Việt Điển
thư viện
Reading Room
đăng trình tháng 2 -2003

freedom
democracy

Việt Điển
tạp chí tư tưởng và văn hoá

văn hoá
  
tâm linh



  


Có nên cải tạo Đình thành đền thờ liệt sĩ?

Hoàng Quốc Hải

 Báo Lao Động số 308 nêu một câu hỏi to tướng làm tựa đề bài viết: "Có nên cải tạo đình thành đền thờ liệt sĩ?"

Mở đầu bài báo cho biết: "Huyện Long Đất tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trong nhiều năm qua đã chủ trương vận động các xã đưa liệt sĩ vào thờ trong ngôi đình làng, thu các sắc phong thần ở những đình này về cho Phòng VHTT huyện quản lí, đổi tên đình thành đền thờ liệt sĩ. Hiện nay hầu hết các xã trong huyện này đã đưa liệt sĩ vào đình thờ, tất cả các ngôi đình đã được cải tạo thành đền thờ liệt sĩ.

Cũng theo mô hình này, các địa phương khác trên địa bàn Bà Rịa - Vũng Tàu cũng đang tập trung vận động đưa các danh sách liệt sĩ vào thờ trong đình, nhưng lại không thay đổi tên đình thần".

Đoạn tin trên cho ta biết hai vấn đề:

1. Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã xóa sổ đình làng trên toàn bộ địa bàn huyện Long Đất.

2. Tỉnh đang chủ trương nhân rộng việc đưa liệt sĩ vào thờ phối trong các đình thần.

bài viết trước, đăng trên báo Lao Động số 315 tôi đã nói rõ về đường lối, chính sách của nhà nước ta tri ân các liệt sĩ.

Đối với thân nhân liệt sĩ, chính sách ưu đãi là rất rõ ràng trong sự cố gắng tối đa của Nhà nước.

Đối với liệt sĩ, hầu như làng xã nào cũng có xây cất nghĩa trang liệt sĩ, có người coi sóc, có kinh phí tu bổ. Có hệ thống đài tưởng niệm liệt sĩ hết sức tôn nghiêm, khép kín từ xã tới huyện, tỉnh và trung ương.

Mặt khác, tôi cũng nói rõ các thời đại trước, từ thế kỷ 10 đến 19, các chính quyền đã giải quyết vấn đề liệt sĩ sau chiến tranh ra sao.

Trong bài này, tôi xin làm rõ hai vấn đề:

Một là nguyên tắc thờ phối theo phong tục truyền thống.

Thoạt kỳ thủy, mỗi đình chỉ thờ một vị thần làm thành hoàng. Ví dụ các làng Việt cổ ven sông Thao thờ các vua Hùng và các tướng của Hùng vương; các làng ven sông Đà thờ Tản Viên sơn thánh, các làng ven sông Hồng thờ Chử Đồng Tử làm  thành hoàng làng v.v...

Sau này xuất hiện nhiều bậc anh hùng cứu nước, các bậc danh nhân văn hóa mà tài năng và đức độ không thua kém gì các bậc tiền bối được tôn thờ, nên nhân dân rước vào thờ phối trong điện thần như Lý Bí (Lý Nam đế), Phùng Hưng, Đinh Tiên Hoàng, Nguyễn Bặc, Lý Kính Tu, Lý Thường Kiệt, Lý Đạo Thành, Tô Hiến Thành, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Trần Khánh Dư, Phạm Ngũ Lão, Mạc Đĩnh Chi, Chu Văn An v.v...

Thật ra, mỗi nhân vật như vậy, đều xứng đáng được lập riêng một ngôi đền thờ. Nhưng như thế, sẽ gây tốn kém  cho nhân dân các đời sau, nên tục thờ phối ra đời. Tuy nhiên, với bậc siêu tuyệt như Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn thì lập hẳn một đền thờ riêng, gọi là "Hưng Đạo vương từ" tại Kiếp Bạc (Chí Linh - Hải Dương) để thờ ngài.

Lịch sử các danh thần Việt Nam, duy nhất có Hưng Đạo vương được nhân dân và các triều đại tôn vinh ngài là bậc thánh.

Do đó việc thờ phối không hề đơn giản và càng không thể tùy hứng, tùy tiện của một vài người muốn thờ hoặc muốn bỏ ai cũng được.

Đây là việc tâm linh hệ trọng có quan hệ đến sự thịnh suy của làng, của nước. Ngay trong thời kỳ phong kiến chuyên chế, đến nhà vua cũng không áp đặt được.

Đại Việt sử ký toàn thư còn chép rành rành vào cuối thế kỷ 14, vua Trần Nghệ tông sai đưa Đỗ Tử Bình vào thờ phối trong Văn miếu, sau khi Tử Bình vừa mất.

Đỗ Tử Bình khi còn sống là một tướng bất tài, đánh trận nào thua trận ấy. Làm tướng trấn biên cương thì ăn của đút của người Chiêm Thành, làm ngơ không tâu báo các việc về triều, đến nỗi Chế Bồng Nga đưa quân tiến sát Thăng Long, vua quan mới hốt hoảng trốn chạy khỏi kinh thành.

Người nhân cách bỉ lậu như vậy, nên bài vị và bát hương thờ ông ta luôn bị người dân vứt bỏ. Việc đến tai Nghệ tông, nhà vua đành chấp nhận và thuận theo lòng dân.

Sau đó, Nghệ tông lại đưa Trương Hán Siêu, Chu Văn An vào thờ phối. Nhưng đương thời và các đời sau chỉ thừa nhận có Chu Văn An là người xứng đáng được thờ phối với Khổng Tử. Cho nên, trong Văn miếu ngày nay, ta thấy ban thờ Chu Văn An được thiết lập trong nhà đại bái, dưới bức đại tự "Vạn thế sư biểu", mà bất cứ người dân Việt nào  cũng đều tự hào về ông.

Lại nữa đầu thế kỷ 20, hẳn nhiều người Hà Nội và Hà Đông còn nhớ cha con ông thượng thư Hoàng Cao Khải, tổng đốc Hoàng Trọng Phu đã chi ra không biết bao tiền của xây trường học, dựng đình làng, và cho "hèm" để các làng thờ cha con ông làm thành hoàng. Thử hỏi, tới nay còn làng nào thờ cha con ông?

Hoặc giả như cố Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi ngài vừa viên tịch, nhân dân tỉnh Trà Vinh lập đền thờ ngay trong lòng của chính quyền Sài Gòn, và sự chiếm đóng của quân Mỹ. Mặc dù đền bị bắn phá, nhưng ngôi đền vẫn tồn tại tới ngày nay.

Hiện thời có rất nhiều chùa, đình nhân dân rước Cụ Hồ vào thờ như một vị Bồ Tát, như một vị phúc thần. Trong lịch sử, có nhẽ Cụ Hồ là một trong số rất ít nhân thần được nhân dân đưa vào thờ trong điện thần sớm như vậy. Phần đông các nhân vật phải trải qua thời gian thử thách, để các yếu tố trần tục của nhân vật phai nhạt dần, các yếu tố thiêng được đắp điếm thêm rồi mới đưa vào điện thần. Và điều quan trọng bậc nhất là khi còn sống, nhân vật đó phải được xã hội đương thời kính trọng, không để lại tì vết gì trong lịch sử.

Vậy là thờ phối theo nguyên tắc mở, nhưng tiêu chí chọn lựa lại hết sức khắc nghiệt. Đây là công việc của khu hệ tín ngưỡng, tâm linh không thể cứ có quyền và có tiền, muốn áp đặt thế nào cũng được. Bởi vậy, người đời nay hãy thận trọng đối với điện thần.

Điều thứ hai tôi muốn đề cập tới là vì sao huyện Long Đất lại nhất loạt đuổi thần linh ra khỏi các điện thờ, cải tạo các ngôi đình thành đền thờ liệt sĩ, và thu các sắc phong thần ở những ngôi đình này trả về cho ngành Văn hóa quản lý.

Ai đã ngang nhiên làm cái việc động trời này? Có phải nhân dân tự nguyện hay chính quyền áp đặt? Và tại sao chỉ có huyện Long Đất xóa sổ đình làng, còn các huyện khác trong tỉnh lại vận động thờ phối? Có lẽ vấn đề mấu chốt nằm ở đây chăng? Đề nghị lãnh đạo tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu làm rõ vấn đề này trước công luận.

Ngôi đình làng đã tồn tại ở nước ta tới cả ngàn năm. Vùng đất mới như Nam Bộ cũng có lịch sử trên dưới 300 năm.

Đình là một thiết chế văn hóa dân gian thuộc tín ngưỡng của cộng đồng người Việt.

Đình là nơi lưu giữ và tích hợp nền văn hóa dân gian dân tộc rất phong phú như kiến trúc, điêu khắc, hội họa, sân khấu và nhiều loại hình dân ca dân nhạc cùng biết bao phong tục tốt đẹp.

Đình là nơi cố kết cộng đồng đã tồn tại ổn định trong đời sống tâm linh, tín ngưỡng của dân tộc, trải bao thăng trầm lịch sử.

Các chế độ trước Cách mạng tháng 8 năm 1945 coi đình làng như một thiết chế xã hội, vừa mang tính tâm linh, văn hóa vừa mang tính hành chính.

Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa non trẻ, nơi điều 10 và luật Bảo tồn cổ tích đều bảo vệ các nơi tín ngưỡng, thờ tự của nhân dân.

Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 1992 nơi điều 34 vẫn ghi: "Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát triển các di sản văn hóa dân tộc... nghiêm  cấm  các hành động xâm phạm đến các di tích lịch sử..."

Điều 70 Hiến pháp 1992 lại viết: "Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ..."

Vậy ai đã ra lệnh xóa sổ hệ thống đình làng trên toàn lãnh thổ huyện Long Đất (tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu)?

Các vị lãnh đạo tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và huyện Long Đất có biết làm việc này không những vi phạm  Hiến pháp và pháp luật Nhà nước, mà còn trái với nguyên lý của hệ tư tưởng Mác-xít Lê-nin-nít?

Hệ tư tưởng của Đảng cộng sản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam  là duy vật, vô thần.

Chính vì vậy, Nhà nước đã lập hẳn một hệ thống Đài liệt sĩ khép kín từ cấp xã đến Trung ương, để vào các dịp lễ, tết các cấp, các ban ngành, đoàn thể và nhân dân tới đó làm lễ tưởng niệm. Chỉ tưởng niệm để bầy tỏ lòng biết ơn đối với liệt sĩ, tuyệt nhiên không được phép cúng cầu hoặc thể hiện một hành vi gì mang tính mê tín. Thế mà các vị lại đuổi thần linh đi, rước liệt sĩ vào thờ trong điện thần, có khác gì các vị đã công khai làm một việc đại mê tín.

Xin công luận tiếp tục làm rõ trách nhiệm này thuộc về ai?

Láng Thượng 25.11.2002
HQH


 


 

 

Hosted by www.Geocities.ws

1