|
|
Việt
Điển |
|
|
văn hoá |
Việt Điển |
truyện & ký |
|
|
Truyện ngắn Dạ đàm Hoàng Quốc Hải Nhà vua mở nhẹ
tấm chăn bông, đoạn khoác chiếc áo ngự hàn lên tấm thân mảnh mai như thân
hạc, ló nhìn ra ngoài trời. ánh trăng tan loãng trong sương. Vành trăng thu
nhỏ lại như một chiếc lưỡi hái. Nhìn vành trăng, nhà vua biết trời đã về sáng.
Ngài cúi nhìn dòng sông đen sỉn, loáng thoáng vài đốm sao rơi trên mặt nước,
khiến dòng sông như một tấm vải mầu chàm, lưa thưa những chấm hoa trắng là li
ti. Viên quan nội
hầu đang ngủ say, chợt gió sộc vào mũi y một mùi hương quen thuộc làm y
choàng tỉnh, và hốt hoảng lao về phía mũi thuyền. Thấy thượng hoàng trầm ngâm
ngắm cảnh trời, nước, y vội lên tiếng: - Tâu, ngoài này sương giá, xin
thượng hoàng bảo trọng. Nhà vua miễn cưỡng quay vào. Viên quan nội hầu đã kịp khơi bạch lạp
và đặt siêu nớc lên chiếc hỏa lò đang bén lửa. Vua sai đánh
thức quan ngự sử trung tán Đoàn Nhữ Hài dậy thưởng trà. Nhữ Hài khép nép đứng hầu. Vua chỉ tay
vào góc đệm gấm: - Ngồi xuống!
Nơi thuyền bè chật chội mà sao khanh thủ lễ một cách thái quá. Ta miễn lễ,
khanh cứ tự nhiên cho thoải mái. - Đa tạ
thượng hoàng gia ân. Đoàn Nhữ Hài nói nhỏ, vừa đủ để nhà vua nghe, rồi chàng
ghé ngồi nơi mép đệm. Vua Nhân Tôn
đã gặp, đã trò chuyện với Đoàn Nhữ Hài đôi lần. Nhưng lần nào cũng vội vã bởi
công việc chi phối. Vả lại chàng cũng khép nép giữ ý, nên không bộc lộ được
tâm tính một cách hồn nhiên. Nhữ Hài ở ngay
bên cạnh, gần gũi, thân mật, nhà vua muốn tự mình thăm dò ý tứ sâu nông xem
kiến văn và cả sự từng trải của một quan lớn nhỏ tuổi, được quan gia sai khiến
thế nào. Không những nhà vua muốn kiểm xét tài năng và nhân cách của Đoàn Nhữ
Hài, mà ngài còn muốn kiểm xét cả trí sáng suốt của Trần Anh Tông trong việc
dùng người. Bởi việc dùng người chính là thước đo năng lực của bộ máy cai
trị. Mà bộ máy cai trị lại chính là thước đo về sự mạnh yếu của một quốc gia.
Vì rằng, nếu bộ máy cai trị dùng được nhiều ngời tài đức từ nơi triều chính
tới các phủ, lộ, châu, quận và cả hương ấp nữa, thì nước không mạnh là điều
xưa nay chưa từng thấy. Trái lại, những kẻ bất tài, vô hạnh, tham bẩn ngự
trị nơi triều chính và lẩn khuất khắp mọi nơi, thì nước không suy yếu rồi sụp
đổ cũng là việc xa nay cha từng thấy. Thế nhưng bộ máy cai trị của một quốc
gia mạnh hay yếu, tốt hay xấu, lại hoàn toàn phụ thuộc vào sự anh minh và đức
độ của ngời đứng đầu quốc gia đó, được thể hiện qua việc sử dụng nhân tài. Tuy đã trao
quyền trị quốc cho Anh Tông từ năm Quý Mùi, và ngài đã xuất gia tại hành cung
Vũ Lâm từ tháng 6 năm ất Dậu, nhưng ngài vẫn giám sát việc điều hành triều
chính của Anh Tông. Hai cây bạch
lạp thi nhau tỏa sáng. ánh sáng soi tỏ cả một khoang thuyền đã được ngăn bằng
những tấm ván chung. Nói rằng thuyền ngự, nhưng Nhân Tôn không cho phép trang
hoàng xa xỉ. Chỗ ngài nằm chỉ trải tấm nệm gấm mầu huyết dụ đã cũ lắm. Mép đệm
đã xơ, mặt đệm loáng thoáng có một vài lỗ thủng để lộ mầu bông trắng nhờ. Bên
chồng gối xếp có mấy cuốn kinh Phật, một ống gỗ mun đen nhức cắm vài ngọn bút
lông và nghiên mực cạn. Ngoài ra, còn có chiếc tráp nhỏ và bộ đồ trà. Đoàn Nhữ Hài
ngồi đối diện với nhà vua, nhưng trong lòng đang nghĩ về những công việc mà
chàng đã trải từ mấy năm nay. Và cả việc chàng được cất nhắc mà chính chàng
cũng khó tin. Từ một anh học trò mặt trắng, bỗng trở thành một Ngự sử trung
tán; ở chức chưa đợc vài năm lại được thăng bổ Tham tri chính sự, tham dự
chính phủ. Tuổi trẻ, chức cao vượt trên cả các bậc cố lão đại thần, Đoàn Nhữ
Hài cảm như có một mối hiểm nguy mơ hồ, lúc nào cũng rình rập, khiến chàng
canh cánh lo âu. Đôi lúc, chàng đã mạnh dạn thổ lộ với Anh Tông. Nhà vua mỉm cười độ lợng, vỗ vai Nhữ
Hài nói lời an ủi: - Khanh đừng
lo ngời khác ghen tị, hoặc chọc hại khanh. Mà hãy lo làm cho thật tốt phận sự
của chính mình. Theo ta, đó là cách phòng vệ tốt nhất. Có như thế mới không
phụ lòng ta tin cậy, và mới bịt đợc miệng những kẻ xấu bụng luôn nghĩ bậy cho
người khác. Chàng cứ đuổi
theo những hình ảnh từ buổi sơ ngộ với đức vua Trần Anh Tông, tới việc chàng
theo hầu nhà vua, và đợc cất nhắc vào quan chức triều đình trong mấy năm qua.
Nhưng mắt chàng lại dừng nơi đôi bàn tay viên quan nội hầu với cách thức y
chế trà. Chao ôi, sao
mà ông ta làm các việc nó ngon lành và thuần thục như vậy. Đến nỗi Nhữ Hài có
cảm giác như ông ta đợc sinh ra cuộc đời này để chỉ làm có mỗi một việc là
chế trà. Ông ta bầy bộ
đồ trà ra từ lúc siêu mới réo sôi. Đồ trà là một thứ đồ gốm Bát Tràng. Một
chiếc ấm song ẩm mầu thúy hồng độc sắc, có một đường viền chìm bằng hoa cúc
dây quanh miệng ấm. Bốn chiếc chén cũng mầu thúy hồng nhng có trình bày một
dây hoa cúc chạy chìm quanh miệng chén. Mặt trong chén được láng men trơn mầu
trắng. Bốn chiếc chén bầy trên một đĩa có chân đế. Mặt ngoài đĩa láng men thúy
hồng, mặt trong men trắng độc sắc có một đường viền quanh đĩa bằng dây hoa
cúc chìm trong men. Một chiếc chén cái, cũng gọi là chén chuyên hình thuôn, có
chân đế cao, dáng khỏe, men và hoa lá trang trí y hệt bốn chiếc chén quân bầy
trong đĩa. Tất cả đều được đặt trên chiếc khay gụ trơn hình vuông. Một lọ trà
to bằng hai chiếc chén cái, mầu sắc trang trí như cách trang trí chén và
đĩa. Kỳ lạ là y vừa
bầy xong các thứ khay chén ra, thì siêu nước cũng réo sôi. Y khéo léo tráng
ấm chén bằng nước sôi rồi lào chè ra lòng bàn tay để cho vào ấm. Lại chế
nước sôi vào bình trà, rồi rót nhanh nước đó vào bát thải bã chè. Đó là
nước rửa chè, để nếu như có bụi bẩn bám dính vào trong khi sao sấy trà, sẽ
đợc khử bỏ hoàn toàn. Y pha hãm liền ba nước, đều rót vào chén cái. Còn cách
chừng một hạt thóc nữa thì nước chớm vành dây hoa cúc phía trong miệng chén.ư
Tráng lại nước sôi mấy chiếc chén con một lần nữa, viên quan nội hầu chuyên
trà từ chén cái sang; mầu trà xanh sánh như mật ong, trong như hổ phách,
không hề gợn một mảy cấn chè. Đoàn Nhữ Hài
đã được hầu trà ông nội, lại cũng được hầu trà quan quốc tử giám tư
nghiệp, hồi còn theo học trong tưrờng Giám, nhng chàng cha thấy có một ai
pha trà khéo tới mức tinh tế như viên quan nội hầu này. Từ việc rót nớc sôi
vào ấm, rót trà ra chén cái, lại chuyên trà sang các chén quân, chàng không hề
thấy một giọt nào trào hoặc sánh, hoặc rớt ra ngoài. Vậy mà ông ta đã già, các
đường gân đã nổi chằng chịt như những con giun trên mu bàn tay, và gương
mặt dăn deo những đường hằn ngang dọc. Cặp lông mi thưa, vênh ra những sợi
dài bạc trắng. Mái tóc giấu kín trong chiếc mũ bồ đài bằng gấm đỏ. Ông có
khuôn hình nhỏ thó nom hao hao lão Dương ở trong cung, đã từng theo hầu
thượng hoàng và thái thượng hoàng từ hồi chống giặc Thát năm Giáp Thân. Viên quan nội hầu mà thực ra y là một
lão bộc hết đỗi trung thành, khom lưng dâng chén trà đang bốc khói lên
thượng hoàng. Nhà vua đỡ lấy chung trà, nói: - Ta ban cho quan Tham tri một chung
trà, khanh rót đi! Vừa bê trà cho Đoàn Nhữ Hài xong, quan
nội hầu định lui ra phía mép cửa khoang thuyền chờ sai khiến. Bỗng giọng nói
êm nhẹ của nhà vua lại cất lên: - Ta cũng ban cho khanh một chung. Khanh tự rót lấy.
Nào, ta cùng uống cho vui. Nhân Tôn vừa nói vừa đưa chung trà lên môi nhấp. Tới lúc này Đoàn Nhữ Hài và viên quan nội hầu
mới dám nâng chung trà lên tay. Mùi trà thơm bốc theo khói xộc vào mũi, khiến
Nhữ Hài có cảm giác nhẹ nhàng, khoan khoái. Nhưng chàng không phân biệt
được đấy là hương của loài hoa nào. Sự thật quan Tham tri mới ngoài hai
chục tuổi. Phần lớn tuổi trẻ của chàng đều dùng vào việc học hành, rèn trí và
rèn đức. Chưa có thì giờ, và cả không có tiền bạc thưởng thức những thú
vui như trà lầu, tửu quán. Vì vậy quan ngài thưởng trà, thưởng rợu cũng
không khác chi đám trai nghèo lam lũ uống nước mưa bằng gáo dừa. Đợi cho Nhữ Hài uống xong, vua Nhân Tôn mới ném về phía chàng
một nụ cười và hỏi: - Khanh thấy lão Tá pha trà thế nào? Và hương vị trà của ta có
làm khanh hài lòng? - Tâu thợng hoàng, Nhữ Hài nói, gương mặt
chàng ửng đỏ lên vì ngượng. - Xin thượng hoàng tha tội. Thần... Thần không
biết nói thế nào. Vì ở nhà, thần chỉ có uống nước vối thôi ạ. Vua Nhân Tôn bật ra tiếng cười sảng khoái. Nhà vua phải lấy
tay ôm bụng để cho cơn cười hạ xuống. Vẻ hài lòng, vua nói: - Hay lắm, khanh không có lỗi có tội gì cả. Ta
mừng vì khanh còn giữ được sự trong sáng của thời học trò, cha bị lây nhiễm
các thói tật của đám quan lớn. Ước gì bộ máy cai trị của ta, mọi ngời đều có
được phẩm hạnh như khanh. Tệ lắm, ta biết cái đám quan lớn kia, không
thiếu kẻ lê la hết trà đình, tửu điếm đến lầu ca viện kỹ, ngón nào cũng tinh
rành như ma. Sau các ngón ăn chơi đó là các mưu ma chớc quỷ, dối trên lừa
dới, móc cổ móc họng dân lành. Đoàn Nhữ Hài nghe nhà vua nói, và nghiệm trong
hàng các quan lại mà chàng được biết, phần đông trong số họ đều có đủ các
phẩm chất hệt như vua nói: Vẻ thân mật, thợng hoàng lại bảo: - Ta nói để khanh biết, vì có khanh nên ta mới
sai lão Tá chế trà ngon, chớ riêng ta, từ ngày xuất gia, ta chỉ dùng lão mai
trà, hoặc dùng trà vối như khanh thôi. Đoàn Nhữ Hài rưng rưng cảm động. Chàng tự
nhủ: Quan gia biệt đãi ta, còn thượng hoàng lại ưu ái ta. Những trọng ân
ấy biết lấy chi báo đáp ngoài sự tận lực đối với công việc, và tấm lòng trung
của ta đối với non sông đất nớc. - Này Nhữ Hài, khanh có nghe dân chúng và cả
quan lại đàm tiếu, dị nghị gì về việc ta xuất gia không? - Tâu thượng hoàng, trong dân chúng cũng như quan lại, đàm
tiếu thì không, nhưng dị nghị thì có. - Chẳng hay họ dị nghị gì về ta? Khanh nói thử ta
nghe. - Tâu, họ
thờng nói bệ hạ là ngời tài đức chói ngời, công trùm thiên hạ. Hai lần cầm
quân đánh tan lũ giặc Mông - Thát có sức mạnh ngang trời đất, cứu giang sơn
khỏi cái họa diệt vong. Thế mà lại bỗng dưng xuất gia. - Mọi ngời
nghĩ thế là phải. Bởi cái mong muốn thường tình ở cõi thế gian này, là quyền
cao chức trọng và của cải. Cả hai thứ ta đều có, bỗng chốc lại buông hết. Thế
gian ít kẻ hiểu được lòng ta. - Gương mặt nhà vua an nhiên tự tại, không
lộ vẻ vui buồn. Đoạn nhà vua như chợt nhớ ra, liền hỏi: - Riêng khanh, khanh nghĩ thế nào về
việc xuất gia? Câu hỏi bất
chợt của Thượng hoàng khiến Đoàn Nhữ Hài lúng túng. Thật tình, đôi lúc chàng
có nghĩ tới, nhưng cha bao giờ chàng lại ngờ tới một tình thế khó xử thế
này. Đành liều! Chàng tự nhủ. Và cứ thực tình tâu trình, chắc thượng hoàng
không vì thế mà trách phạt ta. Nghĩ vậy, chàng bèn thưa: - Xin thượng hoàng tha tội. Chính thần cũng
không hiểu vì sao thợng hoàng xả bỏ một cách nhẹ nhàng những thứ mà cả thiên
hạ khát khao kiếm tìm. Thần lại nghĩ, chắc thượng hoàng phải vì một cái gì
lớn lắm, thiêng liêng lắm, không cho riêng bản thân ngài, mà cho cả trăm họ,
không chỉ cho ngày nay mà cho cả muôn sau. Dạ, đó là tất cả những gì mà thần
nghĩ, hiểu trong việc thượng hoàng xuất gia. Vua Nhân Tôn biết đằng sau những lời nói kia
là cả một tấm lòng chân thực. Giọng nhà vua trở nên ấm áp: - Ta phải cảm ơn khanh về những điều khanh
nghĩ về ta. Song, quả thực những ngời nghĩ được như khanh hiếm lắm.
Ta biết, số đông họ nghĩ về ta khác kia. Họ cho là ta giả dối. Tu vờ. Mà
tu chỉ là cái cớ để đi khắp nước dò tìm kẻ đối nghịch với triều đình. Cũng
có người tin là ta đi tu thật. Nhng họ lại nghĩ, một ông vua đi tu vẫn còn
sướng hơn chán vạn ngời khác. Ôi cái thân tứ
đại thì có gì khác nhau giữa vua chúa với chúng dân. Còn như lấy miếng ăn
miếng uống ra so bì, thì đó là một thứ nghĩ suy hạ cấp của những loài súc sinh
chưa tiến hóa. Tuy vậy từ ngày xuất
gia, ta bỏ hài nhung; hài gấm, mà chỉ đi dép cỏ, bỏ áo lông áo gấm xô gai, bỏ
trà thơm uống nước vối, hoặc chẻ gỗ mai ra
pha hãm làm nước uống thay trà; bỏ thịt cá, sơn hào hải vị dùng cơm chay. Ta
không phải gò mình ép xác sống khổ làm gì. Nhưng ngay cả khi ăn nem công chả
phợng, hải sâm, yến sào, ta cũng có cho nó là sang là quý đâu. Chẳng qua
chúng cũng chỉ là các đồ giả thực, nuôi sống tấm thân giả hợp của ta thôi chứ
có gì ghê gớm đâu. Trầm ngâm một
lát, vua Nhân Tôn thả cái nhìn ra ngoài trời lúc này sương đã tan loãng,
bóng sao đã lặn chìm, phương đông hơi loe lóe một ráng hồng. Bất chợt nhà
vua lên tiếng: - Này Nhữ Hài!
Có phải khanh nghĩ, việc ta xuất gia "vì một cái gì lớn lắm, thiêng liêng lắm,
không cho riêng bản thân ta, mà cho cả trăm họ, không chỉ cho ngày nay, mà cho
cả muôn sau". Có phải đúng là khanh nghĩ thế hay khanh nghe ai nói thế, hay là
khanh đã đọc ở sách nào? Nhữ Hài
ngượng chín ngời về câu hỏi có vẻ hoài nghi của thượng hoàng. Từ nãy,
chàng vẫn ngắm thợng hoàng giấu tấm thân nhỏ nhắn trong cặp áo nâu sòng nhà
tu. Nơi cổ ngài đeo chuỗi hạt bồ đề, mỗi viên to bằng đầu ngón tay cái. Và
trên đầu, ngài trùm chiếc mũ vải kết gút nom như dẫu ta có nằm mơ cũng không
nghĩ rằng đó là một vị quốc vương rất đỗi anh hùng vừa cởi áo giáp, trút
hoàng bào, bỏ vương trượng, để khoác lên mình tấm áo cà sa, và nắm lấy cây
thiền trượng đi thuyết giáo khắp nơi, kể cả thôn cùng xóm vắng. Chàng bẽn
lẽn đáp lời: - Tâu, điều thần nghĩ là bắt nguồn từ
các việc mà thượng hoàng đã làm. - Khanh nói thử các việc ấy ta nghe. - Muôn tâu, đó
là thượng hoàng đi khắp cõi thuyết pháp, khuyên bảo dân chúng tu tâm dỡng
tính theo yếu chi của đạo thiền, không tin nhảm nhí, không thờ bừa bãi các tà
thần, dâm thần, tạp thần. Mỗi người hãy tự tin ở mình, khai phóng nội lực,
làm chủ bản thân, không vọng tưởng, không cầu tìm tha lực. Tâu thượng
hoàng, theo ngụ ý của thần, thì đó là một công việc đại khai trí cho toàn dân,
thông qua việc giáo hóa của bệ hạ về ngũ giới và thập thiện, tiến tới một ngày
nào đó bệ hạ sẽ khai ngộ cho toàn dân tộc. Vua Nhân Tôn
hết đỗi xúc động về những lời nói không khoa trương, không xu nịnh của Nhữ
Hài. Nhà vua có cảm nhận như ngời này có phần nào đợc khai ngộ bởi cái trí
vô sư đã xuất hiện nơi chàng. Nghĩ vậy, nhà vua bèn dẫn dụ để chàng hiểu
thêm về các công việc ngài làm, và cũng có ý muốn khai ngộ thêm cho chàng, bởi
chàng là một quan lớn chăn dân. Vua nói: - Nếu những kẻ chăn dân vừa có trí
tuệ, vừa có lòng nhân, đức thiện thì dân đợc nương nhờ, mà đạo của ta cũng
có đường vào. Ta nhớ trong lịch sử truyền giáo, đức
Thích-ca-mâu-ni đã ao ước thu nạp được nhà học giả minh triết Xá-lợi-phất
như thế nào. Và khi ngài Xá-lợi-phất viên tịch, Phật đau đớn thốt lên: "Ôi,
đạo của ta trống rỗng!". Nghe qua ý tứ
của nhà vua, Đoàn Nhữ Hài biết nỗi khát khao cháy bỏng của ngài, là muốn bộ
máy cai trị của ngài tóm thâu được nhiều người trí, người tài đức. Bởi
ngời dẫn dắt dân lành mà là kẻ bất trí, bất thiện thì y sẽ biến cả xã hội
thành một tổ quỷ khổng lồ. Vả lại, trong dân gian vẫn thường nói: "Một ngời
biết lo bằng một kho ngời làm". Vậy đó, theo ý nhà vua, quyền dẫn dắt dân chúng
không thể trao vào tay những kẻ ngu khờ, ác hiểm. Và chàng
tự nhủ: "Chắc ta cha đạt đợc mức ngời trí như đức vua mong muốn.
Tuy vậy, ta cũng không phải hạng ngu khờ, song ta quyết không phụ lòng ngài
trông đợi". Im lặng một lát, như để cho Đoàn Nhữ
Hài kịp lãnh hội cái vi cái ý của ngài, nhà vua lại hỏi: - Vậy chớ khanh có còn hoài nghi gì về
những việc ta làm, những điều ta nói? - Tâu bệ hạ,
thần cứ tự hỏi, tại sao lúc này bệ hạ lại hối thúc việc rao giảng ngũ giới và
thập thiện đến thế? Thoáng gợn một chút gì đó trên gương
mặt bình thản của nhà vua. Đoạn ngài chậm rãi: - Không phải
chỉ lúc này ta mới rao giảng về ngũ giới và thập thiện. Nhng lúc này ngũ giới
và thập thiện là cứu cánh cho xã hội. Khanh không thấy hiện tình xã hội ta
đang mắc vướng điều gì sao? Chẳng lẽ khanh không thấy trong ba năm liền, đất
nớc ta phải đương đầu với hai cuộc xâm lăng tàn khốc do giặc dữ Mông - Thát
tràn vào các năm ất Dậu và Đinh Hợi, mỗi lần tới hơn năm mơi muôn(1) quân
sao? Như sực nhớ ra, Nhân Tôn "à" lên một
tiếng: - Phải rồi,
ngày ấy khanh còn nhỏ quá. Mới chỉ hơn 10 tuổi. Phải, khanh có phải đi chạy
giặc. Có biết khổ và cả biết hãi sợ nữa. Nhng thức nhận về tầm nguy hại của
cuộc chiến, ta chắc ngày ấy khanh chưa biết. Khanh chưa
thể hình dung ra sức mạnh của 50 muôn quân với ngựa chiến, tầu thuyền cùng khí
giới tinh nhuệ nhất, với các tướng tài lừng danh của một đội quân bách
chiến. Chưa cần phát tác oai lực, chỉ cần 50 muôn quân ấy đi qua nơi nào,
lập tức biến nơi ấy thành vùng đất chết. Bởi nhà cửa sẽ cháy rụi hết. Cây cối
đổ nát hết. Ngay cỏ trên đường cũng không còn một cọng. Đội quân có sức mạnh
trùm sông núi ấy, với chính sách "tam quang tảo đãng" vô cùng tàn bạo. Nghĩa
là đi đến đâu chúng đốt hết, giết hết, và cướp phá hết. Bởi thế, tất cả
những nơi chúng đã đi qua đều ngợp chìm trong máu và lửa.
Hai cuộc chiến
kinh hoàng làm vậy, ụp lên đầu một đất nước nhỏ yếu với cha đầy bốn triệu
dân, trong vòng ba năm giời. Người yếu bóng vía, chỉ nghe tiếng quân reo,
tiếng ngựa hí của giặc cũng vỡ mật ra mà chết, nói chi đến việc đánh lại
chúng. ấy thế nhưng người mình đã dám kình chống, và đã thắng. Do gồng sức
lên trong cuộc chiến, nên hậu chiến nảy sinh không biết bao tai họa, và cũng
không biết bao nhiêu công việc phải làm. Nào bệnh tật tràn lan. Nào phải dựng
xây lại nhà cửa. Nào phải khôi phục lại những đất đai hoang hóa trong những
năm biến loạn. Nhưng bi thảm nhất vẫn là không khí tang tóc trùm phủ khắp non
sông đất nước. Nhiều nhà, giặc tàn sát không còn sót một sinh linh. Nhiều
làng, giặc triệt hạ thành bình địa. Mồ mả cha ông, giặc cuốc đào.
Có thể nói, nỗi bất hạnh do chiến tranh đem lại được chia phần một cách
không đồng đều cho mỗi gia đình, mỗi thân phận trong cả nước. Nó không chừa,
không tránh một ai. Ngay cả hoàng gia và hoàng tộc cũng thế thôi, cũng phải
chịu tang tóc và đắng cay muôn nỗi. Trong lúc thế nước lâm nguy, buộc ta phải
thuận lòng đưa hoàng cô An Tư vào nộp cho tướng giặc Thoát Hoan, để làm
thư quốc nạn. Rồi hoàng cô cũng thác trong đám loạn quân. Quốc thúc Trần ích
Tắc thì đem cả nhà về hàng giặc, trong lúc thế giặc đang mạnh mẽ như vỡ đê
trời. Giặc đánh vỡ mặt trận phía nam, toàn quân ta và cả triều đình đều ở
trong vòng vây giặc, thì người anh em thúc bá Trần Kiện, đem cả một muôn
quân đi đầu hàng giặc. Y còn tự thân dẫn đường cho giặc truy đuổi quốc thúc
thượng tớng thái sư Trần Quang Khải. Nghĩa đệ của ta, tiểu tướng quân Trần
Quốc Toản thì hy sinh trên đường truy đuổi giặc ở bờ bắc sông Như Nguyệt
trước ngày quân ta toàn thắng chỉ có một hôm. Ôi, còn bao nhiêu chuyện đau
lòng khác, kể sao cho xiết. Lại theo đó, nảy sinh biết bao điều bất như ý
khác. Nhữ Hài, khanh biết đấy, trước chiến tranh,
dân ta sống chất phác, hòa hiếu biết dờng nào. Nay thì nạn cướp của, giết
người lan tràn từ kinh thành đến cả các xóm thôn thưa vắng. Trong nhiều
gia đình, kỷ cương, hiếu đễ lộn đảo: con giết cha, vợ giết chồng, cháu con
hỗn láo ngợc đãi ông bà, cha mẹ vì đói nghèo, vì cùng quẫn. Anh chị em đánh
giết nhau vì tranh đoạt một chiếc niêu đất, một bó rơm. Phải, những thứ đó là
hậu quả của chiến tranh. Vì chiến tranh làm cho con ngời quen lườn với máu,
lửa, giết chóc và tàn bạo. Trước tình cảnh đau lòng ấy, khanh bảo ta
làm cách nào để trục bỏ những thứ đó ra khỏi đời sống xã hội? Ta nghĩ, chỉ còn
cách giáo hóa ngũ giới(2) và thập thiện(3) cho mọi ngời. Nếu nhà nhà đều thức
nhận được về ngũ giới và thập thiện: nếu người người làm theo ngũ giới
và thập thiện thì chẳng bao lâu cái ác phải lui dẹp. Làm như vậy, là ta muốn
hỗ tương cho quan gia đang ráng sức lo cái ăn, cái ở và học hành cho trăm
họ. Ta nghĩ, nếu chuyển xoay được cả phần thế tục và tâm linh cho bách tính,
thì chí ít trong vòng từ 5 đến 10 năm nữa, nước ta mới có cơ phát khởi trở lại, cờng thịnh trở
lại. Khanh nghĩ sao? Láng Thượng ngày 19-4-2001
Hình
trên: Tượng Vua Trần Nhân Tôn thờ tại chùa Yên Tử- Quảng Yên
(1) 1 muôn: 50.000. (2) Ngũ giới: Năm điều răn cấm của nhà Phật: - Không sát sinh (giết hạ sinh vật) - Không trộm cắp. - Không gian dâm. - Không nói càn, bậy. - Không uống rợu. (3) Thập thiện: Gồm ba thứ:
Thân thiện nghiệp do sự hành
động của thân thể gây ra. Khẩu thiện nghiệp do nơi lời nói gây
ra. ý thiện nghiệp do nơi ý nghĩ, tư tưởng
gây ra. |