2. Các giáo phụ và thần học gia tây
phương
2. Đức Giêsu Kitô và lịch sử cứu
độ
3. Đối tượng chất thể và
hình thể của thần học
Thần học kinh viện và thần học
tích cực
Thần học hộ giáo (théologie apologétique)
Thần học mục vụ, truyền giáo,
hiệp nhất
PHẦN III: NHỮNG ĐIỀU KHÔNG THỂ THIẾU
A. Mạc khải- Đức tin- Huấn
quyền
PHẦN V: CHIỀU KÍCH VÀ TRỤC CHÍNH CỦA THẦN
HỌC NGÀY NAY
Tên sách Kinh Thánh được viết tắt theo
bản dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ.
Tên các văn kiện Công Đồng Vaticanô II
được viết tắt theo bản gốc Latin.
DS Denzinger–Schoenmetzer. Enchiridion
Symbolorum Definitionum et Declarationum. Herder, 1963.
LT Sách Linh Thao của
thánh Inhaxiô Loyola.
“Dẫn
nhập thần học” được soạn để
giúp sinh viên dễ dàng định vị điều mình
đang học, cũng như có khái niệm tổng quát
hầu dễ dàng học thần học.
Nội
dung chia làm năm phần:
đầu
tiên nói về ý nghĩa từ ngữ “thần học;”
thứ
đến bàn về đối tượng và mục
đích của thần học;
sau
đó bàn về những điều kiện căn bản
của thần học;
tiếp
nữa về phương pháp thần học;
và
cuối cùng về các đường hướng và
trục chính của thần học ngày nay.
Từ
ngữ “thần học” được dịch từ
chữ la-tinh theologia, hoặc chữ hy-lạp
θεολογια.
Trong
ngôn ngữ Hy lạp, Platon đã gọi các thi sĩ như Homère
và Hésiode là những thần học gia
(Θεολογοι), bởi những thi
sĩ này đã kể lại đời sống các vị
thần linh. Platon cho rằng các bài thơ ngụ ngôn và câu
chuyện thần thoại thực sự là các “lời
về thần linh”[1] mà các thể thơ và
loại văn là những lớp áo.
Aristote
cũng đồng tình với cách dùng từ ngữ
θεολογια của Platon, nhưng
ông còn dùng θεολογια theo nghĩa
mới nữa.[2] Aristote chia tri thức ra
ba loại: tri thức vật lý, tri thức toán học và
tri thức thần học. Theo ngôn từ của Aristote,
thần học cũng là triết học và là chóp
đỉnh của triết học, triết học
thứ nhất, là khoa bàn về các hữu thể như là
hữu thể, là khoa học giải thích các hữu thể
chuyển động bằng hữu thể bất
động; nói tóm lại, thần học là triết
học thứ nhất nghiên cứu về những nguyên
nhân tối cao của thế giới tinh tú thần linh và
hữu hình.[3]
Động
từ Θεολογειν của danh
từ θεολογια, được
dùng để chỉ việc tôn kính hoàng đế như một
thần linh.[4]
Với Panetius de Rhodes và Varron, từ ngữ
θεολογια được dùng theo
ba nghĩa:
·
thần học thần thoại, chỉ những áng
văn thần thoại và những bài thơ ngụ ngôn nói
về các thần linh;
·
thần học tự nhiên hay thần học triết
lý, bàn về những nguyên nhân tối hậu của
thế giới vũ trụ;
·
thần học chính trị hay dân sự, nói về
hoàng đế như một vị thần.[5]
Từ
ngữ “thần học” không được dùng nhiều
trong thời đầu của Giáo Hội. Sở dĩ
vậy, vì từ ngữ “thần học” không có trong Kinh
Thánh, và hơn nữa vì dân ngoại đã dùng từ ngữ
này để chỉ việc sùng bái hoàng đế nên các
kitô hữu tránh dùng chữ này.[6]
Origène
là người đầu tiên dùng từ ngữ “thần
học” để chỉ tri thức về Thiên Chúa theo
nghĩa Kitô giáo. Dù vẫn dùng từ ngữ
“Θεολογοι” (thần học gia)
theo nghĩa dân ngoại, nhưng Origène cũng dùng từ
ngữ “thần học”
(θεολογια) để chỉ
những lời giảng thuyết về Thiên Chúa và về
đức Kitô (sermo de Deo et Christo).
Từ
ngữ “theologein” cũng được Origène dùng
để chỉ việc tuyên xưng đức Kitô là Thiên
Chúa thật.[7]
Với Eusèbe, các giáo phụ hy lạp đã dùng từ
ngữ “thần học” để chỉ giáo lý chân
thực về Thiên Chúa.[8] Eusèbe đã dùng từ
ngữ “thần học theo đức Kitô.”[9]
Corpus
dionysiacum đã thường dùng từ ngữ “thần
học.”[10]
Vào thế kỷ thứ IV do ảnh hưởng
của thần học Byzantin, xuất hiện khuynh
hướng muốn đối nghịch thần học
(Θεολογια) và nhiệm cục
(Οικονομια); “thần
học” ở đây có nghĩa “giáo thuyết về Ba Ngôi”,
những điều liên hệ đến thần tính; còn
“nhiệm cục” được hiểu là những
mầu nhiệm cứu độ trong lịch sử.[11]
Nói
chung, các giáo phụ tây phương không dùng từ ngữ
“thần học;” tuy vậy có lần thánh Augustin (354-430)
đã dùng từ ngữ “thần học chân thực” (vera
theologia) khi muốn hướng dân ngoại về với
Kitô giáo; nhưng ngoài lần đó ra, ngài không dùng từ
ngữ “thần học” để chỉ giáo lý chân
thực về Thiên Chúa lần nào nữa.[12]
Phêrô
Abélard (1079-1142) là người đầu tiên hay dùng từ
ngữ “thần học” theo nghĩa Kitô giáo. Tuy nhiên với
Abélard cũng như trong truyền thống thần học
Byzantin, từ ngữ thần học được dùng
để chỉ giáo trình về Thiên Chúa; còn các mầu
nhiệm của đức Kitô gọi là Beneficia, chứ
không gọi là theologia như chúng ta ngày nay.[13] Các giáo phụ và
những thần học gia của Giáo Hội tây
phương thời đó đã dùng từ ngữ Doctrina
Christiana (thánh Augustin), Sacra Scriptura, Sacra Eruditio, Sacra Pagina hay
Divina Pagina để chỉ điều gọi là thần
học ngày nay.[14]
Sau
Abélard, từ ngữ “thần học” vẫn chưa
được dùng phổ biến, và người ta
vẫn dùng từ Doctrina Christiana của thánh Augustin
để chỉ Sacra Doctrina; điều này kéo dài ở
thế kỷ XII và thậm chí đến sau thời thánh
Thomas nữa.[15]
Thánh Thomas cũng ít khi dùng “thần học” như
từ ngữ đồng nghĩa với Sacra Doctrina;[16] ngài phân biệt “thần
học triết lý” (theologia philosophica) và “thần học
Kinh Thánh” (theologia sacrae scripturae)[17]. Sự phân biệt này
không giống chúng ta phân biệt giữa thần học và thần
lý học (théodicée), nhưng một bên là lời dạy
của triết học ngoại đạo về Thiên Chúa,
và bên kia là lời dạy của Kitô giáo, hàm chứa cả
thần học như chúng ta hiểu bây giờ.[18]
Từ thời giữa thánh Thomas và Scot, “thần
học” được dùng nhiều và trở thành từ
ngữ chuyên biệt để chỉ Sacra Doctrina; thần
học “suy lý” đề nghị dùng từ “thần
học” (theologia) thay thế cho từ ngữ “học
thuyết thánh” (Sacra Doctrina). Điều này cho thấy khía
cạnh suy lý, lập luận được đề cao
nơi thần học kinh viện.[19]
“Thần
học”, theo tiếng Hy Lạp gồm hai từ
“Θεος” và “Λογια”, là “những
lời về Thiên Chúa.”
Vào
thời thượng cổ Hy Lạp, nó được
dùng để chỉ những bài thơ ngụ ngôn và
những áng văn mang màu sắc thần thoại về các
vị thần linh của người Hy Lạp;
đến thời Aristote, từ ngữ “thần học”
còn được dùng để nói về Tuyệt
Đối như “động cơ bất động”,
như nguyên nhân tối hậu của những chuyển
động và của những nguyên nhân đệ nhị;
sau đó từ ngữ này còn được dùng để
ca tụng hoàng đế trần gian, coi những vị này
như những vị thần.
Kể
từ sau Duns Scot, từ ngữ “thần học”
được các kitô hữu dùng với nghĩa
tương tự như các từ Sacra Doctrina, Sacra Scriptura,
Divina Pagina.
“Thần học”, hiểu theo nghĩa kitô, là những
lời về Thiên Chúa, là tri thức về Thiên Chúa và
của Thiên Chúa.
·
“Thần học” là khoa học có Thiên Chúa là đối
tượng, bao hàm những kiến
thức của con người về Thiên Chúa.
·
“Thần học” là tri
thức Thiên Chúa có về chính Ngài, và Ngài thông truyền
cho con người nhờ ân sủng, do ý muốn tự do
yêu thương của Ngài.[20] Tri thức Thiên Chúa có
về chính Ngài và về thế giới, được
thông ban cho con người qua hai mức độ : mức
độ thứ nhất hoàn hảo trong thị kiến
vĩnh phúc, mức độ thứ hai bất toàn qua
mặc khải và đức tin.[21]
Có ba loại tri thức về Thiên Chúa:
thứ
nhất, tri thức con người có được do suy
tư về thế giới được tạo dựng;
thứ
hai, tri thức nhờ Lời Chúa được mặc
khải cho con người;
và
thứ ba, tri thức có được do thị kiến
về Thiên Chúa.
Tương
ứng với ba loại tri thức này là ba loại
thần học: thần học tự nhiên hay thần lý
học, thần học lữ khách hay “thần học”
như vẫn được gọi, và sau cùng là thần
học quê hương hay những tri thức của
những người được tuyển chọn.
Ba
loại tri thức về Thiên Chúa kể trên, khác nhau theo
cách thức đến với Thiên Chúa.[22]
Bình thường khi không nói gì rõ thêm, chúng ta hiểu
“thần học” là những tri thức có được
nhờ mặc khải, được lý trí tìm kiếm
giải thích và hệ thống hóa trong đức tin. Nói theo
ngôn từ của thánh Anselme, thần học là fides quaerens
intellectum.
Phần trước đã tìm hiểu ý
nghĩa từ ngữ “thần học,” trong phần này
sẽ tìm hiểu đối tượng thần học
xét như một khoa học, sau đó đích nhắm
của thần học, và cuối cùng xem việc phân chia các
môn trong thần học.
Một số
người cho rằng đối tượng của
thần học đã hàm chứa trong từ ngữ
“thần học.” Thần học là “lời về Thiên Chúa”
và “lời của Thiên Chúa”, nên đối tượng
của thần học là Thiên Chúa.
Trường phái Thomas
cho rằng: đối tượng của thần học
là Thiên Chúa, nghĩa là, như Thiên Chúa biết chính Ngài và Ngài
thông truyền cho chúng ta nhờ mặc khải.23
Một số thần
học gia khác cho rằng: mặc khải đến
với chúng ta qua những biến cố xảy ra trong dòng
lịch sử nhân loại, và chính những biến cố
này cấu thành lịch sử cứu độ; chẳng
hạn Cựu ước tường thuật những
điều kỳ diệu Thiên Chúa đã làm cho dân Ngài, và Tân
Ước là Tin Mừng về đức Giêsu Kitô; thế
nên, đối tượng của thần học là
đức Kitô và lịch sử cứu độ.[23]
Như vậy đối tượng
của thần học là gì?
Thiên Chúa hay đức
Kitô?
Thiên Chúa hay nhiệm
cục cứu độ?
Theo E. Mersch, đối tượng chất
thể của thần học gồm cả đối
tượng chính là Thiên Chúa lẫn đối tượng
thứ yếu là những công trình của Thiên Chúa.
Đối tượng trung tâm của thần học không
là gì khác ngoài Đức Kitô toàn thể, hay Đức Kitô
mầu nhiệm.[24]
Phê bình:
Đồng ý rằng:
Đức Kitô là trung tâm của lịch sử cứu
độ; Đức Kitô toàn thể (Christ total) là
đối tượng chất thể của thần
học; Mầu nhiệm cứu độ khả tri
nhờ Đức Kitô; Đời sống thần linh
được ban cho con người nhờ và trong
Đức Kitô;
nhưng với
những điều đó, liệu có thể nói Đức
Kitô là đối tượng hình thể (objet formel) của
thần học không?
Câu trả lời là không, vì những lý do sau
đây:
·
Theo
1Ga 4,9.16, Đức Kitô là Đấng biểu lộ
chương trình tình yêu của Thiên-Chúa-cứu-độ
trong lịch sử; nhưng đối tượng tối
hậu của đức tin và của thần học, là
ThiênChúa-cứuđộ-conngười-qua Đức Kitô;
·
Theo
1Cor 3,23: “anh em thuộc về Đức Kitô, còn Đức
Kitô thuộc về Thiên Chúa;” và theo Eph 1:3-7: Thiên Chúa là chính;
trong khi đó theo
viễn ảnh của Mersch, mầu nhiệm Ba Ngôi và
sứ vụ thần linh là thứ yếu.[25]
Bây giờ xem lập
trường của trường phái Thomas. Với
trường phái này, đối tượng chất
thể của thần học là Thiên Chúa, còn đối
tượng hình thể của thần học là Deus sub
ratione deitatis, nghĩa là Thiên Chúa như là Thiên Chúa.[26]
Về đối
tượng chất thể của thần học, thánh
Thomas nói trong Summa Theologiae I, q.1, a.7: “Trong khoa học thánh,
người ta có thể bàn về mọi sự liên hệ
đến Thiên Chúa, hoặc vì những điều này
thuộc về Thiên Chúa (yếu tính, thuộc tính, ngôi
vị), hoặc vì những điều này quy về Thiên
Chúa như nguồn gốc và đích điểm (các tạo
vật, các hành vi nhân linh, lề luật, ân sủng, các nhân
đức, các bí tích).”
Về đối
tượng hình thể, đó là chính Thiên Chúa, là Thiên Chúa
cứu độ con người qua Đức Kitô, là Thiên
Chúa mặc khải trong dòng lịch sử, là Thiên Chúa tỏ
mình là Ba Ngôi Vị. “Tất cả thần học
đều quy tóm về mầu nhiệm Ba Ngôi và Nhập
Thể, nghĩa là về mầu nhiệm Thiên Chúa trong
đời sống thâm sâu của Ngài, và về nhiệm
cục cứu độ (các phương tiện dẫn
con người đến với Ngài)” (St. Thomas, S.T.,
IIa-IIae, q.1, a.8; q.2, a.5).
Chân lý trung tâm của
kho tàng mặc khải, cũng như ý tưởng chủ
đạo hướng dẫn tiến trình mặc khải
từ Cựu Ước đến Tân ước, là Thiên
Chúa cứu độ con người nhờ Đức
Kitô. Chính chân lý này nối kết và thống nhất cả
hai giao ước.[27]
Mầu nhiệm Ba Ngôi
cũng chỉ được mặc khải trong viễn
cảnh cứu độ, để con người
hiểu rằng Thiên Chúa Cha yêu thương và cứu
độ con người qua Đức Kitô và trong Thánh Linh
tình yêu.[28]
Thần học (theologia) là những lời
về Thiên Chúa. Nhưng những lời về Thiên Chúa
(logia) thì không đồng nhất với Thiên Chúa (chỉ có
Logos đồng nhất với Thiên Chúa). Thiên Chúa
vượt trên thần học, vì thần học là một
khoa học, thuộc về tạo vật nên không thể
nắm bắt và gói trọn được Thiên Chúa.
Đối
tượng chất thể của thần học là
những tạo vật, là lịch sử cứu
độ, là các mầu nhiệm Chúa Kitô, là các tín
điều, v.v. Đối tượng hình thể của
thần học là chính Thiên Chúa như là Thiên Chúa, là Thiên Chúa
Ba Ngôi Vị, là chủ thể tự do chứ không là
những sự vật.
Thần học là
một khoa học thực hành hay là một khoa học lý
thuyết? Thần học nhằm mục đích
điều chỉnh hành động của chúng ta, giúp chúng
ta sống tốt hơn, hay thần học chỉ nhằm
giúp chúng ta biết chân lý, biết để biết thôi?
Có những lập
trường khác nhau, chúng ta có thể tóm lại thành
bốn câu trả lời:
·
Đối
với Henri de Gand (†1293), thần học đơn thuần
là khoa học lý thuyết, vì thần học nhắm tri
thức và chiêm ngắm (θεορεω) Thiên
Chúa.
·
Đối
với Alexandre de Hales, Albert le Grand, Duns Scot, thần học
đơn thuần là khoa học thực hành, vì thần
học sưởi nóng lòng sùng kính và thúc đẩy ý
muốn hướng đến sự Thiện tối
hậu.[29]
·
Thánh
Thomas cho rằng, làm thần học để trở nên
tốt hơn và để dẫn người ta
đến sự thánh thiện, nhưng thần học
chủ yếu là tri thức lý thuyết (S.T., Ia, q.1, a.4).
·
Thánh
Bonaventura cho rằng: thần học là khoa học vừa lý
thuyết vừa thực tiễn, nhưng chủ yếu là
thực tiễn, vì thần học nhắm đầu tiên
đến việc làm cho chúng ta tốt hơn (I Sent.,
Proemium, q. 3).[30]
Theo R. Latourelle,
thần học hiện tại có nhiều hướng
phục vụ hơn ngày xưa.[31] Nét đặc
trưng của hoạt động thần học hiện
đại, là ý thức phục vụ Giáo hội hiện
tại.[32]
Trong chiều hướng
này chúng ta thấy mục đích của việc học
thần học là đào tạo các linh mục và những
tông đồ, vì sứ mạng đầu tiên của linh mục
là loan báo lời cứu độ của Thiên Chúa (cf. P.O.,
4).[33]
Trong thần học,
chúng ta thường nghe nói tới thần học căn
bản, thần học tín lý, thần học luân lý,
thần học tu đức, thần học mục
vụ, thần học truyền giáo, thần học
hiệp nhất, v.v.; nhưng ở những thế kỷ
đầu trong lịch sử Giáo Hội, chúng ta không
thấy như vậy. Sự phân chia hay chuuyên biệt hóa
này đã xảy ra theo nhu cầu của thời
đại.
Ở thời thánh
Thomas và Bonaventura, thần học thần bí vẫn nằm
trong thần học; nhưng từ thế kỷ XV đã
có nhiều chuyển biến, và sang thế kỷ XVI đã
xuất hiện những tác phẩm thiêng liêng không còn
khởi từ thần học suy lý như nguồn cảm
hứng, và hơn nữa tác giả của những tác
phẩm này còn được coi như những thần
học gia đúng nghĩa.[34]
Thần học
thần bí, sau đó chuyển biến cả về nội
dung lẫn tên gọi, thành thần học tu đức hay
thần học thiêng liêng.
Từ thế kỷ
XIII đến thế kỷ XV, đã có nhiều thủ
bản thực tiễn dành cho các cha giải tội.
Nhưng từ cuối thế kỷ thứ XVI, luân lý trở
thành một lãnh vực riêng thoát khỏi ảnh
hưởng trực tiếp và cố hữu của tín lý.[35]
Grégoire de Valence trong
Commentarii theologici xuất bản năm 1591 đã nói về
việc chia thần học ra làm thần học kinh
viện (suy lý) và thần học tích cực. Thánh Inhaxiô
Loyola cũng nói thần học gồm kinh viện và tích
cực (LT 363).
Thần học tích
cực đã ra đời từ khi thần học kinh
viện có khuynh hướng bỏ những vấn
đề liên quan đến nhiệm cục lịch
sử cứu độ.[36] E. Schillebeeckx cũng
cho rằng phong trào trở về nguồn của nhân
bản thuyết, đã làm phát sinh sự phân biệt
giữa thần học kinh viện và thần học tích
cực.[37]
Theo Y. Congar, “thần
học tích cực” có hai nghĩa trong lịch sử:
một theo quan niệm văn chương và một theo quan
niệm phương pháp. Nghĩa đầu tiên cũng là
nghĩa thánh Inhaxiô Loyola dùng, và nghĩa này rất phổ
biến, tiêu biểu cho một cách thức làm thần
học; còn nghĩa thứ hai được dùng trong
chiều hướng của Cano, nó chỉ là một
phần của thần học hay một chức năng mà
nhờ đó thần học thiết lập những nguyên
tắc, những nền tảng, những dữ kiện
để suy tư.[38]
Do những chỉ
trích phê bình của các nhà cải cách Tin lành cũng như
của những lạc giáo, một trong những nỗ
lực của thần học tích cực là cho thấy
sự hòa hợp giữa giáo huấn của Giáo Hội
hiện tại với các chứng từ kinh thánh và các giáo
phụ.[39]
Do ảnh hưởng
của ly giáo và của phong trào duy lý, thần học hộ
giáo phát sinh nhằm biện minh: Huấn Quyền
được Thiên Chúa trao sứ mạng loan báo mặc
khải siêu nhiên cho con người (demonstratio catholica et
christiana).
Trước giữa
thế kỷ XVII hộ giáo vẫn nằm chung với tín lý
trong giáo trình kinh viện bàn về đức tin: sự
khả tín và sự chắc chắn chủ quan của
đức tin. Từ giữa thế kỷ XVII trở
đi, hộ giáo trở thành một giáo trình riêng và
thường có tính bút chiến.[40]
Ngày nay từ ngữ
“thần học căn bản” thay thế thần học
hộ giáo.[41]
Từ ngữ “tín lý”
(dogmaticus) đã có trong thần học và được dùng
để đối lập với “luân lý”, nó chỉ cái gì
lý thuyết, bao gồm thái độ và những khẳng
định ý thức hệ chắc chắn.[42]
Vào khoảng những
năm 1680, thần học công giáo không còn dùng từ ngữ
“tín lý” để đối nghịch với “luân lý”
nữa, nhưng để đối nghịch với “kinh
viện.” Thần học tín lý ở đây nhằm
thiết lập cái gì thuộc về đức tin
được mặc khải, và không bận tâm
đến những vấn đề kinh viện.
Thần học tín lý
hiện tại trình bày giáo lý công giáo không như một
hệ thống, nhưng như một giải thích dữ
kiện đức tin trong tương quan rất gần
với nguồn và với cách diễn tả của các nguồn
này.[43]
Vào
thế kỷ XX này, do nhu cầu và hoàn cảnh mục
vụ, truyền giáo và hiệp nhất, đã xuất
hiện nhưng giáo trình riêng biệt về mục vụ,
hiệp nhất và truyền giáo.[44]
Khởi
phát giữa các cộng đoàn kitô hữu tham dự vào phong
trào giải phóng ở Châu Mỹ La Tinh, thần học
giải phóng không chỉ suy tư và giải thích
dưới ánh sáng Lời Chúa tiến trình và công cuộc
giải phóng trong hoàn cảnh và những điều
kiện lịch sử và chính trị cụ thể hôm nay,
mà còn giải thích lại sự phong phú của đức
tin,[45] khởi đi từ
việc thực hiện công cuộc giải phóng này.
Ở
trên đã lược qua tiến trình chuyên biệt hóa trong
thần học, bây giờ sẽ liệt kê các giáo trình
thần học được giảng dạy trong các phân
khoa thần học. Cụ thể, xin lấy chương
trình của Giáo Hoàng Học Viện thánh Piô X- Đà lạt
vào những niên khóa 73-74, 74-75 làm thí dụ.
Vấn
đề Thiên chúa và tôn giáo.
Mặc
khải.
Đức
Tin như lời đáp.
Nguồn
gốc Giáo Hội và cơ cấu Giáo Hội.
Các
nôi thần học (De locis theologicis).
Dẫn
nhập thần học: vấn đề thần học.
Mầu
nhiệm Thiên Chúa duy nhất, ba ngôi.
Nguồn
gốc thế giới và con người. Trật tự
siêu nhiên. Tội.
Kitô
học (Nhập thể, Cứu chuộc).
Thánh
Mẫu học.
Ân
sủng và các nhân đức.
Mầu
nhiệm Giáo hội.
Bí
tích đại cương. Các bí tích khai tâm. Các bí tích khác.
Cánh
chung học.
Dẫn
nhập tổng quát vào Cựu và Tân Ước.
Tin
Mừng nhất lãm và Công vụ sứ đồ.
Các
thư Phaolô và các thư công giáo.
Tin
Mừng thứ tư và các thư Yoan.
Dẫn
nhập đặc biệt vào Cựu Ước (sách
lịch sử, tiên tri, khôn ngoan).
Chú
giải những đoạn chọn lọc trong Cựu
Ước.
Những
chủ đề giáo lý chính của Cựu và Tân
Ước.
Luân lý căn bản (Mục
đích con người; Trách nhiệm; Luật; Lương
tâm; Tội).
Luân lý chuyên biệt:
Các giới răn Thiên Chúa (I-IV, V,
VIII) và giới răn Giáo Hội.
Công
bình (giới răn VII và X).
Luân
lý các bí tích (trừ Hôn phối).
Giới
tính (giới răn VI và IX) và Hôn phối.
Các
nhân đức đối thần: tin, cậy, mến.
Hùng
biện.
Thánh
nhạc.
Những
nguyên tắc thần học của mục vụ.
Mục
vụ phụng vụ.
Tông
Đồ giáo dân.
Săn
sóc các linh hồn.
Huấn
giáo.
Các
phương tiện truyền thông.
Thần
học đời sống thiêng liêng.
Những
nguyên tắc thần học. Năm phụng vụ.
Phụng
Vụ Thánh Thể.
Các
giờ kinh phụng vụ.
Lịch
sử Giáo hội.
Lịch
sử truyền giáo.
Giáo
luật.
Giáo
phụ.
Tiếng
Hy lạp kinh thánh.
Tiếng
Do thái.
Khảo
cổ Kitô giáo.
Phật
giáo. Ấn độ giáo.
Các
tôn giáo Trung Hoa. Các tôn giáo Việt Nam
Ở trên là chương trình nhằm đào tạo
linh mục mà tất cả các chủng sinh ứng viên linh
mục đều phải học. Nếu chủng sinh
muốn lấy văn bằng cử nhân thần học,
thì sẽ phải học một số môn khác, chẳng
hạn:
Các cuộc hiện ra của Chúa
phục sinh: vấn đề chú giải. Phép rửa trong
các thư Phao lô (nghiên cứu thần học Kinh Thánh).
Đức tin trong văn
chương Gioan (nghiên cứu thần học Kinh Thánh).
Luân
lý của Tân Ước.
Thư
Roma.
Tập đoàn tính của giám
mục và quyền ưu tiên của giáo hoàng (nguồn
gốc vấn đề, triển khai hiện đại,
các hệ quả thần học và mục vu).
Các lý thuyết hiện
đại về tội nguyên tổ (trình bày và tổng
hợp).
Thần
học “cái chết của Thiên Chúa” (nghiên cứu trực
tiếp các tác giả tiêu biểu cho khuynh hướng này).
Thần
học về hoạt động truyền giáo.
Thần
học các tôn giáo ngoài Kitô giáo.[46]
Nói tới tri thức, là đã hàm chứa phải có lý
trí và ngôn ngữ. Mỗi khoa học đều có những
tiên đề (axiomes). Những tiên đề là những
điều hiển nhiên, đơn giản đến
độ không thể chứng minh được nữa;
chẳng hạn nơi hình học có tiên đề “đường
thẳng là đường ngắn nhất giữa hai
điểm.”
Từ
những tiên đề này người ta đi tới
những tri thức chắc chắn khác có thể chứng
minh được dựa trên các tiên đề[47] và những định
nghĩa.[48]
Đâu là tiên đề của triết học? Đó
là:
Có
một tương quan hữu cơ nội tại giữa
các hữu thể.
Đây
là điều kiện nền tảng, là giả sử
cơ bản của mọi khoa học vì triết học
là khoa học nền tảng của mọi khoa học.[49] Nếu phủ nhận
tương quan hữu thể này, là phủ nhận mọi
tương quan nhân quả giữa hữu thể, giữa
vạn sự vạn vật.
Mỗi hệ thống triết học lại có
những tiên đề của nó, dù nó có được minh
nhiên nói tới hay không. Chẳng hạn triết của Karl
Marx chủ trương duy vật, phủ nhận tinh
thần, và như vậy tiên thiên phủ nhận
tương quan hữu hạn- vô biên, phủ nhận
khả năng đọc được cái vô biên siêu việt
nơi những cái cụ thể, đưa tới vô
thần. Triết học Aristote-Thomas, chấp nhận tri
thức phổ quát có được nhờ tri thức
những vật cụ thể đặc thù bằng
khả năng trừu xuất của lý trí, và như
vậy dễ đi đến chấp nhận hữu
thể tuyệt đối.
Những tiên đề của các khoa học và
những tiên đề của triết học, liệu có
thể gọi được là những niềm tin khoa
học và niềm tin triết học không?[50]
Hành
vi tin đúng nghĩa, không là tin vào sự vật hay
điều gì đó, mà là tin vào ngôi vị. Tin là thái
độ của ngôi vị đối với ngôi vị.
Tiên đề khoa học là những điều mà nhiều
người cho là đúng; và như vậy có thể nói,
những người chấp nhận những tiên
đề đó, tin vào chính mình, họ cho rằng ý kiến
hay cái nhìn của họ là đúng, là chân lý. Hiểu như
vậy, có thể cho rằng các tiên đề khoa học và
triết học là niềm tin khoa học và triết
học.
Tiên đề của thần học là những tín
điều, là mặc khải của Thiên Chúa cho con
người được Huấn Quyền giải thích,
là đối tượng tin của dân Chúa. Không chấp
nhận điều này, không có khoa học thần học.[51]
Thần
học là khoa học về Thiên Chúa, là hệ thống tri
thức về ngôi vị sống động và tự do.
Những chân lý được mặc khải cho con
người về Thiên Chúa ngôi vị, giúp con người
hiểu Thiên Chúa trong mức độ nào đó.
Để
hiểu hơn về một ngôi vị, ngay cả ngôi vị
đó là con người, chúng ta cần tình yêu và đức
tin; cũng vậy, để trở thành thần học
gia chân chính, người ta không chỉ đơn thuần
phải chấp nhận như chân lý, điều Kinh Thánh
dạy và Huấn Quyền giải thích, nhưng chính
yếu người ta phải tin yêu Thiên Chúa ngôi vị,
thực tại sống động. Chính Thiên Chúa ngôi vị
là đối tượng thần học, chứ không
phải những chân lý “tĩnh” và “chết.”
Thần
lý học (théodicée) khởi từ những dữ kiện
tự nhiên để nhận biết sự hiện
hữu và những phẩm tính của Thiên Chúa, còn thần
học khởi từ mặc khải để biết
Thiên Chúa; thần lý học cung cấp những tri thức
về Thiên Chúa nhưng chúng giới hạn vì chỉ
tựa vào lý trí, còn thần học tựa vào mặc
khải nên giúp hiểu rõ hơn về Thiên Chúa như Thiên
Chúa ngôi vị, Đấng luôn yêu thương và muốn cứu
độ con người.
Có
thể hiểu biết về một người qua dáng
vẻ cử chỉ của người đó, nhưng
nếu được người đó tỏ lộ tâm
tình thì sẽ hiểu người đó sâu xa và chắc
chắn hơn; cũng tương tự vậy với
thần lý học và thần học. Mỗi ngôi vị là
một mầu nhiệm, và nếu không được ngôi
vị đó mặc khải, người ta khó có thể
hiểu biết sâu xa và chính xác về ngôi vị đó.
Thần
học là những tri thức có hệ thống về Thiên
Chúa. Thần học có nguồn gốc là Thiên Chúa và có
điểm tới cũng là Thiên Chúa, nên thần học
giúp con người biết và sống với Thiên Chúa. Thiên
Chúa tự tỏ lộ mình cho con người qua mặc
khải, và chỉ trong tương quan tình yêu giữa ngôi
vị, con người mới hiểu biết đúng
đắn về Thiên Chúa thôi.
Mặc
khải với những biến cố và lời giải
thích, là những dữ kiện của thần học, và
hơn nữa là quy phạm của thần học, là
những tri thức mà thần học phải quy chiếu
về và lấy nó làm mẫu mực.
Thần
học không chỉ là một công trình của con
người dùng lý trí suy tư trên những chất liệu
được coi là mặc khải, nhưng chính yếu,
thần học là khoa học đức tin. Thần
học, đòi những người suy tư phải tin.
Nếu
không có đức tin, người ta có thể nghiên cứu
về Kitô giáo, về niềm tin của những kitô
hữu, về những tín điều của đạo
một cách khoa học, nhưng như vậy chưa
phải là thần học mà chỉ là cái học của con
người nghiên cứu về cái gọi là thực tại
siêu nhiên.[52]
Không
có đức tin, không thể có thần học đúng
nghĩa. Hiểu như vậy những người
lạc giáo cố tình[53] không thể là những
thần học gia đúng nghĩa được.[54]
Theo
thánh Thomas, “lạc giáo là người, dù chỉ từ
chối không tin một điều khoản của
đức tin, thì họ cũng không có thái độ
đúng đắn của đức tin, dù là đức tin
trưởng thành hay đức tin còn lờ mờ.
Những điều khoản khác của đức tin mà
họ không sai lầm thì họ không nhìn như những tín
hữu đích thực nhìn, tức là thái độ gắn
bó với Chân Lý tuyệt đối. Người lạc
giáo chấp nhận những tín điều, vì những
điều này hợp với ý muốn và phán đoán riêng
của họ.”[55]
Nơi
những người lạc giáo cố tình, không có sự
chắc chắn tuyệt đối của đức tin-
sự chắc chắn vì được đặt nền
trên uy quyền của Thiên Chúa và ân sủng của Ngài, mà
chỉ có sự chắc chắn của một ý kiến cá
nhân, một phán đoán nhân loại. Công trình của
người lạc giáo nghiên cứu thần học, là công
trình hệ thống hóa những điều được
chấp nhận là đúng[56].
Trong
đức tin, con người nhận biết Thiên Chúa và
hiểu được những điều Thiên Chúa
muốn tỏ lộ cho con người. Trong đức
tin, những suy tư của con người về Thiên Chúa
và về những biến cố mặc khải trở
thành thần học, bởi vì trong đức tin, những
suy tư này trở thành sống động trong thực
thể sống là Hội Thánh, chứ không phải là
những ngôn từ chết không ý nghĩa. Trong đức
tin, thần học giúp con người tiếp cận,
vươn tới và gặp gỡ Thiên Chúa ngôi vị
như là Đấng đang tỏ lộ và gặp gỡ
con người. Chỉ với đức tin, con
người mới trở thành thần học gia đúng
nghĩa.
Đức
tin vào Thiên Chúa ngôi vị mặc khải trong dòng lịch
sử, được biểu lộ cụ thể qua
việc vâng phục huấn quyền Hội Thánh.
Thiên
Chúa muốn cho tất cả mọi người
được cứu độ và nhận biết chân lý (1Tm
2:4). Ngài đã chọn một số những người
đặc biệt để mặc khải, để
họ loan truyền sứ điệp mặc khải
đến toàn dân Israel, như Abraham, Môsê, các thẩm phán,
các tiên tri v. v.; cũng vậy Thiên Chúa dùng một số
người đặc biệt để loan truyền và
bảo toàn mặc khải đã được thực
hiện trong dòng lịch sử, đó là Giáo Hội giáo
huấn.
Huấn
quyền không ở trên mặc khải, nhưng phục
vụ mặc khải. Dưới sự hướng
dẫn của Thánh Thần, Huấn Quyền
được trao trọng trách giải thích mặc
khải và bảo vệ mặc khải cho nguyên vẹn.
Trọng
trách lưu truyền và bảo vệ mặc khải đã
được trao cho tập đoàn tông đồ và
những người kế thừa các Ngài, đó là tập
đoàn giám mục và đặc biệt thủ lãnh giám
mục đoàn là giám mục Roma kế vị Phêrô (Mt 16:17-19;
28:18-20).
Với cùng dữ kiện mặc khải, con
người có thể có những cái nhìn khác nhau, và thậm
chí đôi khi còn đối nghịch nhau.[57] Vì thế Huấn
Quyền được trao trách vụ bảo toàn và lưu
truyền mặc khải.
Thần
học cũng là công trình của con người, và trong
mức độ biểu lộ và diễn tả niềm
tin của dân Chúa mà thần học là công trình của Giáo
Hội toàn thể. Vì vậy, thần học chỉ là
thần học đúng nghĩa khi thần học phản
ánh niềm tin của dân Chúa, được biểu hiện
cụ thể qua phán đoán chính thức của Huấn
Quyền. Đi ngược với niềm tin của dân
Chúa và giáo huấn của Huấn Quyền, là không hiệp
thông với Hội Thánh, và nếu vậy không thể
biết Thiên Chúa cách đúng đắn và chính xác
được, và như vậy không thể là thần
học đúng nghĩa được.
Tin
vào Thiên Chúa mặc khải trong dòng lịch sử, hiệp
thông với những người tin, được
diễn tả cụ thể qua việc thông hiệp
với Huấn Quyền, là những điều không
thể thiếu nơi những người làm công tác
thần học. Ba điều này không chỉ đơn
thuần là những tiên đề của thần học,
nhưng nó làm cho thần học là thần học, là khoa
học về những ngôi vị thần linh đích
thực. Thiếu một trong ba yếu tố trên, không là
thần học đích thực.
Không có lý trí thì không có tri thức, không có khoa học.
Aristote
coi khoa học như những tri thức chắc chắn và
có thể suy diễn được. Mức độ
đầu tiên, khoa học là vật lý hay triết lý về
vũ trụ (vũ trụ luận); mức độ
thứ hai, là số học và hình học; và mức
độ thứ ba, là siêu hình học.[58] Khoa học là những
tri thức chắc chắn và có giá trị với mọi
thời đại, vì khoa học được xây
dựng khởi từ những điều hiển nhiên nhất;[59] khoa học có tính
diễn dịch, vì khoa học có thể liên kết các
hệ quả của nó với những nguyên tắc
phổ quát.[60]
Ngày
nay, người ta coi khoa học là những tri thức có hệ thống và có phương pháp nghiên cứu riêng
về một đối
tượng nào đó.[61] Như vậy, thần
học thỏa mãn những điều kiện để
là một khoa học.
Với những khoa học khác, lý trí có giá trị
độc tôn và tuyệt đối; nhưng đối
với khoa thần học, lý trí có giá trị và chỗ
đứng đặc biệt của nó: nó được
ánh sáng đức tin soi chiếu và dẫn dắt.
Người
suy tư thần học chấp nhận những
điều Thiên Chúa mặc khải là chân lý; chức
năng của lý trí là tìm kiếm và đào sâu, trình bày chân lý
mặc khải cho người ngày nay hiểu biết và
chấp nhận cách dễ dàng hơn. Chính đức tin vào
Thiên Chúa ngôi vị đã làm cho các tín hữu chấp
nhận những điều Thiên Chúa mặc khải là chân
lý. Đức tin và lý trí không mâu thuẫn hoặc
đối kháng nhau, vì đức tin có đối
tượng là ngôi vị, và đối tượng của
lý trí có tính phi ngôi vị. Với tình yêu và lòng tin, con
người hiểu biết và thông cảm nhau hơn là
chỉ dùng lý trí để suy đoán.
Điểm
tới của thần học, là hiểu biết Thiên Chúa
ngôi vị- Đấng mà chúng ta tin, chứ không phải là
hiểu biết những biến cố này nọ; những
biến cố đó thuộc lãnh vực của khoa học
tự nhiên hoặc nhân văn chứ không thuộc phạm
vi của thần học; nếu thần học đề
cập đến những biến cố, thì những
biến cố này là những biến cố siêu việt, có
tính mặc khải, giúp chúng ta vượt qua những
biến cố để đi tới với Thiên Chúa:
thần học không dừng ở những biến cố
tự nhiên, mà vươn lên tới Thiên Chúa ngôi vị.
Khi
nào thần học chỉ dừng lại cái biết
“sự vật” hay cái biết tĩnh phi ngôi vị, thì lúc
đó thần học là thần học “chết”, hay
đúng hơn nó không còn là thần học nữa; lúc đó,
nó cũng chỉ ngang tầm với các khoa học tự
nhiên hoặc nhân văn xã hội thôi; lúc đó nó không giúp con
người gặp Thiên Chúa ngôi vị nữa, và không
chừng nó còn cản người ta gặp gỡ Thiên Chúa
nữa nếu nó làm người ta chỉ có tham vọng
biết những khái niệm và phạm trù về Thiên Chúa
để nói, chứ không còn ao ước gặp gỡ
Thiên Chúa ngôi vị nữa; lúc đó thần học chỉ
đơn thuần là lời con người về Thiên
Chúa, các tín điều chỉ là những điều
được chấp nhận là đúng, như những
tiên đề của mọi khoa học khác, chứ không còn
là lời diễn tả mặc khải của Thiên Chúa
nữa. Chỉ với đức tin và trong đức tin,
thần học mới thực sự là thần học.
Trong thần học, lý trí vẫn thực thi chức
năng của nó như trong mọi khoa học tự nhiên.
Thần học vẫn tuân theo tất cả các quy luật
lý luận, cùng những đòi hỏi của một khoa
học về phương pháp, hệ thống.
Thần
học cho thấy sự kiện “Thiên Chúa Mặc Khải
Trong Lịch Sử Và Qua Lịch Sử” và sự kiện
“Giáo Hội Như Kho Tàng Và Trung Gian Của Lời Mặc
Khải Trong Dòng Thời Gian”, là khả tín. Thần học
cho thấy các chân lý mặc khải không phải là điều không có thể hoặc
vô nghĩa, nhưng là điều khả tri. Thần
học giúp hiểu biết các mầu nhiệm mặc
khải sâu xa hơn.[62]
Trong thần học khi nói lý trí được
đức tin soi dẫn, không có nghĩa đánh giá thấp
lý trí.
Có
nhiều người cho rằng lý trí độc lập
với tất cả, và không chỉ thế, mà còn
điều khiển cả ý chí; điều này
được xác chuẩn khi người ta biết câu
“voluntas sequitur intellectum” rất thịnh hành nơi triết
gia kitô giáo thời trung cổ. Thực ra vấn đề
không đơn thuần như vậy, Đức Phật
đã nhận thấy lý trí bị mê lầm; và vào thế
kỷ XX này, Sigmund Freud cho thấy cách thức tinh vi mà lý trí
bị tư lợi hủ hóa từ nơi sâu thẳm
của vô thức.
Theo
Freud sự chọn lựa của một người tác
động đến suy nghĩ của họ, và sau đó
những lý luận- được điều khiển
theo chiều hướng này, biện minh cho sự chọn
lựa theo tư lợi của họ.
Như
vậy không phải lúc nào ý muốn cũng đi sau lý trí
(voluntas sequitur intellectum), nhưng nó thường đi
trước và ra lệnh cho lý trí.[63] Trong chiều
hướng này, có thể coi triết thuyết duy vật
và quan điểm về tri thức của Mars, là hậu
qủa của ý muốn phủ nhận Thiên Chúa.
Hiện hữu một tương quan giữa hữu
thể- lý trí- ngôn ngữ, là điều kiện hay tiên
đề nền tảng để có tri thức và khoa
học. Tương quan hữu thể này, hàm chứa nguyên
nhân nhân quả, hàm chứa lý trí có khả năng nhận biết
tương quan giữa hữu thể với nhau, hàm
chứa lời có thể diễn tả phần nào
được hữu thể. Bây giờ chúng ta xét
tương quan giữa ngôn ngữ và Thiên Chúa như
đối tượng của thần học.
Thần học là những lời (logia) về Thiên
Chúa (qeoV); nhưng lời về Thiên
Chúa đâu có đồng nhất với Thiên Chúa. Chúng
chỉ có tính dấu chỉ và loại suy.
R.
Latourelle cho rằng khi khẳng định “Đức Kitô
có hai bản tính nhưng chỉ là một ngôi vị”, các
thần học gia cho rằng những từ ngữ này
phản ánh thực tại một cách tuyệt đối
chắc chắn; và vì vậy họ nghiên cứu tìm kiếm
để hiểu thực tại.[64]
Mọi
người đều nhất trí rằng giữa thực
tại và ngôn ngữ có sự tương hợp nào đó,
và ngôn ngữ không hoàn toàn đồng nhất với
thực tại được đề cập tới.
Theo truyền thống đông phương, ngôn ngữ
chỉ là phương tiện để chuyển ý. Ta
phải cố gắng lãnh hội được ý
người ta muốn diễn tả, đừng qúa nô
lệ vào từ ngữ. “Bè để qua sông, qua sông hãy
bỏ bè”, “lời để chuyển ý, được ý
hãy quên lời”, “ngón tay chỉ mặt trăng, phải nhìn
hướng ngón tay chỉ chứ đừng nhìn ngón tay.”
Ngày
nay nhiều người đồng ý rằng, ngôn ngữ
không chỉ là quy ước, nhưng còn là biểu
tượng nữa. Trong ngôn ngữ có những từ
ngữ biểu tượng, có những phép ẩn dụ,
v.v. Ngôn ngữ thần học diễn tả Thực
Tại Sống Động là Thiên Chúa ngôi vị, nhưng
ngôn ngữ thần học cũng giới hạn như
chính người suy tư thần học. Ngôn ngữ không
thể diễn đạt hoàn toàn được Thực
Tại sống động là Thiên Chúa, nên ngôn ngữ
thần học thường mang tính ẩn dụ hoặc
loại suy.[65]
“Đức
Giêsu là Con Thiên Chúa.” Từ ngữ “con” nơi loài
người chỉ một người được sinh
bởi một người khác, có sau người sinh ra
họ; nhưng theo đức tin kitô, Ngôi Lời không
hiện hữu sau Thiên Chúa mà lại có từ trước
vô cùng với Thiên Chúa.
Khi
nói “Thiên Chúa là tình yêu” hoặc khi đề cập đến
“sự công chính của Thiên Chúa”, thánh Gioan và thánh Phaolô không
hiểu từ ngữ “tình yêu” và “công chính” theo nghĩa
đen hay nghĩa bóng mà hiểu theo nghĩa loại suy:
Thiên Chúa là một cách tuyệt hảo những gì được
gọi là “tình yêu” và “công chính” nơi con người.[66]
Theo
Aristote, cách diễn tả loại suy hàm chứa cách
diễn tả ẩn dụ (métaphore) nhưng cách diễn
tả ẩn dụ không hàm chứa cách diễn tả
loại suy. Loại suy và ẩn dụ là hai cách diễn
tả liên hệ với nhau, nhưng không tương
đương với nhau.[67]
Trong
siêu hình và thần học, người ta còn phân biệt
loại suy hữu thể (analogia entis) và loại suy
đức tin (analogia fidei). Theo R. Latourelle, thần học
gia tin lành Karl Barth đối kháng giữa loại suy
hữu thể và loại suy đức tin, nhưng Karl Barth
không trung thành với quan điểm của ông.[68] Theo quan điểm công
giáo, loại suy đức tin là loại suy hữu thể
được dùng trong lãnh vực các mầu nhiệm, và nó
phải quy hướng về đức tin và theo quy
luật của đức tin.[69]
Trong phần này chúng ta đã thấy ngôn ngữ và lý
trí là những yếu tố cấu thành của mỗi khoa
học. Trong thần học, ngôn ngữ thường
được dùng là ngôn ngữ loại suy. Lý trí vẫn
dùng tất cả kỹ năng lý luận để
vươn tới Sự thật, nhưng lý trí vẫn có
vị thế rất đặc biệt trong thần
học: lý trí được đức tin soi sáng và
hướng dẫn.
Nếu
chỉ chấp nhận
“những-điều-được-gọi-là-mặc-khải-và-được-Huấn-Quyền-giải-thích
là chân lý”, rồi từ đó người ta suy luận
để làm thành một công trình, thì công trình đó không là
thần học đúng nghĩa. Để làm thần
học, người suy tư thần học phải có
đức tin; chính đức tin hướng dẫn lý trí
và giúp con người gặp Thiên Chúa như đối
tượng của thần học.
Theo R. Latourelle, phương pháp của mỗi khoa
học được xác định từ đối
tượng và mục đích của nó.
Đối
tượng của thần học là Thiên Chúa và
chương trình cứu độ của Ngài. Mục
đích của thần học là hiểu biết Thiên Chúa và
chương trình cứu độ con người, nhằm
dẫn đưa con người đến sống
thiết thân với Ngài.
Phương
pháp thần học bao hàm hai thời chính:
· thứ nhất, xác
định đối tượng tin. Đây là thần
học với chức năng tích cực (fonction positive);
· thứ hai, tìm hiểu
biết đối tượng tin. Đây là thần
học với chức năng suy lý (fonction spéculative).
Một
số người còn gọi thần học với
chức năng tích cực là thần học tích cực hay
thần học lịch sử (théologie historique), và thần
học với chức năng suy lý là thần học
hệ thống (théologie systématique). Một số khác coi
thần học gồm phần tín lý[70] (partie dogmatique) và
phần hệ thống (partie systématique).
Tích
cực và suy lý, tín lý và hệ thống, là hai chức
năng chính của thần học;[71] nhưng theo Y. Congar,
thần học còn có một chức năng khác nữa,
đó là biện minh bảo vệ mà ngày nay người ta
gọi là thần học căn bản.[72]
Trong
phần này chúng ta sẽ đề cập đến ba
chức năng[73] tích cực, hộ giáo và
suy lý của thần học.
Thần
học tích cực thu lượm và hệ thống hóa
những dữ kiện mặc khải- tiềm ẩn
hoặc minh nhiên trong Kinh Thánh, Truyền Thống và Huấn
Quyền.[74]
Thần
học tích cực nghiên cứu cách thức Thiên Chúa mặc
khải cho con người, cách thức Ngài làm cho con
người cảm nghiệm hữu thể thần linh
của Ngài, cũng như ý nghĩa của những hành
động Ngài thực hiện trong dòng lịch sử. Vì
thế thần học tích cực nghiên cứu tương
quan của Thiên Chúa với dân Israel, cũng như việc
tỏ lộ của Ngài nơi Đức Giêsu Kitô và nơi
các chứng từ tông đồ.
Thần
học tích cực tìm xác định điều Thiên Chúa
mặc khải, dù rõ ràng hay ẩn tàng. Thực vậy,
những tín điều “thần tính của Đức
Kitô”, “Đức Kitô có hai bản tính”, “Đức Maria vô
nhiễm nguyên tội”, “Đức Maria lên trời cả
hồn lẫn xác”, đâu có cùng một mức độ rõ
ràng như nhau!
Thần
học tích cực nghiên cứu xem mặc khải tiến
bộ như thế nào trong lịch sử, từ
đầu cho tới thời đại các tông đồ.
Thần
học tích cực phải xác định đâu là
điều Huấn Quyền đã đề nghị,
đề nghị cách minh nhiên hay ẩn tàng, với uy
quyền nào Huấn Quyền đã đề nghị
điều đó- thường huấn hay đặc
huấn (magistère ordinaire or extraordinaire).
Thần
học tích cực cố gắng cho thấy trọn
vẹn lịch sử đối tượng đức
tin trong toàn bộ mặc khải, trong việc lưu
truyền mặc khải và tất cả các hình thức
diễn tả đức tin.
Thần
học tích cực là khoa học về nội dung mặc
khải, cho biết dữ kiện mặc khải trong toàn
bộ một cách khoa học, có phương pháp và thấu
đáo cặn kẽ[75].
Thần
học tích cực cũng phải cho thấy rằng có
sự liên tục giữa lời giảng dạy hiện
tại của Giáo Hội và sứ điệp của Giáo
Hội tiên khởi. Điều ngày nay Giáo Hội giảng
dạy cũng chính là điều Giáo Hội tiên khởi
đã giảng dạy.[76]
Thần
học tích cực nghiên cứu ba lãnh vực, Kinh Thánh,
Truyền Thống và giáo huấn Huấn Quyền. Cả ba
này tạo thành cái mà người ta gọi là các nguồn
thần học hay cái nôi thần học. Thần học
phải dựa vào đó để nhận biết mặc
khải với tất cả sự phong phú và đa
dạng.[77]
Thần học tích cực “Kinh Thánh” dựa vào chú
giải; thần học tích cực “truyền thống”
dựa trên chứng từ của các giáo phụ, của các
tiến sĩ Giáo hội, của các thần học gia, của
phụng vụ, của lịch sử Giáo Hội, cũng
như đời sống đức tin hiện tại
của dân Chúa.
Các
giáo phụ là những người sống thời xưa,
vào khoảng thế kỷ VII ở Tây Phương và
thế kỷ VIII ở Đông Phương về
trước, trổi trang trong giáo huấn chính thống
cũng như về đời sống thánh thiện,
được sự phê chuẩn của Giáo Hội cách
minh nhiên hoặc ẩn tàng. Nếu thiếu một trong
những yếu tố này thì không thể được coi
là giáo phụ, mà chỉ được coi là những
văn sĩ trong Giáo Hội, như Origène và Tertullien.
Các
tiến sĩ Hội Thánh là những người không
chỉ trổi trang trong đời sống thánh thiện,
mà còn trổi vượt trong việc giáo huấn và
củng cố giáo lý trong Giáo Hội, được sự
phê chuẩn đặc biệt của huấn quyền.
Họ được coi là những vị thầy đích
thực trong đức tin kitô giáo.
Thần học tích cực “Huấn quyền” nghiên
cứu những tuyên bố và giáo huấn của Huấn
quyền được diễn tả dưới mọi
hình thức, nhằm biết đức tin của Giáo
Hội được diễn tả qua Huấn Quyền.[78]
Người
ta cũng nghiên cứu trên những gì các nhà thần học
nói, bởi vì nếu tất cả những nhà thần
học đều nhất trí về một điểm nào đó,
thì cũng có thể coi
điều đó thuộc đối tượng phải
tin.
Nghiên
cứu trên phụng vụ cũng giúp xác định
đối tượng tin, vì “Lex orandi, lex credendi.”
Lịch
sử Giáo Hội cũng giúp xác định và hiểu
những điều phải tin cách đúng đắn.
Người ta cũng phải nghiên cứu để
thấy dân Chúa trong lịch sử đã tả diễn
đức tin như thế nào, và hiện tại diễn
tả ra sao. Các phạm trù thần học như mặc
khải, truyền thống, linh ứng, ân sủng, bí tích,
bản tính, ngôi vị, siêu nhiên, mầu nhiệm v.v.,
đều được hình thành trong dòng thời gian
với những hoàn cảnh lịch sử và văn
chương nhất định.[79]
Thần
học tích cực sử dụng cả khoa ngôn ngữ
học lẫn khoa lịch sử, nhưng sử dụng
chúng trong viễn cảnh đức tin. Thần học tích
cực cũng xem Cựu ước và Tân ước là
những sách được linh ứng, và coi các tác giả
được linh ứng là những chứng nhân của
Thiên Chúa. Lý trí của thần học tích cực
được đức tin soi sáng và được
hướng dẫn bởi Huấn quyền.[80]
Thần học tích cực thường theo tiến
trình hồi cố (régressive) hoặc phát sinh (génétique).
Được gọi là tiến trình hồi cố vì nó
khởi từ giáo huấn hiện tại của Giáo
Hội để đi lần lên ngọn nguồn của
giáo huấn này. Có thể xảy ra trường hợp
ở ngọn nguồn này, giáo huấn ấy còn mù mờ.
Như vậy, tiến trình hồi cố khởi từ cái
rõ ràng hiện tại, được diễn tả trong
giáo huấn bình thường hoặc đặc biệt
của Giáo Hội, và đi lần lên nền tảng
của giáo huấn này.[81]
Tiến
trình phát sinh (génétique) khởi từ mặc khải, và
sử dụng những dữ kiện cùng phương pháp
phê bình văn chương hoặc lịch sử để
xác định bản văn và ý nghĩa của nó- như
nó là trong hoàn cảnh xã hội, văn hóa và tôn giáo thời
đó. Thần học tích cực theo tiến trình phát sinh
tìm cách vẽ lại lịch sử mặc khải đã
xảy ra trong qúa khứ, từng giai đoạn một, và
cố không bị thành kiến bởi giáo huấn hiện
tại của Giáo Hội chi phối. Nó cũng cho thấy
các chủ đề Kinh Thánh phát triển và hòa hợp
như thế nào trong dòng thời gian. Nếu xảy ra
trường hợp kết luận của công trình nghiên
cứu trái với giáo huấn chính thức của Huấn
Quyền, thì nhà thần học phải tìm một giải
đáp cho sự bất tương hợp này bằng
việc nghiên cứu lại bản văn cách kỹ
lưỡng và sâu xa hơn. Kết qủa của những
phân tích và nhận định, không là những sáng kiến
hay do các nhà thần học tích cực tưởng
tượng ra, mà nó thực sự phải có nguồn
gốc hoặc tiềm ẩn hoặc minh nhiên nơi các
bản văn.[82]
Thần
học nguồn[83] theo hai tiến trình
hồi cố và phát sinh, đều được tiến
hành dưới sự hướng dẫn bởi
đức tin. Hai tiến trình “hồi cố” và “phát sinh”,
tuy trái ngược nhau nhưng không hoàn toàn độc
lập với nhau.[84]
Đây
là vài tác phẩm thu tập những tài liệu nguồn, mà
những sinh viên thần học thường sử
dụng:
DENZINGER, Enchiridion Symbolorum
Definitionum Et Declarationum
ROUET
DE JOURNEL, Enchiridion Patristicum
ARNODO,
Enchiridion Biblicum
v.v..[85]
Thần
học căn bản, theo Karl Rahner, là một yếu tố
của thần học tín lý. Thần học căn bản
phải cho thấy tính khả tín của sự kiện
mặc khải trong lịch sử; thần học tín lý
phải cho thấy tính khả tín của nội dung mặc
khải. Cả hai khía cạnh này đòi hỏi và bổ túc
lẫn nhau.[86]
Chức
năng phê bình và biện minh của thần học căn
bản phải được thực hiện trong mọi
giáo trình tín lý. Thần học càng ảnh hưởng khoa
chú giải (herméneutique) thì càng không có sự phân biệt
giữa thần học căn bản và thần học tín
lý.[87]
Sở
dĩ chức năng phê bình và biện minh được
đề nghị thực hiện trong mỗi giáo trình tín
lý theo gợi ý của Karl Rahner, vì làm sao có thể thiết
lập sự kiện mặc khải mà không để ý
tới nội dung mặc khải?[88] Karl Rahner đã phê bình
cách thức suy nghĩ về thần học căn bản
trong quá khứ, và cho rằng, cung cách suy nghĩ và nội
dung giảng dạy đó ngày nay không còn hợp thời
nữa[89]. K. Rahner khẳng
định, thần học căn bản rất cần
thiết và phải tồn tại.[90]
R.
Latourelle gọi điều K. Rahner chủ trương là
tín lý căn bản (dogmatique fondamentale, de caractère synthétique et
existentiel), mang tính tổng hợp và hiện sinh;[91] còn Y. Congar gọi nó là
tín lý hình thể (dogmatique formelle), nó triển khai nhân học
siêu việt, nghĩa là, nghiên cứu những điều
kiện tiên thiên, và chỉ với những điều
kiện tiên thiên này mới có thể có mặc khải và
đức tin.[92] Theo R. Latourelle, không
được lầm lẫn thần học căn
bản như K. Rahner đề nghị ở trên với
thần học căn bản vẫn được dùng theo
nghĩa thường.[93]
Thần
học căn bản theo nghĩa thường dùng, chỉ
giáo trình thần học nghiên cứu những thực
tại đầu tiên và căn bản của Kitô giáo.[94] Thần
học căn bản còn được dùng để
chỉ năm thần học đầu tiên, các sinh viên tìm
hiểu những khái niệm căn bản và những
phạm trù đầu tiên của thần học, như
mặc khải, linh ứng, đức tin, huấn
quyền, truyền thống v.v.[95]
Khi
tìm hiểu, suy tư về mặc khải và đức
tin, thần học căn bản tìm hiểu những khái
niệm và thực tại đó cách chủ quan lẫn khách
quan theo tinh thần phê bình; và như vậy nó thực thi
chức năng biện minh và hộ giáo, cùng đặt
nền tảng khoa học cho thần học. Ngay trong
năm đầu của thần học, sinh viên thần
học đã phải có tinh thần phê bình và biện minh, và
tinh thần này phải hiện diện trong mọi giáo trình
thần học.
Thần
học tích cực thu lượm và hệ thống hóa các
dữ kiện mặc khải được chứa
đựng trong Truyền Thống và Kinh Thánh,
được Huấn Quyền giải thích; thần
học căn bản biện minh và bảo vệ
đức tin bằng việc phê bình; thần học suy lý
nhằm hiểu biết Thiên Chúa, nhờ hệ thống hóa
những hiểu biết về Thiên Chúa một cách khoa
học, cũng như qua việc đánh giá những suy
tư và những tổng hợp suy tư này.[96]
Theo
quan điểm của Aristote, khoa học là những tri
thức chắc chắn và có thể diễn dịch.
Như vậy ở thời trung cổ, khi nói đến
thần học như một khoa học, là phải
hiểu đây là thần học suy lý: diễn dịch, rút
từ chân lý mặc khải ra những hệ luận
chắc chắn. Thần học tích cực không có tính
diễn dịch, nên ở thời trung cổ, thần
học tích cực có chỗ đứng rất khiêm tốn.[97]
Là một khoa học, thần học phải có tính
chính xác và diễn dịch; nhưng những khái niệm
được diễn tả trong Truyền Thống và Kinh
Thánh thường là những phạm trù tiền khoa học
với những hình ảnh biểu tượng, ẩn
dụ; vì vậy để thần học là khoa học,
thần học cố gắng xác định và định
nghĩa những khái niệm nó dùng, nhằm diễn tả
chính xác hơn ý nghĩa chân lý mặc khải; chẳng
hạn thần học xác định ý nghĩa của
từ ngữ Nước Trời, Con Người, Thân
thể mầu nhiệm v.v., trong nghĩa nào Đức Kitô
là Con Thiên Chúa; cũng tương tự như vậy
thần học phải định nghĩa các từ
ngữ bản tính, nhiệm xuất, sứ vụ,
tương quan..., để có thể hiểu và diễn
tả mầu nhiệm Ba Ngôi. Chính những công việc xác
định ý nghĩa từ ngữ này giúp người ta
hiểu đúng và không giải thích sai lạc những
định tín.[98]
Thần
học suy lý cũng phải cho thấy tương quan liên
hệ giữa các mầu nhiệm với nhau. Tất
cả các mầu nhiệm đều khởi từ Thiên
Chúa ngôi vị, và chỉ được hiểu cách đúng
đắn trong mầu nhiệm Thiên Chúa. Cái nhìn đúng
đắn về Thiên Chúa cho chúng ta cái nhìn đúng
đắn về con người; mầu nhiệm con
người được soi sáng bởi mầu nhiệm
Thiên Chúa. Các mầu nhiệm không ở cùng một mức
độ nhưng liên hệ với nhau, soi sáng giúp hiểu
biết lẫn nhau.
Thần
học với chức năng suy lý giúp đi sâu vào mầu
nhiệm, nhất là mầu nhiệm Thiên Chúa;[99] chẳng hạn
để hiểu mầu nhiệm Ba Ngôi hơn, chúng ta
phải cho thấy rằng, trong nhiệm cục cứu
độ
Chúa
Cha đã tỏ mình đầu tiên trong công trình tạo
dựng và trong việc nâng con người lên sống trong
tình thân hữu với Thiên Chúa,
Chúa
Con thực hiện công trình cứu chuộc qua Nhập
thể, Tử nạn và Phục sinh, và thiết lập Giáo
Hội,
Thánh
Thần thánh hóa các linh hồn và thâu họp tất cả
trong thân thể mầu nhiệm.[100]
Thần
học suy lý xét như một khoa học, còn phải hệ
thống hóa các tri thức về Thiên Chúa. Mỗi hệ
thống hình thành bởi nguyên tắc được
chọn theo từng trường phái, và như vậy có
nhiều tổng hợp thần học; chẳng hạn
thần học theo thánh Thomas chịu ảnh hưởng
triết học Aristote, và có chiều kích qui thần
(théocentrique), thần học rao giảng (théologie kérymatique)
có tính quy Kitô, v.v.
Mỗi
hệ thống thần học đều có chung
điểm tới, là cố gắng tiếp cận và
diễn đạt Mầu Nhiệm Vĩnh Cửu Ngôi
Vị. Mỗi hệ thống thần học hay mỗi
tổng luận thần học đều có giới
hạn riêng của nó, bởi vì
· thần học là lời
về Thiên Chúa, lời con người về Thiên Chúa.
Mỗi ngôn ngữ có những giới hạn như khả
năng giới hạn của con người, và như con
người không bao giờ có thể hiểu trọn
một ngôi vị, thì con người hữu hạn cũng
không bao giờ có thể hiểu trọn Thiên Chúa ngôi
vị, và con người cũng chẳng bao giờ có
thể dùng ngôn ngữ con người để diễn
đạt trọn vẹn Thiên Chúa được; nên ngôn
ngữ thần học thường là ngôn ngữ loại
suy;[101]
· thần học có thể
sử dụng những hệ thống triết học khác
nhau, chẳng hạn triết học Aristote, triết Platon,
triết hiện sinh v.v; hệ thống triết học
cũng chỉ là phương tiện dùng để
chuyển tải và diễn đạt Thực Tại;
· diễn tả Thiên Chúa
theo não trạng và nền văn hóa khác nhau, chẳng hạn
người Đông phương hay Tây phương;[102]
· có những đích
nhắm khác nhau, chẳng hạn khía cạnh cứu
độ nơi thánh Bonaventura, khía cạnh chân lý nơi
thánh Thomas.
Về
các hệ thống thần học, chúng ta có thể nói
đến hệ thống quy thần (systématisation
théocentrique), quy Kitô (Christocentrique), quy giáo hội
(ecclésio-centrique), hoặc quy nhân (anthropocentrique).[103] Mỗi hệ thống
đều bàn về mọi vấn đề thần
học, nhưng có điểm quy chiếu tùy theo
điểm nhấn hoặc điểm gợi hứng
của từng hệ thống: hoặc Thiên Chúa, hoặc
Đức Kitô, hoặc Giáo hội, hoặc con
người.
Thần học không đứng ngoài hay độc
lập với tiến trình văn hóa của con
người, nhưng trái lại nó ở trong và phản ánh
tiến trình tư duy và nhận thức của con
người trong thời đại đó.
Vào
thế kỷ XVI, nhân bản thuyết (humanisme) đã ghi
dấu ấn trên thần học; thế kỷ XVIII,
thần học chịu ảnh hưởng bởi
thuyết duy lý; thế kỷ XIX, thần học chịu
ảnh hưởng bởi thuyết duy khoa học[104]; còn ở thế kỷ
XX này, dưới ảnh hưởng của triết lý
hiện sinh và hiện tượng luận, thần học
hướng về con người.[105]
Cơ
cấu quy nhân là cơ cấu tư duy của thời
đại, và trong thần học cũng vậy. Chiều
kích quy nhân (anthropocentrique) hiện diện khắp nơi
trong mọi giáo trình thần học.
Với
Kierkegaard, con người không chỉ là một đối
tượng giữa những đối tượng khác,
mà hơn nữa con người là trung tâm của tất
cả, và là điểm quy chiếu. Như vậy mọi
tri thức về Thiên Chúa đều phải có thông số
là con người (khởi từ con người, theo
kiểu con người, hướng về con
người), kể cả những tri thức về Thiên
Chúa có được do mặc khải. Không có tri thức
về Thiên Chúa nào mà không hàm chứa một hiểu biết
trước nào đó về con người.[106]
Thần
học kinh viện nỗ lực tìm sự hiểu biết
mầu nhiệm Thiên Chúa; thần học hiện nay do
ảnh hưởng bởi nét hiện sinh và tính quy nhân
của não trạng hiện tại, nỗ lực bày tỏ
ý nghĩa của mầu nhiệm đối với con
người. Thần học hiện tại nghiên cứu
các mầu nhiệm không phải chỉ vì các mầu nhiệm,
mà còn vì ý nghĩa mầu nhiệm ấy đối với
con người.
Cơ
cấu quy nhân của thần học ngày nay được
nhận thấy qua chiều kích ngôi vị, chiều kích
lịch sử, chiều kích đối thoại, hiệp
nhất và phục vụ của thần học. Khi
lược qua các trục chính của thần học, chúng
ta sẽ thấy rõ chiều kích quy nhân này hơn.
Theo
R. Latourelle, các trục chính của thần học ngày nay là
thần học Lời Chúa, Kitô học, Giáo Hội học,
tương quan giữa Giáo Hội và thế giới, ân
sủng và bí tích, cánh chung học[107]. Cũng có thể
thấy khẳng định trên ẩn tàng nơi công
đồng chung Vatican II qua các hiến chế Dei Verbum, Lumen
Gentium, Gautium et Spes.[108]
Thần học Lời Chúa cho thấy Thiên Chúa mặc
khải cho con người trong lịch sử. Thiên Chúa
mặc khải cho con người về chương trình
cứu độ, mặc khải cho con người
biết về chính mình, và mặc khải cho con
người biết Thiên Chúa như là Thiên Chúa ngôi vị yêu
thương.
Chỉ
gọi là lịch sử, những hành vi hành động
của ngôi vị. Như vậy có thể nói, tất
cả mặc khải của Thiên Chúa cho con người
đều có tính lịch sử. Chính trong lịch sử và
qua lịch sử, con người đón nhận mặc
khải của Thiên Chúa; và cũng chính bằng hành vi đáp
trả mặc khải, con người tạo ra lịch
sử. Hai nhịp “tỏ mình- đáp trả” tạo thành
lịch sử cứu độ.
Thần học về Đức Kitô (Kitô học), bao
gồm cả giáo trình Nhập Thế và Cứu Độ
Học, cho thấy Đức Kitô là ai. Ngài là Thiên Chúa ngôi
vị (Ngôi Lời), là Thiên Chúa mặc khải, là chính
Mặc Khải, là Con Đường đưa con
người đến với Thiên Chúa, là trung gian tuyệt
hảo và duy nhất để người ta kết
hiệp với Thiên Chúa.
Vật
chất đã được “hóa thánh” (thánh hóa) với
biến cố Thiên Chúa nhập thể. Con người xét
như ngôi vị, trong tương quan tình yêu với Thiên
Chúa ngôi vị, hình thành chính mình trong lịch sử bằng
những hành vi tự do của mình.
Đức
Kitô là thần nhân. Khía cạnh quy nhân của Kitô học
được thấy qua các vấn đề đức
tin và tri thức của Đức Giêsu. Những hành vi
hoạt động của Đức Giêsu trở thành
lịch sử, và người ta đã có thể nói về
“lịch sử của Thiên Chúa.”
Thần học về Giáo hội hiện nay mang
chiều kích Ba ngôi và Kitô; Giáo Hội là thực thể duy
nhất, vừa thần linh vừa nhân loại, là thánh
nhưng gồm những phần tử yếu đuối
tội lỗi, là tập hợp những người
được Thiên Chúa yêu thương và tôn trọng.
Giáo
Hội, xét như thực thể gồm những con
người, có một lịch sử được
tạo thành do những hành vi tự do của những
phần tử của Giáo hội. Giáo Hội là dấu
chỉ của Thiên Chúa, là bí tích (dấu chỉ ban tình yêu ân
sủng) cho con người.
Thần
học về Giáo Hội còn cho thấy tương quan “quy
nhân” giữa Giáo hội và thế giới. Ngày nay thái
độ của Giáo Hội đối với thế
giới là đối thoại, Giáo Hội xác nhận, các
tạo vật và các xã hội đều có những
định luật và những giá trị riêng mà con
người phải khám phá dần dần.[109] Giáo Hội cũng có
thể nhận ra dự định của Thiên Chúa qua
những dấu chỉ là những gì đang xảy ra trong
lòng thế giới.[110]
Thần học về ân sủng và bí tích cũng
được nhìn trong viễn tượng ngôi vị và
quy kitô. Đức Giêsu Kitô là ân sủng và là bí tích cho con
người; Giáo Hội xét như thân thể mầu
nhiệm của Đức Kitô cũng trở thành ân
sủng và bí tích của Thiên Chúa đối với con
người ngày nay.
Cơ
cấu bí tích (dấu chỉ-ân sủng) là cơ cấu
của con người. Thiên Chúa cũng mặc khải cho con
người qua các dấu chỉ. Lời Thiên Chúa đã
nhập thể để trở thành dấu chỉ tình yêu
Thiên Chúa cho con người. Trong thần học về ân
sủng và bí tích, người ta nhận thấy Đức
Kitô là dấu chỉ của Thiên Chúa, Giáo Hội là dấu
chỉ của Đức Kitô, và các bí tích là những hành
động của Đức Kitô được hoàn thành
trong Giáo Hội và bởi Giáo Hội.[111]
Thần học cánh chung (cánh chung học) cũng là
một trục chính của thần học hiện
đại, và nó cũng mang chiều kích quy nhân.
Cánh
chung học bàn về “những sự sau” trong tương
quan với Đức Kitô chết và phục sinh, Ngài là
khởi điểm và cánh chung của mọi sự.
Chiều
kích cánh chung phải là chiều kích chi phối tất
cả thần học, bởi vì thần học không
phải chỉ bàn về ơn cứu độ trong
thời gian này, nhưng còn phải nói về ơn cứu
độ trong thời điểm hoàn tất của
thời gian nữa. Mỗi người đều phải
chết cái chết của mình, không ai có thể chết giùm
người khác, và chẳng có ai có thể chết giùm mình.
Chết là hành vi của ngôi vị.
Hỏa
ngục là hành vi từ chối tình yêu. Không tình yêu, không
đón nhận Thiên Chúa Tình Yêu, là hỏa ngục.[112]
Congar, Y. M. J. “Théologie,” Dictionaire de Théologie Catholique, XV,
col. 341-502. Paris 1946.
Congar, Y. M. J. La foi et la Théologie. Desclée, 1962.
Congar, Y. M. J. Situation et Taches présentes de la théologie. Paris: Cerf, 1967.
De Diego, J. R. Theologia Scientia Sacra: Introductio in theologiam. Dalat: GHHV
Piô X, lhnb, 1969.
Geffré Cl. “L’histoire récente de la
théologie fondamentale- essai d’interprétation,” Concilium 46 (1969), pp. 11-28.
Gutierre-Merino, G. “Mouvements de
libération et Théologie,” Concilium 93
(1974), pp. 121-130.
NN. Plan
d’études de la faculté de théologie. Đà Lạt: GHHV Piô X, lhnb,
1977.
NN. Matières
de la faculté de théologie. Đà Lạt: GHHV Piô X, lhnb, 1977.
Latourelle, R. Theologia Scientia Sacra. Roma: Gregoriana, 1965.
Latourelle, R. Théologie Science du Salut. Paris, 1968.
Pieris A. Một hướng thần học giải phóng Á
châu. Orbis Books, 1988. Bản dịch của UBĐKCGVN, Tp.
HCM 1989.
Rahner K. “A prppos de la réforme des
études ecclésiastique,” Est-il possible
aujourd’hui de croire. France: Mame, 1966.
Scannone, J. C. “La théologie de la libération: évangélique ou idéologique?” Concilium 93 (1974), pp. 131-138.
Schillebeeckx, Ed. Approches thélogiques 1: Révélation et Théologie. Bruxelles: Cerf,
1965.
Sohngen, G. “La Sagesse de la théologie
par la voie de la Science,” Mysterium
Salutis t.1 vol. IV, pp. 159-250.
141252
240238
Dẫn
Nhập Thần Học
Tác giả: Giuse Phạm Thanh Liêm, SJ
[1] Platon, De
republica, II, 397 a5
cf. E. Schillebeeckx,
Approches théologiques, p. 79
Y-M. J. Congar,
La foi et la théologie, p. 125
[2] Aristote,
Meteorol. B, I, 353 a34
Met. B, 4, 1000 a9, etc.
E. Schillebeeckx,
Approches théologiques, p. 79
[3] Aristote,
Met. E 1026 a15-19
cf. E. Schillebeeckx,
Approches théologiques, p. 79
Y. Congar, La foi et la théologie, p. 125
[4] E. Schillebeeckx,
Approches théologiques, p. 80
[5] Ibidem.
Thánh
Augustin trích dẫn ý kiến của Varron (chết năm 27
trước tây lịch) trong Civitate Dei, VI, 5: “Tria gennera
theologiae sunt, id est rationis quae de diis explicatur: eorumque unum
mythicum, alterum physicum, tertium civile.”
Cf. Y. Congar,
La foi et la théologie, p. 125
[6] Y. Congar,
La foi et la théologie, p. 125-126
[7] Origène,
Contra Celsum VI, 18
cf. Y. Congar,
La foi et la théologie, p. 125-126
E. Schillebeeckx,
Approches théologiques, p. 80-81
[8] Y. Congar,
La foi et la théologie, p. 125-126
[9] Eusèbe, De
hist. Eccl., I, 1, 7
cf. E. Schillebeeckx,
Approches théologiques, p. 80
[10] Ibidem
[11] E. Schillebeeckx,
Approches théologiques, p. 80-81
[12] Augustin,
De Civitate Dei, VI, 8 (PL. 41, 186)
Y. Congar,
La foi et la théologie, p. 126
E. Schillebeeckx,
Approches théologiques, p. 81
[13] Y. Congar,
La foi et la théologie, p. 126
E. Schillebeeckx,
Approches théologiques, p. 81
Y. Congar
trích dẫn J. Rivière, art. “Theologia”, trong RSRUS, 16, 1936, pp. 47-57,
cho rằng từ ngữ “thần học” lúc đó chưa
dùng để chỉ một môn khoa học, mà để
chỉ nội dung tác phẩm bàn về toàn bộ các tín
điều Kitô giáo. Mãi tới thế kỷ XIII, “thần
học” mới xuất hiện trong danh sách các môn học
trường lớp.
[14] Y. Congar,
La foi et la théologie, p. 126
[15] E. Schillebeeckx,
Approches théologiques, p. 81
[16] ST. Thomas,
In I Sent., Prol., 4, obj. 2 in contr.
In Ep. ad Rom., Prol.
In Boeth. De Trin., q. 2, a.
3, ad 7
Trong
những trường hợp dùng từ ngữ “thần
học”, từ ngữ này thường được
hiểu với nghĩa sermo de Deo (cf. S.T. I, q. 1, a. 7, note c).
Do
chịu ảnh hưởng của Aristote, Thomas còn dùng
từ ngữ “thần học” để nói về môn siêu
hình, thậm chí còn dùng cả từ ngữ scientia divina để chỉ môn này (In Boeth. De
Trin., q. 5, a. 1)
cf. Schillebeeckx,
Approches théologiques, p. 82
[17] In Boeth.
De Trin., q. 5, a. 4
và S.T. I,
q. 1, a. 1, ad 2
[18] St. Thomas,
Contra Gent. I, 4
cf. E. Schillebeeckx,
Approches théologiques, p.82
[19] E. Schillebeeckx,
Approches théologiques, p. 82-83
[20] R. Latourelle,
Théologie- Science du Salut, Paris 1968, p.15. 18
[21] Ibidem
[22] Ibidem
23 St. Thomas, S.T., Ia, q. 1, a. 6
cf. Latourelle,
Théologie- Science du Salut, pp. 37.23
[23] Ibidem
[24] Latourelle,
Théologie- Science du Salut, p.30
[25] Latourelle,
Théologie- Science du Salut, pp. 30-32.
Không
được lẫn lộn vấn đề đối
tượng thần học và vấn đề hệ
thống thần học. Nếu một khi đã chấp
nhận đối tượng thần học là Thiên Chúa
như là Thiên Chúa, người ta có thể tùy ý chọn
hệ thống thần học nào đó; chẳng hạn
hệ thống quy Kitô, hay quy thần, hay hệ thống
thần học quy giáo hội, hay quy nhân (anthropocentrique).
Một
điều nữa nên lưu ý về khuynh hướng tách
rời và đối nghịch giữa thần học và
nhiệm cục cứu độ.
Theo E. Schillebeeckx,
sđđ, trg. 81: “Ở thế kỷ IV, các thần
học gia Byzantin thường đối nghịch giữa
“thần học” (theologia) và “nhiệm cục” (oikonomia).
Thần học khi đó dùng để chỉ “giáo lý về
Chúa Ba Ngôi”, nghĩa là những gì liên hệ đến
thần tính, đối nghịch với nhiệm cục
cứu độ.”
[26] Latourelle,
Théologie- Science du Salut, p. 23
[27] Latourelle,
Théologie- Science du Salut, p. 26-27
[28] Latourelle,
Théologie- Science du Salut., p. 25
[29] Alexandre
de Hales gọi thần học là khoa học tâm tình (science
affective); Albert le Grand gọi thần học là “tri thức
hướng tới lòng sùng mộ.” Thế nhưng một
số đông các sinh viên và các thần học gia cảm
thấy sự bất cân xứng giữa đời
sống thiêng liêng và đời sống tri thức. Dường
như thần học làm họ xa cách Thiên Chúa, làm họ khô
khan, chứ không nuôi dưỡng họ (cf. Latourelle,
Théologie- Science du Salut, p. 233).
[30] Latourelle,
Théologie- Science du Salut, p. 63-65
Khi bàn
về đời sống thiêng liêng của các thần
học gia, R. Latourelle trong sách đã dẫn, trang 233-234
viết:
Thần
học tự bản chất, không là đời sống
thiêng liêng; nhưng tri thức về Thiên Chúa và đời
sống trong Thiên Chúa không thể là không hòa hợp
được, chẳng hạn ta thấy nơi các thánh
Thomas, Bonaventura, Canisius, Roberto Bellarmino, v.v... Sự bất
hòa hợp, chia cắt là do hậu qủa của tộí!
[31] Khao khát
được hiểu biết những điều mình tin
rất mãnh liệt nơi thánh Augustinus và thánh Anselmus.
Thánh
Augustinus viết:
“Desideravi
intellectu videre quod credidi, et multum disputavi et laboravi” (De Trinitate
XV, 28, 51 PL. 42, 1098).
“Id quod
credimus, nosse et intelligere cupimus”
(De libero
arbitrio II, 2, 5 PL. 32, 1243;
De
Trinitate IV. 1 PL. 42, 961; XV, 27, 40 PL. 42, 1096).
Còn thánh
Anselmus: “Non tento, Domine, penetrare altitudinem tuam; Quia nullatenus
comparo illi intellectum meum, sed desidero aliquatenus intelligere veritatem
tuam, quam credit et amat cor meum. Neque enim quaero intelligere ut credam;
sed credo ut intelligam. Nam et hoc credo quia nisi credidero, non intelligam”
(Proslogion I PL. 158, 227).
Cf. Latourelle,
Théologie- Science du Salut, p. 214. 20
[32] Latourelle,
Théologie- Science du Salut, p. 214
[33] Latourelle,
Théologie- Science du Salut, p. 201
[34] Y. Congar,
art. cit., col. 423-424
E. Schillebeeckx,
Approches théologiques, p. 8
Điều
đáng để ý là trong Tabulae fontium traditionis christianae
từ thế kỷ XV, các cha Creusen và Van Eyen đã mở
một cột đặc biệt về thần học tu
đức và thần bí (theologia ascetica et mystica).
[35] Y. Congar,
art. cit., col. 424-426
Y. Congar,
La foi et la théologie, p. 181
E. Schillebeeckx,
Approches théologiques, p. 83
“tín lý”
ở đây vẫn được hiểu như nằm
trong thần học kinh viện.
[36] Y. Congar,
art. “Théologie”, trong DTC, Paris 1946, col. 427-430
Y. Congar,
La foi et la théologie, p. 83.
[37] E. Schillebeeckx,
Approches théologiques, p. 83
[38] Y. Congar,
art. “Theologie”,
[39] Y. Congar,
art. cit., col. 430
[40] Y. Congar,
art. cit., col. 430-431
Y. Congar,
La foi et la théologie, p. 182
E. Schillebeeckx,
Approches théologiques, p. 83
[41] Cf. Claude Geffré, art. “L’histoire récente
de la théologie fondamentale, essai d’interprétation,” trong Concilium n. 46
(1969), p. 11-28.
[42] Y. Congar,
art. cit., col. 432
cf. O. Ritschl,
Das Wort dogmaticus in die Geschichte des Sprachgebrauchs bis um Aufkommen des
Ausdruckes theologia dogmatica, trong Festgabe J. Kaftan, Tubingue 1920, pp.
260-272.
[43] Y. Congar,
art. cit., col. 432-434
E. Schillebeeckx,
Approches théologiques, p. 83.
[44] Latourelle,
Théologie- Science du Salut, p. 155-175 .
[45] J. C. Scannone,
art. “La théologie de la libération; évangélique ou idéologique?”, trong Concilium
93 (1974), p. 132
G. Gutierre-Merino,
art “Mouvements de...”, Concilium 93 (1974), p. 125. 129.
[46] Dựa
theo bản đánh máy của giáo Hoàng Học Viện thánh
Piô X- Đàlạt “Plan d’études de la faculté de théologie”
và
“Matières d’étude de la faculté de théologie.”
Cf. Latourelle,
Théologie- Science du Salut, p. 65
[47]
Định đề, công lý, là những điều không
thể chứng minh.
[48] Từ
những tiên đề khác nhau, người ta có thể xây
dựng những hệ thống khác nhau. Chẳng hạn,
về hình học có hệ thống hình học phẳng
của Euclide và hệ thống hình học cong của
Riemann; về quang học, thuyết hạt tử giả
thiết áng sáng truyền theo đường thẳng, và giải
thích hiện tượng quang điện; còn thuyết ba
động giả thiết ánh sáng truyền theo làn sóng và
giải thích được hiện tượng giao thoa
của ánh sáng.
[49] G. Soehngen,
art. “La Sagesse de la théologie par la voie de la Science”, trong Mysterium
Salutis, t. I, vol. 4, p. 212
[50] Xem Phạm
Thanh Liêm SJ, Sẽ Sống Nếu Bạn Tin, phần 1
[51] G. Soehngen,
art. “La sagesse de la théologie par la voie de la science”, trong MYSTERTUM
SALUTIS, t. I, vol. 4, p. 212
[52] E. Schillebeeckx,
Approches théologiques, p. 89
Latourelle,
Théologie- Science du Salut, p. 42
[53] Lạc
giáo hình thể: hérétique formel
[54] Latourelle,
Théologie- Science du Salut, p. 42
[55] St. Thomas,
S.T. IIa IIae, q. 5, a.3, c et ad 1
cf. Latourelle,
Théologie- Science du Salut, p. 42
[56] Ibidem
[57] Có
thể do những thúc đẩy lệch lạc nơi con
người.
[58] Latourelle,
Théologie- Science du Salut, p. 48 ghi chú 1
[59] nhưng
không thể chứng minh được (ở đây
hiểu là những tiên đề).
[60] Latourelle,
Théologie- Science du Salut, p. 48
[61] Latourelle,
Théologie- Science du Salut, p. 51
[62] Latourelle,
Théologie- Science du Salut, p. 44
cf. DZ 3016
[63] Aloysius
Pieris, Một hướng thần học giải phóng Á
châu, Orbis Books 1988. Bản dịch được in bởi
UBĐKCGVN tp. HCM. 1989, pp.57-58.
[64] Latourelle,
Théologie- Science du Salut, p. 41
[65] cf. G. Soehngen,
art. cit., trong Mysterium Salutis, t. I, vol. 4, p. 188
[66] G. Soehngen,
art. cit., p. 189
[67] G. Soehngen,
art. cit., p. 188-189
[68] G. Soehngen,
art. cit., p. 191
[69] Ibidem
[70] Phần
tín lý gồm lời dạy của Kinh Thánh, Giáo Phụ,
Huấn Quyền.
[71] Latourelle,
Théologie- Science du Salut, p. 65-66
[72] Thần
học căn bản có hai nghĩa, hoặc nó
được dùng để chỉ chức năng hộ
giáo- bảo vệ hay biện minh, hoặc nó
được dùng để chỉ một phần
của thần học gồm các môn Mạc Khải,
Đức Tin xét như lời đáp của con
người với mặc khải, Huấn Quyền.
Cf. Claude
Geffré, art. “L’ histoire récente de la théologie fondamentale”, trong Concilium
46 (1969), p. 11
cf. Dictionnaire
de la Foi Chrétienne, I, Paris 1968, col. 769
cf. Latourelle,
Théologie- Science du Salut, p. 105 note 2
cf. Y. Congar,
La foi et la théologie, p. 183
[73] Ba
chức năng của thần học này còn thường
được gọi là thần học tích cực,
thần học căn bản, và thần học suy lý.
[74] Latourelle,
Théologie- Science du Salut, p. 83. 69
cf. Y. Congar,
art. “Théologie”, trong DTC XV, 1: 462
[75] Latourelle,
Théologie- Science du Salut, p. 70-71
[76] Latourelle,
Théologie- Science du Salut, p. 75-76
[77] Latourelle,
Théologie- Science du Salut, p. 72
[78] Latourelle,
Théologie- Science du Salut, pp. 72-75
[79] Latourelle,
Théologie- Science du Salut, pp. 74-75. 95
[80] Latourelle,
Théologie- Science du Salut, p. 77
[81] Latourelle,
Théologie- Science du Salut, p. 78
[82] Latourelle, Théologie- Science du Salut, p.
79-80
[83] Thần
học tích cực, nghiên cứu suy tư trên các tài liệu
căn bản và nguồn gốc của thần học.
[84] Latourelle,
Théologie- Science du Salut, p. 81
[85] Về
việc sử dụng DENZINGER, xin xem Y. Congar, Situation et
taches présentes de la Théologie, Cerf 1967, pp. 111-134
[86] K. Rahner,
“A propos de la réforme des études ecclésiastiques,” trong Est-il possible
aujourd’hui de croire, p. 202
[87] Claude
Geffré, art. cit, trong Concilium 46, p. 21
cf. K. Rahner,
“Théologie et anthropologie” trong Théologie d’aujourd’hui et de demain, Paris
1967, pp. 100-101. 115. 116
(The Word
in History, New York)
[88] Latourelle,
Théologie- Science du Salut, p. 103
cf. R. Rahner,
“A propos de la Réforme des études ecclési-astiques”, trong Est -il possible
aujourd’hui de croire, Paris 1966, p. 203
[89] K. Rahner,
art. cit., p. 180
[90] K. Rahner,
art. cit, p. 180
[91] Latourelle,
Théologie- Science du Salut, p. 105 note 2
cf. K. Rahner,
art. cit., p. 175-225
[92] Y. Congar,
Situation et taches présentes de la théologie, Cerf 1967, p. 19
[93] Latourelle,
Théologie- Science du Salut, p. 105 note 2
[94] Ibidem
[95] Ibidem
[96] Latourelle,
Théologie- Science du Salut, p. 86 tt
[97] Latourelle,
Théologie- Science du Salut, p. 84
[98] Latourelle,
Théologie- Science du Salut, pp. 86-87. 95
[99] Latourelle,
Théologie- Science du Salut, pp. 86-89
[100] Latourelle,
Théologie- Science du Salut, p. 90
[101] Latourelle,
Théologie- Science du Salut, pp. 88-89
[102] Latourelle,
Théologie- Science du Salut, p. 91
[103] R. Latourelle,
Théologie- Science du Salut, Paris 1968, p. 32
[104] Latourelle,
Théologie- Science du Salut, p. 241
[105] Latourelle,
Théologie- Science du Salut, p. 243
[106] Latourelle,
Théologie- Science du Salut, p. 243
Claude
Geffré cũng thấy nơi K. Rahner và E. Schillebeeckx một ý
tưởng tương tự.
Cf. Cl. Geffré,
art. cit., trong Concilium 46 (1969), p. 22
[107] Latourelle,
Théologie- Science du Salut, pp. 251-270
[108] Latourelle,
Théologie- Science du Salut, p. 251
[109] Công
Đồng Vatican II trong hiến chế Gaudium et Spes, số
36.
[110] Latourelle,
Théologie- Science du Salut, p. 263
cf. M-D. Chenu,
“Les signes des temps”, trong Gaudium et Spes, L’Église dans le monde de ce
temps, Paris 1967, p. 113
[111] Latourelle,
Théologie- Science du Salut, p. 267
cf. E. Schillebeeckx,
Le Christ- Sacrement de la rencontre de Dieu, Paris 1962
E. Schillebeeckx,
“Les sacrements- organes de la recontre de Dieu”, trong Questions théologiques
aujourd’hui, III, Bruges et Paris 1965, pp. 239-267.
[112] Latourelle,
Théologie- Science du Salut, p. 267-269