay đến mấy mà không biết dóc phách, coi như không hội nhập được với cuộc chơi. Người biết sử dụng phách giỏi, phải tạo được đủ ba âm sắc: "rục", "phách", "chát". Thông thường, người nghe dễ nhận thấy nhất là hai khổ "sòng" và "siết", có thể nói đây là hai chủ đề chính của lề lối. Khổ "sòng" biểu hiện cái đẹp khỏe khoắn, hồn nhiên nhưng dứt khoát. Khổ "siết" thể hiện tính lãng mạn, bay bổng. Không hiểu ai đặt tên cho cái thanh tre kia là "phách". "Phách" theo nghĩa của từ Hán-Việt là cái tinh hoa nhất trong toàn thể cái tinh thần cao khiết, nó chính là cái thần minh của con người. Quả thật, nghe tiếng dóc phách của nghệ sĩ bậc thầy như Quách Thị Hồ, nó như có ma lực hút hồn ta vào cõi nhạc. Vì vậy, trong hát ả đào, các yếu tố như đàn, hát, trống, phách, lời thơ không thể loại bỏ được yếu tố nào, nhưng phải xem phách là linh hồn của cả canh hát. Mỗi bản nhạc thường có khúc dạo đầu (prélude). Hát ả đào cũng vậy, trước khi giọng hát cất lên, năm khổ phách cùng trống với đàn đan quyện với nhau như tiếng tơ, tiếng trúc và tiếng châu nảy trên mâm ngọc, vừa thiết tha, vừa sang quí biết chừng nào. Và nó được tái tạo nhiều lần trong toàn bài. Nói đến nghệ thuật hát ả đào, mà không nói đến nghệ thuật soạn lời thơ là một khiếm khuyết. Những bài thơ do các danh sĩ bậc thầy như Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Dương Khuê, Chu Mạnh Trinh, Tú Xương, Cao Bá Quát v.v... với những áng thơ trác việt còn lưu lại, cho ta thấy một mẫu mực về nghệ thuật viết lời cho nhạc. Ngày nay với tinh thần "bình cũ rượu mới", nhiều người viết lời đầy chất tự nhiên chủ nghĩa, và giàu tính dung tục, nên đã góp phần đắc lực cho loại hình nghệ thuật này gia tăng tốc độ băng hoại. Ngay các giọng hát cũng vậy, phải rèn luyện công phu từ nhỏ mới giữ được "hơi trong", và buông được "hơi ngoài" trong nghệ thuật ém, nhấn, nhả mà ta nghe thấp thoáng như gần như xa, như cao như thấp, như trong như đục, như bấc như chì... phát ra từ nơi cuống họng người nghệ sĩ. Thế mà nhiều người hát cải lương, hát nhạc mới, giọng đã vỡ, vẫn cứ nhảy sang hát ả đào, nghe rất chướng tai; và gõ phách như gõ mõ, thật là một sự nhạo báng hoàn chỉnh đối với lối hát thính phòng sang quí vào bậc nhất của nước ta. Nếu ai đó trong đời được dự một canh hát ả đào do lão nghệ sĩ Quách Thị Hồ hát và dóc phách, lão nghệ sĩ Phó Đình Kỳ đánh đàn đáy cùng lão nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát đánh trống chầu, thì người đó quả là hạnh phúc. Và coi như đã được nghe một khúc nhạc tiên. HQH âm nhạc 36-
Thủy Phạm, tài năng âm nhạc trẻ VN ở nước ngoài.
Việt Hoài |