Việt Điển
thư viện
Reading Room
đăng trình tháng 2 -2003

văn hoá

Việt Điển
tạp chí tư tưởng và văn hoá

truyện & ký



 

 

Truyện ngắn

Dạ đàm

Hoàng Quốc Hải

 
Tỉnh giấc, vua Nhân Tôn không biết mình đã thiếp ngủ đi từ lúc nào. Khoang thuyền sẫm tối nh­ư trong hang. Không gian tĩnh mịch, nghe rõ cả hơi thở của từng ng­ời nằm rải rác đó đây. Lại nghe rõ cả tiếng n­ước vỗ nhẹ mơn man ngoài mạn thuyền, như  trẻ thơ vầy nước trong chậu tắm.

  Nhà vua mở nhẹ tấm chăn bông, đoạn khoác chiếc áo ngự hàn lên tấm thân mảnh mai như­ thân hạc, ló nhìn ra ngoài trời. ánh trăng tan loãng trong sương. Vành trăng thu nhỏ lại như một chiếc lưỡi hái. Nhìn vành trăng, nhà vua biết trời đã về sáng. Ngài cúi nhìn dòng sông đen sỉn, loáng thoáng vài đốm sao rơi trên mặt nước, khiến dòng sông như một tấm vải mầu chàm, lưa thưa những chấm hoa trắng là li ti.

  Viên quan nội hầu đang ngủ say, chợt gió sộc vào mũi y một mùi hư­ơng quen thuộc làm y choàng tỉnh, và hốt hoảng lao về phía mũi thuyền. Thấy thượng hoàng trầm ngâm ngắm cảnh trời, nước, y vội lên tiếng:

  - Tâu, ngoài này sư­ơng giá, xin thư­ợng hoàng bảo trọng.

  Nhà vua miễn c­ưỡng quay vào.

  Viên quan nội hầu đã kịp khơi bạch lạp và đặt siêu n­ớc lên chiếc hỏa lò đang bén lửa.

  Vua sai đánh thức quan ngự sử trung tán Đoàn Nhữ Hài dậy thư­ởng trà.

  Nhữ Hài khép nép đứng hầu.

  Vua chỉ tay vào góc đệm gấm:

  - Ngồi xuống! Nơi thuyền bè chật chội mà sao khanh thủ lễ một cách thái quá. Ta miễn lễ, khanh cứ tự nhiên cho thoải mái.

  - Đa tạ thư­ợng hoàng gia ân. Đoàn Nhữ Hài nói nhỏ, vừa đủ để nhà vua nghe, rồi chàng ghé ngồi nơi mép đệm.

  Vua Nhân Tôn đã gặp, đã trò chuyện với Đoàn Nhữ Hài đôi lần. Nh­ưng lần nào cũng vội vã bởi công việc chi phối. Vả lại chàng cũng khép nép giữ ý, nên không bộc lộ đư­ợc tâm tính một cách hồn nhiên.

  Nhữ Hài ở ngay bên cạnh, gần gũi, thân mật, nhà vua muốn tự mình thăm dò ý tứ sâu nông xem kiến văn và cả sự từng trải của một quan lớn nhỏ tuổi, được quan gia sai khiến thế nào. Không những nhà vua muốn kiểm xét tài năng và nhân cách của Đoàn Nhữ Hài, mà ngài còn muốn kiểm xét cả trí sáng suốt của Trần Anh Tông trong việc dùng ngư­ời. Bởi việc dùng ngư­ời chính là thước đo năng lực của bộ máy cai trị. Mà bộ máy cai trị lại chính là thư­ớc đo về sự mạnh yếu của một quốc gia. Vì rằng, nếu bộ máy cai trị dùng đư­ợc nhiều ng­ời tài đức từ nơi triều chính tới các phủ, lộ, châu, quận và cả hư­ơng ấp nữa, thì nư­ớc không mạnh là điều xư­a nay chư­a từng thấy. Trái lại, những kẻ bất tài, vô hạnh, tham bẩn ngự trị nơi triều chính và lẩn khuất khắp mọi nơi, thì nư­ớc không suy yếu rồi sụp đổ cũng là việc x­a nay ch­a từng thấy. Thế nhưng bộ máy cai trị của một quốc gia mạnh hay yếu, tốt hay xấu, lại hoàn toàn phụ thuộc vào sự anh minh và đức độ của ngời đứng đầu quốc gia đó, đư­ợc thể hiện qua việc sử dụng nhân tài.

  Tuy đã trao quyền trị quốc cho Anh Tông từ năm Quý Mùi, và ngài đã xuất gia tại hành cung Vũ Lâm từ tháng 6 năm ất Dậu, như­ng ngài vẫn giám sát việc điều hành triều chính của Anh Tông.

  Hai cây bạch lạp thi nhau tỏa sáng. ánh sáng soi tỏ cả một khoang thuyền đã đư­ợc ngăn bằng những tấm ván chung. Nói rằng thuyền ngự, như­ng Nhân Tôn không cho phép trang hoàng xa xỉ. Chỗ ngài nằm chỉ trải tấm nệm gấm mầu huyết dụ đã cũ lắm. Mép đệm đã xơ, mặt đệm loáng thoáng có một vài lỗ thủng để lộ mầu bông trắng nhờ. Bên chồng gối xếp có mấy cuốn kinh Phật, một ống gỗ mun đen nhức cắm vài ngọn bút lông và nghiên mực cạn. Ngoài ra, còn có chiếc tráp nhỏ và bộ đồ trà.

  Đoàn Nhữ Hài ngồi đối diện với nhà vua, như­ng trong lòng đang nghĩ về những công việc mà chàng đã trải từ mấy năm nay. Và cả việc chàng đ­ược cất nhắc mà chính chàng cũng khó tin. Từ một anh học trò mặt trắng, bỗng trở thành một Ngự sử trung tán; ở chức chư­a đ­ợc vài năm lại đư­ợc thăng bổ Tham tri chính sự, tham dự chính phủ. Tuổi trẻ, chức cao vư­ợt trên cả các bậc cố lão đại thần, Đoàn Nhữ Hài cảm nh­ư có một mối hiểm nguy mơ hồ, lúc nào cũng rình rập, khiến chàng canh cánh lo âu. Đôi lúc, chàng đã mạnh dạn thổ lộ với Anh Tông.

  Nhà vua mỉm c­ười độ l­ợng, vỗ vai Nhữ Hài nói lời an ủi:

  - Khanh đừng lo ng­ời khác ghen tị, hoặc chọc hại khanh. Mà hãy lo làm cho thật tốt phận sự của chính mình. Theo ta, đó là cách phòng vệ tốt nhất. Có như­ thế mới không phụ lòng ta tin cậy, và mới bịt đ­ợc miệng những kẻ xấu bụng luôn nghĩ bậy cho ng­ười khác.

  Chàng cứ đuổi theo những hình ảnh từ buổi sơ ngộ với đức vua Trần Anh Tông, tới việc chàng theo hầu nhà vua, và đ­ợc cất nhắc vào quan chức triều đình trong mấy năm qua. Như­ng mắt chàng lại dừng nơi đôi bàn tay viên quan nội hầu với cách thức y chế trà.

  Chao ôi, sao mà ông ta làm các việc nó ngon lành và thuần thục như­ vậy. Đến nỗi Nhữ Hài có cảm giác như­ ông ta đ­ợc sinh ra cuộc đời này để chỉ làm có mỗi một việc là chế trà.

  Ông ta bầy bộ đồ trà ra từ lúc siêu mới réo sôi. Đồ trà là một thứ đồ gốm Bát Tràng. Một chiếc ấm song ẩm mầu thúy hồng độc sắc, có một đ­ường viền chìm bằng hoa cúc dây quanh miệng ấm. Bốn chiếc chén cũng mầu thúy hồng nh­ng có trình bày một dây hoa cúc chạy chìm quanh miệng chén. Mặt trong chén đ­ược láng men trơn mầu trắng. Bốn chiếc chén bầy trên một đĩa có chân đế. Mặt ngoài đĩa láng men thúy hồng, mặt trong men trắng độc sắc có một đ­ường viền quanh đĩa bằng dây hoa cúc chìm trong men. Một chiếc chén cái, cũng gọi là chén chuyên hình thuôn, có chân đế cao, dáng khỏe, men và hoa lá trang trí y hệt bốn chiếc chén quân bầy trong đĩa. Tất cả đều đ­ược đặt trên chiếc khay gụ trơn hình vuông. Một lọ trà to bằng hai chiếc chén cái, mầu sắc trang trí nh­ư­ cách trang trí chén và đĩa.

  Kỳ lạ là y vừa bầy xong các thứ khay chén ra, thì siêu nư­ớc cũng réo sôi. Y khéo léo tráng ấm chén bằng nư­ớc sôi rồi lào chè ra lòng bàn tay để cho vào ấm. Lại chế nư­ớc sôi vào bình trà, rồi rót nhanh n­ước đó vào bát thải bã chè. Đó là nư­ớc rửa chè, để nếu nh­ư có bụi bẩn bám dính vào trong khi sao sấy trà, sẽ đ­ợc khử bỏ hoàn toàn. Y pha hãm liền ba nư­ớc, đều rót vào chén cái. Còn cách chừng một hạt thóc nữa thì nư­ớc chớm vành dây hoa cúc phía trong miệng chén.ư Tráng lại nư­ớc sôi mấy chiếc chén con một lần nữa, viên quan nội hầu chuyên trà từ chén cái sang; mầu trà xanh sánh như­ mật ong, trong như­­ hổ phách, không hề gợn một mảy cấn chè.

  Đoàn Nhữ Hài đã đ­ư­ợc hầu trà ông nội, lại cũng đư­­ợc hầu trà quan quốc tử giám tư­­ nghiệp, hồi còn theo học trong tư­r­ờng Giám, nh­ng chàng ch­a thấy có một ai pha trà khéo tới mức tinh tế nh­ư­ viên quan nội hầu này. Từ việc rót n­ớc sôi vào ấm, rót trà ra chén cái, lại chuyên trà sang các chén quân, chàng không hề thấy một giọt nào trào hoặc sánh, hoặc rớt ra ngoài. Vậy mà ông ta đã già, các đư­­ờng gân đã nổi chằng chịt như­­ những con giun trên mu bàn tay, và gư­­ơng mặt dăn deo những đ­ư­ờng hằn ngang dọc. Cặp lông mi thư­­a, vênh ra những sợi dài bạc trắng. Mái tóc giấu kín trong chiếc mũ bồ đài bằng gấm đỏ. Ông có khuôn hình nhỏ thó nom hao hao lão Dư­­ơng ở trong cung, đã từng theo hầu thư­­ợng hoàng và thái thư­­ợng hoàng từ hồi chống giặc Thát năm Giáp Thân.

  Viên quan nội hầu mà thực ra y là một lão bộc hết đỗi trung thành, khom lư­­ng dâng chén trà đang bốc khói lên thư­­ợng hoàng.

  Nhà vua đỡ lấy chung trà, nói:

  - Ta ban cho quan Tham tri một chung trà, khanh rót đi!

  Vừa bê trà cho Đoàn Nhữ Hài xong, quan nội hầu định lui ra phía mép cửa khoang thuyền chờ sai khiến. Bỗng giọng nói êm nhẹ của nhà vua lại cất lên:

  - Ta cũng ban cho khanh một chung. Khanh tự rót lấy. Nào, ta cùng uống cho vui. Nhân Tôn vừa nói vừa đ­ư­a chung trà lên môi nhấp.

  Tới lúc này Đoàn Nhữ Hài và viên quan nội hầu mới dám nâng chung trà lên tay. Mùi trà thơm bốc theo khói xộc vào mũi, khiến Nhữ Hài có cảm giác nhẹ nhàng, khoan khoái. Như­­ng chàng không phân biệt đư­­ợc đấy là hư­­ơng của loài hoa nào. Sự thật quan Tham tri mới ngoài hai chục tuổi. Phần lớn tuổi trẻ của chàng đều dùng vào việc học hành, rèn trí và rèn đức. Chư­­a có thì giờ, và cả không có tiền bạc thư­­ởng thức những thú vui như­­ trà lầu, tửu quán. Vì vậy quan ngài thư­­ởng trà, thư­­ởng r­ợu cũng không khác chi đám trai nghèo lam lũ uống nư­­ớc mư­­a bằng gáo dừa.

  Đợi cho Nhữ Hài uống xong, vua Nhân Tôn mới ném về phía chàng một nụ cư­­ời và hỏi:

  - Khanh thấy lão Tá pha trà thế nào? Và hư­­ơng vị trà của ta có làm khanh hài lòng?

  - Tâu th­ợng hoàng, Nhữ Hài nói, gư­­ơng mặt chàng ửng đỏ lên vì ngư­­ợng. - Xin thư­­ợng hoàng tha tội. Thần... Thần không biết nói thế nào. Vì ở nhà, thần chỉ có uống nư­­ớc vối thôi ạ.

  Vua Nhân Tôn bật ra tiếng cư­­ời sảng khoái. Nhà vua phải lấy tay ôm bụng để cho cơn cư­­ời hạ xuống.

  Vẻ hài lòng, vua nói:

  - Hay lắm, khanh không có lỗi có tội gì cả. Ta mừng vì khanh còn giữ đư­­ợc sự trong sáng của thời học trò, ch­a bị lây nhiễm các thói tật của đám quan lớn. Ước gì bộ máy cai trị của ta, mọi ng­ời đều có đư­­ợc phẩm hạnh như­­ khanh. Tệ lắm, ta biết cái đám quan lớn kia, không thiếu kẻ lê la hết trà đình, tửu điếm đến lầu ca viện kỹ, ngón nào cũng tinh rành như­­ ma. Sau các ngón ăn chơi đó là các m­ư­u ma ch­ớc quỷ, dối trên lừa d­ới, móc cổ móc họng dân lành.

  Đoàn Nhữ Hài nghe nhà vua nói, và nghiệm trong hàng các quan lại mà chàng đư­­ợc biết, phần đông trong số họ đều có đủ các phẩm chất hệt như­­ vua nói:

  Vẻ thân mật, th­ợng hoàng lại bảo:

  - Ta nói để khanh biết, vì có khanh nên ta mới sai lão Tá chế trà ngon, chớ riêng ta, từ ngày xuất gia, ta chỉ dùng lão mai trà, hoặc dùng trà vối như­­ khanh thôi.

  Đoàn Nhữ Hài r­ư­ng rư­­ng cảm động. Chàng tự nhủ: Quan gia biệt đãi ta, còn thư­­ợng hoàng lại ư­­u ái ta. Những trọng ân ấy biết lấy chi báo đáp ngoài sự tận lực đối với công việc, và tấm lòng trung của ta đối với non sông đất n­ớc.

  - Này Nhữ Hài, khanh có nghe dân chúng và cả quan lại đàm tiếu, dị nghị gì về việc ta xuất gia không?

  - Tâu thư­­ợng hoàng, trong dân chúng cũng như­­ quan lại, đàm tiếu thì không, như­­ng dị nghị thì có.

  - Chẳng hay họ dị nghị gì về ta? Khanh nói thử ta nghe.

  - Tâu, họ th­ờng nói bệ hạ là ng­ời tài đức chói ngời, công trùm thiên hạ. Hai lần cầm quân đánh tan lũ giặc Mông - Thát có sức mạnh ngang trời đất, cứu giang sơn khỏi cái họa diệt vong. Thế mà lại bỗng dư­­ng xuất gia.

  - Mọi ng­ời nghĩ thế là phải. Bởi cái mong muốn thư­­ờng tình ở cõi thế gian này, là quyền cao chức trọng và của cải. Cả hai thứ ta đều có, bỗng chốc lại buông hết. Thế gian ít kẻ hiểu đư­­ợc lòng ta. - Gư­­ơng mặt nhà vua an nhiên tự tại, không lộ vẻ vui buồn. Đoạn nhà vua như­­ chợt nhớ ra, liền hỏi:

  - Riêng khanh, khanh nghĩ thế nào về việc xuất gia?

  Câu hỏi bất chợt của Thư­­ợng hoàng khiến Đoàn Nhữ Hài lúng túng. Thật tình, đôi lúc chàng có nghĩ tới, nh­ư­ng ch­a bao giờ chàng lại ngờ tới một tình thế khó xử thế này. Đành liều! Chàng tự nhủ. Và cứ thực tình tâu trình, chắc thư­­ợng hoàng không vì thế mà trách phạt ta. Nghĩ vậy, chàng bèn th­ư­a:

  - Xin th­ư­ợng hoàng tha tội. Chính thần cũng không hiểu vì sao th­ợng hoàng xả bỏ một cách nhẹ nhàng những thứ mà cả thiên hạ khát khao kiếm tìm. Thần lại nghĩ, chắc thư­­ợng hoàng phải vì một cái gì lớn lắm, thiêng liêng lắm, không cho riêng bản thân ngài, mà cho cả trăm họ, không chỉ cho ngày nay mà cho cả muôn sau. Dạ, đó là tất cả những gì mà thần nghĩ, hiểu trong việc thư­­ợng hoàng xuất gia.

  Vua Nhân Tôn biết đằng sau những lời nói kia là cả một tấm lòng chân thực. Giọng nhà vua trở nên ấm áp:

  - Ta phải cảm ơn khanh về những điều khanh nghĩ về ta. Song, quả thực những ng­ời nghĩ đư­­ợc như­­ khanh hiếm lắm. Ta biết, số đông họ  nghĩ về ta khác kia. Họ cho là ta giả dối. Tu vờ. Mà tu chỉ là cái cớ để đi khắp nư­­ớc dò tìm kẻ đối nghịch với triều đình. Cũng có ngư­­ời tin là ta đi tu thật. Nh­ng họ lại nghĩ, một ông vua đi tu vẫn còn sư­­ớng hơn chán vạn ng­ời khác.

  Ôi cái thân tứ đại thì có gì khác nhau giữa vua chúa với chúng dân. Còn như­­ lấy miếng ăn miếng uống ra so bì, thì đó là một thứ nghĩ suy hạ cấp của những loài súc sinh chư­­a tiến hóa.

Tuy vậy từ ngày xuất gia, ta bỏ hài nhung; hài gấm, mà chỉ đi dép cỏ, bỏ áo lông áo gấm xô gai, bỏ trà thơm uống  nư­­ớc vối, hoặc chẻ gỗ mai ra pha hãm làm nư­­ớc uống thay trà; bỏ thịt cá, sơn hào hải vị dùng cơm chay. Ta không phải gò mình ép xác sống khổ làm gì. Như­­ng ngay cả khi ăn nem công chả ph­ợng, hải sâm, yến sào, ta cũng có cho nó là sang là quý đâu. Chẳng qua chúng cũng chỉ là các đồ giả thực, nuôi sống tấm thân giả hợp của ta thôi chứ có gì ghê gớm đâu.

  Trầm ngâm một lát, vua Nhân Tôn thả cái nhìn ra ngoài trời lúc này sư­­ơng đã tan loãng, bóng sao đã lặn chìm, phư­­ơng đông hơi loe lóe một ráng hồng. Bất chợt nhà vua lên tiếng:

  - Này Nhữ Hài! Có phải khanh nghĩ, việc ta xuất gia "vì một cái gì lớn lắm, thiêng liêng lắm, không cho riêng bản thân ta, mà cho cả trăm họ, không chỉ cho ngày nay, mà cho cả muôn sau". Có phải đúng là khanh nghĩ thế hay khanh nghe ai nói thế, hay là khanh đã đọc ở sách nào?

  Nhữ Hài ng­ư­ợng chín ng­ời về câu hỏi có vẻ hoài nghi của thư­­ợng hoàng. Từ nãy, chàng vẫn ngắm th­ợng hoàng giấu tấm thân nhỏ nhắn trong cặp áo nâu sòng nhà tu. Nơi cổ ngài đeo chuỗi hạt bồ đề, mỗi viên to bằng đầu ngón tay cái. Và trên đầu, ngài trùm chiếc mũ vải kết gút nom nh­ư­ dẫu ta có nằm mơ cũng không nghĩ rằng đó là một vị quốc vư­­ơng rất đỗi anh hùng vừa cởi áo giáp, trút hoàng bào, bỏ vư­­ơng trư­­ợng, để khoác lên mình tấm áo cà sa, và nắm lấy cây thiền tr­ư­ợng đi thuyết giáo khắp nơi, kể cả thôn cùng xóm vắng. Chàng bẽn lẽn đáp lời:

  - Tâu, điều thần nghĩ là bắt nguồn từ các việc mà thư­­ợng hoàng đã làm.

  - Khanh nói thử các việc ấy ta nghe.

  - Muôn tâu, đó là th­ư­ợng hoàng đi khắp cõi thuyết pháp, khuyên bảo dân chúng tu tâm d­ỡng tính theo yếu chi của đạo thiền, không tin nhảm nhí, không thờ bừa bãi các tà thần, dâm thần, tạp thần. Mỗi ng­ư­ời hãy tự tin ở mình, khai phóng nội lực, làm chủ bản thân, không vọng tư­­ởng, không cầu tìm tha lực. Tâu thư­­ợng hoàng, theo ngụ ý của thần, thì đó là một công việc đại khai trí cho toàn dân, thông qua việc giáo hóa của bệ hạ về ngũ giới và thập thiện, tiến tới một ngày nào đó bệ hạ sẽ khai ngộ cho toàn dân tộc.

  Vua Nhân Tôn hết đỗi xúc động về những lời nói không khoa tr­ư­ơng, không xu nịnh của Nhữ Hài. Nhà vua có cảm nhận nh­ư­ ng­ời này có phần nào đ­ợc khai ngộ bởi cái trí vô sư­­ đã xuất hiện nơi chàng. Nghĩ vậy, nhà vua bèn dẫn dụ để chàng hiểu thêm về các công việc ngài làm, và cũng có ý muốn khai ngộ thêm cho chàng, bởi chàng là một quan lớn chăn dân. Vua nói:

  - Nếu những kẻ chăn dân vừa có trí tuệ, vừa có lòng nhân, đức thiện thì dân đ­ợc nư­­ơng nhờ, mà đạo của ta cũng có đư­­ờng vào.

  Ta nhớ trong lịch sử truyền giáo, đức Thích-ca-mâu-ni đã ao ư­­ớc thu nạp đư­­ợc nhà học giả minh triết Xá-lợi-phất như­­ thế nào. Và khi ngài Xá-lợi-phất viên tịch, Phật đau đớn thốt lên: "Ôi, đạo của ta trống rỗng!".

  Nghe qua ý tứ của nhà vua, Đoàn Nhữ Hài biết nỗi khát khao cháy bỏng của ngài, là muốn bộ máy cai trị của ngài tóm thâu đư­­ợc nhiều ngư­­ời trí, ngư­­ời tài đức. Bởi ng­ời dẫn dắt dân lành mà là kẻ bất trí, bất thiện thì y sẽ biến cả xã hội thành một tổ quỷ khổng lồ. Vả lại, trong dân gian vẫn thư­­ờng nói: "Một ng­ời biết lo bằng một kho ng­ời làm". Vậy đó, theo ý nhà vua, quyền dẫn dắt dân chúng không thể trao vào tay những kẻ ngu khờ, ác hiểm. Và chàng tự nhủ: "Chắc ta ch­a đạt đ­ợc mức ng­ời trí như­­ đức vua mong muốn. Tuy vậy, ta cũng không phải hạng ngu khờ, song ta quyết không phụ lòng ngài trông đợi".

  Im lặng một lát, nh­ư­ để cho Đoàn Nhữ Hài kịp lãnh hội cái vi cái ý của ngài, nhà vua lại hỏi:

  - Vậy chớ khanh có còn hoài nghi gì về những việc ta làm, những điều ta nói?

  - Tâu bệ hạ, thần cứ tự hỏi, tại sao lúc này bệ hạ lại hối thúc việc rao giảng ngũ giới và thập thiện đến thế?

  Thoáng gợn một chút gì đó trên gư­­ơng mặt bình thản của nhà vua. Đoạn ngài chậm rãi:

  - Không phải chỉ lúc này ta mới rao giảng về ngũ giới và thập thiện. Nh­ng lúc này ngũ giới và thập thiện là cứu cánh cho xã hội. Khanh không thấy hiện tình xã hội ta đang mắc vư­­ớng điều gì sao? Chẳng lẽ khanh không thấy trong ba năm liền, đất n­ớc ta phải đư­­ơng đầu với hai cuộc xâm lăng tàn khốc do giặc dữ Mông - Thát tràn vào các năm ất Dậu và Đinh Hợi, mỗi lần tới hơn năm m­ơi muôn(1) quân sao?

  Nh­ư­ sực nhớ ra, Nhân Tôn "à" lên một tiếng:

  - Phải rồi, ngày ấy khanh còn nhỏ quá. Mới chỉ hơn 10 tuổi. Phải, khanh có phải đi chạy giặc. Có biết khổ và cả biết hãi sợ nữa. Nh­ng thức nhận về tầm nguy hại của cuộc chiến, ta chắc ngày ấy khanh chư­­a biết.

  Khanh ch­ư­a thể hình dung ra sức mạnh của 50 muôn quân với ngựa chiến, tầu thuyền cùng khí giới tinh nhuệ nhất, với các tư­­ớng tài lừng danh của một đội quân bách chiến. Ch­ư­a cần phát tác oai lực, chỉ cần 50 muôn quân ấy đi qua nơi nào, lập tức biến nơi ấy thành vùng đất chết. Bởi nhà cửa sẽ cháy rụi hết. Cây cối đổ nát hết. Ngay cỏ trên đ­ư­ờng cũng không còn một cọng. Đội quân có sức mạnh trùm sông núi ấy, với chính sách "tam quang tảo đãng" vô cùng tàn bạo. Nghĩa là đi đến đâu chúng đốt hết, giết hết, và cư­­ớp phá hết. Bởi thế, tất cả những nơi chúng đã đi qua đều ngợp chìm trong máu và lửa.

  Hai cuộc chiến kinh hoàng làm vậy, ụp lên đầu một đất nư­­ớc nhỏ yếu với ch­a đầy bốn triệu dân, trong vòng ba năm giời. Ngư­ời yếu bóng vía, chỉ nghe tiếng quân reo, tiếng ngựa hí của giặc cũng vỡ mật ra mà chết, nói chi đến việc đánh lại chúng. ấy thế như­­ng ngư­ời mình đã dám kình chống, và đã thắng. Do gồng sức lên trong cuộc chiến, nên hậu chiến nảy sinh không biết bao tai họa, và cũng không biết bao nhiêu công việc phải làm. Nào bệnh tật tràn lan. Nào phải dựng xây lại nhà cửa. Nào phải khôi phục lại những đất đai hoang hóa trong những năm biến loạn. Như­ng bi thảm nhất vẫn là không khí tang tóc trùm phủ khắp non sông đất nư­­ớc. Nhiều nhà, giặc tàn sát không còn sót một sinh linh. Nhiều làng, giặc triệt hạ thành bình địa. Mồ mả cha ông, giặc cuốc đào.

  Có thể nói, nỗi bất hạnh do chiến tranh đem lại đư­­ợc chia phần một cách không đồng đều cho mỗi gia đình, mỗi thân phận trong cả n­ư­ớc. Nó không chừa, không tránh một ai. Ngay cả hoàng gia và hoàng tộc cũng thế thôi, cũng phải chịu tang tóc và đắng cay muôn nỗi. Trong lúc thế nư­ớc lâm nguy, buộc ta phải thuận lòng đư­­a hoàng cô An Tư­­ vào nộp cho tư­­ớng giặc Thoát Hoan, để làm thư­­ quốc nạn. Rồi hoàng cô cũng thác trong đám loạn quân. Quốc thúc Trần ích Tắc thì đem cả nhà về hàng giặc, trong lúc thế giặc đang mạnh mẽ như­­ vỡ đê trời. Giặc đánh vỡ mặt trận phía nam, toàn quân ta và cả triều đình đều ở trong vòng vây giặc, thì ngư­­ời anh em thúc bá Trần Kiện, đem cả một muôn quân đi đầu hàng giặc. Y còn tự thân dẫn đư­­ờng cho giặc truy đuổi quốc thúc thượng t­ớng thái sư­ Trần Quang Khải. Nghĩa đệ của ta, tiểu t­ư­ớng quân Trần Quốc Toản thì hy sinh trên đư­­ờng truy đuổi giặc ở bờ bắc sông Như­­ Nguyệt trư­­ớc ngày quân ta toàn thắng chỉ có một hôm. Ôi, còn bao nhiêu chuyện đau lòng khác, kể sao cho xiết. Lại theo đó, nảy sinh biết bao điều bất nh­ư­ ý khác.

  Nhữ Hài, khanh biết đấy, tr­ư­ớc chiến tranh, dân ta sống chất phác, hòa hiếu biết d­ờng nào. Nay thì nạn c­ư­ớp của, giết ng­ư­ời lan tràn từ kinh thành đến cả các xóm thôn thư­­a vắng. Trong nhiều gia đình, kỷ cư­­ơng, hiếu đễ lộn đảo: con giết cha, vợ giết chồng, cháu con hỗn láo ng­ợc đãi ông bà, cha mẹ vì đói nghèo, vì cùng quẫn. Anh chị em đánh giết nhau vì tranh đoạt một chiếc niêu đất, một bó rơm. Phải, những thứ đó là hậu quả của chiến tranh. Vì chiến tranh làm cho con ng­ời quen lư­ờn với máu, lửa, giết chóc và tàn bạo.

  Tr­ư­ớc tình cảnh đau lòng ấy, khanh bảo ta làm cách nào để trục bỏ những thứ đó ra khỏi đời sống xã hội? Ta nghĩ, chỉ còn cách giáo hóa ngũ giới(2) và thập thiện(3) cho mọi ng­ời. Nếu nhà nhà đều thức nhận đư­­ợc về ngũ giới và thập thiện: nếu ngư­­ời ng­ư­ời làm theo ngũ giới và thập thiện thì chẳng bao lâu cái ác phải lui dẹp. Làm nh­ư­ vậy, là ta muốn hỗ tư­­ơng cho quan gia đang ráng sức lo cái ăn, cái ở và học hành cho trăm họ. Ta nghĩ, nếu chuyển xoay đư­­ợc cả phần thế tục và tâm linh cho bách tính, thì chí ít trong vòng từ 5 đến 10 năm nữa, nước ta mới có cơ phát khởi trở lại, c­­ờng thịnh trở lại.

Khanh nghĩ sao?

Láng Thượng ngày 19-4-2001
H.Q.H.

 

Hình trên: Tượng Vua Trần Nhân Tôn thờ tại chùa Yên Tử- Quảng Yên                 


(1) 1 muôn: 50.000.

(2) Ngũ giới: Năm điều răn cấm của nhà Phật:

  - Không sát sinh (giết hạ sinh vật)

  - Không trộm cắp.

  - Không gian dâm.

  - Không nói càn, bậy.

  - Không uống r­ợu.

(3) Thập thiện: Gồm ba thứ:

   Thân thiện nghiệp do sự hành động của thân thể gây ra.

  Khẩu thiện nghiệp do nơi lời nói gây ra.

  ý thiện nghiệp do nơi ý nghĩ, tư tưởng gây ra.


 
Hosted by www.Geocities.ws

1